Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần tại Việt Nam cho các bạn.
3.1. Giải pháp pháp lý
Từ cơ sơ lý luận và thực tiễn được nêu ra về chế độ kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần ở Việt Nam, việc hoàn thiện pháp luật nhằm xây dựng cơ chế kiểm soát hiệu quả trong nội bộ công ty cổ phần cần lưu ý những vấn đề như sau:
3.1.1 Hoàn thiện một số quy định nhằm tằng cường quyền kiểm soát của cổ đông
Trong Công ty cổ phần, cổ đông là các chủ sở hữu công ty, về nguyên tắc, chủ sở hữu được quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt tài sản của mình. Tuy nhiên, do những đặc điểm riêng biệt của Công ty cổ phần, các cổ đông đã chuyển một phần quyền sở hữu của mình cho người quản lý, cổ đông chỉ tham gia quyết định những vấn đề quan trọng thuộc thẩm quyền Đại hội đồng cổ đông. Theo quy luật diễn biến tự nhiên như đã được phân tích về quan hệ đại diện ở Chương 1, do sự tách bạch giữa quyền sở hữu và quyền quản lý nên thường xảy ra xung đột về lợi ích giữa người sở hữu và người quản lý trong Công ty cổ phần. Thực chất, cơ chế kiểm soát công ty chính là cơ chế giúp cổ đông thực hiện quyền kiểm soát của chủ sở hữu đối với người thay mặt mình quản lý, điều hành công ty. Do vậy, việc hoàn thiện pháp luật nhằm tăng cường quyền kiểm soát của cổ đông là cần thiết để cổ đông tự bảo vệ quyền lợi của mình.
Thứ nhất, như đã nêu ở Chương 2 liên quan đến nhiệm kỳ Hội đồng quản trị và cơ chế bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát, việc quy định thành viên Hội đồng quản trị có thể bị bãi miễn bất cứ lúc nào theo quyết định của Đại hội đồng cổ đông đồng thời bỏ việc bắt buộc bầu dồn phiếu đối với thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát có thể gây khó khăn cho (nhóm) cổ đông thiểu số khi họ thực hiện quyền kiểm soát của mình. Luật doanh nghiệp 2014 cần sửa đổi quy định về bãi miễn thành viên Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát theo hướng bảo vệ cổ đông thiểu số, phải có cơ sở và điều kiện cùng lý do bãi miễn rõ ràng chứ không thể bãi miễn tuỳ tiện bất cứ lúc nào. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Thứ hai, do sự tách bạch về quyền sở hữu và quyền quản lý nên các chủ sở hữu phải có thông tin đầy đủ, chính xác về tình hình hoạt động công ty để ra quyết định. Luật doanh nghiệp 2014 hiện hành quy định khá đầy đủ về quyền được thông tin của cổ đông. Tuy nhiên, để đảm bảo việc thực thi các quyền này của cổ đông trên thực tế thì Luật doanh nghiệp 2014 cùng các văn bản hướng dẫn thi hành cần hướng dẫn cụ thể về điều kiện, cách thức, cơ chế để cổ đông có thể tiếp cận với các thông tin. Bên cạnh đó, cần quy định rõ trách nhiệm của người quản lý khi người này có hành vi ngăn cản việc tiếp cận thông tin của cổ đông, cũng như quyền khởi kiện của cổ đông khi quyền tiếp cận thông tin hợp pháp của họ bị ngăn chặn. Các thông tin cơ bản mà cổ đông có quyền được tiếp cận nên bao gồm: i) Thông tin về sở hữu, cổ đông và cơ cấu sở hữu công ty; ii) thông tin về những đánh giá dự báo của Hội đồng quản trị về tiềm năng phát triển, các rủi ro có thể xảy đến với công ty và mức độ rủi ro đó; và đặc biệt iii) thông tin về nhân thân, trình độ chuyên môn, năng lực và uy tín của thành viên Hội đồng quản trị cùng những người quản lý khác.
Nhìn chung, đồng thời với việc bổ sung các quy định của pháp luật về quyền tiếp cận thông tin của cổ đông, thì việc nâng cao nhận thức của các Công ty cổ phần, đặc biệt là các công ty niêm yết trong việc công khai và minh bạch hoá thông tin là cần thiết. Việc công bố và minh bạch hoá thông tin không chỉ là quy định bắt buộc của pháp luật đối với công ty mà còn phát sinh từ nhu cầu phát triển công ty, công ty chủ động công bố thông tin sẽ góp phần nâng cấp hiểu biết cho các cổ đông, giúp cổ đông hiểu biết được hoạt động và cơ cấu công ty, dễ dàng kiểm soát công ty và củng cố niềm tin đối với công ty. Công ty cổ phần nói riêng và doanh nghiệp nói chung cần xây dựng một hệ thống công bố thông tin đa dạng, phù hợp, đảm bảo thông tin đầy đủ, chính xác, kịp thời giúp các nhà đầu tư dễ dàng tiếp cận mà không gặp phải bất cứ trở ngại nào.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
3.1.2. Bãi bỏ quy định chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng giám đốc
Những bất cập về vấn đề Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm (Tổng) giám đốc công ty như đã được trình bày ở Chương 2 cho thấy rằng quy định này là không hợp lý, gây cản trở cho hoạt động tổ chức quản lý cũng như kiểm soát nội bộ công ty. Vì vậy, việc sửa đổi bổ sung theo hướng tạo sự tách bạch giữa chức danh Chủ tịch Hội đồng quản trị và (Tổng) giám đốc là cần thiết để đảm bảo sự cân bằng quyền lực, tính hiệu quả trong việc kiềm chế đối trọng nhau giữa các cơ quan trong nội bộ công ty, đồng thời tạo sự thuận lợi khi truy cứu trách nhiệm người có liên quan nếu xảy ra vi phạm nghĩa vụ. Khoản 1 điều 152 Luật Doanh nghiệp 2014 nên bỏ hoàn toàn quy định Chủ tịch Hội đồng quản trị có thể kiêm nhiệm chức danh (Tổng) giám đốc công ty chứ không phải chỉ loại trừ một số trường hợp như hiện nay để tránh tình trạng phân quyền chế ước chồng chéo nhau, gây nhầm lẫn khi công ty đi vào hoạt động.
3.1.3. Bổ sung quy định liên quan đến thẩm quyền thành viên Hội đồng quản trị độc lập Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Việc quy định thành viên Hội đồng quản trị độc lập là một xu hướng tiến bộ đã được áp dụng ở nhiều nước trên thế giới, việc quy định thành viên Hội đồng quản trị theo pháp luật hiện hành là hoàn toàn phù hợp. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp 2014 mới chỉ quy định việc phải có thành viên Hội đồng quản trị độc lập là yêu cầu bắt buộc khi lựa chọn mô hình quản trị Công ty cổ phần không có Ban kiểm soát, những quy định cụ thể hơn về loại thành viên này chưa được đề cập.
LDN 2014 chưa định nghĩa thế nào là “thành viên Hội đồng quản trị độc lập”, thuật ngữ này mới chỉ được quy định rải rác và chưa đầy đủ ở một số văn bản hướng dẫn Luật doanh nghiệp 2005 như: Nghị định 59/2009/NĐ-CP ngày 16 tháng 7 năm 2009 về tổ chức và hoạt động của Ngân hàng thương mại, Thông tư 121/2012/TT-BTC ngày 26/07/2012 quy định về quản trị công ty áp dụng cho công ty đại chúng, v.v. Nếu đã quy định bắt buộc về thành viên Hội đồng quản trị độc lập thì đạo luật mang tính hướng dẫn chung như Luật doanh nghiệp phải có định hướng rõ ràng về khái niệm này. Do vậy, khái niệm “thành viên Hội đồng quản trị độc lập” phải được đưa vào giải thích rõ ràng trong Luật doanh nghiệp 2014 để xác định được cụ thể vị trí của loại thành viên này trong mối quan hệ phân quyền chế ước với các cơ quan quyền lực trong nội bộ công ty.
Bên cạnh đó, liên quan đến thẩm quyền của thành viên Hội đồng quản trị độc lập, thẩm quyền của thành viên Hội đồng quản trị độc lập theo Luật doanh nghiệp hiện hành được đồng nhất với thẩm quyền chung của Hội đồng quản trị. Tuy nhiên, Luật doanh nghiệp nên xác định thêm thẩm quyền riêng biệt của thành viên Hội đồng quản trị độc lập, đặc biệt là trong mối quan hệ giám sát, kìm chế đối trọng với các thành viên điều hành thuộc Hội đồng quản trị. Bởi mục đích cốt yếu của việc quy định thành viên độc lập là nhằm kiểm soát hoạt động của thành viên điều hành, cũng như kiểm soát hoạt động của các cơ quan quản lý điều hành khác. Theo cá nhân người viết, thẩm quyền riêng biệt của thành viên độc lập Hội đồng quản trị nên được phân định theo hướng đảm bảo được 5 quyền cơ bản như sau:
Thứ nhất, thành viên Hội đồng quản trị độc lập giám sát hoạt động của Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc trong việc quản lý, điều hành công ty.
Thứ hai, rà soát, kiểm tra tính hợp lý, hợp pháp, tính trung thực và mức độ cẩn trọng trong quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh.
Thứ ba, rà soát, kiểm tra và đánh giá hiệu lực hiệu quả của hệ thống kiểm soát nội bộ, kiểm toán nội bộ, quản lý rủi ro và cảnh báo sớm cho công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Thứ tư, có quyền tham dự và tham gia thảo luận tại các cuộc họp ĐHĐCĐ, Hội đồng quản trị và các cuộc họp khác của công ty.
Thứ năm, có quyền kiến nghị Hội đồng quản trị hoặc Đại hội đồng cổ đông các biện pháp sửa đổi, bổ sung, cải tiến cơ cấu tổ chức quản lý giám sát và điều hành hoạt động kinh doanh của công ty.
Thứ sáu, khi phát hiện vi phạm nghĩa vụ của thành viên Hội đồng quản trị, giám đốc, tổng giám đốc, hoặc người quản lý điều hành khác, phải thông báo ngay bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm, nếu xét thấy cần thiết, có quyền khởi kiện Hội đồng quản trị cũng như người quản lý công ty để bảo vệ kịp thời quyền và lợi ích chung của các cổ đông và công ty.
3.1.4. Bổ sung quy định liên quan đến Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị
Như đã trình bày ở chương 2, hiện nay tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm toán nội bộ cũng như nhiệm vụ quyền hạn của Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc Hội đồng quản trị chưa được quy định cụ thể trong Luật doanh nghiệp 2014. Do vậy việc bổ sung quy định về Ban kiểm toán là cần thiết và phải đảm bảo xác định rõ vị trí của cơ quan này trong Hội đồng quản trị mà đặc biệt là trong mối quan hệ với thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Liên quan đến tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm toán nội bộ, có thể quy định tiêu chuẩn thành viên Ban kiểm soát tương tự như tiêu chuẩn thành viên Hội đồng quản trị độc lập mà Luật doanh nghiệp hiện hành quy định. Tuy nhiên nên xác định rõ thành viên Ban kiểm soát có thể là thành viên Hội đồng quản trị độc lập hay không? Theo cá nhân người viết, thành viên Hội đồng quản trị độc lập vẫn có thể là thành viên của Ban kiểm toán bởi vai trò kiểm soát của họ trong công ty, chỉ có điều, thành viên Ban kiểm toán có thể được yêu cầu phải có chuyên môn về lĩnh vực kế toán kiểm toán hoặc lĩnh vực có liên quan nên không phải mọi thành viên Hội đồng quản trị đều có thể làm thành viên Ban kiểm toán. Dù sao, nếu tinh thần điều luật đã quy định rõ thiết lập cả thành viên Hội đồng quản trị độc lập và Ban kiểm toán nội bộ cùng trực thuộc Hội đồng quản trị thì nên tách biệt hai loại thành viên này với nhau để tránh việc chồng chéo, nhầm lẫn nhiệm vụ quyền hạn khi thiết lập và vận hành các chủ thể này trong hoạt động công ty.
Về nhiệm vụ quyền hạn của Ban kiểm toán nội bộ, do mô hình Ban kiểm toán nội bộ trực thuộc HĐQT và thành viên độc lập Hội đồng quản trị chỉ tồn tại trong Công ty cổ phần không thành lập Ban kiểm soát nên cần phân định hợp lý thẩm quyền của Ban kiểm soát cho hai cơ quan này, đồng thời, thẩm quyền của Ban kiểm toán nội bộ và thẩm quyền của thành viên Hội đồng quản trị độc lập phải được phân định rõ ràng. Trước khi quy định về nhiệm vụ quyền hạn của Ban kiểm toán nội bộ, Luật doanh nghiệp hoặc những văn bản hướng dẫn thi hành cần giải thích rõ thế nào là “kiểm toán nội bộ”, việc giải thích khái niệm Kiểm toán nội bộ nhằm hướng đến cách hiểu thống nhất, xác định rõ phạm vi hoạt động của lĩnh vực này, phân biệt với hoạt động kiểm soát khác, đồng thời có định hướng khi thiết lập nhiệm vụ quyền hạn cho chủ thể thực hiện nó.
BKTNB trực thuộc Hội đồng quản trị có thể được phân định nhiệm vụ quyền hạn cơ bản sau:
Thứ nhất, kiểm tra tính thống nhất, nhất quán và phù hợp của công tác kế toán, thống kê, và lập báo cáo tài chính.
Thứ hai, thẩm định tính đầy đủ, hợp pháp và trung thực của báo cáo tình hình kinh doanh, báo cáo tài chính hàng năm và 6 tháng của công ty. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Thứ ba, kiểm tra việc tuân thủ nguyên tắc hoạt động quản lý, việc tuân thủ pháp luật, chế độ tài chính, kế toán, chính sách, nghị quyết, quyết định của lãnh đạo đơn vị kế toán.
Thứ tư, phát hiện những sơ hở yếu kém, gian lận trong quản lý, bảo vệ tài sản của đơn vị, đề xuất các giải pháp nhằm cải tiến, hoàn thiện hệ thống quản lý điều hành hoạt động của đơn vị kế toán.
Thứ năm, khi phát hiện vi phạm nghĩa vụ đơn vị kế toán, phải thông báo bằng văn bản với Hội đồng quản trị, yêu cầu người có hành vi vi phạm chấm dứt hành vi vi phạm.
Hoạt động của Ban kiểm toán nội bộ nên được kiểm soát bởi thành viên Hội đồng quản trị độc lập.
Ngoài ra, Luật doanh nghiệp hoặc các văn bản hướng dẫn thi hành có thể quy định một số thẩm quyền chung của thành viên Hội đồng quản trị độc lập và Ban kiểm toán như: thực hiện yêu cầu của nhóm cổ đông thiểu số, thực hiện nhiệm vụ quyền hạn khác nếu điều lệ quy định, sử dụng tư vấn độc lập để thực hiện nhiệm vụ được giao.
3.1.5. Bảo đảm tính độc lập và tính thực thi quyền kiểm soát của Ban kiểm soát
Nhìn chung Luật doanh nghiệp đã tạo điều kiện đảm bảo tính độc lập của Ban kiểm soát trong mối quan hệ với các cơ quan quyền lực khác. Cụ thể là thành viên Ban kiểm soát không được giữ chức vụ quản lý công ty, thù lao của Ban kiểm soát được quyết định bởi ĐHĐCĐ. Luật doanh nghiệp không cấm thành viên Ban kiểm soát là người lao động công ty nên khả năng một người lao động đồng thời là cổ đông sẽ được Đại hội đồng cổ đông bầu làm thành viên Ban kiểm soát. Ở đây cần phải hiểu rằng tại thời điểm được bầu làm thành viên Ban kiểm soát, thành viên này không còn là người lao động công ty mà hoạt động độc lập với HĐQT và BĐH. Tuy nhiên, như đã đề cập ở Chương 2, thành viên Ban kiểm soát được bầu cử thường được những cổ đông lớn đề cử và có quan hệ thân quen với thành viên Hội đồng quản trị và chịu nhiều phụ thuộc với Hội đồng quản trị, do đó cần đặt ra tiêu chuẩn cụ thể và giám sát chặt chẽ việc áp dụng tiêu chuẩn, điều kiện của thành viên Ban kiểm soát từ khi ứng cử đến hết nhiệm kỳ nhằm đảm bảo vị trí độc lập của thành viên Ban kiểm soát trong thực hiện thẩm quyền và nhiệm vụ được giao.
Chúng ta có thể học hỏi pháp luật công ty Nhật Bản về chế độ Kiểm soát viên từ bên ngoài, Luật doanh nghiệp 2014 nên bổ sung tại điều 164 nhằm nâng cao tính độc lập, khách quan của Ban kiểm soát bằng việc quy định thêm về tỷ lệ thành viên Ban kiểm soát bắt buộc là người ngoài công ty hoặc không đồng thời là người lao động công ty nhằm giảm bớt áp lực trong quá trình giám sát của Ban kiểm soát do phụ thuộc và chịu sự chi phối của Hội đồng quản trị, từ đó nâng cao tính độc lập của họ. Tuy nhiên cũng cần lưu ý chế độ này có thể có mặt tiêu cực, khi mà Kiểm soát viên từ bên ngoài vào nếu so với người bên trong công ty thì họ có ít hiểu biết về hoạt động công ty, thành viên trong công ty có xu hướng ít cung cấp thông tin cho những người này, hơn nữa Kiểm soát viên bên ngoài có thể kiêm nhiệm hoạt động tại các công ty khác nên không nhiều thời gian để thực hiện hoạt động giám sát. Nhưng dù sao, những hạn chế này dễ dàng có thể khắc phục nếu công ty có chế độ đãi ngộ tốt với họ, nhân tố Kiểm soát viên bên ngoài sẽ có tác dụng thúc đẩy, tham vấn, bổ trợ đối với hoạt động của thành viên Ban kiểm soát còn lại, đảm bảo tính độc lập của Ban kiểm soát. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Không nên quy định tính trực thuộc của Ban kiểm soát vào Hội đồng quản trị như vấn đề thường xuyên thông báo và tham khảo ý kiến của Hội đồng quản trị [24, Điều 165.6, 165.11], Luật chỉ nên dừng lại ở việc quy định nghĩa vụ thông báo cho Hội đồng quản trị biết những vấn đề thật sự cần thiết trước khi trình lên Đại hội đồng cổ đông, điều này sẽ hạn chế sự phụ thuộc của Ban kiểm soát vào Hội đồng quản trị, đảm bảo tính độc lập và khách quan trong hoạt động, đánh giá của Ban kiểm soát, tránh việc Hội đồng quản trị thâu tóm, mua chuộc thành viên Ban kiểm soát nhằm bưng bít, xoá dấu vết những giao dịch tư lợi gây tổn thất cho cổ đông và công ty.
Việc quy định về thù lao của Ban kiểm soát cần rõ ràng. Vấn đề thù lao, đãi ngộ đối với Ban kiểm soát là một trong những nhân tố ảnh hưởng đến tính độc lập của cơ quan này, xét cho cùng đa số họ là người lao động trong công ty nhưng phải kiểm soát lại những người trực tiếp quyết định thu nhập của họ, điều này là một khó khăn lớn. Pháp luật nên đưa ra những quy định mang tính định hướng liên quan đến việc công khai thù lao cho thành viên Ban kiểm soát, cách thức hưởng thù lao cũng như những chế độ đãi ngộ cần thiết khác cho họ, và chế độ thù lao của Ban kiểm soát nên được xem xét độc lập với đề xuất của Hội đồng quản trị. Luật doanh nghiệp cần có những quy định định hướng để đảm bảo rằng, thành viên Ban kiểm soát không còn gặp trở ngại, áp lực trong hoạt động thực thi trách nhiệm của mình.
Như đã phân tích tại Chương 2, theo quy định của Luật doanh nghiệp, Ban kiểm soát có nghĩa vụ trình báo cáo, thẩm định báo cáo tài chính, báo cáo hoạt động của Hội đồng quản trị và BĐH trước Đại hội đồng cổ đông, nhưng thông thường Đại hội đồng cổ đông chỉ họp 1 năm một lần, bản thân báo cáo sẽ không còn tính thời sự. Để khắc phục điều này, pháp luật đã định ra yêu cầu các Công ty cổ phần phải công bố các báo cáo của Ban kiểm soát trên trang thông tin điện tử của mình nếu có, quy định này mang tính tuỳ nghi bởi không phải Công ty cổ phần nào cũng có trang thông tin điện tử. Tuy nhiên theo cá nhân người viết, các báo cáo của Ban kiểm soát có ý nghĩa quan trọng khi thực hiện quyền kiểm soát công ty của cổ đông, nó giúp các cổ đông nắm bắt được tình hình công ty nên các thông tin này phải được cập nhật thường xuyên, đáp ứng tính thời sự, giúp các cổ đông kịp thời xem xét chấn chỉnh lại hoạt động của Hội đồng quản trị, Ban giám đốc, đưa công ty trở lại hoạt động bình thường, có hiệu quả, vì lợi ích tốt nhất của cổ đông, do đó bên cạnh hình thức công bố thông tin trên trang thông tin điện tử mang tính tuỳ nghi, cần phải quy định việc thiết lập các hình thức khác về công bố thông tin thường xuyên của Công ty cổ phần và điều này nên mang tính bắt buộc.
Liên quan đến thẩm quyền của Ban kiểm soát, Luật doanh nghiệp nên trao thêm quyền năng đại diện khởi kiện cho Ban kiểm soát khi xét thấy cần thiết nếu phát hiện có vi phạm nghĩa vụ của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Theo thông lệ ở nhiều nước, thành viên Ban kiểm soát có quyền đại diện cho công ty khởi kiện yêu cầu bồi thường thiệt hại đối với vi phạm của thành viên Hội đồng quản trị và Ban giám đốc. Chẳng hạn, Luật công ty Nhật Bản quy định quyền khởi kiện yêu cầu truy cứu trách nhiệm của thành viên Hội đồng quản trị (Điều 386), nghĩa vụ của Ban kiểm soát trong việc thông báo khởi kiện (Điều 847 khoản 4). Mặc dù theo pháp luật hiện hành, Ban kiểm soát được trao cho các thẩm quyền kiểm soát bất cứ lúc nào theo yêu cầu của cổ đông và nhóm cổ đông nhưng việc kiểm soát này chỉ giới hạn ở hoạt động đề xuất kiến nghị và thực tế việc kiến nghị này chưa đem lại hiệu quả trong việc chấn chỉnh lại hoạt động của các cơ quan quản trị. Rõ ràng Ban kiểm soát có lợi thế hơn các cổ đông trong việc kiểm soát thường xuyên hoạt động của Hội đồng quản trị và Ban giám đốc cùng những người quản lý khác trong công ty, do vậy, việc trao cho cơ quan này thẩm quyền đại diện khởi kiện là cần thiết, giúp phát huy vai trò thực thi kiểm soát của Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần.
3.1.6. Bổ sung quy định về xác định trách nhiệm của Đại hội đồng cổ đông trong việc xây dựng và tổ chức thực hiện cơ chế kiểm soát nội bộ công ty Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Một điều dễ nhận thấy là cơ chế kiểm soát quyền lực nội bộ nếu không được đầu tư đúng mức và vận hành không hiệu quả rất dễ dẫn đến xảy ra tranh chấp nội bộ giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty. Tuy nhiên, hiện nay, vấn đề tự chịu trách nhiệm của các thành viên công ty với tư cách là chủ sở hữu công ty trước những tranh chấp do chính họ tạo ra vẫn chưa được chú trọng từ cả hai phía. Khi tranh chấp xảy ra, các bên thường đưa vụ việc ra ngoài công ty bằng việc khiếu nại hành chính hoặc khởi kiện tại các cơ quan tài phán và theo đuổi đến cùng trình tự tố tụng do các thiết chế bên ngoài công ty thực hiện, gánh nặng pháp lý chưa tự giải quyết mà đẩy sang cho xã hội. Trong cơ cấu tổ chức nội bộ công ty, Đại hội đồng cổ đông được xác định là cơ quan quyết định cao nhất của công ty, với tư cách đó, Đại hội đồng cổ đông cần phải được xác định là cơ quan có thẩm quyền, có trách nhiệm xác lập cơ chế Kiểm soát nội bộ và giải quyết tranh chấp nội bộ công ty. Liên quan đến vấn đề này, Luật doanh nghiệp 2014 chưa có quy định cụ thể ngoài một quy phạm tại Điều 135, theo đó Đại hội đồng cổ đông có quyền “xem xét và xử lý các vi phạm của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát gây thiệt hại cho công ty và cổ đông công ty” [21]. Trong tổ chức và quản trị công ty, những sai lệch, bất đồng giữa các chủ thể là một hiện tượng khách quan và cần được giải quyết, vấn đề hiệu quả và ý nghĩa của việc giải quyết phụ thuộc rất nhiều vào tính đáp ứng kịp thời của cơ quan giải quyết, xử lý mâu thuẫn, bất đồng trong nội bộ. Cơ chế Kiểm soát nội bộ công ty được tổ chức và vận hành tốt vừa nhằm hạn chế sai lệch, mâu thuẫn phát sinh, vừa nhằm giải quyết tranh chấp trong nội bộ công ty từ sớm, ngay từ khi tranh chấp mới phát sinh, vừa nhằm bảo vệ kịp thời quyền lợi chính đáng của các bên, vừa góp phần ngăn chặn tranh chấp bùng phát. Cơ chế Kiểm soát nội bộ và giải quyết tranh chấp trong công ty được xác định tự phát và tuỳ nghi như hiện nay chưa thực sự tạo điều kiện cho việc thực hiện mục tiêu này. Việc xác định cơ chế kiểm soát và giải quyết tranh chấp trong nội bộ công ty chưa được pháp luật nhìn nhận như là một cơ chế tất yếu và quan trọng trong tổ chức và hoạt động công ty. Trong cơ chế Kiểm soát nội bộ, việc thiết lập một cơ quan có thẩm quyền trực thuộc chỉ đạo của Đại hội đồng cổ đông, có chức năng độc lập với các bộ phận quản lý khác để thực hiện nhiệm vụ kiểm soát công ty và giải quyết tranh chấp trong nội bộ là vấn đề cần phải được xác định rõ cả trong nhận thức của cổ đông trong công ty và sự bảo đảm của các cơ quan công quyền, trong đó có sự ghi nhận của luật pháp. Trên thực tế, cơ chế kiểm soát việc phân chia và vận hành quyền lực tại các công ty hiện nay chưa được đầu tư đúng mức đã dẫn đến xuất hiện ngày càng nhiều các vụ tranh chấp trong nội bộ công ty, trong tương lai gần, pháp luật cần có những quy định cụ thể định hướng cho doanh nghiệp thiết lập và thực hiện có hiệu quả cơ chế kiểm soát nội bộ, pháp luật cần xác định những vấn đề về nguyên tắc, trình tự thủ tục, thẩm quyền, trách nhiệm của công ty trong việc tổ chức và thực hiện cơ chế kiểm soát và giải quyết tranh chấp nội bộ.
3.2. Giải pháp khác Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
3.2.1. Nâng cao trình độ, năng lực, hiểu biết pháp luật của thành viên kiểm soát trong Công ty cổ phần
Luật Doanh nghiệp 2014 đã có quy định khá cụ thể về điều kiện của thành viên Ban kiểm soát tại điều 163, 164. Một trong những điều kiện về chuyên môn được xác định đối với Trưởng Ban kiểm soát “phải là kế toán viên hoặc kiểm toán viên chuyên nghiệp” hoặc đối với công ty niêm yết, công ty do Nhà nước nắm giữ trên 50% vốn điều lệ thì kiểm soát viên “phải là kiểm toán viên hoặc kế toán viên”. Có thể thấy, quy định của pháp luật hiện hành đã thực sự chú trọng đến năng lực kiểm tra, giám sát về tài chính của Ban kiểm soát. Tuy nhiên, Kiểm soát nội bộ công ty là hoạt động liên quan trực tiếp đến nhiều nội dung về tổ chức và quản trị công ty, về quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong tổ chức và quản lý công ty. Bởi thế pháp luật cần có quy định xác định rõ trình độ hiểu biết pháp luật tối thiểu của thành viên Ban kiểm soát và những người tham gia vào hoạt động kiểm soát nội bộ công ty.
Bên cạnh việc bổ sung quy định pháp luật về chuyên môn bắt buộc, bản thân thành viên Ban kiểm soát hay thành viên Hội đồng quản trị độc lập cũng như thành viên Ban kiểm toán với vai trò giám sát độc lập phải thường xuyên tự rèn luyện, nâng cao trình độ chuyên môn để có thể hoàn thành tốt nhiệm vụ kiểm tra giám sát của mình. Đồng thời, bản thân Công ty cổ phần nên xây dựng và triển khai các chương trình đào tạo dành riêng cho thành viên kiểm soát để họ có điều kiện bổ sung, không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ, đáp ứng yêu cầu liên quan đến vị trí công việc.
3.2.2. Nâng cao nhận thức của doanh nghiệp về vai trò của cơ quan kiểm soát trong Công ty cổ phần
Qua việc phân tích nội dung cơ chế kiểm soát trong Công ty cổ phần nói chung, có thể nhận thấy Ban kiểm soát trong mô hình quản trị Công ty cổ phần song cấp hay thành viên Hội đồng quản trị độc lập trong mô hình quản trị Công ty cổ phần đơn cấp là những thiết chế cần được chú trọng nhất trong Công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay. Thế nhưng trên thực tế, nhiều Công ty cổ phần hiện nay lập ra Ban kiểm soát hay thành viên Hội đồng quản trị độc lập chỉ mang tính hình thức để đáp ứng đủ yêu cầu của luật, chính các cổ đông không nhận thức được đúng vai trò của các cơ quan này. Các cơ quan kiểm soát này được ví như “cánh tay nối dài” của Đại hội đồng cổ đông, trong khi Đại hội đồng cổ đông chỉ họp một hoặc hai lần trong năm thì việc lập ra Ban kiểm soát hay thành viên Hội đồng quản trị độc lập sẽ giúp kiểm soát thường xuyên hoạt động của bộ máy quản lý điều hành, phát hiện và bảo vệ kịp thời lợi ích của các cổ đông và công ty. Các cổ đông khi xây dựng điều lệ công ty cần nhận thức đúng và thiết lập phân bổ quyền hạn giám sát rõ ràng cho cơ quan này, xây dựng các chính sách đãi ngộ phù hợp, đảm bảo họ hoạt động một cách độc lập, mẫn cán trong quan hệ với các cơ quan quyền lực khác đặc biệt là HĐQT và Ban giám đốc.
Về phía Hội đồng quản trị hay Ban giám đốc, các cơ quan này cần nhận thức được vị trí của Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần nói chung và trong mối quan hệ quyền lực với họ nói riêng.
Thực tế tại các Công ty cổ phần hiện nay đang có sự nhầm lẫn ngay trong nhận thức của ban quản lý điều hành công ty. Họ không biết, vô tình hay hữu ý quên rằng Ban kiểm soát có nhiệm vụ giám sát, kiểm tra hoạt động của họ. Họ chỉ coi cơ quan này như một phòng ban trong công ty và nằm dưới quyền hạn của mình. Hơn nữa, bản thân Ban kiểm soát hay thành viên Hội đồng quản trị độc lập cũng chỉ coi bản thân được các cơ quan quản lý cân nhắc đề bạt lên chứ không nhận thức rõ vị trí, nhiệm vụ quyền hạn của mình. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Như vậy bản thân các thiết chế nội bộ công ty nếu có những nhận thức không đúng đắn và đầy đủ, xem nhẹ vai trò của Ban kiểm soát hoặc thành viên Hội đồng quản trị độc lập sẽ khiến các chủ thể này hoạt động một cách hời hợt, hoạt động mang tính hình thức và không hiệu quả.
3.2.3. Nâng cao ý thức xây dựng hệ thống công khai hoá và minh bạch thông tin của doanh nghiệp
Công khai hoá thông tin là việc công bố thông tin cần thiết liên quan đến hoạt động công ty ra công chúng nhằm đáp ứng được nhu cầu quản lý của Nhà nước và nhu cầu tìm kiếm thông tin của các tổ chức cá nhân.
Minh bạch thông tin là việc cung cấp các thông tin cần thiết về hoạt động công ty một cách đầy đủ, nhất quán, kịp thời và đáng tin cậy theo cách thức mà các chủ thể có nhu cầu có thể tiếp cận một cách thuận tiện nhất.
Đồng thời với việc bổ sung các quy định của Luật liên quan đến chế độ công khai hoá và minh bạch thông tin trong các Công ty cổ phần, thì việc nâng cao ý thức của các công ty trong việc tự nguyện thực hiện chế độ minh bạch thông tin và công khai hoá thông tin là rất cần thiết. Việc minh bạch thông tin và công khai hoá thông tin giúp nâng cao hiểu biết của các cổ đông về cơ cấu và hoạt động công ty, một hệ thống thông tin tốt sẽ đảm bảo cho cổ đông tiếp cận thông tin một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời, giúp cổ đông nắm bắt kiểm soát được hoạt động công ty, đặc biệt là nguồn vốn đã đầu tư, từ đó gây dựng được niềm tin từ phía cổ đông đối với hoạt động công ty, thu hút nguồn vốn và duy trì lòng tin của thị trường. Ngược lại nếu công ty có hệ thống thông tin yếu kém và không minh bạch sẽ dẫn đến việc dễ dàng xảy ra những vi phạm ngoài tầm kiểm soát, gây thiệt hại không chỉ cho cổ đông mà còn tới thị trường, suy giảm nền kinh tế, khi đã mất niềm tin thị trường, hoạt động doanh nghiệp đi xuống và tự bị đào thải. Do vậy, mỗi công ty phải ý thức được ý nghĩa của việc công khai và minh bạch hoá thông tin đối với sự tồn tại và phát triển thịnh vượng của mình. Các Công ty cổ phần cổ phần nên xây dựng cho mình đa dạng các kênh thông tin cần thiết đảm bảo thông tin được công bố và cung cấp một cách kịp thời, chi tiết và chính xác.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 3 Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Trên cơ sở nghiên cứu và phân tích lý luận về cơ chế kiểm soát và thực tiễn hoạt động kiểm soát trong Công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2014, tại chương này, người viết đã mạnh dạn đề xuất một số giải pháp, định hướng nhằm hoàn thiện các quy định pháp luật liên quan. Các giải pháp, định hướng này tập trung giải quyết các vấn đề liên quan đến thực thi quyền kiểm soát của cổ đông; sự chồng chéo khi phân định nhiệm vụ quyền hạn đặc biệt giữa quyền kiểm soát và quản lý điều hành; những quy định cần phải bổ sung mà pháp luật hiện hành chưa đề cập: thẩm quyền thành viên độc lập Hội đồng quản trị, tiêu chuẩn, nhiệm vụ, quyền hạn của Ban kiểm toán nội bộ; vấn đề kiểm soát độc lập của Ban kiểm soát; chế độ công khai minh bạch hoá thông tin.
Nhìn chung, sự hoàn thiện về mặt pháp luật liên quan đến hoạt động công ty luôn luôn có tính tương đối, thích ứng với từng giai đoạn phát triển của nền kinh tế. Vì vậy việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật công ty phải được xác định là một quá trình liên tục, lâu dài, với những bước đi và giải pháp thích hợp. Hoàn thiện các quy định về kiểm soát nội bộ công ty cổ phần một mặt nhằm khắc phục kịp thời những khó khăn cho việc tổ chức vận hành công ty, mặt khác nhằm tạo dựng hành lang pháp lý đầy đủ, phù hợp với thực tiễn, đáp ứng nhu cầu kiểm soát hiệu quả, ổn định lâu dài của các công ty cổ phần.
KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu đề tài “Cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay”, chúng tôi rút ra một số kết luận như sau:
Thứ nhất, cơ chế kiểm soát nội bộ là một vấn đề quan trọng của quản trị công ty, chính cách quản trị tạo nên cơ chế phân quyền kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần. Việc thiết lập mô hình quản trị một phần chính là nhằm tạo cơ sở cho việc thiết lập cơ chế kiểm soát phân chia quyền lực trong nội bộ công ty.
Thứ hai, Luật doanh nghiệp 2014 đã có khá đầy đủ các quy định nhằm định hướng cho các Công ty cổ phần tại Việt Nam thiết lập cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty. Tuy nhiên, đạo luật này vẫn còn những điểm chưa hợp lý và phù hợp với thực tiễn. Để phù hợp với sự phát triển đa dạng của Công ty cổ phần, Luật doanh nghiệp 2014 cần tiếp tục hoàn thiện hơn nữa, đồng bộ hoá với các văn bản hướng dẫn chuyên ngành để nâng cao hiệu quả thi hành.
Thứ ba, nhìn chung, sự hoàn thiện về mặt pháp luật liên quan đến hoạt động công ty trong nền kinh tế thị trường chỉ có tính tương đối, đặc biệt là đối với loại hình công ty phức tạp như Công ty cổ phần với sự phát triển ngày càng đa dạng của nó. Vì vậy, việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật công ty cổ phần phải được xác định là một quá trình liên tục, lâu dài với những bước đi và giải pháp phù hợp. Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ.
Từ những phân tích lý luận, đánh giá các vấn đề pháp lý liên quan, dựa trên những đòi hỏi của nền kinh tế thị trường, định hướng của Đảng và Nhà nước cùng những tri thức đã được lĩnh hội về pháp luật doanh nghiệp. Khóa luận đã đề xuất một số giải pháp và định hướng nhằm hoàn thiện pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Công ty cổ phần với mong muốn được đóng góp một phần nào đó vào công cuộc hoàn thiện và phát triển pháp luật về Công ty cổ phần tại Việt Nam, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động của loại hình công ty này, góp phần phát triển kinh tế đất nước.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
