Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Pháp luật về dịch vụ Logistics cho các bạn.

1. QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS

So với Điều 9 Luật Thương mại năm 1997 về “ dịch vụ giao nhận hàng hóa “ thì về cơ bạn, Luật Thương mại năm 2005 không có thay đổi nhiều. Tuy về nội dung có điểm đáng lưu ý:

  • Đổi tên mục là dịch vụ Logistics .
  • Mở rộng khái niệm giao nhận hàng hóa tương đương với khái niệm dịch vụ Logistics .

1.1 Quy định về đăng ký kinh doanh dịch vụ logistics

1.1.1. Điều kiện chung

Thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ Logistics cũng giống như những thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác đều phải tuân theo những quy định chung tại chương II Luật doanh nghiệp năm 2014 về “ thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh ( Điều 18 và 19 Luật Doanh nghiệp năm 2005 )

1.1.2. Quy định đặc thù

Theo Điều 234 Luật Thương mại năm 2005 quy định về “ Đăng ký kinh doanh dịch vụ Logistics “ :

  • Thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics là doanh nghiệp có đủ điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics theo quy định của pháp luật .
  • Chính phủ quy định chi tiết điều kiện kinh doanh dịch vụ Logistics .
  • Từ những quy định chung đó, Nghị định 140/2007/NĐ – CP đã hướng dẫn cụ thể:
  • Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics trong nước, điều kiện cụ thể:

1. Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam ( khoản 1 Điều 5 , 6 và 7 ).

Các dịch vụ Logistics chủ yếu, bao gồm: Dịch vụ bốc xếp hàng hóa, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container; dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hóa, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lý nguyên liệu, thiết bị; dịch vụ đại lý vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lý làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hóa; dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lý thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hóa trong suốt cả chuỗi Logistics; hoạt động xử lý hàng hóa bị khách hàng trả lại, hàng hóa tồn kho, hàng hóa quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hóa đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container (khoản 1 Điều 4 ).

Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu ( khoản 2 Điều 5 ). Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Các dịch vụ Logistics liên quan đến vận tải, bao gồm: Dịch vụ vận tải hàng hải; Dịch vụ vận tải thủy nội địa, Dịch vụ vận tải hàng không, Dịch vụ vận tải đường sắt, Dịch vụ vận tải đường bộ, Dịch vụ vận tải đường ống ( khoản 2 Điều 4 )

Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của pháp luật Việt Nam ( khoản 2 Điều 6 ).

Cụm từ “Đăng ký kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam” được hiểu là doanh nghiệp đó đã tuân thủ những quy định chung về đăng ký kinh doanh theo LDN. Các dịch vụ Logistics chủ yếu và các dịch vụ Logistics liên quan đến vận tải yêu cầu thương nhân phải đáp ứng những điều kiện mang tính đặc trưng của nó. Những dịch vụ Logistics chủ yếu như : dịch vụ bốc xếp hàng hóa, dịch vụ kho bãi và lưu giữ, dịch vụ đại lý vận tải, dịch vụ bổ trợ khác đóng vai trò quan trọng và đặc trưng công việc có liên quan đến kho bãi, bốc dỡ đòi hỏi thương nhân kinh doanh phải có đủ phương tiện, thiết bị chuyên môn để đảm bảo an toàn lao động và bảo đảm cho công việc được thực hiện .[19,25]

b.Đối với những thương nhân nước ngoài .

Thương nhân nước ngoài muốn kinh doanh dịch vụ Logistics phải đáp ứng được các điều kiện Quy định tại khoản 2, 3 Điều 5 và 6 Nghị định số 140/2007/ NĐ-CP.

Từ những quy định dành riêng cho các nhà cung cấp dịch vụ Logistics nước ngoài nêu trên có thể nhận thấy trong quá trình hội nhập, Việt Nam đang mở cửa cho thương nhân nước ngoài đầu tư vào lĩnh vực dịch vụ này, tuy nhiên vẫn còn những thận trọng thể hiện qua tỷ lệ phần trăm góp vốn còn hạn chế, có những lĩnh vực không được phép đầu tư, mô hình công ty được phép thành lập không toàn diện.[19,25]

Có thể đưa ra một số nguyên nhân như sau :[19,26]

  • Do đây là lĩnh vực còn mới ở nước ta nên các doanh nghiệp trong nước chưa có nhiều kinh nghiệm và dày dạn chuyên môn để cạnh tranh, do đó nếu mở cửa hoàn toàn thì khả năng bị các doanh nghiệp nước ngoài lấn át, chiếm lĩnh thị trường là rất cao.
  • Sự hạn chế trong hình thức doanh nghiệp cũng là một trong những nguyên nhân. Trong nhiều trường hợp, chỉ cho phép nhà đầu tư nước ngoài thành lập dưới mô hình liên doanh như trường hợp kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa trong dịch vụ Logistics chủ yếu mà không cho các thương nhân nước ngoài thành lập doanh nghiệp 100% vốn, lý do là để đảm bảo và tạo điều kiện cho các doanh nghiệp trong nước được tham gia vào dịch vụ Logistics .
  • Sự hạn chế trong tỷ lệ góp vốn của doanh nghiệp nước ngoài với việc thành lập công ty liên doanh từ 49% đến không quá 51% là nhằm tạo điều kiện cho doanh nghiệp Việt Nam không bị lép vế trước doanh nghiệp nước ngoài sở hữu dồi dào cả về nguồn vốn cũng như kinh nghiệm.
  • Có những lĩnh vực kinh doanh luật không cho phép đầu tư: không được kinh doanh dịch vụ kiểm định và giấy chứng nhận cho phương tiện vận tải ( điểm a , khoản 2 Điều 7 Nghị định 140/2007/NĐ-CP ). Lý do vì đây là những dịch vụ quan trọng và ảnh hưởng đến quy định của pháp luật, liên quan đến yếu tố chính chị và các chính sách của Nhà nước .
  • Logistics hiện tại vẫn còn là một ngành dịch vụ khá mới nên cần có sự bảo trợ của Nhà nước để hỗ trợ doanh nghiệp phát triển và cạnh tranh. Tuy nhiên, việc hạn chế góp vốn khi thành lập các doanh nghiệp liên doanh phần lớn sẽ dần dỡ bỏ kể từ năm 2014 khi Việt Nam đã gia nhập WTO.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

1.2. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm các bên trong quan hệ dịch vụ logistics Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Bản chất của hoạt động dịch vụ là sự thỏa thuận, bên cạnh quyết định cho các bên quyền tự do thỏa thuận, quyền thỏa thuận áp dụng luật nước ngoài và tập quán thương mại, Luật Thương mại năm 2005 có quy định quyền và nghĩa vụ các bên nếu các bên không thỏa thuận cụ thể. Những quy định khung này là cơ sở để đảm bảo quyền cơ bản của các bên trong quan hệ dịch vụ Logistics được quy định tại mục 2 chương III (Luật Thương mại năm 2005): Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hoạt động dịch vụ từ Điều 78 đến Điều 87 cụ thể hơn ở mục 4 chương IV “ Dịch vụ Logistics “ từ Điều 235 đến Điều 240.

1.2.1. Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics

Để đảm bảo nghĩa vụ thanh toán tiền thu lao và các khoản chi phí hợp lý khác, người làm dịch vụ Logistics có quyền cầm giữ và định đoạt hàng hóa. Theo quy định tại Điều 239 Luật Thương mại năm 2005 thì người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa có quyền cầm giữ số hàng hóa để đòi tiền nợ đã đến hạn của khách hàng. Tuy nhiên quyền cầm giữ chi phí phát sinh khi có các điều kiện sau :

  • Thứ nhất, khách hàng không thanh toán số nợ đến hạn như khoản thù lao dịch vụ và chi phí hợp lý khác v.v..;
  • Thứ hai, chỉ được cầm giữ số lượng hàng hóa có giá trị tương đương với giá trị nợ mà khách hàng chưa thanh toán;
  • Thứ ba, người làm dịch vụ phải thông báo bằng văn bản ngay cho khách hàng về việc cầm giữ hàng hóa.

Sau khi cầm giữ hàng hóa 45 ngày kể từ ngày cầm giữ, nếu khách hàng không thanh toán nợ cho người giao nhận hàng hóa thì họ có quyền định đoạt với hàng hóa đó. Nếu hàng hóa có dấu hiệu hư hỏng, quyền định đoạt phát sinh khi có bất cứ khoản nợ nào của khách hàng. Trước khi định đoạt đối với hàng hóa để thu hồi nợ, người cầm giữ phải thông báo cho khách hàng về việc cầm giữ hàng hóa.

Sau khi cầm giữ hàng hóa 45 ngày kể từ ngày cầm giữ, nếu khách hàng không thanh toán nợ cho người giao nhận hàng hóa thì họ có quyền định đoạt phát sinh khi có bất cứ khoản nợ nào của khách hàng. Trước khi định đoạt đối với hàng hóa để thu hồi nợ, người cầm giữ phải thông báo cho khách hàng biết bằng văn bản. Các chi phí liên quan đến việc định đoạt hàng hóa do khách hàng chịu.

Trường hợp cầm giữ và định đoạt sai trái gây thiệt hại cho khách hàng thì người làm dịch vụ phải bồi thường theo quy định pháp luật.

1.2.2. Quyền và nghĩa vụ của khách hàng

Với tính chất là một hoạt động dịch vụ quyền của các bên này sẽ tương ứng với trách nhiệm cuả bên kia khi sử dụng dịch vụ Logistics. Nếu không có thỏa thuận khác khách hàng được hưởng các quyền và thực hiện các nghĩa vụ.

  • Hướng dẫn, kiểm tra, giám sát thực hiện hợp đồng;
  • Cung cấp đầy đủ chỉ dẫn cho thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic ;
  • Thông tin chi tiết, đầy đủ, chính xác và kịp thời về hàng hóa cho thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics;
  • Đóng gói, ghi ký mã hiệu hàng hóa theo hợp đồng mua bán hàng hóa, trừ trường hợp có thỏa thuận để thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics đảm nhận công việc này;
  • Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí hợp lý phát sinh cho thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của mình hoặc trong trường hợp do lỗi của mình gây ra;
  • Bồi thường thiệt hại, trả các chi phí hợp lý phát sinh cho thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics nếu người đó đã thực hiện đúng chỉ dẫn của mình hoặc trong trường hợp do lỗi của mình gây ra;
  • Thanh toán cho thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics mọi khoản tiền đã đến hạn thanh toán

1.3. Giới hạn trách nhiệm và các trường hợp miễn trách nhiệm của người làm dịch vụ logistics

Trong quá trình kinh doanh dịch vụ logistics, các chủ thể có thể thực hiện một hoặc một số hoạt động trong chuỗi dịch vụ logistics, chính vì tính chất phức tạp và đòi hỏi nhiều yếu tố kỹ thuật của hoạt động này nên nó tiềm ẩn tính rủi ro cao. Nếu một bên không thực hiện nghiêm túc sẽ làm phát sinh trách nhiệm hợp đồng. Trách nhiệm này có thể là trách nhiệm buộc “bên không thực hiện nghiêm túc phải thực hiện đúng hợp đồng, bồi thường thiệt hại phát sinh từ vi phạm hợp đồng hoặc chịu phạt hợp đồng hay phải để bên bị vi phạm hủy hợp đồng. Để xác định chính xác trách nhiệm thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics đến đâu trong trường hợp xảy ra tranh chấp giữa các bên cần xem xét các quy định của pháp luật về giới hạn trách nhiệm

1.3.1. Về giới hạn trách nhiệm Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Theo khoản 4 Điều 3 Nghị định 140/2007/NĐ-CP thì: Giới hạn trách nhiệm là hạn mức tối đa mà thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại cho khách hàng đối với những tổn thất phát sinh trong quá trình tổ chức thực hiện dịch vụ logistics.

Một nguyên tắc chung của trách nhiệm bồi thương thiệt hại mà Bộ luật dân sự quy định là bên vi phạm hợp đồng gây hại bao nhiêu thì phải chịu trách nhiệm bồi thường bấy nhiêu. Cụ thể, Điều 238 Luật Thương Mại 2005 quy định: “Trừ khi các bên có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm với tổn thất hàng hóa”. Với quy định này thì giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại của người làm dịch vụ giao nhận hàng hóa là một ngoại lệ của chế tài bồi thường trong luật thương mại nói chung.

Cụ thể. Theo điều 302 Luật Thương mại 2005 :

Giá trị bồi thường thiệt hại bao gồm giá trị tổn thất thực tế, trực tiếp mà bên bị vi phạm phải chịu do bên vi phạm gây ra và khoản lợi trực tiếp mà bên bị vi phạm đáng lẽ được hưởng nếu không có hành vi vi phạm.

Tuy nhiên, theo khoản 3 Điều 238 Luật Thương mại 2005: “Người làm dịch vụ logistics không được hưởng quyền giới hạn trách nhiệm bồi thường thiệt hại nếu người có quyền và lợi ích liên quan chứng minh được sự mất mát, hư hỏng hoặc giao trả hàng chậm là do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistic cố ý gây ra hoặc không hành động để gây ra mất mát, hư hỏng; chậm trễ hoặc đã hành động hoặc không hành động một cách mạo hiển và biết rằng sự mất mát, hư hỏng và chậm trễ đó chắc chắn xảy ra”.  Như vậy, để xác định một thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics có được hưởng quyền miễn trừ giới hạn trách nhiệm hay không thì bên cạnh sự thỏa thuận của các bên còn cần xem xét đến lỗi của bên vi phạm trong từng trường hợp cụ thể.

Nghị định 140/2007/NĐ-CP cũng có quy định cụ thể về giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tại Điều 8:

Điều 8. Giới hạn trách nhiệm

  1. Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ lôgistíc liên quan đến vận tải thực hiện theo quy định của pháp luật có liên quan về giới hạn trách nhiệm trong lĩnh vực vận tải.
  2. Giới hạn trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ lôgistíc không thuộc phạm vi khoản 1 Điều này do các bên thoả thuận. Trường hợp các bên không có thoả thuận thì thực hiện như sau:
  3. Trường hợp khách hàng không có thông báo trước về giá trị của hàng hoá thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500 triệu đồng đối với mỗi yêu cầu bồi thường.
  4. Trường hợp khách hàng đã thông báo trước về giá trị của hàng hoá và được thương nhân kinh doanh dịch vụ lôgistíc xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của hàng hoá đó.
  5. Giới hạn trách nhiệm đối với trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ lôgistíc tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

1.3.2. Về các trường hợp miễn trách nhiệm Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Luật thương mại 2005 quy định cụ thể về các trường hợp miễn trách nhiệm đối với bên vi phạm hợp đồng nói chung tại Điều 294 và đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistíc nói riêng tại Điều 237.

Điều 294 Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với hành vi vi phạm

  1. Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:
  2. Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;
  3. Xảy ra sự kiện bất khả kháng;
  4. Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;
  5. Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.
  6. Bên vi phạm hợp đồng có nghĩa vụ chứng minh các trường hợp miễn trách nhiệm.“ Điều 237 “ Các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics
  7. Ngoài những trường hợp miễn trách nhiệm quy định tại Điều 294 của Luật này, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về những tổn thất đối với hàng hoá phát sinh trong các trường hợp sau đây:
  8. Tổn thất là do lỗi của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;
  9. Tổn thất phát sinh do thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics làm đúng theo những chỉ dẫn của khách hàng hoặc của người được khách hàng uỷ quyền;
  10. Tổn thất là do khuyết tật của hàng hoá;
  11. Tổn thất phát sinh trong những trường hợp miễn trách nhiệm theo quy định của pháp luật và tập quán vận tải nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics tổ chức vận tải;
  12. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về khiếu nại trong thời hạn mười bốn ngày, kể từ ngày thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics giao hàng cho người nhận;
  13. Sau khi bị khiếu nại, thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không nhận được thông báo về việc bị kiện tại Trọng tài hoặc Toà án trong thời hạn chín tháng, kể từ ngày giao hàng.
  14. Thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics không phải chịu trách nhiệm về việc mất khoản lợi đáng lẽ được hưởng của khách hàng, về sự chậm trễ hoặc thực hiện dịch vụ logistics sai địa điểm không do lỗi của mình.

Như đã đề cập, kinh doanh dịch vụ logistics là ngành nghề luôn tiềm ẩn tính rủi ro cao với hợp đồng dịch vụ có giá trị lớn, cần đưa ra những quy định chung làm khung cơ sở cho việc giải quyết tranh chấp giữa các bên nếu có phát sinh để bảo vệ quyền lợi của chủ thể kinh doanh dịch vụ logistics nói riêng và các chủ thể tham gia quan hệ hợp đồng nói chung .

2. MỘT SỐ QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT VIỆT NAM CÓ LIÊN QUAN ĐẾN DỊCH VỤ LOGISTICS Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Dịch vụ logistics được điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau:

Thứ nhất, Luật Thương Mại 2005 (từ điều 233 đến điều 240) và nghị định hướng dẫn thi hành (Nghị định số 140/2007/NĐ-CP ngày 05-09-2007)

Khác với khung pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật Việt Nam định nghĩa khá cụ thể về dịch vụ logistics trong văn bản pháp luật (Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định số 140/2007/NĐ-CP).

Luật thương mại năm 2005 định nghĩa dịch vụ logistics (Điều 233) và quy định khái quát về điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics (Điều 234); quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics và khách hàng (các Điều 235, 236); các trường hợp miễn trách nhiệm đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics (Điều 237); giới hạn trách nhiệm (Điều 238); quyền cầm giữ và định đoạt hàng hoá và nghĩa vụ của người cầm giữ hàng (các Điều 239, 240).

Điều 233 Luật thương mại năm 2005 quy định:

Dịch vụ logistics là hoạt động thương mại, theo đó thương nhân tổ chức thực hiện một hoặc nhiều công việc bao gồm nhận hàng, vận chuyển, lưu kho, lưu bãi, làm thủ tục hải quan, các thủ tục giấy tờ khác, tư vấn khách hàng, đóng gói bao bì, ghi kí mã hiệu, giao hàng hoặc các dịch vụ khác có liên quan đến hàng hoá theo thoả thuận với khách hàng để hưởng thù lao”.

Theo Điều 4 Nghị định số 140/2007/NĐ-CP, dịch vụ logistics được phân loại như sau:

Các dịch vụ logistics chủ yếu, bao gồm:

  1. Dịch vụ bốc xếp hàng hoá, bao gồm cả hoạt động bốc xếp container;
  2. Dịch vụ kho bãi và lưu giữ hàng hoá, bao gồm cả hoạt động kinh doanh kho bãi container và kho xử lí nguyên liệu, thiết bị;
  3. Dịch vụ đại lí vận tải, bao gồm cả hoạt động đại lí làm thủ tục hải quan và lập kế hoạch bốc dỡ hàng hoá;
  4. Dịch vụ bổ trợ khác, bao gồm cả hoạt động tiếp nhận, lưu kho và quản lí thông tin liên quan đến vận chuyển và lưu kho hàng hoá trong suốt cả chuỗi logistics; hoạt động xử lí lại hàng hoá bị khách hàng trả lại, hàng hoá tồn kho, hàng hoá quá hạn, lỗi mốt và tái phân phối hàng hoá đó; hoạt động cho thuê và thuê mua container.
  5. Các dịch vụ logistics liên quan đến vận tải, bao gồm:
  6. Dịch vụ vận tải hàng hải;
  7. Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;
  8. Dịch vụ vận tải hàng không;
  9. Dịch vụ vận tải đường sắt;

đ) Dịch vụ vận tải đường bộ.

  1. Dịch vụ vận tải đường ống.
  2. Các dịch vụ logistics liên quan khác, bao gồm:
  3. Dịch vụ kiểm tra và phân tích kĩ thuật;
  4. Dịch vụ bưu chính;
  5. Dịch vụ thương mại bán buôn;
  6. Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lí hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hoá, phân phối lại và giao hàng;

đ) Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác”. Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Về cơ bản, cách hiểu của pháp luật Việt Nam về dịch vụ logistics đã hài hoà với thông lệ quốc tế.

Thứ hai, dịch vụ Logistics cũng được điều chỉnh bởi Bộ luật dân sự thông qua lĩnh vực hợp đồng dịch vụ Logistics. Về cơ bản, hợp đồng dịch vụ Logistics cũng là một dạng của hợp đồng dân sự. Vì vậy, hợp đồng dịch vụ Logistics chịu sự điều chỉnh và  tuân theo các nguyên tắc cơ bản sau:

  • Nguyên tắc tự do thỏa thuận. Các bên trong hợp đồng có quyền thỏa thuận về rất nhiều nội dung trong hợp đồng như trách nhiệm đối với hàng hóa, thời hạn, giá cả thực hiện hợp đồng, trách nhiệm và giới hạn trách nhiệm đối với hàng hóa bị hư hỏng, mất mát, thỏa thuận chọn hình thức, luật và nơi giải quyết tranh chấp. Mặc dù vậy, các bên trong hợp đồng có trách nhiệm thực hiện các quyền và nghĩa vụ như đã thỏa thuận trong hợp đồng dịch vụ.
  • Nguyên tắc áp dụng pháp luật nước ngoài và tập quán thương mại quốc tế. Theo quy định của Luật Thương mại năm 2005, nếu các bên tham gia hợp đồng có yếu tố nước ngoài thì được thỏa thuận áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế nếu pháp luật nước ngoài và tập quán quốc tế đó không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam ( Điều 5, Luật Thương mại 2005)

Thứ ba, như đã trình bày ở trên, Thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh dịch vụ Logistics cũng giống như những thương nhân, doanh nghiệp đăng ký kinh doanh các dịch vụ khác đều phải tuân theo những quy định về “thành lập doanh nghiệp và đăng ký kinh doanh“ của Luật doanh nghiệp năm 2014 ( Điều 18 và 19 Luật Doanh nghiệp năm 2005 ).

Thứ tư, đối với hàng hóa xuất nhập khẩu qua biên giới, dịch vụ Logistics sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Hải quan về thủ tục kê khai, đăng ký hồ sơ hải quan của hàng hóa đó ( Điều 24,25,29 và 30 Luật Hải quan năm 2014 )

Bên cạnh đó, thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics có liên quan đến vận tải ngoài việc áp dụng thủ tục đăng ký kinh doanh thông thường còn phải đáp ứng các điều kiện được quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành như: vận tải đường biển sẽ tuân theo quy định của Bộ luật Hàng hải, Nghị định số 49/2006/NĐCP ngày 18-05-2006 về thủ tục đăng ký tàu biển ( bao gồm thế chấp tàu biển ), Nghị định số 115/2007/NĐ-CP ngày 05-07-2007 về điều kiện kinh doanh dịch vụ vận tải biển; vận tải đường bộ sẽ chịu sự điều chỉnh của Luật Giao thông đường bộ (2001), Thể lệ vận chuyển hàng hóa bằng đường ô- tô, Nghị định số 110/2006/NĐCP ngày 28-09-2006 về điều kiện kinh doanh vận tải bằng ô tô; vận tải đường thủy tuân theo quy định của Luật Giao thông đường thủy nội địa (2004); vận tải hàng không theo Luật hàng không dân dụng Việt Nam 2006, Điều lệ vận chuyển hàng hóa quốc tế của Hãng hàng không quốc gia Việt Nam 1993…

3. CÁC CAM KẾT QUỐC TẾ CỦA VIỆT NAM VỀ DỊCH VỤ LOGISTICS

Trong bối cảnh hội nhập với nền kinh tế thế giới, hoạt động kinh doanh dịch vụ Logistics ở Việt Nam không chỉ chịu sự điều chỉnh của các quy phạm pháp luật, tập quán trong nước mà còn chịu sự điều chỉnh của các quy phạm, cam kết và thông lệ quốc tế. Theo dòng chảy của sự phát triển kinh tế, dịch vụ vận tải là một trong những ưu tiên hàng đầu với thương mại hàng hóa quốc tế. Vì lý do đó, các thành viên WTO luôn dành sự quan tâm đến việc tự do hóa thị trường dịch vụ vận tải, đặc biệt là đối với vận tải hàng hải và các dịch vụ hỗ trợ khác như dịch vụ xếp dỡ hàng hóa, dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa, dịch vụ giao nhận và dịch vụ kho bãi. Theo thống kê, trong số 28 quốc gia và vùng lãnh thổ yêu cầu đàm phán song phương với Việt Nam, có tới 11 đối tác yêu cầu đàm phán về dịch vụ vận tải (gồm Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, EU, Na Uy, Thụy Sĩ, Hoa Kỳ, Canada, Australia, New Zealand, Đài Loan).

3.1 Về dịch vụ vận tải Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Cam kết về dịch vụ vận tải hàng hải của Việt Nam là tương đối cao nhưng theo đánh giá thì mức độ ảnh hưởng của từng cam kết với các doanh nghiệp còn phụ thuộc vào tình hình thực tiễn của thị trường cung cấp dịch vụ đó.

Theo đó, Việt Nam cam kết “không hạn chế” về dịch vụ vận tải hàng hải nhưng xét về thực chất cam kết này không ảnh hưởng quá nhiều đến các doanh nghiệp vận tải hàng hải Việt Nam vì trên thực tế thị trường này hoàn toàn thuộc về các hãng tàu biển nước ngoài. Hiện tại, các doanh nghiệp Việt Nam hoạt động trong lĩnh vực đại lý vận tải hàng hóa đường biển và đại lý tàu biển sẽ chịu ảnh hưởng nhiều nhất bởi cam kết cho phép các công ty vận tải hàng hải nước ngoài được thành lập liên doanh với tỉ lệ góp vốn quá 51% ngay từ khi gia nhập và được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập. Điểm mấu chốt của cam kết này doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài do công ty vận tải hàng hải nước ngoài thành lập chỉ được phép thực hiện các hoạt động phục vụ cho chính công ty mẹ mà không được phép cung cấp dịch vụ cho khách hàng khác. Các công ty vận tải hàng hải nước ngoài vận chuyển hàng hóa đi, đến Việt Nam, nếu không thành lập đại diện thương mại tại Việt Nam thì vẫn phải sử dụng dịch vụ của doanh nghiệp Việt Nam.

Bên cạnh đó, đối với dịch vụ xếp dỡ container, Việt Nam cam kết cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thành lập liên doanh với tỉ lệ góp vốn không quá 50% và không có lộ trình mở rộng hơn nữa. Mặt khác, dịch vụ đại lý tàu biển không được đưa vào biểu cam kết dịch vụ nhằm mục đích bảo hộ các doanh nghiệp trong nước. Việt Nam không có bất kì cam kết nào với Hoa Kì theo BTA về dịch vụ vận tải hàng hải nhưng có cam kết với EU theo Hiệp định Việt Nam – EU về tiếp cận thị trường ngày 03/12/2004 và Hiệp định song phương Việt Nam – EU về việc Việt Nam gia nhập WTO ngày 09/10/2004. Theo các cam kết này, Việt Nam cho phép nhà cung cấp dịch vụ vận tải hàng hải được thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài. Bộ luật hàng hải năm 2005 điều chỉnh dịch vụ vận tải hàng hải của cả người Việt Nam lẫn người nước ngoài. Bộ luật cho phép nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài thực hiện rất nhiều dịch vụ vận tải hàng hải, kể cả vận tải nội địa trong những trường hợp nhất định. Về nguyên tắc, Bộ luật hàng hải năm 2005 cho phép đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực cảng biển. [13]

Cụ thể,trên tinh thần của thỏa thuận VN-EU về mở cửa thị trường ký ngày 312-2004 và thỏa thuận gia nhập Tổ chức Thương mại thế giới giữa VN-EU ký tắt ngày 9-10-2004, tháng 03/2005, Công ty Maersk A/S (Đan Mạch) được cấp phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam với số vốn điều lệ 1 triệu USD%, cung cấp dịch vụ đại lý vận tải hàng hóa đường biển bao gồm các hoạt động như đại diện cho chủ hàng, hoạt động giao nhận kho bãi, dịch vụ vận tải hàng hóa bằng đường biển… . Đây là công ty 100% vốn nước ngoài đầu tiên tham gia lĩnh vực giao nhận vận tải của Việt Nam, giới hạn tỉ lệ tham gia của bên nước ngoài trong các liên doanh ở mức 4:9 [27]

3.2 Về dịch vụ vận tải hàng không

WTO không điều chỉnh về vận tải hàng không mà tập trung điều chỉnh về một số dịch vụ hỗ trợ như tiếp thị và bán sản phẩm hàng không , đặt giữ chỗ bằng máy tính và dịch vụ bảo dưỡng sửa chữa tàu bay. Việt Nam đã cam kết mở cửa thị trường dịch vụ bảo dưỡng và sửa chữa máy bay, cho phép doanh nghiệp nước ngoài liên doanh với đối tác Việt Nam vào thời điểm gia nhập WTO, được thành lập vốn doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau 5 năm gia nhập WTO.[15, 18-25]

3.3 Về các dịch vụ vận tải khác Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Các phân ngành dịch vụ khác đều có cam kết chặt chẽ nhằm tạo điều kiện cho các nhà cung cấp dịch vụ trong nước có thời gian để tự chuyển giao, đổi mới nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh với doanh nghiệp nước ngoài. Dịch vụ vận tải đường sắt chuyển sang hướng tự do hóa cung cấp dịch vụ cho mọi thành phần kinh tế nên được xem xét cam kết ở mức độ thận trọng hơn với quy định cho phép thành lập liên doanh tối đa với tỉ lệ 49% vốn nước ngoài.

3.4 Về dịch vụ chuyển phát nhanh

Tuy không có cam kết về dịch vụ chuyển phát nhanh BTA giữa Việt Nam và Hoa Kì nhưng có thỏa thuận đàm phán song phương của Việt Nam khi gia nhập WTO với Hoa Kì cho phép các công ty chuyển phát nhanh nước ngoài hoạt động với tư cách bên góp vốn đa số trong liên danh với đối tác Việt Nam ở thời điểm gia nhập và thành lập doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài sau 5 năm kể từ khi gia nhập WTO

Các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên bao gồm :

  • Công ước của Liên Hơp Quốc về vận tải hàng hóa quốc tế đa phương thức 1980
  • Công ước Vascxava về vận chuyển hàng không quốc tế năm 1929
  • Công ước Kyoto
  • Điều kiện thương mại quốc tế Incoterm 2000
  • Hiệp định khung ASEAN về vận tải đa phương thức được ký kết trong khuôn khổ Hội nghị lần thứ 11 các Bộ trưởng Giao thông vận tải ASEAN diễn ra tại Lào vào cuối tháng 11-2005
  • Hiệp định về hàng hóa quá cảnh Lào – Việt Nam được kí kết ngày 13 tháng 3 năm 2009 tại Viêng Chăn, Thủ đô nước cộng hòa dân chủ nhân dân Lào
  • Cam kết quốc tế trong các Hiệp định song phương và trong khu vực và trên thế giới như Hiệp định thương mại Việt Nam – Hoa Kỳ, Hiệp định ưu đãi thuế quan có hiệu lực chung của CEPT, và các cam kết của Việt Nam trong WTO về mở ra một vài phân ngành của dịch vụ Logistics khi Việt Nam khi tham gia WTO. Ngoài ra còn các hoạt động dịch vụ Logistics được điều chỉnh trong một vài văn bản khác liên quan đến từng lĩnh vực cụ thể.[11]

3.5 Các quy định của pháp luật nước ngoài cũng như kinh nghiệm trong công tác quản lý nhà nước về dịch vụ Logistics Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

  • Singapore

Singapore hiện tại là nước đi đầu về quản lý và phát triển dịch vụ Logistics trong khu vực và trên thế giới. Không chỉ áp dụng thành công những thành tựu về công nghệ thông tin và trong quản lý dịch vụ Logistics, Singapore đã trở nên lớn mạnh hơn trong lĩnh vực dịch vụ Logistics bằng cách đề ra chính sách “ một cửa “ nhằm đơn giản hóa các thủ tục hành chính liên quan tới hoạt động xuất nhập khẩu, thông quan và trung chuyển. Cụ thể:

Thứ nhất, về chính sách ưu đãi thuế đối với các công ty vận tải và logistics: khuyến khích các công ty đa quốc gia và các nhà cung ứng dịch vụ Logistics quốc tế xây dựng và đặt trụ sở tại Singapore với nhiều ưu đãi như giảm thuế với lợi nhuận doanh nghiệm, miễn thuế đối với đầu tư mạo hiểm, miễn thuế thu nhập từ tàu biển trong 10 năm, hưởng tỷ lệ thuế ưu đãi nhỏ hơn 10% trên mức tăng doanh thu trong 5 năm, cho vay ưu đãi với tàu và container.

Thứ hai, về chính sách hải quan : áp dụng Trade net giúp quy trình làm thủ tục hải quan được tự động hóa, tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động thương mại và trung chuyển hàng hóa.

Thứ ba, về chính sách phát triển nguồn nhân lực: Singapore thường xuyên giới thuệu kỹ thuật Logistics mới nhất cho các chúng và công ty, hợp tác giữa nhà trường với nhà nước và tổ chức quốc tế trong việc đào tạo về ngành dịch vụ Logistics . [28]

Cùng với đó là việc nâng cao vai trò đặc biệt quan trọng của Hiệp hội dịch vụ Logistics Singapore (SLA – Singapore Logistics Associations).

  • Trung Quốc

Cùng với Singapore, Trung Quốc là quốc gia có một ngành dịch vụ Logistics vô cùng phát triển với những chính sách mở cửa. Trong Bảng xếp hạng hiệu quả hoạt động dịch vụ Logistics (Logistics Performance Index – LPI) của Ngân hàng thế giới Trung Quốc đứng ở vị trí thứ 30, Hongkong đứng thứ 8 trong tổng số 150 quốc gia, vùng lãnh thổ về dịch vụ Logistics. Nổi bật trong thành công ấy không thể không thể kể đến sự đổi mới quản lý nhà nước đối với dịch vụ Logistics một cách đúng đắn, đồng bộ từ các cấp quản lý nhà nước và sự quan tâm đầu tư hợp lý của doanh nghiệp. Đặc biệt, Chính phủ cho phép thành lập công ty 100% vốn nước ngoài, tạo điều kiện cho công ty nước ngoài có thể thâm nhập sâu vào thị trường. Bên cạnh đó là việc chú trọng xây dựng hệ thống kho bãi và phát triển hệ thống thông tin liên lạc, áp dụng công nghệ tiên tến của thế giới vào dịch vụ Logistics.

  • Malaysia

Malaysia dù là quốc gia có xuất phát điểm thấp hơn Singapore nhưng bằng sự nhận thức kịp thời của Chính phủ, Malaysia đã có những sự đột biến trong quá trình phát triển ngành dịch vụ Logistics. Cụ thể, chính phủ Malaysia đã tái cơ cấu và khởi động lại Uỷ ban Logistics Malaysia, đơn giản hóa thủ tục hải quan, thông quan, áp dụng công nghệ cao vào các khâu quản lý, giám sát và điều hành hoạt động Logistics; thay đổi quy định thông quan, khuyến khích hợp nhất, chuyển đổi mô hình hoạt động cung cấp dịch vụ Logistics tích hợp, ưu đãi thuế nhằm khuyến khích các công ty địa phương đầu tư ra nước ngoài, tham gia vào chuỗi cung ứng toàn cầu…

Bên cạnh đó , Malaysia chú trọng đến lựa chọn con đường phát triển toàn diện mọi loại hình vận tải, trong đó lấy hàng không làm bàn đạp để tạo cú hích cho dịch vụ Logistics phát triển là bước đi quan trọng. [28]

Maylaysia thành lập các cảng nội địa và các khu thương mại tự do là những hướng đi có tính đột phá và mới mẻ, giúp tăng khả năng trung chuyển hàng hóa trong chuỗi cung ứng, hình thành hệ thống vận chuyển liên thông giữa Thái Lan- Malaysia – Indonesia – Singapore.

  • Nhật Bản

Đồng thời, Nhật Bản cũng là một quốc gia rất chú trọng tới ngàng dịch vụ Logistics đầy tiềm năng bằng việc sửa đổi chính sách, đường lối phát triển dịch vụ Logistics với mục tiêu ủng hộ công cuộc cải tổ cơ cấu thị trường dịch vụ Logistics. Ưu tiên cho hệ thống phân phối hiệu quả, chính xác nhằm nâng cao tính cạnh tranh quốc tế của dịch vụ Logistics, chú trọng vào 2 chiến lược phát triển cơ bản là tập trung hợp lý hóa dịch vụ Logistics thành phố, vùng , ngành chính phủ trực tiếp chỉ đạo, dẫn dắt việc phát triển đối với dịch vụ Logistics cảng biển. [20,22]

KẾT LUẬN Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

Phân phối giống như mạch máu của nền kinh tế. Hàng hóa mà không đến được với người tiêu dùng thì cũng đồng nghĩa với nhà sản xuất không thể bán được hàng. Đối với những nhà sản xuất, có được hệ thống phân phối hiệu quả chính là có được một lợi thế lớn đối với các đối thủ cạnh tranh. Và Logistics chính là mắt xích quan trọng nhất trong hệ thống phân phối ấy.

Trên thế giới, dịch vụ Logistics đang trong thời kỳ phát triển mạnh mẽ nhất và đem lại nguồn thu to lớn cho các doanh nghiệp. Mặc dù vậy, ở Việt Nam đây lại là một ngành dịch vụ còn non trẻ, còn nhiều tiềm năng phát triển. Hiện nay, hầu hết các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ Logistics của Việt Nam chỉ có vai trò là nhà cung cấp dịch vụ vệ tinh như cung cấp các phương tiện vận tải, kho bãi; chưa có doanh nghiệp nào đủ sức tổ chức điều hành toàn bộ quy trình của dịch vụ Logistics. Nguyên nhân của tình trạng này có rất nhiều như: nguồn nhân lực yếu và thiếu; cơ sở hạ tầng kém; hành lang pháp lý còn chưa hoàn thiện, chưa đồng bộ, nhất quán.

Với góc nhìn của một sinh viên ngành luật, em thấy rằng việc hoàn thiện các thiếu sót, bấp cập của pháp luật về logistics ở Việt Nam là rất cấp thiết. Nhất là trong xu thế toàn cầu hóa, Việt Nam liên tiếp đàm phán gia nhập các hiệp định thương mại song phương, đa phương. Từ đó, sản xuất hàng hóa của Việt Nam sẽ phát triển, khối lượng hàng hóa xuất nhập khẩu sẽ gia tăng, việc trao đổi thương mại giữa Việt Nam và các nước trên thế giới ngày một mở rộng. Trong điều kiện này, với vị trí đắc địa trên tuyến đường hàng hải quốc tế giữa Đông và Tây, với hệ thống cơ sở hạ tầng được nâng cấp cùng sự định hướng phát triển đúng đắn của Nhà nước, việc hoàn thiện hệ thống pháp luật về Logistics chắc chắn sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp Logistics của Việt Nam phát triển mạnh mẽ trong tương lai không xa.[14,20] Khóa luận: Hoàn thiện Pháp luật về dịch vụ Logistics Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Các vấn đề pháp lý về dịch vụ Logistics tại Việt Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537