Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Nghiên cứu một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất chè tại Công Ty CP chè Thái Bình Lạng Sơn cho các bạn.

MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Trong nền kinh tế thị trường, doanh nghiệp đóng vai trò rất quan trọng trong thúc đẩy và phát triển kinh tế. Nền kinh tế theo cơ chế thị trường muốn hoạt động có hiệu quả đòi hỏi người doanh nghiệp phải tìm hiểu nhu cầu thị trường phải biết thị trường đang cần gì? trước khi quyết định sản xuất sản phẩm gì?

Điều này đòi hỏi các nhà sản xuất phải có những hoạt động Marketing để tìm cách kết nối hoạt động sản xuất của mình với thị trường, đảm bảo hoạt động kinh doanh theo hướng thị trường, lấy thị trường nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm căn cứ quan trọng trong mọi quyết định sản xuất kinh doanh. Trước tình hình cạnh tranh gay gắt cùng với yêu cầu ngày càng cao từ phía khách hàng đã đòi hỏi các doanh nghiệp luôn có những chiến lược khác biệt và các biện pháp kịp thời để nâng cao hoạt động kinh doanh của mình. Hoạt động sản xuất bền vững là một công đoạn rất quan trọng, nó quyết định sự tồn tại của mỗi doanh nghiệp. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Công ty Cổ phần chè Thái Bình Lạng Sơn là một trong những doanh nghiệp bán và phân phối các sản phầm chè. Với định hướng khẳng định Danh Trà Xứ Lạng thương hiệu chè Việt trong và ngoài nước về lĩnh vực bán và phân phối sản phẩm chè, đặc biệt là các loại chè, đặc biệt là trè xanh Đình Lập, việc nâng cao hiệu quả hoạt động sảng xuất của công ty là rất cần thiết. Từ khi thành lập cho đến nay, bên cạnh những thành công bước đầu trong sản xuất kinh doanh như nâng cao giá trị và giữ gìn tiếng cho sản phẩm nhãn của Công ty, Công ty vẫn còn gặp nhiều khó khăn cần giải quyết:

Sản phẩm chưa đa dạng đặc biệt chưa được đầu tư công nghệ bảo quản, chế biến sâu nên giá trị chưa cao.

  • Hoạt động quản lý và giám sát, ghi chép để đảm bảo chất lượng theo tiêu chuẩn trong nước và xuất khẩu chưa hoàn thiện.
  • Hoạt động quảng bá và giới thiệu sản phẩm chưa khoa học và thường xuyên.
  • Kỹ năng quản lý sản xuất kinh doanh và đặc biệt là kỹ năng đàm phán tiêu thụ sản phẩm của công ty còn hạn chế. Để giúp cho công ty hoạt động bài bản có hiệu quả và bền vững cần thiết phải khắc phục những khó khăn, tồn tại trên.

Xuất phát từ thực tế trên tôi đã chọn đề tài: “Nghiên cứu một số giải pháp Marketing nhằm nâng cao hiệu quả trong sản xuất chè tại Công Ty CP chè Thái Bình Lạng Sơn”làm mục đích và nội dung nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp của tôi.

2. Mục tiêu nghiên cứu

2.1. Mục tiêu chung

Nghiên cứu và đưa ra những giải pháp Marketing phù hợp cho xây dựng Công ty CP chè Thái Bình Lạng Sơn nói chung và hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty nói riêng theo hướng hiệu quả cao và bền vững.

2.2. Mục tiêu cụ thể

  • Khái quát được những vấn đề lí luận kinh tế và Marketing có liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của các công ty, doanh nghiệp nông nghiệp.
  • Đánh giá được thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty qua các năm.
  • Phân tích được những kết quả thành công, những hạn chế trong việc triển khai các hoạt động Marketing tại công ty CP chè Thái Bình
  • Đề xuất được một số giải pháp Marketing chủ yếu nhằm cải thiện, nâng cao hiệu quả và tính bền vững trong hoạt động sản xuất kinh doanh tại công Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

2.3. Ý nghĩa của đề tài

2.4. Ý nghĩa khoa học

Đối với bản thân sinh viên

  • Củng cố kiến thức đã học ở nhà trường và áp dụng vào quá trình thực tập tại cơ sở.
  • Nâng cao kĩ năng làm việc với cộng đồng, kĩ năng thu thập, khai thác và phân tích thông tin phục vụ cho đề tài nghiên cứu và công việc sau này.
  • Bản thân sinh viên có cơ hội tham gia làm việc cùng người dân, có cái nhìn thực tiễn về quá trình lao động làm việc của người nông dân, học hỏi được những kinh nghiệm quý báu về kĩ thuật trồng chăm sóc giống chè.
  • Có cơ hội tìm hiểu và hiểu rõ hơn về cơ chế hoạt động của thị trường, đánh giá nhận thức được hiệu quả mà nó mang lại đối với sản xuất nông nghiệp nói chung và sản xuất sản phẩm chè nói riêng.

Đối với các sinh viên khác

  • Các sinh viên khác sau khi biết đến đề tài nghiên cứu này sẽ có thêm kiến thức về hoạt động Marketing và nắm được những nội dung của đề tài có thể sử dụng làm tài liệu cho bản thân khi nghiên cứu những vấn đề có liên

2.5. Ý nghĩa thực tiễn

  • Đối với thị trấn Nông Trường

Đề tài nghiên cứu nhằm đưa ra những giải pháp giúp nâng cao hiệu quả và bền vững trong sản xuất sản phẩm chè. Do đó địa phương có thể dùng làm tài liệu tham khảo để có những phương hướng, mục tiêu phát triển đẩy mạnh sản xuất chè trong thời gian tới.

  • Đối với Công ty CP chè Thái Bình

Sau khi cùng sinh viên phân tích những tồn tại trong sản xuất và tiêu thụ chè, Công ty sẽ có nhưng việc làm cụ thể nhằm khắc phục những hạn chế.

Kết quả nghiên cứu của đề tài công ty có thể sử dụng làm tài liệu tham khảo trong hoạt động sản xuất kinh doanh để đạt hiệu quả cao và sản xuất bền vững.

3. Bố cục khóa luận

Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục của bài khóa luận bao gồm 4 chương chính:

  • Chương 1: Tổng quan tài liệu nghiên cứu.
  • Chương 2: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu.
  • Chương 3: Kết quả nghiên cứu và thảo luận.
  • Chương 4: Giải pháp Marketing và kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả và bền vững trong sản xuất sản phẩm chè của Công ty CP chè Thái Bình.

Chương 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

1.1. Cơ sở khoa học của đề tài nghiên cứu

1.1.1. Cơ sở lí luận

  • Các khái niệm có liên quan
  • Khái niệm Marketing hiện đại

Có rất nhiều định nghĩa khác nhau về Marketing tuy không ai tranh cãi hay phủ nhận vai trò, vị trí tác dụng của nó, nhưng người ta cũng chưa có được một định nghĩa thống nhất. Marketing theo nghĩa đen của nó là “làm thị trường” hay hoạt động bán hàng. Một định nghĩa như vậy không đầy đủ và chưa phản ánh được những nội dung cơ bản đặc biệt của marketing hiện đại. Một số định nghĩa:

Theo học viện Hamilton (Mỹ): Marketing là những hoạt động kinh tế trong đó hàng hóa được đưa từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

Theo Ủy ban các hiệp hội Marketing (Mỹ): Markketing là việc tiến hành các hoạt động kinh doanh có liên quan trực tiếp đến dòng vận chuyển hàng hóa và dịch vụ từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

Theo Davit Downey: Marketing là những biện pháp kiểm định thông qua một hệ thống mà qua hệ thống đó sản phẩm được chuyển từ người sản xuất đến người tiêu dùng.

Theo Jonh.H.Crighon (Oxtraylia): Marketing là quá trình cung cấp đúng sản phẩm, đúng kênh hay luồng hàng đúng thời gian và vị trí. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Marketing là quá trình làm việc với thị trường để thực hiện các cuộc trao đổi nhằm thỏa mãn những nhu cầu và mong muốn của con người. Marketing là một dạng hoạt động của con người nhằm thỏa mãn các nhu cầu và mong muốn thông qua trao đổi [3].

Theo đó Marketing là toàn bộ những hoạt động của con người tác động vào thị trường là toàn bộ những hoạt động nghiên cứu thị trường trước khi tiến hành sản xuất một sản phẩm nào đó, hay những hoạt động nghiên cứu sau khi sản xuất sản phẩm nhằm tiêu thụ sản phẩm ra thị trường nhanh nhất, tạo được uy tín đối với người tiêu dùng, mở rộng thị phần phát triển sản phẩm thúc đẩy sự phát triển của doanh nghiệp, hay nói cách khác mục đích của Marketing là thu lợi nhuân cho doanh nghiệp.

  • Nguyên tắc của Marketing hiện đại

Xuất phát từ nhu cầu thị trường: Việc tìm hiểu nhu cầu thị trường để xác định ngành hàng, mặt hàng cơ cấu mặt hàng sản xuất kinh doanh, những thay đổi cần thiết so với chu kì sản xuất kinh doanh trước, mảng thị trường cần quan tâm “bán những cái mà thị trường cần chứ không bán những cái sẵn có”.

Thỏa mãn tối đa nhu cầu thị trường: Sau khi phát hiện ra nhu cầu thị trường thì Marketing đề xuất kịp thời phương hướng và biện pháp điều chỉnh khối lượng bán, mặt hàng, mẫu mã, cách thức phục vụ giao tiếp sao cho thu hút nhiều nhất lượng cầu của thị trường.

Liên tục cạnh tranh: Marketing phải kiểm soát được tình hình cạnh tranh trên thị trường và sức cạnh tranh của doanh nghiệp, đề xuất các biện pháp điều chỉnh để thích ứng với tình hình cạnh tranh.

Năng động: Marketing phải kiểm soát được tiềm lực của doanh nghiệp, tiềm lực của đối thủ, tình hình chung của thị trường để sẵn sàng có đối sách phản ứng trước các diễn biến phức tạp của thị trường kể cả những tình huống ảnh hưởng đến sự tồn vong của doanh nghiệp.

Tối đa hóa lợi nhuận, tối thiểu hóa rủi ro: Cần phải kiểm soát những nhân tố ảnh hưởng đến lợi nhuận và tính an toàn trong kinh doanh, đề xuất biện pháp đảm bảo lợi nhuận cao nhất và thua lỗ ít nhất.

Biến nhu cầu tiềm năng thành nhu cầu hiện thực: Marketing cần phải tác động vào những trở ngại cả từ 2 phía trong khâu lưu thông để cung của doanh nghiệp và cầu của thị trường xích lại gần nhau.

Để tồn tại và phát triển mọi doanh nghiệp cần đặt cho mình một mục tiêu và cố gắng thực hiện để đạt được mục tiêu đó. Khi việc quản lí và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh dựa trên những kinh nghiệm, trực giác không thể đảm bảo cho sự thành công của doanh nghiệp. Việc lập ra những chiến lược, kế hoạch cụ thể sẽ giúp cho doanh nghiệp có những việc làm đúng hướng là việc làm cần thiết. Lập ra chiến lược Marketing sẽ giúp cho doanh nghiệp thực hiện các hoạt động Marketing một cách đồng bộ bắt đầu từ việc tiếp cận, tìm hiểu thị trường bên ngoài đến việc đánh giá tình hình, nguồn lực bên trong doanh nghiệp. Từ đó đưa ra những chính sách về sản phẩm giá cả, phân phối, xúc tiến phù hợp.Việc xây dựng chiến lược Marketing là việc làm cần thiết và quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp.

Marketing có vai trò quyết định và điều phối sự kết hợp các hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp với thị trường, có nghĩa là đảm bảo cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp hướng theo thị trường, biết lấy thị trường- nhu cầu và ước muốn của khách hàng làm chỗ dựa vững chắc nhất cho mọi quyết định kinh doanh của doanh nghiệp.

  • Chiến lược Marketing hỗn hợp (Marketing Mix)

Marketing Mix là tập hợp các yếu tố trên thị trường mà doanh nghiệp kiểm soát được đồng thời sử dụng các yếu tố này như là các công cụ tác động vào mong muốn của người tiêu dùng trên thị trường mục tiêu, nhằm biến các mong muốn đó thành cầu thị trường về sản phẩm của doanh nghiệp mình. Nội dung chiến lược Marketing Mix bao gồm: chiến lược sản phẩm, chiến lược giá, chiến lược phân phối và chiến lược quảng bá.Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Chiến lược sản phẩm: Sản phẩm hàng hóa là tất cả những cái, những yếu tố có thể thỏa mãn nhu cầu hay ước muốn của khách hàng, cống hiến những lợi ích cho họ và có khả năng đưa ra chào bán trên thị trường với mục đích thu hút sự chú ý mua sắm, sử dụng hay tiêu dùng

Chiến lược sản phẩm trong Marketing hỗn hợp bao gồm những quyết định về nhãn hiệu hàng hóa như tên nhãn hiệu, các biểu trưng, biểu tượng, chủ sở hữu. Các quyết định về bao gói, nhãn mác nhằm để lại ấn tượng cho khách hàng, là dấu hiệu nhận biết và phân biệt với sản phẩm cùng loại của doanh nghiệp khác.

Chiến lược giá: Việc thực hiện chiến lược giá cả nhằm mục đích tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp và tăng khối lượng sản phẩm bán, xác định giá sao cho phù hợp với các thị trường và phù hợp với giá cả của đối thủ cạnh tranh. Giá cả của sản phẩm có thể thay đổi tùy theo yêu cầu của thị trường mà doanh nghiệp có thể lựa chọn những phương pháp thay đổi giá hay hình thức khuyến mại để tăng doanh thu cho doanh nghiệp đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển.

Chiến lược phân phối sản phẩm: Là một trong những bộ phận quan trọng của chiến lược Marketing. Phân phối trong Marketing là các quá trình kinh tế tổ chức, cân đối, nhằm điều hành và vận chuyển sản phẩm hàng hóa từ nơi sản xuất đến người cuối cùng nhanh nhất nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

Thông thường các doanh nghiệp tiến hành phân phối thông qua 2 hình thức:

Phân phối trực tiếp Là hình thức phân phối không thông qua các phần tử trung gian, hình thức này diễn ra tỉ lệ tương đối ít chủ yếu là từ hộ gia đình sản xuất nhỏ lẻ tự bán hàng hóa của mình.

  • Phân phối gián tiếp

Hình 1.1 Kênh phân phối sản phẩm gián tiếp

Là hình thức phân phối phổ biến trên thị trường, thông qua các phần tử trung gian thị trường, mối quan hệ giữa nhà sản xuất với kênh phân phối rộng rãi và có nhiều cơ hội mở rộng thị trường, làm phong phú đối tượng khách hàng của doanh nghiệp.

Chiến lược quảng bá: Các doanh nghiệp tham gia vào thị trường không phải chỉ để thỏa mãn nhu cầu thị trường. Các doanh nghiệp là chủ thể cung cấp hàng hóa dịch vụ còn có chức năng tác động vào nhu cầu, định hướng cho sự phát triển của nhu cầu và hướng dẫn giáo dục tiêu dùng. Thông qua các hoạt động xúc tiến hỗn hợp của các doanh nghiệp vào thị trường thể hiện trách nhiệm với khách hàng, đảm bảo hàng hóa sử dụng đúng mục đích và đạt hiệu quả cao.

Những hoạt động quảng bá sản phẩm bao gồm:

  • Quảng cáo
  • Kích thích tiêu thụ
  • Tuyên truyền
  • Xúc tiến bán hàng
  • Dịch vụ sau bán hàng Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Tất cả các hoạt động Marketing mix đều nhằm mục đích hướng doanh nghiệp đến người tiêu dùng, với mục đích tăng doanh số bán hàng, tăng doanh thu và lợi nhuận. Tạo đà cho doanh nghiệp phát triển bền vững tạo dựng thương hiệu trên thị trường.

Quan điểm về hiệu quả kinh tế: HQKT được bắt nguồn từ sự thỏa mãn ngày càng tăng các nhu cầu vật chất và tinh thần của các thành viên trong xã hội cũng như khả năng khách quan của sự lựa chọn trên cơ sở trình độ phát triển lực lượng sản xuất và sự giới hạn của nguồn lực. Quá trình sản xuất vật chất, sản phẩm hàng hóa và dịch vụ sản xuất ra là kết quả của sự phối hợp các yếu tố đầu vào theo công nghệ, kỹ thuật sản xuất nhất định.

HQKT là một phạm trù kinh tế phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh tế. Vì vậy nâng cao chất lượng hoạt động kinh tế là nâng cao HQKT.HQKT là thước đo, một chỉ tiêu chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức sản xuất, trình độ lựa chọn, sử dụng, quản lý và khả năng kết hợp các yếu tố đầu vào của sản xuất của từng cơ sở sản xuất, kinh doanh cũng như toàn bộ nên kinh tế. Có thể nói HQKT là một phạm trù kinh tế xã hội, phản ánh các mặt chất lượng HQKT và phản ánh lợi ích chung của toàn xã hội, là đặc lượng của mọi nền sản xuất xã hội.

Khái niệm bền vững và sản xuất nông nghiệp bền vững: Phát triển bền vững là quan niệm mới của sự phát triển. Nó lồng ghép các quá trình sản xuất với bảo tồn tài nguyên và làm tốt hơn về môi trường, đảm bảo thỏa mãn những nhu cầu hiện tại mà không phương hại đến khả năng đáp ứng nhu cầu của tương lai. Các thế hệ hiện tại khi sử dụng các nguồn tài nguyên cho sản xuất ra các của cải vật chất không thể để cho thế hệ mai sau phải gánh chịu tình trạng ô nhiễm, cạn kiệt tài nguyên và nghèo đói. Cần đề cho thế hệ tương lai được thừa hưởng các thành quả lao động của thế hệ hiện tại dưới dạng giáo dục, kỹ thuật và các nguồn lực khác được tăng cường. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững là sự quản lí và bảo tồn sự thay đổi về tổ chức và kỹ thuật sản xuất nhằm đảm bảo thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của con người cho cả hiện tại và tương lai. Sự phát triển như vậy của nền nông nghiệp sẽ đảm bảo không tổn hại đến môi trường, không giảm cấp tài nguyên sẽ phù hợp về kỹ thuật và công nghệ, có hiệu quả về kinh tế và được chấp nhận về phương diện xã hội. Mặt khác phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững theo hướng đạt năng suất nông nghiệp cao hơn, vừa bảo vệ và giữ gìn tài nguyên thiên nhiên đảm bảo sự cân bằng, có lợi về môi trường.

  • Nội dung phát triển sản xuất nông nghiệp bền vững:

Tăng năng suất sản xuất nông nghiệp một cách bền vững và ổn định bằng cách tăng hiệu quả sử dụng đất đai, lao động và vồn, sử dụng hiệu quả các nguồn lực khan hiếm để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng về sản phẩm nông nghiệp.

Phân phối công bằng sản phầm và tài nguyên nông nghiệp. Sự phát triển nông nghiệp bền vững bao gồm các biện pháp thực hiện công bằng về phân phối, chia sẻ sản phẩm nông nghiệp và tài nguyên nông nghiệp.

Sử dụng hợp lí tài nguyên thiên nhiên. Nông nghiệp chỉ có thể phát triển bền vững khi tài nguyên thiên nhiên, đất, nước, rừng, biển được sử dụng đúng đắn không bị giảm cấp, không bị tàn phá bởi những kỹ thuật khai thác phù hợp.

  • Khái niệm thì trường mục tiêu

Thị trường mục tiêu là thị trường bao gồm đối tượng khách hàng doanh nghiệp hướng tới nhóm khách hàng này được doanh nghiệp xác định sẽ là đối tượng tiêu dùng chủ yếu sản phẩm của doanh nghiệp hay đó là khách hàng mục tiêu, doanh nghiệp sẽ dễ dàng tiếp cận được với khách hàng và tiêu thụ sản phẩm.

Lựa chọn thị trường mục tiêu là một trong những nội dung quan trọng nhất của lý thuyết Marketing và là một khâu không thể thiếu của tiến trình hoạch định các chiến lược Marketing. Xác định thị trường mục tiêu là việc xác định nhóm khách hàng tạo nên thị trường và sau đó phát triển các sản phẩm cho chính nhóm khách hàng cụ thể đó. Việc xác định, lựa chọn thị trường mục tiêu đồng nghĩa với doanh nghiệp sẽ tập trung mọi nguồn lực để tác động đến thị trường trọng điểm, tránh tình trạng đầu tư dàn trải không hiệu quả.

  • Trên thực tế các doanh nghiệp thể lựa chọn thị trường mục tiêu như sau:

Tập trung vào một đoạn thị trường tức là mọi nỗ lực Marketing chỉ tập trung vào 1 đoạn thị trường mục tiêu đơn lẻ cụ thể. Đây là phương án được ít doanh nghiệp lựa chọn do tính rủi ro cao.

Chuyên môn hóa có sự lựa chọn, theo đó doanh nghiệp có thể lựa chọn hai hoặc nhiều hơn các đoạn thị trường mục tiêu phù hợp vs mục tiêu và khả năng của mình.

Chuyên môn hóa theo thị trường, doanh nghiệp có thể lựa chọn một nhóm khách hàng riêng biệt làm thị trường mục tiêu và tập trung nỗ lực vào việc thỏa mãn nhu cầu đa dạng của một nhóm khách hàng đó.

Chuyên môn hóa theo sản phẩm, theo phương án này doanh nghiệp có thể tập trung vào việc sản xuất một chủng loại sản phẩm để đáp ứng cho nhiều đoạn thị trường.

Bao phủ toàn bộ thị trường, với phương án này mọi khách hàng đều là thị trường mục tiêu của doanh nghiệp, doanh nghiệp sẽ đáp ứng nhu cầu của mọi khách hàng về những chủng loại sản phẩm mà họ cần.

  • Khái niệm phân đoạn (khúc) thị trường:

Bảng 1.1: Các tiêu thức chính để phân khúc thị trường tiêu dùng

Tiêu thức Những cách chia tiêu biểu
Địa lý
Miền Miền Bắc, Trung, Nam, miền núi, trung du, đồng bằng…
Quy mô đô thị, tỉnh, thành phố (người) <5.000,    5.000-20.000,    20.000-    50.000,    50.000-100.000, 100.000-250.000…, >= 4 triệu, trên 4 triệu người
Mật độ Khu thành thị, ngoại ô, nông thôn.
Khí hậu Ôn đới, nhiệt đới, hàn đới…
Dân số

Bảng 1.1: Các tiêu thức chính để phân khúc thị trường tiêu dùng

Độ tuổi < 6, 6-11, 12-19, 20-34, 35-49, 50-64, > 65
Giới tính Nam, nữ.
Quy mô gia đình 1- 2, 3-4, >= 5 người
Thu nhập (đồng/tháng) < 500.000, 500.000-1.000.000, 1triệu-2triệu, >= 4triệu
Quốc tịch Việt Nam, Trung Quốc, Hoa Kỳ, Pháp, Anh…
Tâm lý
Tầng lớp xã hội Hạ lưu, trung lưu, thượng lưu.
Lối sống Còn lệ thuộc, đã được chấp nhận, thành đạt.
Cá tính Dễ lôi kéo, ưa bắt chước, độc đoán, tham vọng.
Cách ứng xử
Hoàn cảnh mua sắm Thường xuyên vào những dịp đặc biệt.
Mức sử dụng Ít dùng, dùng vừa phải, dùng nhiều.
Thái độ với món hàng Nồng nhiệt, tích cực, thờ ơ, tiêu cực, thù ghét.

Phân khúc thị trường là chia tổng thể thị trường của một số sản phẩm hay dịch vụ thành nhiều nhóm nhỏ, gọi là các phân khúc sao cho khách hàng trong cùng một phân khúc có hành vi tiêu dùng tương tự nhau và khác với khách hàng của phân khúc khác.

  • Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Việt Nam và các vấn đề tồn tại
  • Đặc điểm của sản xuất nông nghiệp Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Nông nghiệp là một ngành kinh tế đặc biệt, khác với công nghiệp và các ngành kinh tế khác ở lĩnh vực sản xuất, đầu tư và lưu thông hàng hóa. Để phát triển đúng đắn nền nông nghiệp, việc xem xét và phân tích cá đặc điểm của ngành là rất cần thiết

Sản xuất nông nghiệp được tiến hành trên địa bàn rộng lớn, phức tạp, phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên nên mang tính khu vực rõ rệt. Đặc biệt trên cho thấy ở đâu có đất và lao động thì có thể tiến hành sản xuất nông nghiệp.

Trong nông nghiệp, ruộng đất là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được. Đất đai là điều kiện cần thiết cho tất cả các ngành sản xuất, nhưng nội dung kinh tế của nó lại rất khác nhau. Trong nông nghiệp, đất đai có nội dung kinh tế khác, nó là tư liệu sản xuất chủ yếu không thể thay thế được.

Đối tượng của sản xuất nông nghiệp là cơ thể sống – cây trồng và vật nuôi. Các loại cây trồng và vật nuôi phát triển theo qui luật sinh học nhất định.

Sản xuất nông nghiệp mang tính thời vụ cao. Đó là nét đặc thù điển hình nhất của sản xuất nông nghiệp, bởi vì một mặt tiqt sản xuất nông nghiệp là quá trình tái sản xuất kinh tế xoắn xuýt với quá trình tái sản xuất tự nhiên, thời gian hoạt động và thời gian sản xuất xen kẽ vào nhau, song lại không hoàn toàn trùng hợp nhau, sinh ra tính thời vụ cao trong nông nghiệp.

Nông nghiệp nước ta đang từ tình trạng lạc hậu, tiến lên xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa theo định hướng XHCN không qua giai đoạn phát triển tư bản chủ nghĩa.

Nền nông nghiệp nước ta là nền nông nghiệp nhiệt đới, có pha trộn tính chất ôn đới, nhất là ở miền Bắc và được trải rộng trên 4 vùng rộng lớn, phức tạp: trung du, miền núi, đồng bằng và ven biển.

  • Các vấn đề tồn tại chủ yếu trong sản xuất nông nghiệp Việt Nam hiện

Sản xuất nông nghiệp còn phụ thuộc vào nhiều vào yếu tố thời tiết do vậy người nông dân luôn bị động trong việc phòng tránh làm cho năng suất sản lượng của sản phẩm nông nghiệp không cao và ổn định.

Việc ứng dụng KHKT vào sản xuất nông nghiệp còn hạn chế

Chưa tận dụng tối đa các yếu tố nguồn lực cũng như đất đai, vốn, lao động và tài nguyên thiên nhiên trong sản xuất nông nghiệp. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Sản xuất quy mô hộ là chủ yếu dẫn đến chi phí sản xuất cao, chất lượng sản phẩm không đồng đều, sản phẩm phân tán. Giữa các hộ thiếu sự liên kết nên khả năng cạnh tranh trên thị trường còn yếu.

Chưa chủ động trong việc phát triển mạnh các yếu tố nguồn lực đầu vào cho sản xuất như: Giống cây con, phân bón, thị trường vốn, lao động có chuyên môn, …

Sản xuất nông nghiệp chưa được chế biến sâu chủ yếu là tiêu thụ ở dạng thô hoặc sơ chế nên giá trị gia tăng thấp làm cho lợi nhuận thu được từ sản xuất nông nghiệp thấp.

Hoạt động tiêu thụ nông sản thiếu tính tổ chức, quản lý yếu nên thường bị ép cấp, ép giá.

Chưa chú ý xây dựng mạng lưới quảng bá sản phẩm nông nghiệp cho từng vùng, từng cây trồng vật nuôi nên chưa tạo dựng được uy tín, thương hiệu tốt trong lòng khách hàng, giá cả hàng hóa thấp.

1.1.2. Cơ sở thực tiễn Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

  • Tình hình sản xuất chè trên thế giới

Thị trường chè 10 năm qua đã phát triển rất mạnh và sẽ còn tiếp tục phát triển hơn nữa. Trong năm 2016, lượng chè sản xuất trên toàn thế giới đã vượt qua con số 4 triệu tấn để đạt mức 4.126.527 tấn. Trung Quốc trở thành nhà sản xuất chè số một trên thế giới vào năm 2006, Ấn Độ xếp thứ hai, Kenya xếp thứ ba và tiếp theo sau là Srilanka đứng thứ tư và ViệtNam đứng thứ 5. Mặc dù biến đổi khí hậu có ảnh hưởng rất lớn, và trong lịch sử đã xảy ra đợt hạn hán nghiêm trọng nhất kể từ những năm 60 – tuy nhiên người ta vẫn đang cố gắng để đạt được sản lượng chè cao và thúc đẩy sản xuất phát triển. Giá cả đã ổn định trong vòng hơn 3 năm qua chính là yếu tố kích thích sản xuất phát triển, đặc biệt là đối với những nước hiện đang có diện tích chè phù hợp, chủ yếu là Trung Quốc, Ấn Độ và Việt Nam.

Việc sản xuất gia tăng hơn 36% trong suốt 10 năm qua là điều chưa từng thấy. Sản phẩm chè của Trung Quốc chiếm 35% thị phần chè của thế giới, tiếp theo là Ấn Độ với 23%, Kenya với 10%, Srilanka 8% và Việt Nam 4%. Nhìn vào thị phần thì Châu Á chiếm 83% sản lượng chè thế giới, tiếp theo là Châu phi chiếm 15% và Nam Mỹ chiếm 2,4% (Hiệp Hội Chè Việt Nam).

Trong vài thập kỷ gần đây, sản lượng chè ở các nước tăng cao. Sản lượng đạt trên 200 nghìn tấn gồm 4 nước: Trung Quốc, Ấn Độ, Kenya, Srilanka. Sản lượng đạt trên 100 nghìn tấn gồm 2 nước: Indonesia và Thổ Nhĩ Kỳ. Trên 20 nghìn tấn có 9 nước, trong đó có Việt Nam (Hiệp Hội Chè Việt Nam).

  • Tình hình tiêu thụ chè trên thế giới

Theo số liệu năm 2019, những thị trường tiêu thụ lớn nhất đối với sản phẩm chè xanh và chè đen là: Thị trường Nga (đã nhập khẩu trên 174.000 tấn, Pakistan nhập khẩu 126.170 tấn, Hy Lạp nhập khẩu 81.700 tấn, Iran nhập khẩu 62.000 tấn, và Morocco nhập khẩu 58.000 tấn).

Ngoài ra còn có các chi nhánh bán lẻ ở thị trường Mỹ và Canada với tổng số lượng chè nhập khẩu lên tới 144.000 tấn, Vương quốc Anh là 126.000 tấn, và EU với tổng số lượng chè nhập khẩu là 128.000 tấn. Sự hồi sinh của văn hóa chè ở Trung Quốc, Hồng Kông và Singapore là không thể không nhắc đến, cũng như là cộng đồng người do thái và người Trung Quốc ở hải ngoại sẵn sàng trả những mức giá xa xỉ để có được mấy kilôgam chè. Chúng ta cũng nên tính đến thị trường tiêu thụ đặc biệt đó là Nhật Bản, Đài Loan và Hàn Quốc nơi có văn hóa uống chè truyền thống nhưng lại không thể mở rộng được diện tích canh tác loại cây trồng này. Tất cả những yếu tố trên kết hợp lại tạo nên những trị trường chè với giá trị gia tăng cao(Hiệp Hội Chè Việt Nam). Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Tại thị trường Mỹ, mặc dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh. Người tiêu dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây, nước ngọt…mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình.

Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay từ những tháng đầu năm 2018, tại các thị trường Tại thị trường Mỹ, mặc dù kinh tế đang trong thời kỳ suy giảm nhưng nhu cầu tiêu thụ chè không những không giảm mà còn tăng mạnh. Người tiêu dùng Mỹ đã hạn chế mua những đồ uống đắt tiền như cà phê, nước trái cây, nước ngọt…mà thay vào đó là tiêu dùng các sản phẩm rẻ hơn như chè, đặc biệt là những loại chè có chất lượng trung bình. Tại thị trường châu Âu, các nước Đức, Anh, Nga đều có xu hướng tăng nhu cầu tiêu dùng chè. Ngay từ những tháng đầu năm 2018, tại các thị trường này, người dân đã có xu hướng chuyển từ các đồ uống khác sang tiêu dùng các sản phẩm từ chè như các loại chè truyền thống, chè uống liền, chè chế biến đặc biệt. Như tại Nga (một trong những nước tiêu thụ chè lớn trên thế giới), với mức tiêu thụ trung bình khoảng hơn 1 kilôgam chè/người/năm.

Trong giai đoạn 2018-2019, nhập khẩu chè đen của Nga sẽ tăng từ 223.600 tấn lên 315.200 tấn, mức tăng trung bình hàng năm là 3%. Tuy nhiên, mức tiêu thụ chè đen (loại chè chiếm gần 80% mức tiêu thụ hàng năm) sẽ trong xu hướng suy giảm. Tỷ lệ chè xanh, chè hoa quả, chè làm từ các loại cây thảo mộc sẽ có xu hướng gia tăng. Các thị trường khác như Ai Cập, Iran, Iraq nhu cầu tiêu dùng chè cũng tăng.

Như vậy, có thể thấy nhu cầu tiêu dùng chè tại các nước phát triển đang chuyển dần từ các sản phẩm chè thông thường sang các sản phẩm chè uống liền và chè chế biến đặc biệt trong khi tại các nước Tây Á và Châu Á vẫn thích dùng các sản phẩm chè truyền thống.

1.2. Vị trí của cây chè trong quá trình phát triển kinh tế – xã hội ở Việt Nam

  • a, Đặc điểm của cây chè Việt Nam

Cây chè là cây công nghiệp dài ngày được trồng lâu đời trên đất nước ta và ngày càng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế xã hội đất nước .

Về mặt lịch sử : Cây chè là cây có nguồn gốc từ Trung Quốc truyền bá ra khắp thế giới . Cây chè có lịch sử từ rất lâu đời : từ khi phát hiện , sử dụng , truyền bá và phát triển đến nay đã có gần 4000 năm . Do đặc tính sinh trưởng của bản thân cây chè , sự giao tru văn hoá giữa các dân tộc nên cây chè đã du nhập vào Việt Nam từ khoảng 3000 năm trước , Nhân dân vùng biên giới của Việt Nam đã học được cách trồng và chế biến của người Trung Quốc để phát triển các virờn chè trồng phân tần rải rác và hái lá để uống . Ngay từ trước thế kỷ thứ XVII , ở Việt Nam đã hình thành hai vùng sản xuất chẻ : chè vườn miên trung du và chè rùng miền núi .

Vùng chè miền trung du chủ yếu sản xuất chè tươi, chè vụ và chè chế biến đơn giản.

Vùng chè miền núi sản xuất loại chè chi, chè mạn, lên men nửa chừng của đồng bảo dân tộc Mông, Dao,…

Kỹ thuật trồng chè thời kỳ này chủ yếu là quảng canh, có nơi coi đó là một cây rừng chế biến đơn giản, mang tính tự cung tự cấp trong gia đình hoặc trong cộng đồng lãnh thổ phạm vi nhỏ.

Đến thế kỷ thứ XIX, một số người Pháp bắt đầu kiểm soát việc sản xuất và buôn bán chè ở Hà Nội. Đến năm 1980 Paul Chaffajon xây dựng đồn điền đầu tiên của Việt Nam tại Tĩnh Cương ( Phú Thọ ) nay thuộc Sông Thao tỉnh Phú Thọ với diện tích khoảng 60 ha. Đến năm 1918, thành lập Trung tâm nghiên cứu nông lâm nghiệp Phú Thọ tại Phú Hộ. Từ năm 1925, cây chè bắt đầu phát triển mạnh, cả nước hình thành ba vùng chè chính:

Vùng chè Tây Nguyên: Có diện tích tính đến năm 1939 là 2.759 ha, sản lượng bình quân mỗi năm đạt 900 tấn. Đã có những đồn điền quy mô 400- 500ha. Bắt đầu hình thành một số nhà máy (thiết bị của Anh) có sản phẩm chình là loại chè đen truyền thống (OTD) tiêu thụ ở thị trường Tây Âu và một ít chè xanh xuất khẩu sang Bắc Phi.

Vùng chè Bắc Bộ và Bắc Trung Bộ: Chè được trồng rải rác trong các vườn gia đình, một số đồn điền nhỏ (vài chục ha), kỹ thuật trồng và chế biến còn rất đơn giản, sản phẩm gồm chè đen, chè xanh, chè tươi và chè nụ.

Vùng chè Trung Bộ: Tổng diện tích khoảng 1900 ha, trong đó có một đồn điền của người Pháp với diện tích khoảng 250 ha. Chế biến chè ở vùng này còn thô sơ, sản phẩm chính là chè xanh xuất khẩu sang Bắc Phi.

Từ cách mạng tháng Tám năm 1945 đến nay: Việt Nam phải tiến hành 30 năm chiến tranh dành độc lập, các cơ sở nghiên cứu khoa học về chè có ở hai miền Nam, Bắc đều bị ngừng hoạt động, như Trung tâm nghiên cứu chè ở Phú Hộ ở miền Bắc đã ba lần bị quân viễn chinh Pháp chiếm đống và ném bom phá sạch, đốt sạch. Mặc dù vần phải sản xuất lương thực thực phẩm cho quân dân là chính nhưng Nhà nước ta vẫn quan tâm phát triển cây chè và đến ngày nay cây chè lại càng được chú trọng phát triển.

Về mặt tự nhiên: Cây chè là cây trồng nhiệt đới rất thích hợp với điều kiện thổ nhưỡng, khí hậu nóng ẩm mưa nhiều, hệ số dao động nhiệt độ giữa ban ngày và đêm lớn (8-12 độ C) ở Việt Nam tạo cho cây chè tổng hợp được nhiều chất thơm tự nhiên và đựac trưng. Ngoài ra độ cao và địa hình cũng có ảnh hưởng đến chất lượng chè. Kinh nghiệm sản xuất chè lâu đời của thế giới cho thấy các loại danh trà chủ yếu là được trồng trên vùng núi cao. Chè Việt Nam có chất lượng cao là chè Shan Tuyết được trồng trên núi Tây Côn Lĩnh, chè Suối Giàng ở Văn Chấn Yên Bái, chè Tà Sùa ở Sơn La. Các vùng này có nhiệt độ thấp, độ ẩm cao, ánh sáng tán xạ cao, biên độ ngày đêm cao…

Về mặt kinh tế: Chè là cây công nghiệp dài ngày, có lợi thế so sánh ở nước ta đặc biệt là ở các tình Trung du miền núi phia Bắc. Đảng và Nhà nước ta coi cây chè là cây xóa đói giảm nghèo ở các tỉnh Trung du miền núi phía Bắc và là cây làm giàu, góp phần lớn vào việc phát triển kinh tế nông thôn ở miền Nam.

Trồng chè còn thu hút được một lượng lao động đáng kể, góp phần giải quyết việc làm và là một trong những cây trồng có giá trị kinh tế cao ở Trung du Miền núi Bắc Bộ và Tây Nguyên, góp phần thúc đây trung du, miền núi có điều kiện hòa hợp với miền xuôi về kinh tế, văn hóa, xã hội.

1.2.1. Tình hình phát triển cây chè trên thế giới Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Ngày nay trên thế giới có khoảng 40 nước trồng chè. Chè được trồng tập trung nhiều nhất ở châu Á, sau đó đến châu Phi.

Theo con số thống kê của cơ quan Nông nghiệp và Lương thực thế giới(FAO năm 1971 và 1975) thì diện tích trồng chè của thế giới năm 1948 – 1952 là985.000 ha, năm 1971 là 1.357.000 ha và năm 1974 là 1.531.000 ha. Phân bố như sau:

Bảng 1.2: Diện tích trồng chè trên thế giới

(Đơn vị: 1000 ha)

Khu vực 1948-1952 1971 1974
Thế giới Nam Mỹ Châu Á Châu Phi Liên Xô 985

5

885

32

63

1.357

40

1.121

118

75

1531

38

1.267

148

76

Sản lượng chè trên thế giới tính đến năm 1977 (theo số liệu của FAO) là 1.636.000t. Trong đó Nam Mỹ: 42.000t; Châu Á: 1.316.000T; Châu Phi:180.000t; Liên Xô: 92.000t; Châu Đại Dương: 6.000t.

Các nước sản xuất chè nhiều nhất là: Ấn Độ: 500.000T, Trung Quốc: 331.000t, Xrilanca: 197.000t; Nhật Bản: 100.000t.

Theo số liệu của FAO (1997), những nước xuất nhập khẩu chè nhiều nhất trên thế giới năm 1976 như sau:

  • Xuất khẩu: Ấn Độ 237.000T, Xrilanca: 199.700t, Kênia: 63.000t; Inđônêxia: 47.500t; Bănglađet: 30.700t.
  • Nhập khẩu: Anh: 224.600t, Mỹ: 82.200t, Pakixtan: 49.100t, Ai Cập: 24.900t, Canađa: 24.700t. [4]

1.2.2. Tình hình phát triển cây chè ở Việt Nam

  • Tình hình sản xuất
  • Tình tình sản xuất chè trong nước

Việt Nam nằm trong vùng khí hậu nhiệt đới, nóng ẩm, có điều kiện thích hợp cho cây chè sinh trưởng và phát triển, tuy nhiên cây chè chỉ thực sự được quan tâm và đầu tư sản xuất từ những năm đầu của thế kỷ 20 trở lại đây.

Cây chè Việt Nam được chính thức khảo sát nghiên cứu vào năm 1885 do người Pháp tiến hành. Sau đó vào các năm 1890 – 1891 người Pháp tiếp tục điều tra và thành lập đồn điền trồng chè đầu tiên ở Việt Nam năm 1890 ở tỉnh Phú Thọ và thành lập các trạm nghiên cứu chè ở Phú Hộ (1918), Pleiku (1927) và Bảo Lộc (1931).

Trong thời kỳ kháng chiến chống Pháp (1945-1954): Do ảnh hưởng của chiến tranh hai miền Nam – Bắc chia cắt nên sản xuất chè bị đình trệ, diện tích năng suất, sản lượng chè giảm nghiêm trọng. Sau khi hoà bình được lập lại cây chè lại được chú trọng phát triển, các nông trường được thành lập, các vùng kinh tế mới và lúc này thị trường được mở rộng. Năm 1977, cả nước có 44.330 ha sản lượng là 17.890 tấn chè búp khô. Đến năm 1985 cả nước có 52.047 ha, sản lượng đạt 25.392 tấn chè búp khô theo báo cáo định hướng phát triển của ngành chè (1985).

Giai đoạn sau chiến tranh (1954-1990), sản xuất chè được phục hồi trở lại, năm 1990 diện tích chè cả nước đã có 60 nghìn ha, sản lượng đạt 32,2 nghìn tấn khô (tăng 53% so với năm 1980). Công nghiệp chế biến phát triển mạnh, nhiều cơ sở sản xuất, nhiều nhà máy chế biến chè xanh, chè đen được thành lập với sự giúp đỡ của Liên Xô, Trung Quốc, sản phẩm chế biến chủ yếu được xuất khẩu sang các nước Đông Âu và Liên Xô (cũ).

Đến nay cùng với sự đổi mới về quản lý, nhiều hình thức liên doanh liên kết được hình thành (với các nhà sản xuất Nhật Bản, Đài Loan, …) cơ chế quản lý được đổi mới, nhiều công nghệ tiên tiến được đầu tư dẫn đến diện tích, năng suất, sản lượng chè của Việt Nam trong những năm gần đây không ngừng tăng lên. Cây chè đã thực sự là cây trồng mũi nhọn và là cây trồng chiến lược của vùng Trung Du miền núi phía Bắc và Tây Nguyên.

Theo Hiệp hội Chè Việt Nam, cả nước hiện có khoảng 125.000ha đất trồng chè. Trong đó, diện tích chè đang cho thu hoạch là 113.000ha, năng suất bình quân đạt 8 tấn búp tươi/1ha. Trong năm 2020, Việt Nam có khoảng 500 cơ sở sản xuất chế biến chè, với tổng công suất trên 500.000 tấn chè khô/năm. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Trong số 180.000 tấn chè khô của năm 2020, Việt Nam xuất khẩu được 130.000 tấn, kim ngạch đạt 230 triệu USD; sản lượng chè nội tiêu vào khoảng 33.000 tấn, doanh thu 2.300 tỷ đồng. Với sản lượng và kim ngạch xuất khẩu trên, Việt Nam tiếp tục đứng ở vị trí thứ 5 trên thế giới, sau Kenya, Sirlanka, Trung Quốc và Ấn Độ (những quốc gia xuất khẩu chè nhiều nhất thế giới). Được biết, hiện nay, Lâm Đồng có 21.961ha chè, chiếm 1/4 diện tích chè cả nước và có sản lượng 211.240 tấn, chiếm 27% sản lượng chè cả nước.

  • Tình hình tiêu thụ chè trong nước

Pakistan vẫn là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam trong năm 2021, với 36.320 tấn, trị giá 81.806.773 USD, tăng 3,45% về lượng và tăng 0,71% về trị giá so với cùng kỳ năm trước.

Theo số liệu của Tổng cục hải quan, xuất khẩu chè của Việt Nam trong năm 2021 đạt 124.779 tấn, trị giá 213.133.093 USD, giảm 5,8% về lượng và giảm 6,62% 11 về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Sản phẩm xuất khẩu chè chủ yếu của Việt Nam vẫn là chè đen, chè xanh, chè ô long, chè nhài, chè đen OTC…

Pakistan vẫn là thị trường xuất khẩu chè lớn nhất của Việt Nam, chiếm 39% tổng trị giá xuất khẩu của cả nước. Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè xanh OP sang thị trường Pakistan. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

Dù xuất khẩu chè có tăng tại một số thị trường nhưng khoảng 90% chè của Việt Nam được xuất khẩu dưới dạng nguyên liệu thô. Ngay cả khi xuất khẩu đạt kim ngạch cao thì giá chè xuất khẩu nước ta cũng chỉ bằng 50-60% giá bình quân thế giới.

Giá chè xuất khẩu bình quân trong năm 2021 khoảng 1.710- 1.720 USD/tấn.

Sản lượng chè Pakistan nhập khẩu từ Việt Nam đang tăng nhanh sau từng năm. Với dân số gần 200 triệu người, cùng văn hóa uống trà truyền thống lâu đời, Pakistan là một trong những thị trường tiêu thụ chè lớn, đầy tiềm năng tại khu vực Nam Á và chè Việt đang trở thành một trong những lựa chọn hàng đầu của người tiêu dùng tại quốc gia này.

Đài Loan là thị trường xuất khẩu chè lớn thứ hai của Việt Nam, chiếm 13% tổng trị giá xuất khẩu. (Việt Nam chủ yếu xuất khẩu chè đen OP sang thị trường Đài Loan).

Trong năm 2021, kim ngạch xuất khẩu chè của Việt Nam sang một số thị trường tăng trưởng: Nga tăng 30,75% về lượng và tăng 19,44% về trị giá; sang UAE tăng 69,61% về lượng và tăng 44,91% về trị giá; sang Indonêsia tăng 71,68% về lượng và tăng 56,28% về trị giá; sang Ucraine tăng 15,17% về lượng và tăng 10,86% về trị giá.

Ấn Độ và Thổ Nhĩ Kỳ là hai thị trường sụt giảm xuất khẩu chè giảm mạnh nhất. Xuất khẩu chè sang Ấn Độ giảm 79,1% về lượng và giảm 83,48% về trị giá; xuất sang Thổ Nhĩ Kỳ giảm 83,98% về lượng và giảm 77,27% về trị giá [4]. Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kết quả nghiên cứu đến hoạt động trong sản xuất chè

One thought on “Khóa luận: Hoạt động Marketing nâng cao trong sản xuất chè

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp Marketing trong sản xuất sản phẩm chè

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537