Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I – Tổng công ty xây dựng đường thủy này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. TÍNH CẤP THIẾT CỦA ĐỀ TÀI NGHIÊN CỨU
Trong giai đoạn đất nước đang trên đà phát triển từng bước hội nhập nền kinh tế toàn cầu. Các doanh nghiệp đang có được những cơ hội lớn để cùng hợp tác và phát triển với các tập đoàn của nước ngoài để hai bên cùng có lợi. Bên cạnh những thuận lợi bao giờ cũng là những khó khăn do tính cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Để đứng vững trước những khó khăn này các doanh nghiệp cần phải chuẩn bị cho mình những hành trang vững chắc. Một trong những hành trang ấy là bảo đảm tình hình tài chính của doanh nghiệp. Đặc biệt trong quá trình sản xuất kinh doanh doanh nghiệp cần phải sử dụng tốt và hiệu quả nguồn vốn kinh doanh của mình. Một trong các cách giúp đảm bảo đó là quản lý tốt việc tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Nhận thức được tầm quan trọng của nó, các doanh nghiệp đã và đang cố gắng quản lý các khoản chi phí sao cho thật tốt để không làm lãng phí nguồn vốn mà còn hạ thấp được giá thành nhưng chất lượng không thay đổi để cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
Qua thời gian thực tập tại công ty nạo vét và xây dụng đường thủy 1-Tổng công ty xây dựng đường thủy em đã được tiếp cận gần hơn với thực tế và phần nào hiểu được công tác kế toán của công ty mà cụ thể là kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Bên cạnh đó việc hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm là rất cần thiết.
2. MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
- Về mặt lý luận:
Hệ thống những vấn đề lý luận cơ bản về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong các doanh nghiệp sản xuất.
- Về mặt thực tế:
Mô tả và phân tích thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy 1-Tổng công ty xây dựng đường thủy.
Đề xuất một số biện pháp để cải thiện và nâng cao tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy 1- Tổng công ty xây dựng đường thủy.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
- Đối tượng nghiên cứu: kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
- Phạm vi nghiên cứu: Số liệu năm 2011 tại phòng tài chính kế toán của công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
Phương pháp chung: phương pháp kế toán ( phương pháp chứng từ, phương pháp tài khoản, phương pháp tính giá…) các phương pháp phân tích kinh doanh( phương pháp so sánh, phương pháp liệt kê), ngoài ra còn có phương pháp tài liệu.
Phương pháp cụ thể: kết hợp giữa mô tả, giải thích với bảng biểu và sơ đồ.
5. KẾT CẤU CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận về tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp.
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I- Tổng công ty xây dựng đường thủy.
- Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I- Tồng công ty xây dựng đường thủy.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1.Bản chất và nội dung chi phí sản xuất
Một doanh nghiệp muốn hoạt động được thì phải cần có nguồn vốn. Nhưng có được nguồn vốn rồi thì việc đưa nó vào để hoạt động sản xuất kinh doanh lại là một bài toán khó.Quá trình sản xuất kinh doanh là quá trình mà các doanh nghiệp phải thường xuyên đầu tư các loại chi phí khác nhau để đạt được mục đích là tạo ra được khối lượng sản phẩm, lao vụ hoặc khối lượng công việc phù hợp với nhiệm vụ sản xuất đã xác định và thực hiện.
Các loại chi phí mà các doanh nghiệp phải đầu tư rất đa dạng nhưng tựu trung lại bao gồm các khoản sau:
- Chi phí tư liệu lao động: nhà xưởng, máy móc, thiết bị và các tài sản cố định khác.
- Chi phí cho đối tượng lao động: nguyên vật liệu, nhiên liệu
- Chi phí cho sức lao động: sức lao động của con người
Các khoản chi phí dịch vụ mua ngoài và các khoản chi bằng tiền khác. Các loại chi phí này phát sinh một cách thường xuyên trong quá trình sản xuất kinh doanh nó luôn vận động, thay đổi trong quá trình tái sản xuất, tính đa dạng của nó luôn được biểu hiện cụ thể gắn liền với sự đa dạng, phức tạp của các loại hình sản xuất khác nhau, của các giai đoạn công nghệ sản xuất khác nhau, của sự phát triển không ngừng của tiến bộ khoa học kỹ thuật.
Tuy nhiên khi nói đến chi phí cần biết: chi phí bỏ ra để tạo nên được một giá trị sử dụng nào đó cũng như thực hiện giá trị của giá trị sử dụng này và các loại chi phí không liên quan đến việc tạo ra giá trị sử dụng. Sự phân biệt này cần được làm rõ nhằm mục đích để xác định phạm vi và nội dung của chi phí sản xuất bởi một điều rõ ràng là không phải mọi chi phí mà doanh nghiệp đã đầu tư đều là chi phí sản xuất. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
Chi phí sản xuất được hình thành do có sự chuyển dịch giá trị của các yếu tố sản xuất vào sản phẩm sản xuất ra và được biểu hiện trên hai mặt.
Về mặt định tính: là bản thân các yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất và đạt được mục đích là tạo nên sản phẩm.
Về mặt định lượng: là mức tiêu hao cụ thể của các yếu tố vật chất tham gia vào quá trình sản xuất và được biểu hiện qua các thước đo khác nhau mà thước đo chủ yếu là thước đo tiền tệ.
Cả hai mặt định tính và định lượng của chi phí sản xuất chịu sự chi phối thường xuyên của quá trình tái sản xuất và đặc điểm sản phẩm.
Tóm lại, chi phí sản suất là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động sống và lao động vật hóa mà doanh nghiệp đã bỏ ra có liên quan đến hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định ( tháng, quý, năm). Tức chi phí sản xuất được biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí doanh nghiệp tiêu dùng trong một thời kỳ.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên, liên tục trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh. Nên việc phục vụ cho quản lý và hạch toán chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ hàng tháng, hàng quý, hàng năm sao cho phù hợp với kỳ báo cáo. Chi phí sản xuất gồm nhiều loại và tính chất kinh tế, công dụng khác nhau và yêu cầu quản lý với mỗi loại cũng khác nhau. Về việc quản lý chi phí sản xuất không chỉ căn cứ vào số liệu tổng chi phí sản xuất mà còn phụ thuộc vào việc theo dõi và số liệu từng loại chi phí.
Đặc biệt trong nền kinh tế thị trường đầy biến động thì việc đánh giá chính xác chi phí sản xuất đóng vai trò quan trọng trong việc cung cấp thông tin cần thiết giúp nhà quản lý đưa ra những quyết định đúng, tránh làm lãng phí nguồn vốn của doanh nghiệp.
1.2.Bản chất và nội dung của giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Bản chất của giá thành sản phẩm
Sự dịch chuyển giá trị của các yếu tố vật chất vào giá trị sản phẩm được sản xuất và tiêu thụ là bản chất của giá thành sản phẩm. Chưa có sự dịch chuyển này thì không nói đến chi phí và giá thành sản phẩm bao gồm toàn bộ các khoản hao phí vật chất thực tế cần được bù đắp bất kể nó thuộc bộ phận nào trong cấu thành giá trị sản phẩm.
- Nội dung của giá thành sản phẩm
Giá thành sản phẩm là chỉ tiêu chất lượng tổng hợp có ý nghĩa quan trọng đối với công tác quản lý của các doanh nghiệp và của nền kinh tế.
Tính chất lượng của chỉ tiêu này được thể hiện thông qua nó người ta có thể đánh giá được hiệu quả của quá trình sản xuất.
Tính tổng hợp của chỉ tiêu này được biểu hiện ở chỗ thông qua nó người ta có thể đánh giá toàn bộ các biện pháp đầu tư trong quá trình sản xuất kinh doanh bởi mọi biện pháp đều tác động đến việc sử dụng các yếu tố vật chất để thực hiện trong quá trình sản xuất sản phẩm và xét cho cùng thì đều được biểu hiện tổng hợp trong nội dung của chỉ tiêu giá thành.
Nhằm có căn cứ xem xét tính chất quan trọng của chỉ tiêu giá thành cần nêu ra các chức năng của chỉ tiêu trên, bao gồm:
- Chức năng thước đo bù đắp chi phí:
Giá thành sản phẩm biểu hiện những hao phí vật chất mà các doanh nghiệp bỏ ra để sản xuất và tiêu thụ sản phầm. Và việc bù đắp hao phí sản xuất là vấn đề quan trọng bởi hiệu quả kình tế được biểu hiện ở chỗ doanh nghiệp có khả năng bù đắp chi phí mà mình bỏ ra hay không Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Chức năng lập giá:
Sản phẩm do các doanh nghiệp sản xuất ra là các sản phẩm hàng hóa được thực hiện giá trị trên thị trường thông qua giá cả. Giá của sản phẩm được xây dựng trên cơ sở hao phí lao động xã hội cần thiết. Khi xây dựng giá cả thì yêu cầu là phải bù đắp hao phí vật chất dựa vào giá thành bình quân của ngành.
- Chức năng đòn bẩy kinh tế:
Doanh lợi của doanh nghiệp cao hay thấp phụ thuộc trực tiếp vào giá thành sản phẩm. Hạ thấp giá thành sản phẩm là biện pháp cơ bản để tăng cường doanh lợi, tạo nên tích lũy để tái sản xuất mở rộng. Giá thành sản phẩm là đòn bẩy kinh tế thúc đẩy các doanh nghiệp tăng cường hiệu quả kinh doanh phù hợp với nguyên tắc hạch toán kinh doanh. Khi đánh giá tính chất đòn bẩy kinh tế của giá thành cần gắn theo từng loại giá thành, từng yếu tố chi phí so với tổng thể của nó.
Tóm lại, giá thành sản phẩm hoặc lao vụ là biểu hiện bằng tiền của chi phí sản xuất tính cho một khối lượng sản phẩm hoặc công việc lao vụ đã hoàn thành. Trong doanh nghiệp, giá thành sản phẩm là biểu hiện bằng tiền của hao phí về vật liệu, nhân công và các phí tổn khác để hoàn thành khối lượng sản phẩm. Trong đó, sản phẩm nạo vét có thể kết cấu công việc hoặc giai đoạn công việc có tính thiết kế và dự toán, có thể là công trình, hạng mục công trình hoàn thành.
Tất cả những khoản chi phí phát sinh( chi phí trong kỳ, kỳ trước chuyển sang) và các chi phí tính trước có liên quan đến khối lượng sản phẩm đã hoàn thành trong kỳ sẽ tạo nên giá thành sản phẩm.
Như vậy trong giá thành sản phẩm chỉ bao gồm những chi phí tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào quá trình sản xuất phải được bồi hoàn để tái xây dựng doanh nghiệp. Chi phí sản xuất đưa vào giá thành sản phẩm phải phản ánh được giá trị thực của các tư liệu sản xuất tiêu dùng cho sản xuất và các khoản chi tiêu khác có liên quan tới việc bù đắp giản đơn hao phí lao động sống. Vì vậy, khi tính giá thành sản phẩm không hạch toán kế toán chi phí thời kỳ vào giá thành sản phẩm ( chi phí bán hàng, chi phí quản lý doanh nghiệp..) và các chi phí bất thường, chi phí tài chính.
Giá thành là một chỉ tiêu kinh tế, chất lượng tổng hợp quan trọng nhất, bao quát mọi hoạt động sản xuất của doanh nghiệp.Vì vậy, việc áp dụng công nghệ mới hiên đại, hoàn thiện nâng cao tay nghề của người lao động, sử dụng tiết kiệm nguyên vật liệu đều nhằm mục tiêu hạ giá thành sản phẩm, nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY NẠO VÉT VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG THỦY I-TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG ĐƯỜNG THỦY Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
2.1 Một số thông tin cơ bản về công ty:
- Tên công ty: Công ty Nạo vét và Xây dựng đường thủy I.
- Trụ sở chính: Số 8 Nguyễn Tri Phương – Quận Hồng Bàng – TP Hải Phòng.
- Điện thoại: (0313) 842806
SĐKKD: 111069, do Sở Kế hoạch và Đầu tư TP Hải Phòng cấp. Công ty Nạo vét và Xây dựng đường thủy I là Doanh nghiệp Nhà Nước (DNNN) thuộc Tổng công ty xây dựng đường thủy – Bộ Giao thông vận tải. Công ty là một đơn vị hạch toán độc lập, có tư cách pháp nhân hoạt động kinh doanh theo Luật Doanh nghiệp Nhà nước và các quy định hiện hành có liên quan của Nhà nước.
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển:
Công ty Nạo vét và Xây dựng đường thủy I được thành lập ngày 16/2/1957. Ngày đầu với tên là Công ty tầu cuốc. Công ty là đơn vị trực thuộc Cục vận tải đường thủy, Bộ giao thông vận tải và Bưu Điện, với nhiệm vụ chủ yếu là nạo vét, trục vớt các chướng ngại vật, thông luồng đường thủy ở Hải Phòng và các tuyến sông trên miền Bắc, góp phần giải phóng dân tộc, thống nhất đất nước và phát triển kinh tế. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
Ban đầu khi mới thành lập, từ sự tiếp nhận trụ sở của Sở thuỷ lục lộ đóng tại Bến Bính phố Juy – lơ (đội khảo sát 6, đường Cù Chính Lan hiện nay) toàn bộ hệ thống quản lý của Sở là 20 người Pháp và 40 người Việt Nam. Công ty tàu cuốc có các phòng kĩ thuật, kế hoạch, công trình, nhân sự, tiền lương, xưởng sửa chữa, âu đà, kho cấp vật liệu. Nhiệm vụ là phục vụ công trình xây dựng, mở rộng Cảng, nạo vét thông luồng trên toàn xứ Bắc kỳ và Trung kỳ. Ngày 16/02/1957 Bộ giao thông vận tải và Bưu Điện ra nghị định số 34 – NĐ tách ty tầu cuốc ra khỏi Cảng Hải Phòng và thành lập Công ty tầu cuốc trực thuộc Cục vận tải đường thuỷ, ông Trương Văn Kỳ được chỉ định làm Giám đóc. Tổng số cán bộ công nhân thuỷ thủ có 453 người với trang thiết bị máy móc: có tầu cuốc Đình Vũ, Cát Bà, Cửa Cấm, tầu cuốc 1954, tầu lai gồm TC1, TC2, TC3, TC4, TC5 và tầu Hoà Bình, sà lan gồm 8 chiếc SL1, SL2, SL3, SL4, SL6, SL7, SL8 và 01 sà lan chở nước 50 tấn, 02 sà lan chở than. Ca nô gồm X01, X02, X03. Tổ đo dò và thợ lặn thuộc ban kế hoạch và công trình. Tổ sửa chữa thuộc ban kỹ thuật cơ khí. Tổ kho vật liệu thuộc ban cung ứng. Công tác tổ chức, sắp xếp lực lượng lao động, phương tiện, tổ chức Đảng và các đoàn thể quần chúng phù hợp với cơ sở Quốc doanh có tầm cỡ quốc gia. Trong những năm chống chiến tranh phá hoại của Đế quốc Mỹ từ năm 1964 đến năm 1973, Công ty đã tham gia nạo vét kênh đào nhà Lê Thanh Hoá – Nghệ An để tiếp hàng cho chiến trường phía Miền Nam, rà phá bom mìn, thuỷ lôi do Mỹ ném xuống để phong toả Cảng Hải Phòng. Những năm đó công ty vừa sản xuất và làm nhiệm vụ phục vụ cho giao thông vận tải cho tiền tuyến đã lập được nhiều thành tích mà Đảng và Nhà nước trao tặng.Sau chiến tranh, Công ty tầu cuốc được đổi thành Xí nghiệp nạo vét trục vớt đường sông I thuộc liên hiệp các xí nghiệp nạo vét sông Biển, có nhiệm vụ nạo vét và trục vớt, khơi thông luồng lạch từ khu Bốn trở ra. Đầu tháng 12 năm 1984 do yêu cầu tình hình của Liên hiệp, đội trục tầu chuyển sang đơn vị mới. Vì vậy cuối tháng 12 năm 1984 Xí nghiệp lại đổi tên thành Xí nghiệp nạo vét đường sông I, thuộc Liên hiệp các xí nghiệp giao thông đường thuỷ. Đến đầu năm 1991 xí nghiệp lại được đổi tên thành Công ty nạo vét đường sông I, thuộc Liên hiệp các xí nghiệp giao thông đường thuỷ. Căn cứ vào quy chế về thành lập và giải thể doanh nghiệp Nhà nước ban hành kèm theo Nghị Định số 388/HĐBT ngay 20/11/1991 của Hội đồng bộ trưởng (nay là Chính Phủ). Đến năm 1993 Công ty nạo vét đường sông được thành lập lại theo quyết định số 599/QĐ/TCCB – LĐ ngày 05/04/1993 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về việc thành lập lại Công ty nạo vét đường sông I trực thuộc Tổng công ty xây dựng đường thuỷ. Theo quyết định số 3737/QĐ/TCCB – LĐ ngày 04/11/1997 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về việc đổi tên doanh nghiệp Nhà Nước: Công ty Nạo Vét Đường Sông I được đổi thành Công ty Nạo Vét Đường Thuỷ I trực thuộc Tổng Công ty Xây Dựng Đường Thuỷ. Theo quyết định số 3539/QĐ – BGTVT ngày 25/10/2001 của Bộ trưởng Bộ giao thông vận tải về việc đổi tên cho doanh nghiệp Nhà Nước: Công ty Nạo Vét Đường Thuỷ I được đổi tên thành Công ty Nạo Vét và Xây Dựng Đường Thuỷ I trực thuộc Tổng Công ty Xây Dựng Đường Thuỷ. Đăng ký kinh doanh số 111069 do Sở Kế hoạch và Đầu tư cấp thành phố Hải Phòng cấp ngày 10/12/1997.
Năm 1997 theo quyết định số 325 QĐ – LĐ ngày 29/04/1997 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Xây Dựng Đường Thuỷ về việc điều nguyên trạng tầu cuốc nhiều gầu TC91 của Công ty sang Công ty công trình 4 nay là Công ty cổ phần thi công cơ giới, trực thuộc Tổng Công ty. Năm 2002 theo quyết định số 786/QĐ – TC – LĐ ngày 17/06/2002 của Chủ tịch Hội đồng quản trị Tổng Công ty Xây Dựng Đường Thuỷ về việc tách nguyên trạng Xí nghiệp tầu cuốc Sông Biển của Công ty Nạo Vét và Xây Dựng Đường Thuỷ I sang Công ty đầu tư và xây dựng thương mại trực thuộc Tổng Công ty.
Trải qua 54 năm xây dựng và trưởng thành. Công ty đã được Nhà nước phong tặng nhiều danh hiệu thi đua. Năm 1997 được tặng huy chương cho sản phẩm công trình có chất lượng cao của Bộ giao thông vận tải đó là công trình nạo vét cảng cá đảo Phú Quý tỉnh Bình Thuận.
2.2. Cơ cấu tổ chức của Công ty Nạo vét và Xây dựng đường thuỷ I: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Cơ cấu bộ máy quản lý:
Cơ cấu tổ chức có vai trò rất quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty, một cơ cấu tổ chức hợp lý khoa học và gọn nhẹ, phân công cụ thể quyền hành và trách nhiệm rõ ràng sẽ tạo nên một môi trường làm việc thuận lợi cho mỗi cá nhân nói riêng, các cán bộ nói chung.
Để điều hành quá trình sản xuất kinh doanh, đảm bảo cho sản xuất diễn ra liên tục và có hiệu quả, đối phó được những biến động của thị trường, công ty đã tổ chức bộ máy hợp lí phù hợp với nhiệm vụ sản xuất kinh doanh của mình.
Trong công ty đứng đầu là ban giám đốc, gồm có một giám đốc và ba phó giám đốc, bên dưới là các phòng ban, các xí nghiệp và các đoàn tầu trực thuộc.
Bộ máy quản lý của Công ty được tổ chức theo mô hình trực tuyến chức năng Cơ cấu tổ chức trực tuyến chức năng giúp cho công ty đảm bảo được tính thống nhất trong quản lý đồng thời chuyên môn hóa được chức năng, sử dụng có hiệu quả và hợp lý chức năng một chuyên môn của các nhân viên trong công ty. Từng phòng ban, xí nghiệp được bố trí hợp lý, chức năng rõ ràng phối hợp với nhau thành bộ máy hoạt động sản xuất kinh doanh có hiệu quả, phát huy được khả năng trong cơ chế thị trường.
2.2.1. Ban giám đốc
- Giám đốc:
Quản lý toàn bộ mọi hoạt động trong công ty, soạn thảo công bố chính sách, chiến lược, chịu trách nhiệm cao nhất đối với chất lượng sản phẩm, phân công trách nhiệm quyền hạn cho các cán bộ lãnh đạo từ cấp trưởng phòng trở lên, sắp xếp, bố trí cán bộ, tổ chức sản xuất theo yêu cầu của hệ thống chất lượng. Tổ chức chỉ đạo, phê duyệt các báo cáo, hợp đồng tiêu thụ sản phẩm.
Phó giám đốc thị trường: (Báo cáo giám đốc) Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Thay mặt giám đốc trong công tác tìm kiếm khách hàng nạo vét Phụ trách trực tiếp phòng Thị trường.
Phó giám đốc kỹ thuật: (Báo cáo giám đốc)
- Thay mặt giám đốc giải quyết nhiều công việc được uỷ quyền khi giám đốc đi vắng.
- Chịu trách nhiệm về hoạt động toàn bộ của phòng quản lý thiết bị và xí nghiệp sửa chữa cơ khí 88.
- Đối với đoàn tầu trực thuộc: Duyệt dự toán, quyết toán sửa chữa các phương tiện nạo vét.
- Điều độ sản xuất công nghiệp tại xí nghiệp cơ khí 88, quản lý toàn bộ hoạt động liên quan công tác gia công vật tư phụ tùng thay thế.
Phó giám đốc sản xuất: (Báo cáo giám đốc)
- Chịu trách nhiệm về toàn bộ công tác sản xuất nạo vét xây dựng của toàn Công ty, trực tiếp phụ trách phòng Kế hoạch sản xuất.
- Kiểm soát chất lượng công trình nạo vét và xây dựng.
2.2.2. Các phòng, ban có nhiệm vụ sau:
- Phòng thị trường: (Báo cáo giám đốc, phó giám đốc thị trường)
Có nhiệm vụ tìm kiếm thị trường tiêu thụ, tìm kiếm khách hàng, xây dựng các hồ sơ dự thầu, đấu thầu, lập kế hoạch tiêu thụ sản phẩm và các kế hoạch khác.
Phòng kế hoạch sản xuất: (Báo cáo giám đốc, phó giám đốc sản xuất) Lập kế hoạch sản xuất kinh doanh dài hạn, ngắn hạn, trung hạn, ký kết các hợp đồng kinh tế, tổ chức theo dõi quá trình thi công trên các công trình.
- Phòng tổ chức lao động: (Báo cáo giám đốc)
Quản lý công tác tổ chức lao động tiền lương, BHXH và các chế độ chính sách đối với cán bộ, công nhân viên, quản lý công tác an toàn lao động, công tác huấn luyện khảo thi nâng bậc, nâng lương…
- Phòng tài chính kế toán: (Báo cáo giám đốc)
Quản lý công tác tài chính, theo dõi hoạt động sản xuất kinh doanh của Công ty dưới hình thức tiền tệ, mua sắm vật tư, thiết bị, tập hợp các chi phí sản xuất, tính giá thành sản phẩm, tình hình tiêu thụ sản phẩm, xác định kế hoạch hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty. Báo cáo quyết toán tài chính quí, năm trình giám đốc phê duyệt và báo cáo các cơ quan chức năng có liên quan. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Thực hiện chi trả các khoản lương và các chính sách khác đến tay người lao động.
Phòng quản lý thiết bị: (Báo cáo giám đốc, phó giám đốc kỹ thuật) Thiết kế, triển khai, lập quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm, quản lý kỹ thuật, chuẩn bị công nghệ, máy móc cho sản xuất, ban hành hệ thống chỉ tiêu, xác định thông số kỹ thuật với các loại TSCĐ lập định mức tiêu hao vật tư, năng lượng cho công ty.
Soạn thảo các hợp đồng mua nguyên vật liệu, tổ chức thu mua vận chuyển, cấp phát vật tư cho sản xuất đồng thời có nhiệm vụ vận chuyển, giao hàng cho các đoàn tầu sản xuất.
Quản lý hệ thống kho tàng vật tư hàng hoá và sản phẩm của công ty, quản lý thiết bị sản xuất, tổ chức bốc xếp hàng hoá.
- Phòng hành chính: (Báo cáo giám đốc)
Quản lý công tác hành chính văn thư, bảo mật, thông tin liên lạc, đánh máy, in văn bản, chăm sóc sức khoẻ cán bộ, công nhân viên.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI CÔNG TY NẠO VÉT VÀ XÂY DỰNG ĐƯỜNG THỦY I-TỔNG CÔNG TY XÂY DỰNG ĐƯỜNG THỦY
3.1.Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I-Tổng công ty xây dựng đường thủy
3.1.1 Những ưu điểm đạt được của công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I-Tổng công ty xây dựng đường thủy
Trong quá trình hoạt động kinh doanh, gặp nhiều khó khăn nhưng công ty vẫn vượt qua và hoàn thành tốt mục tiêu đặt ra luôn đáp ứng nhu cầu của khách hàng khẳng định vị trí của mình trên thị trường, hòa nhập với sự phát triển của nền kinh tế đất nước. Dưới đây là một vài ưu điểm của công ty:
- Đầu tiên là bộ máy quản lý của công ty:
Bộ máy quản lý công ty gọn nhẹ kết cấu chặt chẽ giữa các phòng ban chức năng hỗ trợ đắc lực cho lãnh đạo công ty trong công tác chỉ đạo và quản lý nhằm đưa ra những quyết định đúng đắn. Các phòng ban thực hiện chức năng khác nhau nhưng vẫn đảm bảo sự đồng bộ. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
- Thứ hai là bộ máy kế toán
Bộ máy kế toán công ty tổ chức theo mô hình kế toán tập trung. Mô hình này đảm bảo sự thống nhất với công tác kế toán, kiểm tra, xử lý và cung cấp thông tin kịp thời cho lãnh đạo công ty. Việc phân chia khối lượng công việc cho các nhân viên kế toán hết sức rõ ràng giúp cho việc kế toán trở nên chính xác và rõ ràng hơn. Phòng kế toán chịu sự chỉ đạo của kế toán trưởng. Mỗi phần hành kế toán do một nhân viên đảm nhiệm tạo tính tự chủ và tinh thần trách nhiệm cao trong công việc. Đội ngũ kế toán viên có trình độ chuyên môn, làm việc nghiêm túc luôn giúp đỡ nhau.
- Thứ ba là hệ thống chứng từ, tài khoản và sổ sách kế toán
Nhìn chung hệ thống chứng từ sổ sách là đầy đủ và tương đối rõ ràng. Công ty sử dụng phần mềm kế toán máy theo hình thức nhật ký chứng từ. Hình thức này tương đối phức tạp nhưng phù hợp với hoạt động kinh doanh của công ty. Các chứng từ được đơn vị tập hợp đầy đủ phục vụ nhu cầu thông tin kế toán cho doanh nghiệp đồng thời cũng chịu sự kiểm soát chặt chẽ của kế toán trưởng và giám đốc.
- Thứ tư về công tác tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm
Kế toán chi phí sản xuất nguyên vật liệu: công ty thực hiện quy trình kế toán chi phí đầy đủ. Việc mở sổ ghi các nghiệp vụ phát sinh được phản ánh kịp thời, thường xuyên theo yêu cầu công tác kế toán. Mặt khác phương pháp tính giá trị xuất kho và nhập kho hoàn toàn hợp lý. Quy trình theo dõi, quản lý vật tư chặt chẽ.
Kế toán chi phí nhân công trực tiếp: Việc áp dụng hình thức trả lương hợp lý. Luơng và các khoản trích theo lương theo quy định hiên hành.
- Kế toán chi phí sản xuất chung tập hợp và phân bổ chi phí đầy đủ, kịp thời.
- Phương pháp tính giá thành theo phương pháp trực tiếp là phù hợp với sản phẩm của công ty.
Công ty có mô hình quản lý chặt chẽ dưới các đoàn tầu nên hạn chế được những khoản chi phí thiệt hại một cách đáng kể.
3.1.2.Những hạn chế cần khắc phục Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
Ngoài những ưu điểm cần phát huy thì việc tìm ra những hạn chế của doanh nghiệp là vấn đề vô cùng quan trọng. Nhận thức được điều đó công ty cũng đã và đang tìm kiếm và khắc phục những hạn chế này. Dưới đây là một vài hạn chế của công ty:
- Một là: việc tập hợp chi phí sản xuất cụ thể chi phí điện nước phục vụ hoạt động sản xuất tại đoàn tầu phải cho vào chi phí sản xuất chung thì công ty lại tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp.
- Hai là: việc đánh giá sản phẩm dở dang của doanh nghiệp chưa rõ ràng. Còn dựa vào nhận thức chủ quan của kế toán mà không có cách tính cụ thể.
- Ba là: việc phân bổ các chi phí sản xuất chung chưa chi tiết cho từng công trình gây khó khăn cho công tác kiểm tra số liệu.
- Bốn là: việc phân loại tài khoản còn gặp sai sót cụ thể chi phí vật liệu phụ dùng cho sản xuất chung ở đoàn tầu phải hạch toán không đúng tài khoản, BHTN, BHYT, BHXH gộp chung vào TK 3383.
- Năm là: kết cấu sổ phức tạp phải sử dụng nhiều loại sổ đòi hỏi cán bộ phải có chuyên môn vững vàng.
- Sáu là: mặc dù có áp dụng phần mềm kế toán nhưng kế toán vẫn còn làm bằng tay như kế toán tiền lương vẫn phải tính ra bảng tính excel lập phiếu kế toán rồi mới ghi vào phần mềm tập hợp chi phí sản xuất làm hao tốn thời gian.
3.2.Tính chất chủ yếu phải hoàn thiện tổ chức kế toán tổng hợp chi phi sản xuất và tính giá thành sản phẩm tai công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I- Tổng công ty xây dựng đường thủy
Tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm đóng vai trò quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Trong đó, tập hợp chi phí sản xuất đúng hợp lý sẽ xác định được đúng giá thành sản phẩm của doanh nghiệp. Giá thành là một chỉ tiêu tổng hợp kinh tế quan trọng trong sản xuất kinh doanh. Nó có vai trò quan trọng trong việc xác định kết quả kinh doanh của mọi hoạt động sản xuất. Chính vì nhận thức được vai trò quan trọng của nó mà các nhà quản trị phải thu thập những thông tin về tình hình chi phí cũng như kết quả thu được. Từ đó sẽ đưa ra các biện pháp giảm chi phí không cần thiết, khai thác tối đa tiềm năng của máy móc và người lao động nâng cao hiệu quả sản xuất và hạ giá thành sản phẩm. Chính vì vậy nên công tác hoàn thiện kế toán đang rất được coi trọng.
3.3.Nội dung và giải pháp hoàn thiện công tác kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I-Tổng công ty xây dựng đường thủy
Một là hoàn thiện chi phí sản xuất chung: Việc tập hợp chi phí dich vụ cụ thể là điện nước phục vụ sản xuất tại đoàn tầu phái cho vào chi phí sản xuất chung chứ không phải chi phí quản lý doanh nghiệp.
Hai là hoàn thiện đánh giá sản phẩm dở dang: Phải có cách tính cụ thể không thể làm theo nhận thức chủ quan của nhân viên kế toán. Điều này sẽ làm ảnh hưởng lớn đến việc xác định giá thành sản phẩm.
Ba là việc phân loại các TK kế toán chưa hợp lý cụ thể tập hợp chi phí nguyên vật liệu Tk1522 cho sản xuất chung phải hạch toán đúng TK 6272 chứ không phải cho vào TK6278.
Bốn là tách TK3383: BHXH: TK3382, BHYT:TK3383, KPCĐ:3384, BHTN: TK3389 để dễ dàng kiểm tra thuận lợi cho việc quản lý.
Năm là mỗi kế toán viên phải nâng cao trình độ sử dụng máy tính đặc biệt là phần mềm kế toán đồng thời thường xuyên cập nhật các quyết định công văn về kế toán trong doanh nghiệp sản xuất để nắm bắt tình hình thay đổi cho kịp thời và đồng bộ.
Sáu là nên có thêm bộ phận kế toán quản trị giúp doanh nghiệp phân tích tình hình hoạt động sản xuất hiện tại đồng thời dự toán các chi phí sản xuất cho tương lai để đưa ra các biện pháp cụ thể làm giảm chi phí sản xuất mà hiệu quả sản xuất vẫn cao.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
Hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành là công việc hết sức quan trọng. Kế toán phải phản ánh một cách kịp thời đầy đủ và chính xác. Việc tìm hiểu về tổ chức kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại công ty nạo vét và xây dựng đường thủy I đã giúp em có thêm hiểu biết thực tế về công tác này. Khóa luận đã đưa ra một số lý luận thực tiễn, mô tả thực tế và một số kiến nghị góp phần hoàn thiện tổ chức kế toán tại công ty. Mặc dù đã có nhiều cố gắng nhưng do lý luận cũng như thực tiễn còn hạn chế nên khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót. Em rất mong nhận đựơc sự đóng góp ý kiến của các thầy cô để em có thể khắc phục những thiếu sót.
Kết lời, em xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành tới ban lãnh đạo Công ty Nạo Vét và Xây Dựng Đường Thủy I- Tông công ty xây dựng đường thủy đã tạo điều kiện và giúp đỡ em trong thời gian thực tập tại công ty.
Đặc biệt, em xin chân thành cảm ơn Thạc sĩ Lương Khánh Chi đã giúp em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD Cty xây dựng


Pingback: Khóa luận: Kế toán bán hàng và XĐKQBH tại Công ty Hàng Hải
Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành Cty nạo vét