Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài:
Vốn bằng tiền là cơ sở, là tiền đề đầu tiên cho một doanh nghiệp hình thành và phát triển, là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp tiến hành quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Trong điều kiện hiện nay, phạm vi hoạt động của doanh nghiệp đã được mở rộng, tăng cường hợp tác với nhiều nước trên thế giới, quy mô sản xuất không ngừng tăng. Do đó, quy mô và kết cấu của vốn bằng tiền rất lớn và phức tạp, việc sử dụng và quản lý chúng có ảnh hưởng lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Việc tổ chức hạch toán vốn bằng tiền là nhằm đưa ra những thông tin đầy đủ nhất, chính xác nhất về thực trạng và cơ cấu của vốn bằng tiền, về các nguồn thu và sự chi tiêu của chúng trong quá trình kinh doanh để nhà quản lý có thể nắm bắt được những thông tin kinh tế cần thiết, đưa ra những quyết định tối ưu nhất về đầu tư, chi tiêu trong tương lai như thế nào. Bên cạnh nhiệm vụ kiểm tra các chứng từ, sổ sách về tình hình lưu chuyển tiền tệ, các nhà quản lý còn biết được hiệu quả kinh tế của đơn vị mình.
Nhận thức được ý nghĩa, ví trí cũng như tầm quan trọng của Vốn bằng tiền và tổ chức kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp,vận dụng những kiến thức đã học trong nhà trường kết hợp với thời gian thực tập tại Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng em đã tìm hiểu và nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán Vốn bằng tiền tại Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng”
2. Mục đích nghiên cứu:
- Nghiên cứu những nhận thức chung nhất về công tác kế toán vốn bằng tiền.
- Nắm rõ tình hình thực tế về công tác kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng.
- Đưa ra những đề xuất kiến nghị nhằm hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền. Giúp sinh viên có cơ hội tiếp cận với tài liệu thực tế, từ đó củng cố và hoàn thiện kiến thức. Đồng thời tạo điều kiện cho sinh viên có thể vận dụng những lý thuyết đó học vào trong thực tiễn. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu:
- Đối tượng nghiên cứu : công tác kế toán vốn bằng tiền.
- Phạm vi nghiên cứu : Số liệu năm 2011 tại phòng kế toán tài chính của Công ty Cổ phần Thương mại và dịch vụ vận tải Xi măng Hải phòng.
4. Phương pháp nghiên cứu:
- Phương pháp chung của chủ nghĩa duy vật biện chứng: đi từ lý luận đến thực tiễn, lấy thực tế để kiểm tra lý luận.
- Phương pháp cụ thể: phương pháp trình bày, diễn giải, so sánh, phân tích, quy nạp,…
- Phương pháp thống kê: dựa trên những số liệu đã thống kê để phân tích, so sánh, đối chiếu từ đó nêu lên những ưu điểm, nhược điểm trong công tác kinh doanh nhằm tìm ra nguyên nhân và biện pháp khắc phục cho Công ty nói chung và cho công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng.
5. Kết cấu của đề tài:
Ngoài phần mở đầu và phần kết luận,nội dung của bài khóa luận tốt nghiệp được trình bày trong 3 chương:
- Chương 1: Lý luận chung về công tác kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng
- Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện công tác kế toán vốn bằng tiền tại Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng
CHƯƠNG 1: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Khái niệm, đặc điểm và phân loại vốn bằng tiền
1.1.1 Khái niệm
Vốn bằng tiền là toàn bộ các hình thức tiền tệ hiện thực do đơn vị sở hữu, tồn tại dưới hình thái giá trị và thực hiện chức năng phương tiện thanh toán trong quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền là một loại tài sản mà doanh nghiệp nào cũng có và sử dụng. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
1.1.2. Đặc điểm
Trong quá trình sản xuất kinh doanh vốn bằng tiền vừa được sử dụng để đáp ứng nhu cầu về thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư, hàng hoá sản xuất kinh doanh, vừa là kết quả của việc mua bán hoặc thu hồi các khoản nợ. Chính vì vậy, quy mô vốn bằng tiền là loại vốn đòi hỏi doanh nghiệp phải quản lý hết sức chặt chẽ vì vốn bằng tiền có tính luân chuyển cao nên nó là đối tượng của sự gian lận và ăn cắp. Vì thế trong quá trình hạch toán vốn bằng tiền, các thủ tục nhằm bảo vệ vốn bằng tiền khỏi sự ăn cắp hoặc lạm dụng là rất quan trọng, nó đòi hỏi việc sử dụng vốn bằng tiền cần phải tuân thủ các nguyên tắc chế độ quản lý tiền tệ thống nhất của Nhà nước.
1.1.3 Phân loại
- Phân loại theo hình thức tồn tại vốn bằng tiền của doanh nghiệp được chia thành:
Tiền Việt Nam: là loại tiền phù hiệu. Đây là các loại giấy bạc do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành và được sử dụng làm phương tiện giao dịch chính thức đối với toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoại tệ: Là loại tiền phù hiệu. Đây là các loại giấy bạc không phải do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành nhưng được phép lưu hành chính thức trên thị trường Việt nam như các đồng: đô la Mỹ (USD), bảng Anh (GBP), phrăng Pháp( FFr), yên Nhật ( JPY), đô la Hồng Kông ( HKD), mác Đức ( DM) …
Vàng bạc, kim khí quý, đá quý: là tiền thực chất, tuy nhiên được lưu trữ chủ yếu là vì mục tiêu an toàn hoặc một mục đích bất thường khác chứ không phải vì mục đích thanh toán trong kinh doanh.
- Phân loại theo trạng thái tồn tại,vốn bằng tiền của doanh nghiệp bao gồm:
Tiền tại quỹ: gồm giấy bạc Việt Nam, ngoại tệ ,bạc vàng, kim khí quý, đá quý, ngân phiếu hiện đang được giữ tại két của doanh nghiệp để phục vụ nhu cầu chi tiêu trực tiếp hàng ngày trong sản xuất kinh
Tiền gửi ngân hàng: là tiền Việt Nam, ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý mà doanh nghiệp đang gửi tại tài khoản của doanh nghiệp tại Ngân hàng.
Tiền đang chuyển: là tiền đang trong quá trình vận động để hoàn thành chức năng phương tiện thanh toán hoặc đang trong quá trình vận động từ trạng thái này sang trạng thái khác.
1.2. Nhiệm vụ kế toán và nguyên tắc hạch toán Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
1.2.1. Nguyên tắc hạch toán chung
Kế toán vốn bằng tiền phải tuân thủ theo các nguyên tắc, chế độ quản lý tiền tệ của Nhà nước sau đây:
- Hạch toán kế toán phải sử dụng thống nhất một đơn vị giá trị là “Đồng Việt nam” .
Nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ra “Đồng Việt nam” theo tỷ giá mua do Ngân hàng Nhà nước công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ để ghi sổ kế toán. Đồng thời phải theo dõi chi tiết riêng từng nguyên tệ của ngoại tệ đó trên TK 007 – Ngoại tệ các loại.
Đối với vàng bạc, kim khí quý đá quý phản ánh ở tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho doanh nghiệp không kinh doanh vàng bạc, kim khí quý đá quý; phải theo dõi số lượng trọng lượng, quy cách phẩm chất và giá trị của từng loại, từng thứ. Giá nhập vào trong kỳ được tính theo giá thực tế, còn giá xuất có thể được tính theo một trong các phương pháp sau:
- Phương pháp giá thực tế bình quân gia quyền giữa giá đầu kỳ và giá các lần nhập trong kỳ.
- Phương pháp giá thực tế nhập trước, xuất trước.
- Phương pháp giá thực tế nhập sau, xuất trước.
- Phải mở sổ chi tiết cho từng loại ngoại tệ, vàng, bạc, kim khí quý, đá quý theo đối tượng, chất lượng …
Cuối kỳ hạch toán phải điều chỉnh lại giá trị ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý theo giá tại thời điểm tính toán để có được giá trị thực tế và chính xác.
Nếu thực hiện đúng các nhiệm vụ và nguyên tắc trên thì hạch toán vốn bằng tiền sẽ giúp cho doanh nghiệp quản lý tốt vốn bằng tiền, chủ động trong việc thực hiện kế hoạch thu chi và sử dụng vốn có hiệu quả cao.
1.2.2. Nhiệm vụ kế toán
Xuất phát từ những đặc điểm nêu trên, hạch toán vốn bằng tiền phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
- Theo dõi tình hình thu, chi, tăng, giảm, thừa, thiếu và phản ánh chính xác, kịp thời đầy đủ số hiện có của từng loại vốn bằng tiền.
- Giám đốc thường xuyên giám sát tình hình thực hiện chế độ quản lý tiền mặt, kỷ luật thanh toán, kỷ luật tín dụng.
- Hướng dẫn và kiểm tra việc ghi chép của thủ quỹ, thường xuyên kiểm tra đối chiếu số liệu của thủ quỹ và kế toán tiền mặt.
- Tham gia vào công tác kiểm kê quỹ tiền mặt, phản ánh kết quả kiểm kê kịp thời.
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI XI MĂNG HẢI PHÒNG Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
2.1 Khái quát chung về công ty Cổ phần thương mại dịch vụ vận tải Xi măng Hải Phòng
2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển của công ty CPTM DV VT XM HP
- Giới thiệu chung về công ty
- Tên công ty: Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải Xi măng Hải Phòng
- Tên tiếng Anh: Hai Phong Cement Transport and Trading Join Stock Company
- Tên viết tắt: HPCTT Biểu tượng của công ty :
- Giấy chứng nhận ĐKKD: Số 0200577563 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố
- Hải Phòng cấp lần thứ 3 ngày 20/10/2012 Trụ sở chính: Số 290 đường Hà Nội – Q.Hồng Bàng – TP.Hải Phòng
- ĐT (84-31) 3.525.154 – 3824016
- Fax: (84-31) 3.540.417
- Email: hpctt@yahoo.com.vn
- Website: vtxmhp.com Loại hình doanh nghiệp
Là công ty Cổ phần Thương mại Dịch vụ Vận tải, được cổ phần hóa từ Xí nghiệp Vận tải và Sửa chữa Thủy thuộc Công ty Xi măng Hải Phòng theo Quyết định số 1753/QĐ-BXD ngày 29 tháng 12 năm 2003 của Bộ trưởng Bộ Xây dựng.
- Qui mô doanh nghiệp
Vốn điều lệ theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh: 20.163.850.000 VND
- Khái lược lịch sử hình thành Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Công ty cổ phần Thương mại – Dịch vụ – Vận tải Xi măng Hải Phòng tiền thân là phân xưởng Cơ Giới, phân xưởng Sửa chữa sà lan, Đoàn vận tải thuỷ của Nhà máy xi măng Hải Phòng và Liên đội vận tải thuỷ, bộ thuộc Công ty cung ứng vật tư thiết bị số 3 – Bộ Xây dựng, lịch sử phát triển của Công ty gắn liền với sự phát triển của Nhà máy xi măng Hải Phòng.
- Giai đoạn từ 10/9/1899 đến 6/1955
Ngày 10/9/1899 Công ty Xi măng Poóclan nhân tạo Đông Dương được thành lập cũng chính là ngày ra đời của Nhà máy xi măng Hải Phòng và của Đoàn vận tải thuỷ, Đoàn vận tải bộ. Công ty Xi măng Poóclan nhân tạo Đông Dương độc quyền khai thác nguyên liệu tại khu núi đá vôi Tràng Kênh nằm ở vùng hữu ngạn sông Đá Bạc cách Hải Phòng 17km theo đường chim bay và khai thác đất sét tại bãi sông cửa Cấm, toàn bộ khối lượng khai thác được đoàn vận tải thuỷ vận chuyển về Nhà máy là nguyên liệu chính để sản xuất xi măng.
- Giai đoạn từ ngày 6/11/1955 đến ngày 10/3/1997
Hoà bình được lập lại trên miền Bắc, Nhà máy Xi măng Hải Phòng phát động nhiều phong trào thi đua như phong trào thi đua “Ba nhất” , phong trào thi đua “Bốn ngọn cờ hồng” với khẩu hiệu hành động “Hãy sản xuất nhiều xi măng cho Tổ quốc”, trong cuộc chiến tranh phá hoại của đế quốc Mỹ ra miền Bắc, Nhà máy xi măng Hải Phòng nhanh chóng chuyển mọi hoạt động từ thời bình sang thời chiến đảm bảo duy trì và đã sản xuất nhiều chủng loại xi măng để xây dựng các công trình quan trọng như công trình Lăng Bác, Bảo tàng Hồ Chí Minh, nhà máy xi măng Bỉm Sơn, nhà máy Kính đáp cầu, nhà máy thuỷ điện Hoà Bình, cầu Thăng Long… Cán bộ công nhân viên đơn vị vận tải luôn hoàn thành nhiệm vụ tiếp nhận vận chuyển hàng triệu tấn sản phẩm đầu ra để đảm bảo cho sản xuất được thường xuyên liên tục, ngoài ra đơn vị còn tiếp nhận và vận chuyển hàng triệu tấn hàng hoá thiết bị từ cảng Hải Phòng đến chân các công trình xây dựng nhà máy xi măng Bỉm Sơn Thanh Hoá, nhà máy Kính Đáp Cầu, nhà máy bê tông Đạo Tú, bê tông Xuân Mại, Cung văn hoá Lao động Hữu nghị Việt Tiệp, nhà máy xi măng Bút Sơn, tham gia chiến dịch giải toả cảng Hải Phòng đưa hàng đến các tỉnh phía Bắc.
Sau giải phóng miền Nam theo sự chỉ đạo của Chính phủ, đơn vị đã tập trung toàn lực để cùng các ngành đường sông, đường biển vận chuyển tiêu thụ hàng chục triệu tấn xi măng cho các tỉnh phía Nam để bình ổn giá cả thị trường và xây dựng đất nước.
- Giai đoạn từ ngày 1/4/1997 đến ngày 28/2/2004 Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Theo định hướng phát triển của ngành xi măng và từng bước chuẩn bị các điều kiện cơ sở vật chất, trình độ chuyên môn cho các đơn vị thành viên trong Tổng công ty xi măng Việt Nam không ngừng trưởng thành về mọi mặt để cạnh tranh thắng lợi trên thương trường với các doanh nghiệp trong và ngoài ngành. Chủ tịch HĐQT Tổng công ty xi măng Việt Nam đã ký quyết định số 110/XMVN – HĐQT ngày 1/4/1997 trên cơ sở sáp nhập 4 đơn vị là đoàn vận tải thuỷ, đoàn vận tải tiêu thụ sản phẩm, phân xưởng cơ giới, phân xưởng sửa chữa thuỷ thành xí nghiệp Vận tải và Sửa chữa thuỷ trực thuộc công ty Xi măng Hải Phòng.
Sau 7 năm hoạt động theo mô hình xí nghiệp trực thuộc công ty xi măng Hải Phòng, tập thể CBCNV của đơn vị từng bước trưởng thành về mọi mặt quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh, với đội ngũ 420 CBCNV có trình độ chuyên môn nghiệp vụ từ công nhân kỹ thuật, trung cấp, kỹ sư đến thạc sỹ, quản lý trên 8.520 tấn phương tiện thuỷ, 420 tấn phương tiện bộ, Xí nghiệp đã hoàn thành nhiệm vụ vận chuyển các nguyên liệu đầu vào phục vụ cho sản xuất xi măng và vận chuyển xi măng đến các công trình xây dựng, sản lượng vận chuyển thuỷ bộ đạt trên 1,2 triệu tấn/ năm, thực hiện tốt công tác bảo dưỡng sửa chữa phương tiện thuỷ bộ, đảm bảo việc làm đời sống cho người lao động ngày càng được cải thiện…
- Giai đoạn từ 1/3/2004 đến 30/6/2007
Thực hiện chủ trương chính sách lớn của Đảng và Nhà nước về việc cổ phần hoá các doanh nghiệp Nhà nước trong xu thế nền kinh tế nước ta đang hội nhập sâu rộng vào nền kinh tế khu vực và thế giới, các doanh nghiệp quốc doanh quản lý theo cơ chế quan liêu bao cấp không còn phù hợp, đòi hỏi các doanh nghiệp nhà nước phải chuyển đổi mạnh mẽ để tồn tại và phát triển. Theo lộ trình cổ phần hoá của Tổng công ty xi măng Việt Nam, Công ty xi măng Hải Phòng đã lập phương án cổ phần hoá từng bộ phận của công ty trước mắt cổ phần hoá Xí nghiệp vận tải và sửa chữa thuỷ . Phương án cổ phần hoá đã được Tổng công ty xi măng Việt Nam và Bộ Xây dựng chấp nhận. Bộ trưởng Bộ Xây dựng đã ra quyết định số 1753/ QĐ – BXD ngày 29/12/2003 về việc: Chuyển Xí nghiệp Vận tải và sửa chữa thuỷ là đơn vị hạch toán phụ thuộc Công ty xi măng Hải Phòng thành Công ty cổ phần thương mại dịch vụ vận tải xi măng Hải Phòng và chính thức đi vào hoạt động từ ngày 1/3/2004 với số vốn điều lệ là 300.000.000 đồng, vào ngày 26/05/2007 tại Đại hội cổ đông thường niên, Đại hội đồng cổ đông đã thông qua nghị quyết trả cổ tức bằng cổ phiếu tăng vốn điều lệ công ty lên 10.415.580.000 đồng.
Giai đoạn từ 1/7/2007 đến nay
- Đến năm 2009 Vốn điều lệ của công ty tăng lên là 20.163.850.000 sau khi phát hành thêm cổ phiếu đợt thứ hai.
Chức năng nhiệm vụ Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
- Vận chuyển vật tư đầu vào gồm : Than từ Quảng ninh về cho các nhà máy xi măng thuộc tổng công ty công nghiệp xi măng Việt nam, vận chuyển đá, đất sét, phụ gia cho công ty xi măng Hải phòng bằng các phương tiện tầu sông, xe vận tải chuyên dùng…
- Vận chuyển sản phẩm : Xi măng, clinker của công ty xi măng Hải phòng đi các tỉnh phía bắc bằng đường sông, đường bộ, đi các tỉnh miền trung, miền nam bằng đường biển.
- Đưa đón CBCN công ty xi măng Hải Phòng bằng xe ca, kinh doanh dịch vụ vận chuyển khách du lịch.
- Sửa chữa các phương tiện thủy, bộ, dịch vụ rửa xe, trông coi và cho thuê địa điểm gửi xe ô tô, xe máy, xe đạp…cho thuê kho, bến thủy, bãi…
- Kinh doanh, đại lý xi măng
- Bốc xếp hàng hoá ga đường sắt, bốc xếp hàng hoá đường bộ, bốc xếp hàng hoá cảng biển, bốc xếp hàng hoá cảng sông.
2.1.2. Đặc điểm sản xuất kinh doanh của công ty CPTM DV VT XMHP
Điều kiện cơ sở vật chất kỹ thuật
- Bến Quỳnh cư: với diện tích 000 m2 và 100 m kè hiện đang cho thuê bốc xếp hàng hoá.
- Mặt bằng số 290 Sở dầu- Hồng Bàng- HP, diện tích 200 m2 làm trụ sở chính của Công ty và bãi đỗ xe, nhà để xe kinh doanh.
- Mặt bằng khu vực triền đà 000m2 làm kho, xưởng sửa chữa phương tiện.
- Phương tiện vận tải thuỷ: 02 tàu tự hành 680T và 580T mới đầu tư năm 2007, 8 đầu kéo và 11 sà lan tổng cộng 500 tấn phương tiện
- Phương tiện vận tải bộ: 14 xe vận tải bằng 110 tấn phương tiện
- Máy gạt 01 chiếc, cần cẩu: 01 chiếc
- Xe ca loại 34 và 45 chỗ ngồi để vận chuyển CBCN: 14 chiếc
- Pongtong bốc xếp: 02 chiếc, dung tích gầu ngoạm 0,8m3 và 1,2m3.
Nguồn nhân lực Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
- Hiện tại Công ty có 151 cán bộ công nhân viên:
- Thạc sỹ quản trị kinh doanh, Kinh tế vận tải biển: 02 người =1,3%
- Trình độ đại học: 17 người = 11,25 %
- Trình độ trung cấp: 03 người = 2 %
- Công nhân kỹ thuật, thợ lành nghề: 129 người = 85,45 %
Khó khăn và thuận lợi của công ty trong quá trình hoạt động
Thuận lợi
- Công ty đã kiện toàn lại bộ máy, điều kiện cơ sở vật chất tốt, thực hiện thắt chặt và tiết kiệm tối đa các chi phí trực tiếp và gián tiếp, giảm hao hụt, tiến hành khoán chi phí.
- Công ty nhận được sự ưu đãi, quan tâm từ tổng công ty xi măng việt nam tạo điều kiện ưu đãi từ công ty xi măng Hải phòng và sự ủng hộ của các công ty xi măng thành viên.Từ đó tạo ưu thế cạnh tranh với các doanh nghiệp khác.
- Đội ngũ cán bộ giao nhận của công ty dày dạn kinh nghiệm, chủ động xử lý công việc nhanh gọn hiệu quả.
- Đặc biệt, Công ty luôn nhận được sự quan tâm chỉ đạo của Tổng công ty Xi măng tạo điều kiện ưu đãi của công ty xi măng Hải Phòng, Tổng Công ty Xi măng Việt nam và sự ủng hộ của các công ty xi măng thành viên.
Khó khăn
Tình hình thị trường diễn biến phức tạp, chỉ số giá nhiều mặt hàng tăng cao đã có những ảnh hưởng không tốt tới hoạt động kinh doanh của Công ty.
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong công tác tổ chức và sắp xếp lại tổ chức nhưng cơ cấu lao động còn nhiều bất cập; năng suất, chất lượng chưa đạt hiệu quả cao.
- Bảng 1.1: Các chỉ tiêu kinh tế của công ty
Nhìn vào kết quả hoạt động kinh doanh của công ty trong 2 năm qua ta thấy rằng, kết quả mà công ty đạt được khá cao điều đó đã nói lên sự cố gắng của công ty. Cụ thể: lương bình quân của các cán bộ nhân viên năm 2011 đã được cải thiện hơn so với năm 2010. Doanh thu bán hàng và cung cấp dịch vụ tăng rất cao từ khoảng hơn 50,5 tỷ năm 2010, tăng lên hơn 62,7 tỷ năm 2011 tương đương với tăng 24%/ năm. Có sự tăng vọt về doanh thu vậy là do công ty đã nhận được nhiều hợp đồng về cung cấp dịch vụ vận tải và bán xi măng cho các công ty lớn về xây dựng. Lợi nhuận kinh doanh năm 2011 tuy giảm so với năm 2010 từ gần 2,6 tỷ đã giảm còn hơn 2,5 tỷ có thể do tình hình chung của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát cao, các khoản chi phí tăng lên (tăng 22% so với năm 2010) nhưng khoản lợi nhuận công ty đạt được vẫn đáng kể. Công ty thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của mình với nhà nước.Từ kết quả trên ta thấy, công ty đã tăng mức lãi qua từng năm, điều đó chứng tỏ sự cố gắng của công ty trong tổ chức hoạt động kinh doanh. Với đà phát triển đó hứa hẹn trong tương lai hoạt động kinh doanh của công ty sẽ đem lại hiệu quả tốt hơn, ngày càng có được vị thế vững chắc trên thị trường.
CHƯƠNG 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN CÔNG TÁC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN THƯƠNG MẠI DỊCH VỤ VẬN TẢI XI MĂNG HẢI PHÒNG
3.1. Đánh giá thực trạng công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền tại Cổ phần thương mại dị ch vụ vận tải Xi măng Hải Phòng Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Cùng với nhịp độ phát triển của đất nước, vận động trong cơ chế thị trường, qua nhiều năm hoạt động và phát triển, đã không ngừng vươn lên tự khẳng định mình là một doanh nghiệp kinh doanh hoạt động có hiệu quả. Để đạt được những thành quả như những năm qua là nhờ công ty có định hướng đúng đắn trong chiến lược phát triển kinh doanh, coi thị trường là mục tiêu vươn tới, không ngừng thỏa mãn khách hàng, từng bước nâng cao trình độ đội ngũ lãnh đạo và quản lý, đồng thời quán triệt trong tổ chức quản lý tài chính. Đặc biệt là trong công tác hạch toán kế toán Công ty vận dụng một cách triệt để và không ngừng hoàn thiện. Việc đánh giá tình hình thực hiện hạch toán kế toán vốn bằng tiền và các nghiệp vụ thanh toán trong công ty là hết sức cần thiết, nó còn là một trong những căn cứ làm đòn bẩy cho đội ngũ kế toán Công ty thể hiện trình độ và năng lực chuyên môn của mình.
Trong nền kinh tế thị trường Công ty tham gia và hoạt động sản xuất kinh doanh với tư cách là một chủ thể kinh tế, được pháp luật đảm bảo, luôn lấy tiêu chí lợi nhuận làm mục tiêu hàng đầu, nên sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp khác là không thể tránh khỏi. Đứng trước những thách thức đó bên cạnh việc nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, Công ty còn luôn phải tìm các biện pháp hạch toán vốn bằng tiền, nhằm đạt hiệu quả cao nhất thúc đẩy hoạt động kinh doanh của Công ty.
Sau một thời gian thực tập tại Công ty cổ phần thương mại dịch vụ và vận tải xi măng Hải Phòng, vận dụng lý thuyết đã học vào thực tế em rút ra một số nhận xét về tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền của công ty như sau:
3.1.1. Ưu điểm
Về tổ chức bộ máy kế toán: Công ty đã xây dựng, tổ chức quản lý vốn bằng tiền từ việc lập chứng từ tới việc xử lý các chứng từ liên quan rất nhanh và chính xác, rất thuận tiện cho công việc thu – chi tiền mặt tại quỹ. Điều đó thể hiện tinh thần làm việc có trách nhiệm và nghiệp vụ chuyên môn cao của CBNV phòng kế toán tài chính công ty, đồng thời đó cũng là sự quản lý có hiệu quả của Lãnh đạo phòng kế toán tài chính trong công tác kế toán nói chung và trong công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng.
Về hình thức kế toán: Hình thức kế toán áp dụng tại công ty là hình thức kế toán Nhật ký chung. Đây là hình thức kế toán đơn giản, gọn nhẹ, dễ theo dõi. Dựa trên đặc điểm riêng của công ty, có quy mô vừa, sản xuất kinh doanh tập trung cũng như đặc điểm về quản lý, năng lực, trình độ chuyên môn của cán bộ kế toán nên việc áp dụng hình thức Nhật ký chung là hoàn toàn thích hợp. Sổ kế toán của công ty được lập hàng tháng khá đầy đủ, được phản ánh theo trình tự thời gian và theo nội dung nghiệp vụ kinh tế phát sinh. Cách thức ghi chép và phương pháp hạch toán khoa học, chính xác, phù hợp với yêu cầu, nguyên tắc của chuẩn mực kế toán Việt Nam. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Về công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền: có sự phân chia nhiệm vụ, trách nhiệm giữa kế toán tiền mặt và kế toán tiền gửi ngân hàng nhằm giảm bớt áp lực công việc liên quan tới tiền.Công tác kế toán Vốn bằng tiền của Công ty được tiến hành khá nề nếp theo một quy trình luân chuyển chứng từ chặt chẽ, các số liệu trên sổ sách có tính đối chiếu cao, chấp hành các quy định quản lý và lưu thông tiền mặt hiện hành của Nhà nước.
- Mọi biến động về Vốn bằng tiền đều làm đầy đủ thủ tục, phải có chứng từ gốc hợp lệ.
- Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền đúng mục đích, đúng chế độ.
Về kế toán tiền mặt tại quỹ: Công ty thực hiện theo chế độ kế toán hiện hành về nguyên tắc quản lý tiền mặt: mọi khoản thu, chi, bảo quản tiền mặt đều do thủ quỹ thực hiện. Tất cả các khoản thu, chi đều có chứng từ hợp lệ và chữ ký của kế trưởng, thủ trưởng đơn vị, thủ quỹ và kế toán tiền mặt độc lập với nhau, chỉ thực hiện đối chiếu tất quả.
Về kế toán tiền gửi ngân hàng: Kế toán liên hệ chặt chẽ và có quan hệ tốt với phía ngân hàng. Tập hợp, theo dõi đầy đủ các chứng từ và đối chiếu với ngân hàng. Tiền gửi ngân hàng được hạch toán chi tiết trên tài khoản tiền gửi Việt Nam Đồng: TK 1121
Kế toán vốn bằng tiền còn được sự theo dõi, kiểm tra, giám sát chặt chẽ của kế toán trưởng.
Về hệ thống sổ: Công ty đã thiết lập hệ thống sổ sách đầy đủ bao gồm cả các sổ tổng hợp và sổ chi tiết. Việc tiến hành theo dõi, ghi chép các nghiệp vụ kinh tế phát sinh trên các sổ này cũng diễn ra đầy đủ, kịp thời, chính xác. Các số liệu trên sổ sách có tính đối chiếu cao, đáp ứng kịp thời và đầy đủ nhu cầu về vốn cho sản xuất và kinh doanh.
Hệ thống tài khoản áp dụng để theo dõi sự biến động của vốn bằng tiền hoàn toàn tuân thủ theo quy định và đã được chi tiết tối đa cho từng loại tài khoản. Sự chi tiết đó đã cho phép Ban lãnh đạo nắm bắt được những số liệu cụ thể và chi tiết của vốn bằng tiền, từ đó có thể đưa ra các quyết định một cách chính xác và hợp lý.
Việc giữ gìn và bảo quản tiền mặt trong két: được đảm bảo tính an toàn cao.
3.1.2. Nhược điểm. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Không sử dụng bảng kê chi tiền :do đó không liệt kê được các khoản tiền đã chi nên kế toán của công ty nhiều khi chưa hạch toán kịp thời tình hình biến động tăng giảm vốn bằng tiền từ đó dẫn đến thiếu xót không chính xác. Mặc dù cố gắng rất lớn trong việc giảm bớt khố lượng tính toán và hệ thống sổ sách nhưng việc ghi chép vẫn thực hiện thủ công, máy tính chỉ giúp phần tính toán nên khối lượng công việc mà kế toán phải làm là rất vất vả và ảnh hưởng đến tiến độ công việc.
Hạch toán tiền đang chuyển: do phạm vi của công ty đang ngày một mở rộng nên đôi khi thủ tục thanh toán đã được thực hiện nhưng công ty chưa nhận được giấy báo có, giấy báo nợ hay bản sao kê của ngân hàng mà hiện nay công ty lại không sử dụng TK 113 – Tiền đang chuyển để theo dõi. Điều này không phản ánh đúng trách nhiệm quản lý vốn.
Kế toán không tiến hành kiểm kê quỹ định kỳ: lượng tiền mặt hàng ngày của công ty giao dịch là rất lớn, việc kiểm tra thường xuyên quỹ tiền mặt sẽ hạn chế được những sai sót nhầm lẫn hoặc các hành vi gian lận trong quản lý quỹ tiền mặt nhưng kế toán không tiến hành kiểm kê định kỳ. Do đó không xác định được số chênh lệch giữa tiền tồn quỹ thực tế với số quỹ để từ đó tăng cường quản lý và làm cơ sở quy trách nhiệm vật chất, ghi sổ kế toán chênh lệch.
Về hình thức thanh toán: Việc thanh toán thông qua hệ thống ngân hàng chưa được tận dụng một cách triệt để, đồng thời Công ty vẫn sử dụng nhiều tiền mặt trong thanh toán, việc sử dụng nhiều tiền mặt trong thanh toán sẽ làm cho Công ty gặp nhiều rủi ro có thể xảy ra như: tiền giả, mất mát trong quá trình bảo quản, không hiệu quả trong quá trình thanh toán…
Về nguồn nhân lực: Vì công tác kế toán giữ một vị trí quan trọng trong bộ máy hoạt động của công ty, ảnh hưởng trực tiếp đến kết quả hoạt động kinh doanh, do vậy khối lượng công việc là rất lớn và thường xuyên. Nhưng hiện tại số nhân viên phòng kế toán còn quá ít, số lượng công việc mà mỗi người đảm nhiệm là quá nhiều, có thể dẫn đến nhầm lẫn hoặc để sót thông tin nên chưa thể phát huy được hết vai trò và tầm quan trọng của kế toán.
Công ty chưa ứng dụng tin học vào công tác kế toán: hiện nay công ty chưa có phần mềm riêng biệt để phục vụ công tác kế toán nên doanh nghiệp vẫn chưa phát huy hết vai trò của máy tính trong công tác hạch toán kế toán, chưa tiết kiệm được thời gian lao động của nhân viên kế toán.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
Vốn bằng tiền là một trong những tài sản quan trọng và cơ động nhất của công ty. Nó quyết định đến sự thành công hay thất bại của doanh nghiệp. Mỗi chính sách quản lý vốn bằng tiền hợp lý là cơ sở cho sự bảo tồn vốn, là căn cứ và là tiền đề phát triển của doanh nghiệp, tăng hiệu quả kinh doanh ở doanh nghiệp. Việc thực hiện và quản lý vốn bằng tiền của công ty luôn phải gắn liền với chế độ chính sách của nhà nước. Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay do sự chuyển đổi cơ chế, các chế độ chính sách của Nhà nước luôn thay đổi và việc sản xuất kinh doanh cũng thay đổi theo từng thời kỳ, nên cách thức quản lý hạch toán vốn bằng tiền của công ty phải luôn chủ động thay đổi sao cho phù hợp với yêu cầu thực tế hơn.
Dù đã có nhiều cố gắng nhưng do điều kiện thời gian cũng như kinh nghiệm hạn chế nên bài khóa luận tốt nghiệp của em không tránh khỏi những khiếm khuyết cả về nội dung lẫn hình thức. Em rất mong nhận được sự đóng góp ý kiến của Quí thầy cô giáo, các bạn sinh viên và Ban lãnh đạo công ty để em có thể khắc phục được những hạn chế của mình.
Và qua đây, em xin chân thành cảm ơn Cô giáo Lương Khánh Chi đã tận tình, chu đáo hướng dẫn em hoàn thành bài luận văn này, cùng Ban lãnh đạo Công ty, CBCNV phòng Kế toán tài chính của Công ty cổ phần thương mại dịch vụ và vận tải xi măng Hải Phòng đã nhiệt tình giúp đỡ em trong quá trình thực tập và hoàn thành bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty vận tải xi măng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Phân tích Bảng cân đối kế toán tại công ty Tân Thế


Pingback: Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Cty Bao bì