Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

Mỗi đơn vị kinh tế là một tế bào của nền kinh tế xã hội. Nền kinh tế xã hội càng phát triển thì kế toán ngày càng giữ vai trò hết sức quan trọng trong quản lý kinh doanh. Bất kỳ một cơ sở sản xuất kinh doanh nào, tài chính – vốn cũng là một vấn đề vô cùng quan trọng để doanh nghiệp có thể tồn tại và phát triển.Vốn được biểu hiện bằng nhiều hình thức khác nhau: vốn bằng tiền, vốn bằng sức lao động, vốn bằng công nghệ kỹ thuật…Vốn bằng tiền là cơ sở, là tiền đề cho một doanh nghiệp hình thành, tồn tại và phát triển, là điều kiện cơ bản để doanh nghiệp hoàn thành nhiệm vụ cũng như mục tiêu của mình. Mặt khác vốn bằng tiền lại là công cụ giúp nhà lãnh đạo quản lý, điều hành các hoạt động kinh doanh,do nó có chức năng cung cấp thông tin chuẩn xác nhất. Bởi vậy công tác kế toán vốn bằng tiền là vấn đề then chốt doanh nghiệp nào cũng phải quan tâm và giải quyết sao cho hiệu quả cao nhất.

Với kiến thức đã học trong nhà trường và thực tế tìm hiểu tại đơn vị thực tập em đã chọn đề tài: “Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng”, nhằm củng cố nâng cao kiến thức và hy vọng góp một phần nhỏ bé vào việc hoàn công tác kế toán của Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng

Khoá luận bao gồm các nội dung chủ yếu sau:

  • Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp
  • Chương 2:Thực tế tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng
  • Chương 3: Một số biện pháp nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng

Trong thời gian thực hiện khoá luận, em đã nhận được sự giúp đỡ của thầy cô trong khoa QTKD và đặc biệt là sự giúp đỡ chỉ bảo nhiệt tình của ThS.Hoà Thị Thanh Hương.Mặc dù đã cố gắng với hết khả năng của mình, nhưng do trình độ còn hạn chế và thời gian có hạn nên khoá luận không tránh khỏi những sai sót. Do đó em rất mong nhận được sự đóng góp phê bình của các thầy cô giáo và các bạn sinh viên để bài khoá luận được hoàn thiện hơn.

Chương 1:LÝ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TRONG DOANH NGHIỆP

1.1 Khái niệm, nhiệm vụ của kế toán vốn bằng tiền trong doanh nghiệp

1.1.1 Khái niệm vốn bằng tiền Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Vốn bằng tiền là bộ phận của tài sản lưu động ở hình thái tiền tệ trong quá trình vận động. Nó có tính linh hoạt cao nhất trên Bảng cân đối kế toán, đồng thời nó phản ánh khả năng thanh toán tức thời của doanh nghiệp tại thời điểm.

Vốn bằng tiền của doanh nghiệp gồm:

  • Tiền mặt tại quỹ
  • Các khoản tiền gửi ngân hàng
  • Tiền đang chuyển

(Gồm cả nội tệ, ngoại tệ, ngân phiếu, vàng , bạc, đá quý…….)

1.1.2. Vai trò của kế toán vốn bằng tiền:

Vốn bằng tiền có tính thanh khoản cao,do vậy được sử dụng để đáp ứng nhu cầu thanh toán các khoản nợ của doanh nghiệp hoặc mua sắm vật tư hàng hóa để sản xuất kinh doanh, quy mô vốn bằng tiền phản ánh khả năng thanh khoản tức thời của doanh nghiệp.

Việc quản lý, sử dụng vốn bằng tiền là một khâu quan trọng nhất trong doanh nghiệp mà kế toán là công cụ hiệu quả nhất. Do vậy kế toán cần thu thập thường xuyên, liên tục, xử lý kiểm tra, phân tích, cung cấp thông tin cho nhà quản lý doanh nghiệp để kịp thời đưa ra các quyết định đúng đắn của mình.

1.1.3. Nhiệm vụ vốn bằng tiền:

Phản ánh kịp thời các khoản thu chi vốn bằng tiền, thực hiện việc kiểm tra, đối chiếu số liệu thường xuyên với thủ quỹ nhằm đảm bảo tính chặt chẽ của vốn bằng tiền. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Phản ánh tình hình tăng giảm, sử dụng tiền gửi ngân hàng hàng ngày, việc chấp hành chế độ thanh toán không dùng tiền mặt.

Phản ánh các khoản tiền đang chuyển, kịp thời phát hiện nguyên nhân làm cho tiền đang chuyển bị ách tắc để doanh nghiệp có biện pháp thích hợp giải phóng nhanh tiền đang chuyển kịp thời.

Tổ chức thực hiện các quy định về chứng từ, thủ tục hạch toán kế toán vốn bằng tiền, kế toán thực hiện chức năng kiểm soát và phát hiện các trường hợp chi tiêu lãng phí, sai chế độ, phát hiện các chênh lệch vốn bằng tiền.

1.1.4. Yêu cầu quản lý vốn bằng tiền:

  • Mọi biến động của vốn bằng tiền phải làm đầy đủ thủ tục và phải có chứng từ gốc hợp lệ
  • Việc sử dụng và chi tiêu tiền của doanh nghiệp phải đúng mục đích, đúng chế độ

1.1.5. Nguyên tắc hạch toán vốn bằng tiền

Hạch toán vốn bằng tiền phải sử dụng một đơn vị tiền tệ thống nhất là Đồng Việt Nam do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam phát hành để hạch toán, trừ trường hợp được phép sử dụng đơn vị tiền tệ thông dụng khác.

Ở những doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt hoặc gửi vào ngân hàng phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam theo tỷ giá hối đoái tại ngày giao dịch (tỷ giá giao dịch thực tế hoặc tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh) để ghi sổ kế toán. Trường hợp mua ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt, gửi vào ngân hàng hoặc thanh toán công nợ bằng ngoại tệ thì được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán.

Bên có TK 1112, TK 1122 được quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 hoặc TK 1122 theo một trong các phương pháp: bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, giá thực tế đích danh.

Nhóm tài khoản vốn bằng tiền có nghiệp vụ kinh tế phát sinh bằng ngoại tệ phải quy đổi ngoại tệ ra đồng Việt Nam đồng thời hạch toán chi tiết ngoại tệ theo nguyên tệ. Nếu có chênh lệch tỷ giá hối đoái thì phản ánh số chênh lệch này trên các tài khoản doanh thu, chi phí tài chính (nếu phát sinh trong giai đoạn sản xuất kinh doanh kể cả nghiệp vụ sản xuất kinh doanh có hoạt động đầu tư xây dựng cơ bản) hoặc phản ánh vào TK 413 “Chênh lệch tỷ giá hối đoái” (nếu phát sinh trong giai đoạn đầu tư xâu dựng cơ bản – giai đoạn trước hoạt động). Số dư cuối kỳ của các tài khoản vốn bằng tiền có gốc ngoại tệ phải được đánh giá theo tỷ giá giao dịch bình quân trên thị trường ngoại tệ liên Ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố ở thời điểm lập báo cáo tài chính năm.

Ngoại tệ được kế toán chi tiết theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “Ngoại tệ các loại” (Tài khoản ngoài bảng cân đối kế toán).

Đối với vàng bạc, kim khí quý,đá quý phản ánh ở nhóm tài khoản vốn bằng tiền chỉ áp dụng cho những doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng bạc, kim khí quý, đá quý.

Vàng bạc, kim khí quý, đá quý phải theo dõi số lượng, trọng lượng, quy cách, phẩm chất và giá trị của từng thứ, từng loại. Giá trị của vàng bạc, kim khí quý,đá quý được tính theo giá thực tế (giá hóa đơn hoặc giá được thanh toán).Vàng bạc, đá quý nhận ký quỹ, ký cược theo giá nào thì xuất trả theo giá đó).

Khi tính giá xuất vàng bạc, kim khí quý, đá quý có thể áp dụng 1 trong 4 phương pháp tính giá hàng tồn kho: Bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh.

1.2. Kế toán tiền mặt tại quỹ trong doanh nghiệp Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

1.2.1 Nguyên tắc kế toán tiền mặt

Chỉ phản ánh vào TK 111“Tiền mặt” số tiền mặt, ngoại tệ thực tế nhập, xuất quỹ tiền mặt. Đối với các khoản tiền thu được chuyển nộp ngay vào ngân hàng (không qua quỹ tiền mặt của đơn vị) thì không ghi vào bên Nợ TK 111 mà ghi vào bên Nợ TK 113 “ Tiền đang chuyển”.

Các khoản tiền mặt do doanh nghiệp khác, cá nhân ký quỹ, ký cược, ký quỹ tại doanh nghiệp được quản lý và hạch toán như các loại tài sản – tiền của đơn vị.

Khi tiến hành nhập, xuất quỹ tiền mặt phải có phiếu thu, phiếu chi và có đủ chữ ký của người nhận, người giao cho phép nhập xuất quỹ theo quy định của chế độ chứng từ kế toán. Một số trường hợp đặc biệt phải có lệnh nhập xuất quỹ đính kèm.

Kế toán tiền mặt phải có trách nhiệm, quản lý và nhập xuất quỹ tiền mặt,ghi chép hàng ngày và liên tục theo trình tự phát sinh các khoản thu, chi, xuất nhập quỹ tiền mặt, ngoại tệ và tính ra số tồn quỹ tại mọi thời điểm.

Thủ quỹ chịu mọi trách nhiệm quản lý nhập xuất quỹ tiền mặt. Hàng ngày thủ quỹ phải kiểm kê số tồn quỹ tiền mặt thực tế, đối chiếu số liệu sổ quỹ tiền mặt và sổ kế toán tiền mặt, nếu có chênh lệch thì kế toán và thủ quỹ phải kiểm tra lại để xác định nguyên nhân và kiến nghị biện pháp xử lý chênh lệch. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Doanh nghiệp có ngoại tệ nhập quỹ tiền mặt phải quy đổi ra đồng Việt Nam theo tỷ giá giao dịch bình quân liên ngân hàng do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố tại thời điểm phát sinh nghiệp vụ kinh tế ghi sổ kế toán.

Trường hợp mua ngoại tệ về nhập quỹ tiền mặt ngoại tệ bằng đồng Việt Nam thì được quy đổi ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá mua hoặc tỷ giá thanh toán.

Bên có TK 1112 được quy đổi ngoại tệ ra Đồng Việt Nam theo tỷ giá trên sổ kế toán TK 1112 theo 1 trong cá phương pháp: bình quân gia quyền, nhập trước xuất trước, nhập sau xuất trước, giá thực tế đích danh.

Tiền mặt bằng ngoại tệ được hạch toán theo từng loại nguyên tệ trên TK 007 “Ngoại tệ các loại” (TK ngoài bảng cân đối kế toán).

Đối với vàng bạc, kim khí quý, đá quý phản ánh ở tài khoản tiền mặt chỉ áp dụng cho các doanh nghiệp không đăng ký kinh doanh vàng bạc, kim khí quý, đá quý.

Ở các doanh nghiệp có vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhập quỹ tiền mặt thì việc nhập xuất được hạch toán như các loại hàng tồn kho, khi sử dụng thanh toán chi trả được hạch toán như ngoại tệ.

Với vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhận ký cược, ký quỹ trước khi nhập quỹ phải làm đầy đủ thủ tục về cân đong, đo đếm số lượng,trọng lượng, giám định chất lượng và tiến hành niêm phong có xác nhận của người ký cược, ký quỹ trên dấu niêm phong.

1.2.2. Chứng từ hạch toán tiền mặt tại quỹ:

Các chứng từ được sử dụng trong công tác hạch toán tiền mặt tại quỹ bao gồm:

Phiếu thu, phiếu chi, giấy đề nghị tạm ứng, giấy thanh toán tạm ứng, giấy đề nghị thanh toán, biên lai thu tiền,…. và một số chứng từ khác liên quan.

Phiếu thu (gồm 3 liên): được sử dụng làm căn cứ để hạch toán số tiền mặt Việt Nam, ngoại tệ đã thu trong kỳ theo từng nguồn thu. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Phiếu chi (gồm 3 liên): được sử dụng làm căn cứ để hạch toán số tiền đã chi của đơn vị trong kỳ, là căn cứ xác định trách nhiệm vật chất của người nhận tiền.

Giấy đề nghị thanh toán: dùng trong các trường hợp đã chi nhưng chưa được thanh toán hoặc chưa nhận thanh tạm ứng để tổng hợp các khoản đã chi kèm theo chứng từ (nếu có) làm thủ tục thanh toán.

  • Tài khoản sử dụng:

TK 111 “Tiền mặt” – dùng để phản ánh số hiện có và tình hình thu, chi tồn quỹ của các loại tiền mặt tại quỹ của doanh nghiệp.

TK 111 Bao gồm 3 loại tài khoản cấp 2:

  • TK 1111 “Tiền mặt Việt Nam” phản ánh tình hình thu, chi, tồn quỹ tiền Việt Nam tại quỹ của doanh nghiệp.
  • TK1112 “Ngoại tệ” phản ánh tình hình thu, chi, tăng, giảm tỷ giá và tồn quỹ ngoại tệ tại quỹ tiền mặt theo giá trị quy đổi ra Đồng Việt Nam.
  • TK1113 “ Vàng, bạc, kim khí quý, đá quý” phản ánh giá trị vàng bạc, kim khí quý, đá quý nhập, xuất, tồn quỹ.

Kết cấu và nội dung phản ánh của tài khoản 111 “Tiền mặt”

  • Bên nợ: – Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý thừa ở quỹ phát hiện khi kiểm kê.
  • Chênh lệch tăng tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ (đối với tiền mặt ngoại tệ).
  • Bên có: – Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý xuất quỹ.
  • Số tiền mặt, ngoại tệ, vàng bạc, kim khí quý, đá quý thiếu ở quỹ phát hiện khi kiểm kê.
  • Chênh lệch giảm tỷ giá hối đoái do đánh giá lại số dư ngoại tệ cuối kỳ (đối với tiền mặt ngoại tệ).
  • Số dư bên nợ: Các khoản tiền mặt, ngoại tệ, kim khí quý, đá quý còn tồn quỹ tiền mặt

Chương 2: THỰC TẾ TỔ CHỨC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

 2.1 Tổng quan về công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng

2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng

2.1.1.1 Giai đoạn năm 1961-1985

Những năm đầu của thập niên 60 của thế kỷ XX, khi miền Bắc bước vào giai đoạn cải tạo Tư bản tư doanh, chủ trương của Đảng ta lúc này là thành lập một loạt các nhà máy để sản xuất ra tư liệu sản xuất phục vụ cho công cuộc xây dựng CNXH ở miền Bắc. Trong tình hình đó Xí nghiệp Hải Phòng Điện Khí được phép thành lập theo Quyết định số 169/QĐ-TCCQ ngày 16/03/1961 của UBND thành phố Hải Phòng. Xí nghiệp được thành lập trên cơ sở sáp nhập 3 cơ sở tư doanh nhỏ trong nội thành Hải Phòng là: Xưởng Công Tư hợp doanh Khuy Trai, xưởng loa truyền thanh và Xí nghiệp 19-8. Đây là thời kỳ Xí nghiệp hoạt động mang tính kế hoạch hóa tập trung, thực hiện nhiệm vụ theo các chỉ tiêu của thành phố giao.

Về kết cấu sản phẩm chủ yếu của Xí nghiệp thời kỳ này gồm 3 sản phẩm, sản xuất, phân phối và tiêu thụ theo kế hoạch của Nhà nước là: Động cơ điện 3 pha từ 0,6 KW đến 10 KW; máy hàn điện 3 pha từ 380V – 21V; quạt điện dân dụng và công nghiệp.

Về tổ chức bộ máy quản lý mang đầy đủ đặc điểm của thời kỳ bao cấp; Đảng lãnh đạo toàn diện – Bộ Tứ quyết định những vấn đề quan trọng.

Về lao động: Số lao động trung bình 219 người (lao động gián tiếp 21%, lao động trực tiếp 79 %), trình độ lao động thấp, chủ yếu là lao động phổ thông.

Từ năm 1984 Xí nghiệp đổi tên thành Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng – Có thể nói đây là thời kỳ vàng son của doanh nghiệp, sản phẩm sản xuất ra đến đâu tiêu thụ hết đến đó. Trong đó, sản phẩm chủ yếu là quạt điện mang nhãn hiệu “Phong Lan”.

2.1.1.2 Giai đoạn 1986 – 2003 Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Từ những năm thập kỷ 80, đất nước chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung sang nền kinh tế thị trường, xí nghiệp gặp rất nhiều khó khăn nhất là trong khâu tiêu thụ. Nguyên nhân chủ yếu là do hàng hóa từ nước ngoài tràn vào lấn át thị trường nội địa, hàng hóa từ các tỉnh phía Nam tràn ra bán tràn lan với giá rẻ lấn át thị trường quạt điện của Xí nghiệp. Trong khi đó sản phẩm của doanh nghiệp được sản xuất bằng công nghệ đã lạc hậu, chất lượng thấp, giá thành cao, mẫu mã không được đổi mới kịp thời để đáp ứng nhu cầu của thị trường.Chính vì vậy, doanh nghiệp đang đứng trước nguy cơ phải đóng cửa, công nhân phải nghỉ việc nhiều tháng.

Tháng 10/1992 UBND Thành phố ra quyết định số 1208/QĐ – UB ngày 11/10/1992 đối với việc thành lập doanh nghiệp Nhà nước đối với Xí nghiệp Điện Cơ Hải Phòng. Từ đây doanh nghiệp được hoạt động một cách tự chủ, hạch toán có lãi.

Tháng 4/1998 Công ty đã ký kết với tập đoàn Mitsustar của Nhật để sản xuất các linh kiện quạt, công nghệ sản xuất được đầu tư hiện đại như: dây chuyền hàn lồng tự động, dây chuyền phun sơn tĩnh điện.

Từ năm 1999 – 2003 sản phẩm quạt điện Phong Lan của doanh nghiệp đã được người tiêu dùng bình chọn là “Hàng Việt Nam chất lượng cao”. Thị trường của sản phẩm đã được mở rộng ra thị trường ngoài thành phố cũng như được xuất khẩu ra thị trường nước ngoài.

2.1.1.3. Giai đoạn 2004 đến nay.

Đây là giai đoạn công ty hoạt động dưới hình thức Công ty Cổ phần. Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, hội nhập với các nước lân cận, các khu vực kinh tế. Nhà nước khuyến khích các doanh nghiệp tiến hành cổ phần hóa nhằm đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế mới, nhất là nhu cầu về vốn.

Trong hoàn cảnh kinh tế thị trường phát triển, hội nhập với các nước lân cận, các khu vực kinh tế. Ngày 26/12/2003 Công ty Điện Cơ Hải Phòng đổi tên thành Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng theo Quyết định số 3430/QĐ-UB ngày 26/12/2003 của UBND thành phố Hải Phòng. Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh của Công ty Cổ Phần Điện Cơ Hải Phòng số 0203000691 do Sở Kế hoạch và Đầu tư Hải Phòng cấp ngày 13/01/2004.

  • Vốn Điều lệ trên giấy Đăng ký kinh doanh là 8,450 tỷ đồng. Trong đó: Vốn Nhà nước: 1,3 tỷ đồng, chiếm 15%
  • Vốn Cổ Đông trong Công ty: 6,266 tỷ đồng, chiếm 74,20% Vốn Cổ Đông ngoài Công ty: 884 triệu đồng, chiếm 10,80%

2.2 Thực trạng tổ chức kế toán tại công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

2.2.1 Kế toán tiền mặt tại công ty CP Điện cơ Hải Phòng

2.2.1.1 Khái quát chung về kế toán tiền mặt tại công ty

  • Nguyên tắc quản lý tiền mặt tại công ty:

Công ty CP điện cơ Hải Phòng nguyên tắc hạch toán đối với tài khoản 111 – “Tiền mặt”:

  • Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng chỉ sử dụng tiền mặt Việt Nam Đồng.
  • Tiền mặt tại quỹ của công ty nhất thiết phải được bảo quản trong trường hợp đủ điều kiện an toàn.
  • Phải chấp hành đầy đủ các quy chế, chế độ quản lý lưu thông tiền tệ của Nhà nước quy định.
  • Tổ chức quản lý chặt chẽ các khâu thu chi tiền mặt từ giám đốc, kế toán trưởng và đặc biệt là thủ quỹ
  • Cuối ngày thủ quỹ phải chốt được các số thu chi tiền mặt và số tồn quỹ cuối ngày Kế toán tiền mặt căn cứ vào chứng từ gốc như: giấy đề nghị tạm ứng, giấy đề nghị thanh toán,… sau đó kế toán trưởng ký duyệt chứng từ thu chi tiền mặt, mỗi phiếu thu, phiếu chi được lập thành 3 liên, trong đó 1 liên thủ quỹ lưu, 1 liên đưa cho người thụ hưởng, 1 liên lưu nội bộ.

Chứng từ kế toán sử dụng:

  • Giấy đề nghị thanh toán
  • Giấy đề nghị tạm ứng
  • Phiếu thu: Phiếu thu bao gồm 3 liên: 1 liên lưu nội bộ, 1 liên ở phòng kế toán và 1 liên được giữ bởi người thu tiền.
  • Phiếu chi:. Phiếu chi được lập thành 3 liên (1 liên được lưu ở phòng kế toán, 1 do người lập phiếu giữ, 1 liên lưu nội bộ).
  • Sổ sách kế toán sử dụng: Nhật ký chứng từ số 1- Bảng kê số 1 – Sổ cái TK 111 – Sổ quỹ tiền mặt – Sổ chi tiết tiền mặt

Tài khoản sử dụng:

  • Công ty sử dụng TK111 phản ánh tình hình Thu – Chi – Tồn quỹ tiền mặt.
  • TK 111 có 3 TK cấp 2 nhưng công ty chỉ sử dụng 1 tài khoản:
  • TK 1111 – Tiền VN: Phản ánh tình hình Thu – Chi –Tồn quỹ tiền mặt VN tại quỹ tiền mặt
  • Công ty không hạch toán tiền ngoại tệ tại quỹ tiền mặt.

Chương 3: MỘT SỐ BIỆN PHÁP NHẰM HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN VỐN BẰNG TIỀN TẠI CÔNG TY CỔ PHẦN ĐIỆN CƠ HẢI PHÒNG

3.1 Đánh giá chung về công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng tại công ty.

Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng được thành lập từ năm 1961, sau 50 năm thành lập Công ty đã trải qua không ít khó khăn và thử thách. Để khẳng định chỗ đứng của mình trên thương trường Ban lãnh đạo Công ty cùng toàn thể cán bộ nhân viên đã phải phấn đấu, nỗ lực rất lớn. Công ty không ngừng nâng cao trình độ quản lý, đào tạo bồi dưỡng nâng cao trình độ cho cán bộ công nhân viên, thực hiện tốt các kế hoạch kinh doanh, các nhiệm vụ đề ra trong từng chu kì kinh doanh cụ thể. Chính sự nỗ lực liên tục không ngừng đó mà uy tín của Công ty ngày càng được nâng cao, nhiều bạn hàng tín nhiệm, hoạt động sản xuất kinh doanh ngày càng mở rộng, nhờ đó mà đời sống của cán bộ công nhân viên cũng được nâng cao.

Vốn bằng tiền là một bộ phận của tài sản lưu động có tính linh hoạt cao nhất trên bảng Báo cáo tài chính. Nó phản ánh khả năng thanh toán tức thời của Công ty tại thời điểm. Ý thức được tầm quan trọng của Vốn bằng tiền và để đáp ứng nhu cầu thanh toán, thực hiện việc mua sắm, chi phí,… nhằm đảm bảo công tác sản xuất, kinh doanh được liên tục, đem lại hiệu quả cao.

Bộ máy kế toán của Công ty được tổ chức một cách hợp lý, hoạt động có nề nếp. Đội ngũ cán bộ trẻ nhiệt tình, yêu nghề, tiếp cận kịp thời với chế độ kế toán hiện hành và vận dụng một cách linh hoạt sáng tạo, khoa học, có tính tương trợ nhau trong công việc đem lại hiệu quả cao. Hơn nữa với sự trợ giúp của máy tính, công tác kế toán của Công ty đã giảm bớt tính phức tạp và khối lượng công việc, đảm bảo cung cấp thông tin kế toán đầy đủ kịp thời, nhanh chóng, chính xác phù hợp với các yêu cầu quản lý của Công ty. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Qua thời gian tìm hiểu thực tế công tác kế toán vốn bằng tiền tai Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng, em nhận thấy công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền nói riêng có những ưu nhược điểm sau:

3.1.1. Ưu điểm:

Công ty đã tạo được một mô hình quản lý và hạch toán khá khoa học, phù hợp với yêu cầu của nền kinh tế thị trường, bộ máy quản lý hoạt động một cách khá nhịp nhàng, giúp cho Giám đốc Công ty điều hành một cách có hiệu quả.

Hiện nay với yêu cầu nâng cao của công tác kế toán, phòng kế toán thường xuyên chú trọng đến công tác nâng cao, bồi dưỡng nghiệp vụ cho cán bộ kế toán. Đó là điều kiện hết sức thuận lợi và cùng với bộ máy gọn nhẹ, sự phân nhiệm rõ ràng cho từng người đã tạo ra sự ăn khớp nhịp nhàng giữa các phần hành kế toán đã cung cấp số liệu cụ thể, chi tiết, chính xác và tổng hợp cho nhau một cách đầy đủ kịp thời nhằm thực hiện công tác kế toán nói chung và công tác kế toán vốn bằng tiền.

Với bộ máy kế toán được tổ chức theo hình thức tập trung đã tạo điều kiện cho việc kiểm tra, chỉ đạo và đảm bảo sự lãnh đạo tập trung của kế toán trưởng cũng như sự chỉ đạo kịp thời của lãnh đạo Công ty đối với toàn bộ hoạt động kinh doanh.

Vốn bằng tiền là loại tài sản đặc biệt, nó là vật ngang giá chung, do vậy trong quá trình quản lý rất dễ xảy ra tham ô, lãng phí. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề đó, bên cạnh việc chấp hành các quy định và chế độ quản lý, lưu thông tiền tệ hiện hành như:

  • Mọi vấn đề biến động của vốn bằng tiền đều có đầy đủ thủ tục và có chứng từ gốc hợp lệ.

Việc sử dụng chi tiêu vốn bằng tiền đúng mục đích, đúng chế độ. Để hạch toán vốn bằng tiền, Công ty đã phân chia công việc rõ ràng:

  • Một kế toán chịu trách nhiệm kế toán “tiền mặt – tiền gửi ngân hàng”
  • Một người là thủ quỹ

Việc thực hiện phân tách công việc kế toán của những người liên quan đến vốn bằng tiền giảm thiểu được thất thoát vốn bằng tiền. Hay nói cách khác là một khâu kiểm soát chặt chẽ vốn bằng tiền. Đặc biệt là giữa thủ quỹ với kế toán tiền mặt. Nếu không tách biệt hai kế toán này thì sẽ dễ xảy ra gian lận và sai sót. Trong đó:

  • Kế toán vốn bằng tiền phụ trách kế toán tiền mặt, thực hiện quyết toán thuế với nhà nước, các giao dịch với ngân hàng, các vấn đề liên quan đến nhập khẩu hàng.
  • Thủ quỹ quản lý việc thu, chi tiền mặt trong doanh nghiệp, kiểm kê báo cáo quỹ hàng ngày

Việc nhập xuất tiền mặt đều được dựa trên những chứng từ gốc hợp lý, hợp lệ, được kế toán trưởng soát xét, và Giám đốc công ty phê duyệt, có đầy đủ chữ ký của người nộp tiền, nhận tiền, thủ quỹ,…Vì vậy không xảy ra tình trạng chi tiêu lãng phí, đảm bảo các khoản chi đều hợp lệ, và có mục đích rõ ràng. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Công ty đang sử dụng Kế toán máy theo hình thức Nhật Ký chứng từ, đây là hình thức đang được sử dụng rộng rãi tại các công ty có quy mô lớn. Khối lượng nghiệp vụ phát sinh khá nhiều, do đó với hình thức kế toàn này sẽ hạn chế được khối lượng sổ sách cồng kềnh, đồng thời thuận lợi cho việc áp dụng máy vi tính vào công tác kế toán, giảm bớt khối lượng ghi chép, tạo cho công tác kế toán tổng hợp cuối cùng được nhanh chóng kịp thời và không bị ứ đọng.

3.1.2. Những hạn chế tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng:

Như vậy về cơ bản em thấy tổ chức công tác kế toán vốn bằng tiền của công ty đã đảm bảo tuân thủ theo đúng chế độ hiện hành, phù hợp với điều kiện cụ thể của Công ty cũng như đáp ứng được yêu cầu của công tác quản lý nói chung. Tuy nhiên trong quá trình hạch toán còn tồn tại những vướng mắc sau:

Cuối tháng định kỳ công ty chưa tiến hành kiểm kê quỹ tiền mặt và lập bảng kiểm kê quỹ. Việc theo dõi đối chiếu số tiền thực tế có tại quỹ với sổ quỹ gặp khó khăn. Như vậy ảnh hưởng tới việc mua bán chi tiêu bằng tiền mặt của công ty

Công ty chưa làm tốt công tác thu hồi công nợ. Tính đến ngày 31/12/2010,căn cứ vào sổ chi tiết 131 nợ phải thu của công ty là 11.025.696.500VNĐ. Hiện tại công ty chưa lập dự phòng nợ phải thu khó đòi.

Hiện nay công ty không sử dụng tài khoản 113- tiền đang chuyển để hạch toán. Đây là số tiền của doanh nghiệp trong quá trình xử lý như chuyển tiền đang gửi vào ngân hàng, kho bạc, chuyển trả cho khác hàng qua đường bưu điện (trong nước hoặc ngoài nước) nhưng chưa nhận được giấy báo có, đã làm thủ tực chuyển tiền từ tài khoản tại Ngân hàng để trả cho đơn vị khác nhưng chưa nhận được giấy báo nợ hay bản sao kê của ngân hàng. Thường thì doanh nghiệp không dùng tài khoản này mà chờ nghiệp vụ chuyển tiền hoàn thành rồi hạch toán vì thường tiền chuyển qua ngân hàng sẽ chỉ phải chờ một vài ngày là người thụ hưởng sẽ nhận được tiền. Nhưng nó sẽ ảnh hưởng nếu như rơi vào cuối kỳ kế toán hàng tháng hay năm. Trường hợp cuối tháng lên báo cáo tài chính mà có phát sinh tiền khách hàng đã chuyển (nhưng chưa tới, sẽ nhận được vào ngày đầu tháng sau). Nếu nghiệp vụ này không sử dụng 113 thì số dư công nợ cuối năm trên báo cáo tài chính không chính xác và sẽ gặp khó khăn khi xác nhận số dư công nợ với khách hàng khi có kiểm toán

3.2. Một số ý kiến nhằm hoàn thiện công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng: Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Như chúng ta đã biết: Đối với bất kỳ doanh nghiệp hoạt động sản xuất nào trong nền kinh tế thị trường hiện nay thì vấn đề sống còn là không ngừng nâng cao hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh và nâng cao khả năng cạnh tranh trên thị trường để tồn tại và phát triển. Muốn làm được điều đó đòi hỏi doanh nghiệp phải có chiến lược tốt, không ngừng nâng cao hiệu quả đồng vốn mà mình bỏ ra ban đầu và trong đó việc nâng cao hiệu quả sử dụng đồng vốn là một trong các biện pháp tích cực phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty.

Để thực hiện tốt hơn nữa việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn bằng tiền doanh nghiệp cần phải phát huy những ưu điểm và khắc phục những hạn chế trên để việc kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất.

Sau một thời gian thực tập tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng, dưới sự hướng dẫn tận tình của các cô, các chị trong phòng kế toán, em đã được tìm hiểu tất cả các phần hành kế toán nói chung và phần hành kế toán vốn bằng tiền nói riêng. Với mong muốn đóng góp một chút công sức nhỏ bé vào công việc hoàn thiện công tác vốn bằng tiền của Công ty, em mạnh dạn xin đưa ra một số biện pháp nhằm hoàn thiện công tác tổ chức vốn bằng tiền tại Công ty CP Điện Cơ Hải Phòng:

  • Ý kiến thứ nhất: Hoàn thiện việc kiểm kê quỹ được tiến vào cuối tháng hoặc định kỳ :

Việc kiểm kê quỹ được tiến hành định kỳ vào cuối tháng, cuối quý, cuối năm hoặc khi cần thiết có thể kiểm kê đột xuất hoặc khi bàn giao, biên bản kiểm kê phải ghi số liệu chứng từ và thời điểm kiểm kê.

Trước khi kiểm kê quỹ, thủ quỹ phải ghi sổ quỹ tất cả các phiếu thu, phiếu chi và tính số dư tồn quỹ đến thời điểm kiểm kê. Mọi tài khoản chênh lệch đều phải báo cáo Giám đốc xem xét.

Khi tiến hành kiểm kê phải tiến hành kiểm kê riêng từng loại tiền có trong quỹ, và khi có sự chênh lệch phải ghi rõ nguyên nhân gây ra thừa thiếu và phải báo cáo giám đốc doanh nghiệp xem xét giải quyết.

Bảng kiểm kê quỹ phải được lập thành hai bản: một bản lưu ở thủ quỹ, một bản lưu ở kế toán quỹ tiền mặt.

Ưu điểm: giúp cho các nhà quản lý nắm được số tồn quỹ thực tế, số tiền thừa thiếu so với sổ quỹ để có biện pháp tốt hơn trong việc tăng cường quản lý quỹ làm cơ sở quy trách nhiệm vật chất, ghi sổ kế toán chênh lệch.

KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

Việc quản lý và sử dụng vốn là một khâu quan trọng có ảnh hưởng tới việc phát triển hay suy thoái của doanh nghiệp. Vốn bằng tiền đã trở thành vấn đề quan tâm hàng đầu đối với mọi doanh nghiệp cũng như các nhà quản lý thì việc hạch toán vốn bằng tiền đòi hỏi cũng phải được kiện toàn.

Qua thời gian thực tập tại Công ty CP Điện cơ Hải Phòng, em đã được tìm hiểu thực tế về công tác hạch toán kế toán nói chung và công tác tổ chức kế toán vốn bằng tiền nói riêng. Công ty và đặc biệt là phòng tài chính kế toán đã tạo điều kiện để em có thể nghiên cứu, tiếp cận thực tế, bổ sung những kiến thức đã học ở trường từ đó đối chiếu lý luận với thực tiễn. Khóa luận: “Hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng” đã đề cập đến những vấn đề cơ bản sau:

  • Về mặt lý luận: Đưa ra những vấn đề chung nhất về vốn bằng tiền và tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại các doanh nghiệp.
  • Về mặt thực tiễn: Phản ánh khá đầy đủ về tổ chức hạch toán kế toán vốn bằng tiền tại Công ty Cổ phần Điện cơ Hải Phòng với số liệu chứng minh và tình hình thực tế năm 2010. Đồng thời khóa luận cũng đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện tổ chức kế toán vốn bằng tiền tại Công ty.

Do hạn chế về hiểu biết lý luận và thực tiễn, hơn nữa thời gian thực tập tại Công ty có hạn nên trong quá trình nghiên cứu và trình bày bài viết này không tránh khỏi sai sót và hạn chế. Em rất mong có được sự đóng góp và chỉ bảo của các thầy cô cùng cán bộ phòng kế toán trong Công ty để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.

Em xin chân thành cảm ơn ban lãnh đạo Công ty cùng toàn thể các cô chú trong phòng kế toán và đặc biệt là cô giáo ThS.Hoà Thị Thanh Hương đã tận tình giúp đỡ em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp này. Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Kế toán doanh thu chi phí và XĐKQKD tại Cty phát triển

One thought on “Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại công ty Cổ Phần Điện Cơ”

  1. Pingback: Khóa luận: Phân tích báo cáo kết quả kinh doanh công ty Vận tải

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537