Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty vận tải Quốc tế Nhật – Việt VIJACO này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, nền kinh tế của chúng ta đang trong tiến trình hội nhập với nền kinh tế toàn cầu, trong đó giao thông vận tải đóng một vai trò vô cùng quan trọng, là cầu nối thương mại giữa các quốc gia. Cùng với các ngành khác, ngành vận tải nói chung và vận tải nội địa nói riêng đã có những đóng góp to lớn cho sự nghiệp tăng trưởng kinh tế và công nghiệp hoá – hiện đại hoá đất nước. Do đó, xác định các phương hướng và biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của ngành vận tải là việc đánh giá lại quá trình sản xuất của các doanh nghiệp để tìm ra ưu điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh và khắc phục nhược điểm tồn tại, đồng thời đề xuất những phương hướng và biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh cho doanh nghiệp.
Vấn đề nâng cao hiệu quả kinh doanh trong các doanh nghiệp là mục tiêu cơ bản của vấn đề quản lí, bởi lẽ nó là điều kiện kinh tế cần thiết và quan trọng cho sự tồn tại và phát triển của mỗi doanh nghiệp. Đối với những doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ vấn đề hiệu quả lại càng có ý nghĩa to lớn. Hiệu quả kinh doanh là thước đo chất lượng phản ánh trình độ tổ chức, quản lí kinh doanh và là nhân tố quan trọng ảnh hưởng đến sự tồn tại của các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ. Vì vậy nghiên cứu thực trạng hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ để tìm ra biện pháp nâng cao hiệu quả đó là vấn đề quan trọng hiện nay.
Qua quá trình thực tập tại Công ty vận tải Quốc tế Nhật – Việt VIJACO em đã nghiên cứu đề tài: “Một số biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty vận tải Quốc tế Nhật – Việt VIJACO“
Gồm các phần sau:
- CHƯƠNG 1: Cơ sở lý luận của nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong các doanh nghiệp
- CHƯƠNG 2: Phân tích thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Vijaco
- CHƯƠNG 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty Vijaco
Đề tài này được xây dựng trên cơ sở vận dụng kiến thức đã tiếp thu được trong các bài giảng của các thầy, cô ở khoa Quản trị kinh doanh của trường Đại học Dân lập Hải Phòng cùng với việc nghiên cứu tìm hiểu thực tế tại Công ty VIJACO. Được sự giúp đỡ, hướng dẫn của Thạc sĩ Đinh Thị Thu Hương nên em đã hoàn thành được chuyên đề này. Song do còn hạn hẹp về kiến thức và thời gian, thông tin tư liệu chưa đầy đủ nên đề tài có thể còn nhiều thiếu sót, kính mong các thầy cô trong khoa tận tình chỉ dẫn.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA NÂNG CAO HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH TRONG CÁC DOANH NGHIỆP
1.1. KHÁI NIỆM VÀ VAI TRÒ CỦA HIỆU QUẢ KINH DOANH
1.1.1. Khái niệm
- Doanh thu
Là tổng thu nhập của doanh nghiệp do tiêu thụ sản phẩm, hàng hoá, cung cấp các dịch vụ cho bên ngoài sau khi trừ các khoản thuế (thuế tiêu thụ đặc biệt, thuế xuất khẩu, thuế giá trị gia tăng theo phương pháp trực tiếp phải nộp) và trừ các khoản giảm trừ (chiết khấu, giảm giá hàng bán, hàng bán bị trả lại).
- Chi phí Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Chi phí sản xuất trong doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí lao động vật hoá và hao phí lao động sống cần thiết mà doanh nghiệp đó bỏ ra để tiến hành hoạt động kinh doanh trong một thời kỳ nhất định.
Sự tham gia của các yếu tố sản xuất vào quá trình sản xuất của doanh nghiệp có sự khác nhau, nó hình thành chi phí tương ứng. Vậy khi các doanh nghiệp giảm được chi phí sản xuất kinh doanh xuống là đã hạ được giá thành và tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường. Chính vì thế mục tiêu hàng đầu của các doanh nghiệp là giảm chi phí, hạ giá thành, tăng lợi nhuận.
- Lợi nhuận
Lợi nhuận được coi là hiệu quả chung cho mọi doanh nghiệp, lợi nhuận giúp cho doanh nghiệp tồn tại, phát triển và là nguồn vốn quan trọng để tái sản xuất, mở rộng toàn bộ nền kinh tế và doanh nghiệp. Lợi nhuận còn là một đòn bẩy kinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động, các đơn vị ra sức sản xuất, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.
Trong kinh doanh, lợi nhuận là phần chênh lệch giữa doanh thu và chi phí bỏ ra để có được doanh thu đó.
Lợi nhuận = Tổng doanh thu – Tổng chi phí
Lợi nhuận trong kinh doanh được tính bằng công thức: P=TR-(TC+TAX+T0)
Trong đó:
- : Lợi nhuận thu được từ hoạt động sản xuất kinh doanh.
- TR: Tổng doanh thu thực hiện dịch vụ, tiêu thụ sản phẩm.
- TC: Tổng chi phí để có khối lượng sản phẩm, dịch vụ đem tiêu thụ.
- TAX: Thuế trong kinh doanh.
- T0 : Tổn thất (+) hoặc thu nhập (-) ngoài hoạt động cơ bản.
Hiệu quả kinh doanh
- Hiện nay hiệu quả kinh doanh có những khái niệm sau:
- Quan niệm thứ nhất: Theo nhà kinh tế học nguời Anh – Adam Smith:
Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hóa, đây hiệu quả đồng nhất với chỉ tiêu phản ánh kết quả kinh doanh vì rằng doanh thu có thể tăng do chi phí, mở rộng sử dụng các nguồn sản xuất nếu có kết quả, có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan niệm này cũng có hiệu quả [4].
Quan niệm thứ hai: Hiệu quả kinh doanh là tỉ lệ giữa phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí [3].
Quan niệm thứ ba: Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt đuợc kết quả đó [3].
Quan điểm thứ tư: Hiệu quả kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế xã hội tổng hợp dùng để lựa chọn các phương án hoặc các quyết định trong thực tiễn của con người ở mọi lĩnh vực và mọi thời điểm. Bất kì một quyết định nào cũng cần đạt được phương án tốt nhất trong điều kiện cho phép là giải pháp hiện thực có cân nhắc tính toán chính xác phù hợp với sự tất yếu của các quy luật khách quan trong từng điều kiện cụ thể nhất [2]. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Nói tóm lại, hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn nhân lực, vật lực của doanh nghiệp để đạt được kết quả cao nhất trong quá trình kinh doanh với tổng chi phí thấp nhất.
Hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp là một vấn đề phức tạp, có quan hệ với tất cả các yếu tố trong quá trình kinh doanh như lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, nên doanh nghiệp chỉ có thể đạt đuợc hiệu quả cao khi việc sử dụng các yếu tố cơ bản của quá trình kinh doanh có hiệu quả.
Từ đó ta có thể đưa ra khái niệm hiệu quả kinh doanh như sau: Hiệu quả kinh doanh là phạm trù kinh tế biểu hiện sự tập trung của sự phát triển kinh tế theo chiều sâu, phản ánh các trình độ khai thác các nguồn lực và trình độ chi phí các nguồn lực đó trong quá trình tái sản xuất nhằm thực hiện mục tiêu kinh doanh. Nó là thước đo ngày càng trở nên quan trọng của tăng trưởng kinh tế và là chỗ dựa cơ bản để đánh giá để thực hiện mục tiêu kinh tế của doanh nghiệp trong từng thời kì.
Ta có công thức: H=K/C
Trong đó:
- H – Hiệu quả
- K – Kết quả đầu ra
- C – Nguồn lực đầu vào gắn với kết quả đó.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng nguồn lực đầu vào đem lại mấy đồng kết quả đầu ra, hệ số này càng lớn chứng tỏ khả năng sinh lợi của chi phí đầu vào càng cao và hiệu quả càng lớn va ngược lại.
Để tăng (H) người ta thường sử dụng các biện pháp sau:
- Giảm nguồn lực đầu vào (C), kết quả đầu ra (K) không đổi
- Giữ nguyên (C), tăng (K)
- Giảm (C), tăng (K)
Trong tình trạng quản lý điều hành sản xuất bất hợp lý chúng ta có thể cải tiến nhằm sử dụng các nguồn lực một cách hợp lý tránh gây lãng phí để tăng kết quả đầu ra. Nhưng nếu quá trình kinh doanh đã hợp lý thì việc áp dụng những biện pháp trên là bất hợp lý, bởi ta không thể giảm (C) mà không làm giảm (K) và ngược lại. Thậm chí ngay cả khi quá trình kinh doanh của ta còn bất hợp lý thì việc áp dụng những biện pháp trên đây đôi khi còn làm giảm hiệu quả. Vì vậy, để có một hiệu quả không ngừng tăng đòi hỏi chúng ta phải không ngừng tăng chất lượng (C).
Chất lượng (C) sẽ tăng khi: nguyên vật liệu tốt hơn, lao động có tay nghề cao hơn, máy móc thiết bị, công nghệ hiện đại hơn, như thế ta có thể giảm được hao phí nguyên vật liệu, lao động, giảm được số sản phẩm phế phẩm dẫn đến sản phẩm làm ra có chất lượng cao hơn, giá thành sản phẩm hạ hơn.
1.1.2. Bản chất Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Bản chất của hiệu quả kinh doanh là nâng cao năng suất lao động xã hội và tiết kiệm lao động xã hội. Đây là hai mặt có quan hệ mật thiết của vấn đề hiệu quả kinh tế, gắn liền với hai quy luật tương ứng của nền sản xuất xã hội là quy luật tăng năng suất lao động xã hội và quy luật tiết kiệm thời gian.
Chính việc khan hiếm nguồn lực và sử dụng chúng có tính cạnh tranh nhằm thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội đặt ra yêu cầu phải khai thác, tận dụng triệt để và tiết kiệm các nguồn lực.
Để đạt được mục tiêu kinh doanh, doanh nghiệp buộc phải chú trọng các điều kiện nội tại, phát huy năng lực, hiệu quả của các yếu tố sản xuất và tiết kiệm mọi chi phí. Chính vì vậy yêu cầu của việc nâng cao hiệu quả kinh doanh là phải đạt kết quả tối đa với chi phí tối thiểu hay chính xác hơn là đạt kết quả tối đa với chi phí nhất định.
Trong điều kiện xã hội nước ta, hiệu quả kinh doanh được đánh giá trên hai tiêu thức: Tiêu thức hiệu quả về mặt kinh tế và tiêu thức về mặt xã hội. Tùy theo từng thành phần kinh tế tham gia vào hoạt động kinh doanh mà vai trò của hai tiêu thức này khác nhau. Các doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty TNHH, công ty nước ngoài thì tiêu thức hiệu quả kinh tế được quan tâm nhiều hơn. Còn đối với các doanh nghiệp Nhà nước, các doanh nghiệp có sự chỉ đạo, góp vốn liên doanh với Nhà nước thì tiêu thức hiệu quả xã hội được đề cao hơn. Điều này phù hợp với mục tiêu của chủ nghĩa xã hội là không ngừng nâng cao nhu cầu vật chất, tinh thần của toàn xã hội, không có sự bất bình đẳng, phân biệt giữa các thành phần kinh tế và giữa nội bộ nhân dân toàn xã hội.
Hiệu quả về mặt kinh tế là những lợi ích kinh tế mà doanh nghiệp đạt được sau khi đã bù đắp các khoản chi phí về lao động xã hội[1]. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Hiệu quả xã hội là một đại lượng phản ánh mức độ ảnh hưởng của kết quả đạt được đến xã hội và môi trường. Đó là hiệu quả về cải thiện đời sống, cải thiện điều kiện lao động, bảo vệ môi trường. Ngoài ra còn có các mặt như an ninh quốc phòng, các yếu tố về chính trị xã hội cũng góp phần tích cực cho sự tăng trưởng vững vàng lành mạnh của toàn xã hội[3].
Hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội có mối quan hệ gắn bó với nhau, là hai mặt của một vấn đề, do đó khi tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh cần phải xem xét hai mặt này một cách đồng bộ. Hai mặt này phản ánh những khía cạnh khác nhau của quá trình kinh doanh nhưng lại không tách rời nhau. Không có hiệu quả xã hội mà lại không có hiệu quả kinh tế và ngược lại hiệu quả kinh tế là cơ sở và nền tảng của hiệu quả xã hội, mặc dù với mỗi loại hình doanh nghiệp khác nhau thì hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội được nhấn mạnh hơn. Vì vậy xử lý mối quan hệ giữa hiệu quả kinh tế và hiệu quả xã hội phản ánh bản chất của hiệu quả.
1.1.3. Vai trò
Theo những nghiên cứu trên thì hiệu quả là một chỉ tiêu tổng hợp từ nhiều yếu tố khác nhau, nó nói lên kết quả của toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.
- Đối với doanh nghiệp [9]:
Với nền kinh tế thị trường ngày càng hội nhập và mở cửa như hiện nay, sự cạnh tranh cũng ngày càng gay gắt thì điều kiện đầu tiên với mỗi doanh nghiệp về hoạt động là cần phải quan tâm tới hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh, hiệu quả cang cao thì doanh nghiệp càng đứng vững và phát triển.
Hiệu quả của quá trình sản xuất kinh doanh là điều kiện quan trọng nhất đảm bảo tái sản xuất nhằm nâng cao sản lượng và chất lượng của hàng hóa giúp cho doanh nghiệp củng cố vị trí và cải thiện điều kiện làm việc cho người lao động, xây dựng cơ sở vật chất mua sắm trang thiết bị đầu tư công nghệ mới góp phần vào lợi ích xã hội. Nếu doanh nghiệp hoạt động không hiệu quả, không bù đắp được lượng chi phí bỏ ra thì đương nhiên doanh nghiệp không những không phát triển được mà còn khó đứng vững, và tất yếu sẽ dẫn tới phá sản.
Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp là hết sức quan trọng, nó quyết định sự sống còn của doanh nghiệp trong nền kinh tế thị trường, nó giúp cho doanh nghiệp chiếm lĩnh được thị trường, đạt được những thành quả to lớn nhưng cũng có thể phá hủy những gì doanh nghiệp gây dựng, và vĩnh viễn không còn trong nền kinh tế.
- Đối với kinh tế xã hội [9]: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Một nền kinh tế xã hội phát triển hay không luôn đòi hỏi các thành phần kinh tế trong nền kinh tế đó làm ăn hiệu quả, đạt được những thuận lợi cao, điều này được thể hiện ở những mặt sau:
Doanh nghiệp kinh doanh tốt, làm ăn hiệu quả thì điều đầu tiên doanh nghiệp mang lại cho nền kinh tế xã hội là tăng sản phẩm trong xã hội, tạo ra việc làm, nâng cao đời sống dân cư, thúc đẩy kinh tế phát triển. Doanh nghiệp làm ăn có lãi thì sẽ dẫn tới đầu tư nhiều hơn vào quá trình tái sản xuất mở rộng để tạo ra nhiều sản phẩm hơn, tạo ra nguồn sản phẩm dồi dào, đáp ứng nhu cầu đầy đủ, từ đó người dân có quyền lựa chọn sản phẩm phù hợp và tốt nhất, mang lại lợi ích cho mình và doanh nghiệp.
Hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng doanh nghiệp sẽ có điều kiện nâng cao chất lượng hàng hóa, hạ giá thành sản phẩm, dẫn đến hạ giá thành sản phẩm, dẫn đến hạ giá bán, tạo mức tiêu thụ mạnh cho người dân, góp phần ổn định và tăng trưởng kinh tế bền vững.
Các khoản thu của ngân sách nhà nước chủ yếu từ các khoản thế, phí và lệ phí trong đó có thuế Thu nhập doanh nghiệp. Khi đó doanh nghiệp hoạt động có hiệu quả sẽ tạo nguồn thu, thúc đẩy đầu tư xã hội. Ví dụ khi doanh nghiệp đóng lượng thuế nhiều sẽ giúp Nhà nước xây dựng thêm cơ sở hạ tầng, đào tạo nhân lực, mở rộng quan hệ kinh tế. Đồng thời trình độ dân trí được nâng cao, thúc đẩy kinh tế phát triển. Tạo điều kiện nâng cao mức sống cho người lao động, tạo tâm lý ổn định, tự tin vào doanh nghiệp nên càng nâng cao năng suất, chất lượng. Điều này không những tốt với doanh nghiệp mà còn tạo lợi ích xã hội, nhờ đó doanh nghiệp giải quyết lao động dư thừa của xã hội. Nhờ vậy mà giúp cho xã hội giải quyết được những vấn đề khó khăn trong quá trình phát triển và hội nhập.
Việc doanh nghiệp đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh có vai trò hết sức quan trọng với doanh nghiệp và xã hội. Nó tạo ra tiền đề và nội dung cho sự phát triển của doanh nghiệp và xã hội. Trong đó mỗi doanh nghiệp chỉ là một cá thể, nhưng nhiều cá thể vững vàng và phát triển cộng lại sẽ tạo ra nền kinh tế xã hội phát triển bền vững.
1.2. MỘT SỐ CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ SẢN XUẤT KINH DOANH Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Để đánh giá hiệu quả kinh doanh và đánh giá hiệu quả sử dụng từng yếu tố tham gia vào quá trình kinh doanh của doanh nghiệp thì có thể sử dụng hệ thống các chỉ tiêu để đánh giá:
1.2.1. Nhóm chỉ tiêu tổng quát
- Kết quả đầu ra được đo bằng các chỉ tiêu: Giá trị tổng sản lượng, doanh thu, tổng lợi nhuận trước thuế, lợi tức,…
- Giá trị của yếu tố đầu vào gồm: Lao động, tư liệu lao động, đối tượng lao động, vốn cố định, vốn lưu động,…
Công thức (3.1) phản ánh sức sản xuất (hay sức sinh lời) của các chỉ tiêu phản ánh đầu vào, được tính cho tổng số và cho riêng phần gia tăng.
- Hiệu quả sản xuất kinh doanh lại có thể tính bằng cách so sánh nghịch.
Công thức (3.2) phản ánh sức hao phí lao động của các chỉ tiêu đầu vào, tức là có một đơn vị đầu ra thì hao phí hết bao nhiêu đơn vị hoa phí (vốn) ở đâu vào.
1.2.2. Hiệu quả sử dụng vốn lưu động (VLĐ)
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động làm ra mấy đồng lợi nhuận trong kỳ.
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, vốn lưu động vận động không ngừng, thường xuyên qua các giai đoạn của quá trình tái sản xuất(dự trữ- sản xuất- tiêu thụ). Đẩy nhanh tốc độ luân chuyển của vốn lưu động sẽ góp phần giải quyết nhu cầu về vốn cho doanh nghiệp, góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Để xác định tốc độ luân chuyển của vốn lưu động, người ta sử dụng các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này cho biết vốn lưu động quay được mấy vòng trong kỳ. Nến số vòng quay tăng, chứng tỏ hiệu quả sử dụng vốn tăng và ngược lại. Chỉ tiêu này còn được gọi là “Hệ số luân chuyển”.
Chỉ tiêu này thể hiện số ngày cần thiết cho vốn lưu động quay được một vòng. Thời gian của một vòng( kỳ) luân chuyển càng nhỏ thì tốc độ luân chuyển càng lớn. Ngoài ra khi phân tích còn có thể tính ra các chỉ tiêu “Hệ số đảm nhiệm của VLĐ”.
- Chỉ tiêu này cho biết tạo ra 1 đồng lợi nhuận cần bao nhiêu đồng VLĐ.
- Hệ số này càng nhỏ chứng tỏ hiệu quả sử dụng VLĐ càng cao.
Số vòng quay lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, đó là dấu hiệu tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu.
Chỉ tiêu này cho biết thời gian cần thiết cho khoản phải thu quay được một vòng luân chuyển.
1.2.3. Hiệu quả sử dụng vốn cố định (VCĐ) Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Hiệu quả sử dụng tài sản cố định được tính toán bằng nhiều chỉ tiêu, nhưng phổ biến là các chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu trong kỳ. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ của Công ty trong hoạt động SXKD tạo ra doanh thu càng tốt.
Chỉ tiêu này phản ánh một đồng VCĐ được sử dụng trong kỳ có thể tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này cao chứng tỏ hiệu quả sử dụng VCĐ rất tốt và ngược lại.
Qua chỉ tiêu này ta thấy để có một đồng doanh thu thuần (hay lợi nhuận), có bao nhiêu đồng nguyên giá bình quân TSCĐ.
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng nguyên giá bình quân TSCĐ của công ty đem lại bao nhiêu đồng doanh thu thuần.
Chỉ tiêu này cho biết cứ 1 đồng vốn kinh doanh bình quân của công ty đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế.
1.2.4. Hiệu quả sử dụng chi phí
Chi phí của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ hao phí về vật chất là lao động mà doanh nghiệp phải bỏ ra để sản xuất sản phẩm trong một thời kỳ nhất định. Các chi phí này phát sinh có tính chất thường xuyên gắn liền với quá trình tạo ra sản phẩm. Ngoài ra doanh nghiệp còn phải trả thuế gián thu theo luật thuế đã quy định: Thuế VAT, thuế XK-NK, tiêu thụ đặc biệt.
- Nội dung của các khoản chi phí trong sản xuất kinh doanh:
Chi phí NVL, chi phí nhiên liệu, động lực, chi phí tiền lương, các khoản trích theo lương, khấu hao TSCĐ, chi phí dịch vụ mua ngoài, chi phí dự phòng giảm giá hàng tồn kho, các khoản trợ cấp, chi phí hoạt động doanh nghiệp như thuê tài sản,… Các chỉ tiêu phản ánh hiệu suất sử dụng chi phí: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Chỉ tiêu này thể hiện một đồng chi phí sản xuất kinh doanh trong kỳ thu được bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này đánh giá khả năng sử dụng các yếu tố đầu vào thông qua kết quả càng cao thì càng tốt.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ ra sản xuất kinh doanh thì thu lại được bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh hiệu quả.
1.2.5. Hiệu quả sử dụng lao động
Chỉ tiêu này cho biết mỗi một lao động trực tiếp trong năm tham gia vào quá trình sản xuất kinh doanh tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu trong một thời kỳ nhất định. Nếu chỉ số này càng cao chứng tỏ doanh nghiệp kinh doanh ngày càng có hiệu quả.
Chỉ tiêu này cho biết mỗi lao động được sử dụng trong doanh nghiệp tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận trong một kỳ nhất định.
Phản ánh một lao động tạo ra được bao nhiêu đồng giá trị sản lượng sản xuất, tỷ số này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng lao động một cách hợp lý, khai thác được sức lao động trong sản xuất kinh doanh.
1.2.6. Hiệu quả sử dụng vốn chủ sở hữu (VCSH)
Đánh giá doanh lợi VCSH cần tính toán và so sánh các chỉ tiêu “Hệ số doanh lợi” của vốn chủ sở hữu giữa kỳ phân tích và kỳ gốc, chỉ tiêu này càng cao chứng tỏ doanh lợi càng cao và ngược lại.
Chỉ tiêu trên cho ta biết cứ một đồng VCSH tham gia vào sản xuất kinh doanh thì mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế. Chỉ tiêu này cũng nói lên khả năng độc lập về tài chính của công ty, vì tỷ số này nói lên sức sinh lời của đồng vốn khi đưa vào sản xuất kinh doanh. Nếu chỉ số này càng cao thì chứng tỏ doanh nghiệp sử dụng vốn kinh doanh một cách hiệu quả
1.2.7. Nhóm chỉ tiêu hiệu quả sử dụng vốn sản xuất kinh doanh
Hiệu suất sử dụng vốn (Hv) là tỷ số giữa doanh thu trong kỳ và tổng số vốn phục vụ sản xuất kinh doanh trong kỳ.
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra sản xuất kinh doanh trong kỳ thì đem lại bao nhiêu đồng doanh thu. Chỉ tiêu này biểu thị khả năng tạo ra kết quả sản xuất kinh doanh của một đồng vốn, Hv càng cao thì biểu thị hiệu quả kinh tế càng lớn.
- Mức hao phí vốn được tính theo công thức: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Tỷ số này nói lên rằng muốn có được một đồng doanh thu thì cần bao nhiêu đồng vốn đưa vào sản xuất kinh doanh trong kỳ.
- Hiệu quả sử dụng vốn được thể hiện thông qua công thức sau:
Chỉ tiêu này phản ánh cứ một đồng vốn bỏ ra sản xuất kinh doanh trong kỳ thì thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trước thuế (hoặc LNST)
1.2.8. Một số chỉ tiêu đánh giá tình hình tài chính doanh nghiệp
1.2.8.1. Các hệ số về cơ cấu nguồn vốn và tình hình đầu tư
Các doanh nghiệp luôn thay đổi tỷ trọng các loại vốn theo xu hướng hợp lý (kết cấu tối ưu). Nhưng kết cấu này luôn bị phá vỡ do tình hình đầu tư. Vì vậy nghiên cứu cơ cấu nguồn vốn, cơ cấu tài sản, tỷ suất tự tài trợ sẽ cung cấp cho các nhà quản trị tài chính một cái nhìn tổng quát về sự phát triển lâu dài của doanh nghiệp.
- Hệ số nợ:
Chỉ tiêu tài chính này phản ánh trong một đồng vốn hiện nay doanh nghiệp đang sử dụng có mấy đồng vốn đi vay.
Hệ số nợ càng cao chứng tỏ khả năng độc lập của doanh nghiệp về mặt tài chính càng kém.
- Tỷ suất tự tài trợ:
Tỷ suất tự tài trợ là một chỉ tiêu tài chính đo lường sự góp vốn chủ sở hữu trong tổng số vốn hiện có của doanh nghiệp.
Tỷ suất tự tài trợ cho thấy mức độ tự tài trợ của doanh nghiệp đối với nguồn vốn kinh doanh riêng có của mình. Tỷ suất tự tài trợ càng lớn càng chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều vốn tự có, tính độc lập cao với các chủ nợ. Do đó không bị ràng buộc hoặc chịu sức ép của các khoản nợ vay.
1.2.8.2. Các chỉ số về hoạt động
Các chỉ số này dùng để đo lường hiệu quả sử dụng vốn, tài sản của một doanh nghiệp bằng cách so sánh doanh thu với việc bỏ vốn vào kinh doanh dưới các loại tài sản khác nhau.
- Số vòng quay hàng tồn kho: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Số vòng quay hàng tồn kho là số lần mà hàng hóa tồn kho bình quân luân chuyển trong kỳ.
Số vòng quay hàng tồn kho càng cao thì thời gian luân chuyển một vòng càng ngắn, chứng tỏ doanh nghiệp có nhiều khả năng giải phóng hàng tồn kho, tăng khả năng thanh toán.
- Vòng quay các khoản phải thu:
Vòng quay các khoản phải thu phản ánh tốc độ chuyển đổi các khoản phải thu thành tiền mặt của doanh nghiệp nhanh hay chậm và được xác định như sau:
Số dư bq các khoản phải thu của khách hàng Số vòng quay lớn chứng tỏ tốc độ thu hồi các khoản phải thu nhanh, đó là dấu hiệu tốt vì doanh nghiệp không phải đầu tư nhiều vào các khoản phải thu.
1.2.8.3. Các chỉ số sinh lợi
Các chỉ số sinh lời rất được các nhà quản trị tài chính quan tâm bởi vì chúng là cơ sở quan trọng để đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh trong một kỳ nhất định. Hơn thế các chỉ số này còn là cơ sở quan trọng để các nhà hoạch định đưa ra các quyết định tài chính trong tương lai.
- Sức sinh lời của tài sản:
Hệ số này mang ý nghĩa: Trong kỳ trung bình một đồng tài sản tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận sau thuế. Hệ số ngày càng cao càng thể hiện sự sắp xếp, phân bổ và quản lý tài sản càng hợp lý và có hiệu quả.
- Sức sinh lợi của vốn chủ sở hữu:
Chỉ tiêu này thể hiện trong kỳ trung bình một đồng vốn chủ sở hữu tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận ròng cho chủ sở hữu. Hệ số này càng cao càng có hiệu quả.
1.3. Ý NGHĨA CỦA VIỆC NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
1.3.1. Đối với bản thân doanh nghiệp
Hiệu quả kinh doanh không những là thước đo giá trị chất lượng, phản ánh trình độ tổ chức và quản lý sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà còn là cơ sở để duy trì sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp. Sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp được xác định dựa trên uy tín, ảnh hưởng của doanh nghiệp đối với thị trường. Song chung quy lại uy tín của doanh nghiệp trên thương trường có vững chắc hay không, có chiếm được lòng tin của khách hàng hay không thì lại bị chi phối bởi hiệu quả kinh doanh. Hiệu quả kinh doanh ở đây không thể chỉ hiểu đơn thuần là giảm thiểu chi phí, tăng lợi nhuận mà hiệu quả kinh doanh đạt được là do chính chất lượng của sản phẩm do doanh nghiệp sản xuất ra và cung ứng cho khách hàng.
Ngoài ra việc nâng cao hiệu quả kinh doanh còn là nhân tố thúc đẩy cạnh tranh và việc tự hoàn thiện của bản thân từng doanh nghiệp trong cơ chế thị trường hiện nay. Cạnh tranh trên thương trường ngày càng trở nên khốc liệt bởi nó không chỉ đòi hỏi hợp lý về giá cả mà còn có những đòi hỏi rất cao về chất lượng của sản phẩm, dịch vụ. Để không bị bóp nghẹt trong vòng quay đến chóng mặt của thị trường không còn cách nào khác là phải cạnh tranh lành mạnh đồng thời với nâng cao hiệu quả kinh doanh để đảm bảo cho doanh nghiệp tồn tại và phát triển lâu dài.
Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh chính là hạt nhân cơ bản của sự chiến thắng trong cuộc chạy đua không cân sức giữa các doanh nghiệp trên thương trường hiện nay.
1.3.2. Đối với toàn bộ nền kinh tế quốc dân
Hiệu quả kinh doanh là một phạm trù kinh tế quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Nó phản ánh yêu cầu cao độ về tiết kiệm thời gian, sử dụng tối đa có hiệu quả các nguồn lực tự có, phản ánh mức độ hoàn thiện của các quan hệ sản xuất trong nền kinh tế thị trường. Hiệu quả kinh doanh càng được nâng cao thì quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất cũng phát triển hay ngược lại, quan hệ sản xuất và lực lượng sản xuất kém phát triển thể hiện sự kém hiệu quả của hoạt động kinh doanh.
1.3.3. Đối với người lao động Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp có những tác động tương ứng tới người lao động. Một doanh nghiệp làm ăn kinh doanh có hiệu quả sẽ kích thích được người lao động hưng phấn hơn, làm việc hăng say hơn. Như vậy thì hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp còn được nâng cao hơn nữa. Đối lập lại, một doanh nghiệp làm ăn không có hiệu quả thì người lao động chán nản, gây nên những bế tắc trong suy nghĩ và còn có thể dẫn tới việc họ rời bỏ doanh nghiệp để tìm tới những doanh nghiệp khác.
Trong công việc con người vốn không thích bị phê bình, nhưng nếu chê đúng việc, đúng lúc, đúng chỗ, họ sẽ cảm nhận được sai lầm, khuyết điểm của bản thân và càng khâm phục người lãnh đạo. Một giám đốc doanh nghiệp phải biết sử dụng các phương pháp lãnh đạo khác nhau để tạo ra được tác phong lãnh đạo tốt nhất cho mình và đồng thời tạo ra được sự nỗ lực trong lao động của mỗi nhân viên cấp dưới cũng như đã tạo ra được hiệu quả cao trong công tác kinh doanh của doanh nghiệp.
Ngoài ra mỗi doanh nghiệp có những cách khuyến khích sự sáng tạo của người lao động, giúp họ phát huy được hết khả năng sẵn có, tiềm ẩn trong họ thì không những tạo nên sự phấn khởi do được đóng góp, được cống hiến mà còn giúp cho doanh nghiệp có những bước đột phá trong sản xuất, trong quá trình hoạt động của mình.
1.4. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN HIỆU QUẢ KINH DOANH
Bất cứ một doanh nghiệp nào cũng hoạt động trong một môi trường kinh doanh nhất định. Môi trường kinh doanh của một doanh nghiệp bao gồm rất nhiều nhân tố tác động khác nhau. Có rất nhiều cách phân loại các nhân tố tác động tới hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp. Trong luận văn tốt nghiệp này em xin được đề cập tới cách phân loại các nhân tố tác động tới hiệu quả kinh doanh theo hai nhóm: nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp và nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp.
1.4.1. Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp
Nhóm nhân tố bên ngoài doanh nghiệp có các ảnh hưởng, tác động tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp thuộc vào môi trường vĩ mô và môi trường tác nghiệp của ngành.
Môi trường vĩ mô bao gồm các yếu tố nằm bên ngoài doanh nghiệp, định hình và có tác động, ảnh hưởng đến các môi trường tác nghiệp của các ngành cũng như hoàn cảnh nội bộ của các doanh nghiệp. Đồng thời nó cũng bao gồm các cơ hội, các thuận lợi cũng như tạo ra các thách thức, các khó khăn, các nguy cơ và các rủi ro cho mọi ngành và mọi doanh nghiệp.
Các yếu tố đó là các yếu tố về tài nguyên, nhân khẩu lao động, về kinh tế, về văn hoá xã hội, về chính trị luật pháp, các yếu tố kỹ thuật công nghệ, về sinh thái và yếu tố quốc tế … Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Chỉ một trong số bất kỳ các yếu tố trên thay đổi thì bản thân doanh nghiệp cũng sẽ phải chịu tác động, ảnh hưởng theo các hướng tích cực hay tiêu cực phụ thuộc vào tính chất tích cực hay tiêu cực của môi trường này. Trong các yếu tố này chỉ cần xét tới một yếu tố bất kỳ như sự ổn định hay bất ổn định của nền kinh tế, của thị trường có ảnh hưởng trực tiếp tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới mức doanh thu của doanh nghiệp, từ đó ảnh hưởng tới nhu cầu về vốn kinh doanh. Những biến động của nền kinh tế có thể gây nên những rủi ro trong kinh doanh mà các nhà quản trị phải lường trước, những rủi ro đó có ảnh hưởng tới các khoản tới các khoản chi phí về đầu tư, chi phí trả lãi vay hay tiền thuê nhà xưởng, máy móc thiết bị hay việc tìm kiếm nguồn tài trợ. Tuy nhiên, khi nền kinh tế ổn định và tăng trưởng với một tốc độ nào đó thì doanh nghiệp muốn duy trì và giữ vững vị trí của mình thì cũng phải phấn đấu để phát triển với nhịp độ tương đương. Khi doanh thu tăng lên sẽ dẫn đến việc gia tăng tài sản, các nguồn phải thu và các loại tài sản khác. Khi đó, các nhà quản trị phải tìm nguồn tài trợ cho sự mở rộng sản xuất, sự tăng tài sản đó.
Bên cạnh rất nhiều yếu tố của thị trường, của môi trường kinh doanh, giá cả thị trường, giá cả sản phẩm mà doanh nghiệp tiêu thụ cũng có ảnh hưởng lớn tới doanh thu, do đó cũng ảnh hưởng lớn tới khả năng tìm kiếm lợi nhuận. Cơ cấu tài chính của doanh nghiệp cũng được phản ánh nếu có sự thay đổi về giá cả. Sự tăng, giảm lãi suất và giá cổ phiếu cũng có ảnh hưởng tới sự tăng giảm về chi phí tài chính và sự hấp dẫn của các hình thức tài trợ khác nhau. Mức lãi suất cũng là cũng là một yếu tố đo lường khả năng huy động vốn vay. Sự tăng hay giảm thuế cũng ảnh hưởng trực tiếp tới tình hình kinh doanh, tới khả năng tiếp tục đầu tư hay rút khỏi đầu tư.
Hiện nay toàn cầu hoá đang làm thu hẹp không gian, làm biến mất các đường biên giới với sự ngắn lại của thời gian đã và đang gắn kết cuộc sống con người với nhau một cách sâu sắc, chặt chẽ, trực tiếp. Nó mở ra các cơ hội lớn cho sự tiến bộ con người. Ý tưởng toàn cầu và sự đoàn kết toàn cầu làm giàu có thêm cuộc sống con người. Song các thành quả của toàn cầu hoá cũng được phân bố công bằng và bình đẳng dẫn tới sự bất ổn định về kinh tế, thách thức của toàn cầu hoá trong thế kỷ tới là phải tìm những luật lệ và thể chế quản lý mạnh mẽ hơn ở doanh nghiệp, địa phương, nhà nước và khu vực toàn cầu. Toàn cầu hoá đang dẫn tới sự bùng nổ về các nguồn nhân lực dẫn tới những thách thức của sự phá vỡ các nền văn hoá xã hội, đe doạ sự an toàn cho con người về y tế, văn hoá, môi trường, về chính trị và cộng đồng. Đó chính là một vấn đề nóng bỏng hiện nay mà tất cả các doanh nghiệp phải hết sức quan tâm và cần thiết phải đưa ra được các chính sách thích ứng được với những biến động của môi trường kinh tế hiện nay. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Môi trường tác nghiệp của ngành bao hàm các yếu tố và lực lượng can thiệp nằm bên ngoài doanh nghiệp. Nó bao gồm các đối thủ cạnh tranh hiện tại, các đối thủ tiềm ẩn mới xuất hiện, các loại hàng hoá thay thế, các nhà cung cấp và khách hàng… Môi trường này cũng định hình và tạo nên mối tương quan kinh doanh giữa các tổ chức, các doanh nghiệp, ảnh hưởng đến khả năng thành công của mỗi loại sản phẩm, dịch vụ của ngành.
Mỗi đối thủ cạnh tranh mới xuất hiện là mối lo lắng cho các doanh nghiệp, cho các nhà quản trị. Họ phải tìm mọi cách để tiêu diệt được những đối thủ này. Bên cạnh đó kể cả sự thay đổi của các nhà cung cấp, của các hàng hoá thay thế mới cũng có các tác động tới doanh nghiệp khiến cho các doanh nghiệp này phải có các chiến lược mới để đối phó được với những biến động của môi trường ngành.
Sự cạnh tranh về sản phẩm đang sản xuất và các sản phẩm tương lai giữa các doanh nghiệp có ảnh hưởng tới kinh tế, tài chính của doanh nghiệp và có liên quan chặt chẽ đến khả năng tài trợ để doanh nghiệp tồn tại và phát triển trong một nền kinh tế luôn biến đổi và các nhà quản trị phải chịu trách nhiệm về việc cho doanh nghiệp hoạt động khi cần thiết.
Môi trường luật pháp cũng có những ảnh hưởng nhất định tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bởi luật pháp là cơ sở để doanh nghiệp đề ra những chiến lược kinh doanh cho mình, đề ra những kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp với các quy tắc, luật định của nhà nước. Môi trường luật pháp bao gồm tất cả các quy tắc, các luật chơi kinh doanh mà mọi đối tượng vi phạm luật chơi đều bị xử phạt thích đáng. Doanh nghiệp không thể vì mục tiêu lợi nhuận mà sản xuất kinh doanh các loại hàng hoá pháp luật ngăn cấm. Do đó, hoạt động sản xuất kinh doanh phải dựa trên cơ sở luật pháp (dựa vào luật pháp để quy định giá bán hàng hoá, dịch vụ cho phù hợp). Như vậy luật pháp đã can thiệp vào doanh thu cũng như lợi nhuận của doanh nghiệp thông qua các công cụ bằng pháp luật.
1.4.2. Nhóm nhân tố bên trong doanh nghiệp
Hoàn cảnh nội bộ của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố nội tại, bên trong mà trong quá trình hoạt động kinh doanh, chính doanh nghiệp đã tạo ra chúng và bản thân doanh nghiệp có thể kiểm soát được chúng. Trong nội bộ của doanh nghiệp bao gồm các yếu tố về nguồn nhân lực, chính sách Marketing, tình hình tài chính, kỹ thuật – công nghệ, quy trình sản xuất và cả tác phong quản lý của các nhà quản trị. Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Trong các yếu tố đó phải đặc biệt quan tâm tới nguồn nhân lực của doanh nghiệp. Đây là yếu tố cơ bản, quyết định nhất của lực lượng sản xuất bởi chỉ có người lao động mới có thể tổ chức, sử dụng cũng như phát huy được các yếu tố khác của quá trình sản xuất từ việc vận hành máy móc, thiết bị, nguyên nhiên vật liệu, công cụ dụng cụ… thành công việc một cách tốt nhất và nhanh nhất. Khi đó hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ được nâng cao và điều này cũng đòi hỏi doanh nghiệp cần phải tính toán đội ngũ lao động trên hai mặt là: Số lượng lao động và chất lượng lao động. Để khuyến khích sự sáng tạo cũng như tinh thần làm việc tích cực của người lao động thì cần phải có sự đảm bảo về quyền lợi, chế độ lương thưởng sao cho bình đẳng và phù hợp với khả năng trình độ và sự cống hiến của họ đối với doanh nghiệp.
Ngoài việc tập trung quan tâm tới đội ngũ lao động, các nhà quản trị cần phải hết sức chú ý tới các vấn đề về tài chính doanh nghiệp, tới kỹ thuật và công nghệ sản xuất cũng như các chiến lược Marketing và trình độ quản lý trong doanh nghiệp. Các vấn đề này cũng là những vấn đề rất quan trọng bởi nó có tác động trực tiếp tới tình hình tài chính của doanh nghiệp, ảnh hưởng tới các chính sách phát triển sản phẩm, chiếm lĩnh thị trường, tăng trưởng thị phần, ảnh hưởng tới trình độ sản xuất của doanh nghiệp cũng như năng lực quản lý của các cấp quản trị trong doanh nghiệp.
Bên cạnh rất nhiều yếu tố quan trọng thì phải kể đến yếu tố cơ sở vật chất kỹ thuật. Cơ sở vật chất kỹ thuật trong doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh là yếu tố vật chất hữu tính quan trọng phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Có thể nói đó là nền tảng quan trọng để doanh nghiệp thực hiện tốt hoạt động sản xuất kinh doanh của mình. Cơ sở vật chất tốt, hiện đại sẽ đem lại sức mạnh cho doanh nghiệp trên cơ sở sinh lời của tài sản. Đối với một doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh thì cơ sở vật chất chiếm tỷ trọng lớn trong tổng tài sản của doanh nghiệp để phục vụ cho nhu cầu hoạt động của doanh nghiệp. Do vậy để hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp đem lại hiệu quả cao thì doanh nghiệp phải chú ý đầu tư cho bộ phận này. Cơ sở vật chất kỹ thuật của doanh nghiệp càng được đầu tư hợp lý bao nhiêu thì càng đem lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp bấy nhiêu.
Ngoài ra, như chúng ta đã biết, quản trị doanh nghiệp là yếu tố trực tiếp đưa doanh nghiệp đi đến hoạt động sản xuất kinh doanh thành công hay thất bại. Nó là một nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp, sự ảnh hưởng này rất lớn. Hoạt động quản trị phải là các hoạt động với ý tưởng mới, sáng tạo chứ không phải là sự chấp hành một cách sơ cứng một quá trình quản trị bảo thủ và lạc hậu. Mọi hoạt động với yếu tố quản trị non kém sẽ có ảnh hưởng tiêu cực rất lớn đến kết quả hoạt động của doanh nghiệp và từ đó không đem lại được hiệu quả gì cho doanh nghiệp. Điều này hết sức tệ hại bởi một doanh nghiệp trên thị trường sẽ bị đẩy đến sự thất bại nặng nề trong kinh doanh và đặc biệt là trong nền kinh tế thị trường như ngày nay. Do đó, một yêu cầu chung được đặt ra cho nhân tố quản trị là phải đảm bảo nguyên tắc chuyên, tinh, gọn, nhẹ và sự linh hoạt, sáng tạo. Nguyên tắc này sẽ giúp cho doanh nghiệp giảm được chi phí hành chính, tránh được sự chồng chéo trách nhiệm, nâng cao được hiệu quả kinh doanh.
1.5. PHƯƠNG PHÁP LUẬN ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Sau khi xác định được được các chỉ tiêu về hiệu quả kinh doanh, để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp trong một thời kỳ nhất định, người ta thường sử dụng các phương pháp so sánh để đánh giá hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp bằng các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh giữa các kỳ với nhau.
1.5.1. Phương pháp so sánh
1.5.1.1. Phương pháp so sánh tuyệt đối
Phương pháp này cho biết khối lượng quy mô tăng giảm các chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp so với các doanh nghiệp khác nhau hoặc giữa các thời kì của doanh nghiệp.
Mức tăng giảm trên chỉ phản ánh về lượng. Thực chất việc tăng giảm trên nói lên là có hiệu quả hay không, có tiết kiệm hay lãng phí không, nó thường được kèm với phương pháp khác khi đánh giá hiệu quả giữa các kì.
1.5.1.2. Phương pháp so sánh tương đối
Phương pháp này cho biết kết cấu, quan hệ tốc độ phát triển và mức độ phổ biến của chỉ tiêu.
Dạng đơn giản:
Trong đó:
- G1: Trị số chỉ tiêu kì phân tích
- G2: Trị số chỉ tiêu kì gốc
Dạng có liên hệ:
Dạng kết hợp:
Mức tăng giảm tương đối = G1 – Go * (Gki – Gko)
Trong đó:
- G1: Trị số chỉ tiêu kỳ phân tích
- Go: Trị số chỉ tiêu kỳ gốc
- Gki: Trị số chỉ tiêu cần liên hệ kỳ phân tích
- Goi: Trị số chỉ tiêu cần liên hệ kỳ gốc
1.5.2. Phương pháp thay thế liên hoàn (loại trừ dần) Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Trong phân tích kinh doanh, nhiều trường hợp cần nghiên cứu ảnh hưởng của các nhân tố đến kết quả sản xuất kinh doanh nhờ phương pháp loại trừ. Loại trừ là phương pháp xác định mức độ ảnh hưởng của từng nhân tố đến kết quả sản xuất kinh doanh bằng cách loại trừ ảnh hưởng của các nhân tố khác [5].
Tính chất của phương pháp này là thay thế dần số liệu gốc bằng số liệu thực tế của một nhân tố ảnh hưởng nào đó. Nhân tố được thay thế đó sẽ phản ánh mức độ ảnh hưởng của nó đến chỉ tiêu được phân tích với giả thiết các nhân tố khác là không đổi.
1.5.3. Phương pháp liên hệ
Mọi kết quả kinh doanh đều có mối liên hệ mật thiết với nhau giữa các mặt, bộ phận,… để lượng hóa được mối liên hệ đó, ngoài các phương pháp đã nêu, trong phân tích kinh doanh còn phổ biến cách nghiên cứu mối liên hệ như: liên hệ cân đối, liên hệ trực tuyến, liên hệ phi tuyến.
Liên hệ cân đối [5]: Có cơ sở là sự cân bằng về lượng giữa hai mặt của các yếu tố trong kinh doanh, ví dụ như: giữa tổng số vốn và tổng số nguồn thu và chi, hoạt động và tình hình sử dụng các quỹ, các loại vốn. Mối liên hệ cân đối về lượng của các yếu tố dẫn đến sự cân bằng cả về mức biến động (chênh lệch) về lượng giữa các mặt của các yếu tố và quá trình kinh doanh.
Liên hệ trực tuyến [5]: Là mối liên hệ theo một hướng xác định giữa các chỉ tiêu phân tích, ví dụ: Lợi nhuận tỷ lệ thuận với lượng hàng bán ra, giá bán tỷ lệ thuận với giá thành, thuế.
Liên hệ phi tuyến [5]: Là mối liên hệ giữa các chỉ tiêu trong đó mức độ liên hệ không được xác định theo tỷ lệ và chiều hướng liên hệ luôn biến đổi.
Thông thường chỉ có phương pháp liên hệ cân đối là được dùng phổ biến, còn lại hai phương pháp liên hệ trực tuyến và phi tuyến là ít dùng.
1.5.4. Phương pháp chi tiết
Mọi kết quả kinh doanh đều cần thiết và có thể chi tiết theo những hướng khác nhau. Thông thường trong phân tích phương pháp chi tiết được thực hiện theo những hướng khác nhau.
Chi tiết theo các bộ phận cấu thành chỉ tiêu [8]. Mọi kết quả kinh doanh biểu hiện trên các chỉ tiêu đều bao gồm nhiều bộ phận. Chi tiết các chỉ tiêu theo bộ phận cùng với sự biểu hiện về lượng các bộ phận đó sẽ giúp ích rất nhiều trong việc đánh giá chính xác kết quả được.
Chi tiết theo lượng [5]: Có thể theo từng tháng, quý, năm,… hoặc từng chu kỳ mua vào bán ra của hàng hóa theo từng mùa vụ. Chi tiết theo địa chỉ [5]: Phân xưởng, tổ đội.
1.5.5. Phương pháp cân đối
Theo hệ thống các chỉ tiêu Kinh tế – tài chính của doanh nghiệp. Có nhiều chỉ tiêu có mối liên hệ với nhau và những mối liên hệ này mang tính chất cân đối tổng thể và cân đối cá biệt [8].
Cân đối tổng thể là mối liên hệ cân đối của các chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Ví dụ: Giữa tài sản và nguồn vốn kinh doanh liên hệ với nhau bằng công thức: Khóa luận: Nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh Công ty Vijaco.
Tài sản = Nguồn vốn hoặc giữa doanh thu, chi phí, kết quả kinh doanh co mối liên hệ: Doanh thu = Chi phí + Kết quả
Từ những mối liên hệ cân đối trên cho ta thấy nếu có sự thay đổi một chỉ tiêu này sẽ dẫn đến thay đổi một chỉ tiêu khác.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng sản xuất kinh doanh của công ty Vijaco


Pingback: Khóa luận: Giải pháp sản xuất kinh doanh của công ty Vijaco