Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI NÓI ĐẦU
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm giữ vai trò đặc biệt quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của mỗi một quốc gia. Kinh doanh bảo hiểm được coi như tấm lá chắn kinh tế bảo vệ cho các tổ chức, cá nhân; đồng thời huy động nguồn vốn cho đầu tư phát triển đất nước. Ở Việt Nam, hoạt động kinh doanh bảo hiểm bắt đầu kể từ năm 1965, nhưng có thể nói thị trường bảo hiểm Việt Nam mới thực sự bước vào hoạt động theo đúng nghĩa trong vòng mười năm trở lại đây. Với tốc độ tăng trưởng bình quân của thị trường bảo hiểm giai đoạn 2020 -2024 đạt trên 32%/năm, tương lai của ngành bảo hiểm Việt Nam đang mở ra những kì vọng phát triển xa hơn, ngoạn mục hơn.
Cùng với quá trình toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế đang diễn ra ngày càng sâu rộng, thị trường bảo hiểm Việt Nam cũng đang có những bước chuyển mình mạnh mẽ nhằm đáp ứng những yêu cầu và thách thức của quá trình hội nhập. Quá trình hội nhập kinh tế đang mở ra nhiều cơ hội nhưng cũng đặt ra không ít những thách thức đối với các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam. Đặc biệt với việc nước ta vừa trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO), và theo như cam kết hội nhập thì lĩnh vực bảo hiểm là một trong những lĩnh vực có tốc độ mở cửa nhanh nhất. Do đó vấn đề đặt ra cho các doanh nghiệp bảo hiểm Việt Nam hiện nay là cần phải có những biện pháp và chiến lược để nâng cao hơn nữa năng lực cạnh tranh của mình để có thể đứng vững và tồn tại được trước sức ép của hội nhập kinh tế.
Nhận thấy tiềm năng của thị trường bảo hiểm Việt Nam còn rất lớn, cùng với mục tiêu xây dựng tập đoàn tài chính BIDV, Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã quyết định mua lại phần vốn góp của mình trong Liên doanh Bảo hiểm Việt – Úc để thành lập ra Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIC). Là một doanh nghiệp mới ra nhập thị trường, trước mắt BIC còn rất nhiều khó khăn thử thách, vấn đề cấp thiết hiện nay đặt ra cho tập thể ban lãnh đạo và toàn thể nhân viên của BIC là làm thế nào để tạo dựng được hình ảnh thương hiệu bảo hiểm BIC cũng như gây dựng được lợi thế cạnh tranh vững chắc. Xuất phát từ thực tế trên, em đã chọn đề tài “Nâng cao năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng Đầu tư và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế” để nghiên cứu và tìm hiểu.
Quá trình nghiên cứu đề tài của em được thực hiện dựa trên cơ sở: thu thập, phân tích và xử lí thông tin, kết hợp với các kiến thức đã được giảng dạy ở nhà trường làm nền tảng cơ sở, đồng thời có sự so sánh, đối chiếu để làm nổi bật vấn đề nghiên cứu.
Ngoài Phần mở đầu và Phần kết luận, Khóa luận được kết cấu gồm 3 chương sau:
- Chương 1: Tổng quan về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
- Chương 2: Thực trạng năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
- Chương 3: Một số giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh cho công ty bảo hiểm ngân hàng đầu tư và phát triển trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
Em xin gửi lời cảm ơn và sự biết ơn sâu sắc tới cô giáo Ths. Phạm Thanh Hà, người đã tận tình hướng dẫn em trong quá trình viết Khóa luận này. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Do trình độ của bản thân còn hạn chế và do hạn chế trong việc thu thập, thống kê số liệu nên Khóa luận của em không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong nhận được sự đóng góp của các Thầy, các Cô, bạn bè và những người quan tâm.
CHƯƠNG I TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH BẢO HIỂM VÀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA CÔNG TY BẢO HIỂM TRONG BỐI CẢNH HỘI NHẬP KINH TẾ.
I. Khái quát về hoạt động kinh doanh bảo hiểm và doanh nghiệp bảo hiểm
1. Khái quát về hoạt động kinh doanh bảo hiểm
Bảo hiểm có nguồn gốc từ rất xa xưa trong lịch sử nền văn minh nhân loại; vào cuối thế kỷ XV khi Châu Âu thực hiện những chuyến đi khai phá tới Châu Á và Châu Mỹ, ý tưởng về rủi ro và thành lập một quỹ chung đã xuất hiện cùng một lúc. Đây chính là những dấu hiệu đầu tiên đánh dấu sự ra đời của hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Cùng với sự lớn mạnh của thương mại toàn cầu, hoạt động kinh doanh bảo hiểm cũng ngày một phát triển đa dạng và phong phú, trở thành hoạt động kinh doanh không thể thiếu của bất kì nền kinh tế nào.
Theo Luật Kinh Doanh Bảo hiểm năm 2019 thì “Kinh doanh bảo hiểm là hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm nhằm mục đích sinh lợi, theo đó doanh nghiệp bảo hiểm chấp nhận rủi ro của người được bảo hiểm, trên cơ sở bên mua bảo hiểm đóng phí bảo hiểm để doanh nghiệp bảo hiểm trả tiền bảo hiểm cho người thụ hưởng hoặc bồi thường cho người được bảo hiểm khi xảy ra sự kiện bảo hiểm”.
a. Đặc điểm của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Đối tượng kinh doanh đa dạng
Đối tượng của hoạt động kinh doanh bảo hiểm là con người, tài sản và trách nhiệm dân sự, đối với mỗi loại đối tượng này lại có rất nhiều loại sản phẩm bảo hiểm khác nhau như BH tài sản và BH thiệt hại, BH hàng hoá vận chuyển, BH hàng không, BH xe cơ giới, BH trách nhiệm dân sự của chủ tàu…
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm có vốn pháp định lớn
Theo Điều 4 nghị định số 46/2026/NĐ-CP thì mức vốn pháp định của doanh nghiệp kinh doanh bảo hiểm nhân thọ là 600 tỷ đồng, kinh doanh bảo hiểm phi nhân thọ là 300 tỷ đồng và DN môi giới BH là 4 tỷ đồng. Ở Việt Nam chỉ một số ngành nghề có liên quan tới tài chính như chứng khoán, bảo hiểm, kinh doanh vàng, kinh doanh tiền tệ mới yêu cầu có vốn pháp định. Qui định về vốn pháp định của DN kinh doanh BH như trên chỉ đứng sau qui định về vốn pháp định của ngân hàng.
Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn phải có dự phòng nghiệp vụ BH Theo điều 96 Luật Kinh doanh BH thì dự phòng nghiệp vụ phải được trích lập riêng cho từng nghiệp vụ BH và phải tương ứng với phần trách nhiệm của DNBH. Kinh doanh BH là kinh doanh rủi ro bởi vậy luôn đòi hỏi phải có dự phòng nghiệp vụ BH. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm luôn luôn gắn kết với hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư là hoạt động không thể thiếu được của mỗi DNBH. DNBH sẽ chỉ phải chi trả tiền bồi thường cho người được BH khi hợp đồng BH đến hạn (BH nhân thọ) hoặc khi tổn thất xảy ra với đối tượng được BH (BH phi nhân thọ) nên luôn có một khoản tiền nhàn rỗi lớn trong mỗi DNBH, do đó để tăng hiệu quả từ hoạt động kinh doanh các DNBH thường sử dụng nguồn vốn này để đầu tư trở lại nền kinh tế, vừa góp phần tăng thu nhập cho DNBH vừa bổ sung vốn cho nền kinh tế.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm, vừa hợp tác vừa cạnh tranh
Giữa các DNBH luôn có sự hợp tác và cạnh tranh gay gắt với nhau. Các DNBH áp dụng đủ các phương thức để cạnh tranh giành hợp đồng, khách hàng nhưng đồng thời lại hợp tác để thực hiện đồng bảo hiểm hoặc tái bảo hiểm.
- Hoạt động kinh doanh bảo hiểm phải tuân thủ quy định của Luật Kinh Doanh bảo hiểm, các quy định khác của pháp luật có liên quan và các điều ước quốc tế mà Việt Nam đã ký kết hoặc tham gia.
Kinh doanh BH là một lĩnh vực tài chính nhạy cảm, được nhà nước quản lý khá chặt chẽ, tuy nhiên khi chúng ta chính thức tham gia sân chơi chung, hội nhập vào nền kinh tế thế giới thì chúng ta cũng sẽ phải tuân thủ luật chơi chung, có nghĩa là ngoài việc chịu sự điều chỉnh của hệ thống luật Việt Nam mà trực tiếp là Luật Kinh doanh bảo hiểm, hoạt động kinh doanh bảo hiểm tại Việt Nam còn chịu sự điều chỉnh của luật pháp và các điều ước quốc tế liên quan mà Việt Nam đã tham gia.
b. Những nguyên tắc cơ bản của hoạt động kinh doanh bảo hiểm
- Số đông bù số ít
Đây là một nguyên tắc bất di bất dịch trong hoạt động kinh doanh bảo hiểm. Nó thể hiện việc một hoặc một số người sẽ được bù đắp rủi ro bằng số tiền huy động được từ rất nhiều người có khả năng gặp rủi ro như vậy. Hay nói cách khác công ty bảo hiểm đã thực hiện việc bù trừ rủi ro theo quy luật số lớn thông qua việc huy động đủ số phí cần thiết để giải quyết chi bồi thường cho các tổn thất có thể xảy ra trong cộng đồng những người tham gia bảo hiểm.
Theo nguyên tắc này, càng nhiều người tham gia bảo hiểm thì quỹ bảo hiểm tích tụ càng lớn, việc chi trả càng trở nên dễ dàng hơn, rủi ro được san sẻ cho nhiều người hơn. Thông thường, một sản phẩm bảo hiểm chỉ có thể được triển khai khi có nhiều nhu cầu về cùng một loại bảo đảm đó.
- Lựa chọn rủi ro
Nguyên tắc lựa chọn rủi ro là một nguyên tắc không thể thiếu được trong các hoạt động kinh doanh BH. Theo nguyên tắc này, các rủi ro đã xảy ra, chắc chắn hoặc gần như chắc chắn sẽ xảy ra thì bị từ chối BH: hao mòn vật chất tự nhiên, hao hụt thương mại tự nhiên, xe vi phạm nghiêm trọng luật giao thông, cố ý tự tử. Nói cách khác, những rủi ro có thể được BH phải là những rủi ro bất ngờ, không lường trước được. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Nguyên tắc lựa chọn rủi ro nhằm tránh cho người BH phải bồi thường cho những tổn thất thấy trước mà với nhiều trường hợp như vậy chắc chắn sẽ dẫn đến phá sản, đồng thời cũng giúp cho các công ty BH có thể tính được các mức phí chính xác, lập nên được một quỹ BH đầy đủ để đảm bảo cho công tác bồi thường.
- Phân tán rủi ro
Một kinh nghiệm trong hoạt động của các nhà BHTM là tránh nhận những rủi ro quá lớn, vượt quá khả năng tài chính của công ty. Chính vì vậy, phải phân tán bớt các rủi ro đã nhận là nguyên tắc quan trọng giúp cho các nhà BH vừa có thể bảo đảm nhận các rủi ro lớn, tránh được điều tối kỵ là từ chối BH, vừa vẫn bảo đảm được hoạt động kinh doanh. Để thực hiện được nguyên tắc phân tán rủi ro, các nhà BH đã sử dụng hai phương thức đồng BH và tái BH. Nếu trong đồng BH, nhiều nhà BH cùng nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn thì tái BH lại là phương thức trong đó, một nhà BH nhận bảo đảm cho một rủi ro lớn, sau đó nhượng bớt một phần rủi ro cho một hoặc nhiều nhà BH khác.
- Trung thực tuyệt đối
Nguyên tắc này được thể hiện ngay từ khi người BH nghiên cứu để soạn thảo một hợp đồng BH đến khi phát hành, khai thác BH và thực hiện giao dịch kinh doanh với khách hàng (người tham gia BH).
Trước hết, nguyên tắc trung thực tuyệt đối đòi hỏi người BH phải có trách nhiệm cân nhắc các điều kiện, điều khoản để soạn thảo hợp đồng bảo đảm cho quyền lợi của hai bên. Người BH phải công khai tuyên bố những điều kiện, nguyên tắc, thể lệ, giá cả BH cho người được BH biết; không được nhận BH khi biết đối tượng BH đã đến nơi an toàn. Ngược lại nguyên tắc này cũng đặt ra một yêu cầu với người tham gia BH là phải khai báo rủi ro trung thực khi tham gia BH để giúp cho người BH xác định mức phí phù hợp với rủi ro mà họ đảm nhận. Người tham gia BH phải khai báo chính xác các chi tiết liên quan đến đối tượng BH; phải thông báo kịp thời những thay đổi về đối tượng BH, về rủi ro… mà mình biết được hoặc đáng lẽ phải biết cho người BH, không được mua BH cho đối tượng BH khi biết đối tượng đó đã bị tổn thất.
- Quyền lợi có thể được bảo hiểm Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Nguyên tắc này yêu cầu người tham gia BH phải có lợi ích tài chính bị tổn thất nếu đối tượng được BH gặp rủi ro. Nói cách khác, người tham gia BH phải có một số quan hệ với đối tượng được BH và được pháp luật công nhận. Mối quan hệ có thể biểu hiện qua quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền tài sản, quyền và nghĩa vụ nuôi dưỡng, cấp dưỡng đối với đối tượng được BH. Trong trường hợp quyền sở hữu và quyền sử dụng tài sản được BH thuộc hai chủ thể khác nhau thì cả hai chủ thể này đều có quyền lợi BH.
Nguyên tắc quyền lợi có thể được BH nhằm loại bỏ khả năng BH cho tài sản của người khác, hoặc cố tình gây thiệt hại hoặc tổn thất để thu lợi từ một đơn BH.
Ngoài các nguyên tắc cơ bản trên, mỗi một loại hình kinh doanh BH sẽ có thêm các nguyên tắc khác phù hợp với đặc điểm của từng loại: nguyên tắc bồi thường, nguyên tắc khoán…
c. Các loại hình kinh doanh bảo hiểm
- Bảo hiểm tài sản
Đây là loại hình BH mà đối tượng BH là tài sản (cố định hay lưu động) của người được BH. Ví dụ: BH vật chất xe cơ giới, BH cho hàng hoá của các chủ hàng trong BH hàng hoá xuất nhập khẩu, BH tài sản của chủ nhà trong BH trộm cắp.
Đặc điểm chung của BH tài sản:
- Áp dụng nguyên tắc bồi thường khi thanh toán chi trả BH: tức là số tiền bồi thường mà bên được BH nhận được trong mọi trường hợp không vượt quá thiệt hại thực tế trong sự cố BH.
- Áp dụng nguyên tắc thế quyền hợp pháp khi xuất hiện người thứ ba có lỗi và do đó có trách nhiệm đối với thiệt hại của người được BH. Theo nguyên tắc này, sau khi trả tiền bồi thường, người bảo hiểm sẽ được hưởng các quyền và hành động của người được BH để thực hiện các việc truy đòi trách nhiệm của người thứ ba có lỗi, đồng thời đảm bảo cả nguyên tắc bồi thường.
- Bảo hiểm trùng: trong BH tài sản, nếu một đối tượng BH đồng thời được BH bằng nhiều hợp đồng BH khác nhau, những hợp đồng BH này có điều kiện BH giống nhau, thời hạn BH trùng nhau, và tổng số tiền BH từ tất cả những hợp đồng này lớn hơn giá trị BH của đối tượng BH đó thì gọi là BH trùng.
- Một số chế độ bồi thường BH áp dụng trong BH tài sản:
- Chế độ BH theo nguyên tắc trách nhiệm vượt giới hạn (theo mức miễn thường)
- Chế độ bảo hiểm theo tỷ lệ.
- Chế độ bảo hiểm theo rủi ro đầu tiên.
Bảo hiểm trách nhiệm dân sự:
BHTNDS bao gồm: BHTNDS của chủ xe cơ giới, BHTNDS của chủ lao động, BH trách nhiệm sản phẩm…Đây là một trong những loại hình BH chủ yếu có vai trò quan trọng trong kinh doanh và xã hội, bảo đảm những trách nhiệm pháp lý của người được BH đối với tổn hại mà anh ta gây ra cho bên thứ ba. Như vậy, đối tượng được BH của các hợp đồng này là các TNDS có thể được phát sinh của người được bảo hiểm. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Có thể thấy, chính vì đối tượng được BH là phần TNDS phát sinh của người được BH đối với người bị thiệt hại (một người thứ ba khác) nên trong loại BH này người được BH là người có TNDS cần được bảo đảm và thường đó cũng là người tham gia BH. Còn người thụ hưởng quyền lợi BH lại là người thứ ba khác. Người thứ ba trong BHTNDS là những người có tính mạng, tài sản bị thiệt hại trong sự cố BH và được quyền nhận bồi thường từ người BH với tư cách là người thụ hưởng. Người thứ ba có quan hệ về mặt TNDS với người được BH nhưng chỉ có mối hệ gián tiếp với người BH.
- Bảo hiểm con người:
Tất cả các nghiệp vụ BH có đối tượng BH là tuổi thọ, tình trạng sức khoẻ con người, hoặc các sự kiện liên quan tới cuộc sống và có ảnh hưởng tới cuộc sống con người được xếp vào BH con người như: BH tai nạn cá nhân, BH sinh mạng, BH nhân thọ…
Đặc điểm chung của BH con người là khi thanh toán tiền BH „nguyên tắc khoán‟ được áp dụng. Tức là, về nguyên tắc, số tiền chi trả BH sẽ dựa vào quy định chủ quan của hợp đồng và số tiền BH được thoả thuận khi ký kết hợp đồng chứ không dựa vào thiệt hại thực tế. Khi áp dụng nguyên tắc này, người ta cho rằng tính mạng con người là vô giá nên không thể xác định được bằng một khoản tiền cụ thể. Việc thanh toán tiền BH trong các nghiệp vụ BH con người chỉ mang tính trợ giúp về tài chính khi không may gặp rủi ro dẫn đến cái chết, thương tật làm mất hoặc giảm khả năng lao động và vì thu nhập, cuộc sống của người được BH cũng như người thân không được bảo đảm. Do đó, khác với bảo hiểm tài sản, trong bảo hiểm con người có thể “bảo hiểm trùng”, tức là mỗi đối tượng bảo hiểm có thể đồng thời được bảo hiểm bằng nhiều hợp đồng với một hoặc nhiều công ty bảo hiểm khác nhau. Trong BH con người, thuật ngữ “chi trả BH”, “thanh toán BH” được sử dụng để thay thế cho “bồi thường BH” trong BH thiệt hại.
2. Khái quát về doanh nghiệp bảo hiểm Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
- Khái niệm và phân loại doanh nghiệp bảo hiểm
Khái niệm: Theo Luật kinh doanh bảo hiểm của Việt Nam thì “Doanh nghiệp BH là doanh nghiệp được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của Luật kinh doanh BH và các quy định khác của pháp luật có liên quan đến kinh doanh bảo hiểm, tái bảo hiểm”.
Phân loại doanh nghiệp bảo hiểm:
- Theo đặc điểm góp vốn có thể chia DNBH thành:
DNBH nhà nước là doanh nghiệp do nhà nước thành lập, đầu tư vốn và quản lý với tư cách là người chủ sở hữu. DNBH nhà nước là một pháp nhân kinh tế hoạt động theo pháp luật và bình đẳng trước pháp luật.
DNBH cổ phần là loại doanh nghiệp do các cổ đông tham gia góp vốn thông qua hình thức phát hành cổ phiếu, trái phiếu và có trách nhiệm hữu hạn. Đây là doanh nghiệp có nhiều chủ sở hữu, cùng chia lợi nhuận, cùng chịu lỗ tương ứng với số vốn góp. Đây là loại hình DNBH phổ biến nhất trong điều kiện kinh tế thị trường.
Tổ chức bảo hiểm tương hỗ là tổ chức có tư cách pháp nhân được thành lập để kinh doanh BH nhằm tương trợ giúp đỡ lẫn nhau giữa các thành viên. Thành viên tổ chức BH tương hỗ vừa là chủ sở hữu vừa là bên mua BH. Về mặt pháp lý, họ vừa là hội viên vừa là những người được BH. Tổ chức BH tương hỗ chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của tổ chức trong phạm vi tài sản của mình.
DNBH liên doanh được thành lập trên cơ sở góp vốn của các bên (trong và ngoài nước). Vị trí của các bên trong DN phụ thuộc vào mức vốn góp. Các thành viên trong DN hưởng lợi nhuận cũng như chịu thua lỗ tương ứng với mức vốn góp.
DNBH 100% vốn đầu tư nước ngoài. Đây là DNBH do nước ngoài đầu tư vốn hoạt động tại nước sở tại theo luật pháp của nước sở tại đồng thời chịu sự chỉ đạo của công ty mẹ ở chính quốc.
Theo tính chất rủi ro DNBH được chia thành 2 loại:
- DNBH phi nhân thọ, chủ yếu triển khai các nghiệp vụ BHTS, BHTNDS, và các nghiệp vụ BH con người phi nhân thọ.
- DNBH nhân thọ chủ yếu kinh doanh các sản phẩm BH nhân thọ: BH tử kỳ, BH nhân thọ hỗn hợp, BH trả tiền định kỳ.
b. Mô hình tổ chức của doanh nghiệp bảo hiểm Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Mỗi loại hình DNBH lại có những đặc trưng riêng và do đó cũng có các sơ đồ tổ chức mang tính đặc thù, dưới đây là mô hình tổ chức phổ biến của DNBH cổ phần:
c. Nội dung hoạt động của doanh nghiệp bảo hiểm
- Kinh doanh bảo hiểm và tái bảo hiểm
Kinh doanh BH là hoạt động của DNBH nhằm mục đích sinh lời. Ở đây, DNBH chấp nhận rủi ro của người được BH trên cơ sở người mua BH đóng phí BH. Kinh doanh BH phải đảm bảo nguyên tắc có tính chất quy luật là “số đông bù số ít”. Theo quy luật đó, DN phải thu hút nhiều người tham gia vào một nghiệp vụ hoặc một sản phẩm BH cụ thể.
Kinh doanh tái BH là hoạt động của DN mà theo đó DNBH nhận một khoản phí BH của DNBH khác để cam kết bồi thường cho các trách nhiệm đã nhận BH. Thông qua hoạt động chuyển và nhận tái, DNBH vừa ổn định kinh doanh, thu lợi nhuận, vừa phát triển quan hệ kinh tế với các nước…
- Đề phòng và hạn chế tổn thất
DNBH không chỉ có trách nhiệm bồi thường tổn thất thuộc phạm vi BH do rủi ro tai nạn bất ngờ gây ra, giúp người được BH ổn định kinh tế, khôi phục sản xuất và đời sống mà còn tiến hành các biện pháp đề phòng rủi ro và tổn thất trước và sau khi tai nạn xảy ra.
Qua phân tích nguyên nhân của những rủi ro tai nạn bất ngờ, DNBH có thể cùng khách hàng thực hiện các biện pháp cần thiết để đề phòng tổn thất. Chẳng hạn trong BH cháy, DNBH cùng người tham gia thực hiện các biện pháp để hạn chế chập điện…
- Giám định và bồi thường tổn thất
Giám định bồi thường tổn thất là một nhiệm vụ, một khâu quan trọng trong chu trình hoạt động kinh doanh bảo hiểm.
Sau khi nhận được thông báo của người được BH về tai nạn rủi ro xảy ra, giấy yêu cầu giám định và các giấy tờ khác có liên quan, DNBH phải cử giám định viên đến hiện trường cùng các thành viên liên quan để xác định tính chất, nguyên nhân mức độ thiệt hại… Điều quan trọng của công tác giám định là xác định nguyên nhân rủi ro có thuộc phạm vi BH hay không; tổn thất thực tế là bao nhiêu…để làm căn cứ bồi thường.
- Hoạt động đầu tư
Hoạt động đầu tư đối với mỗi DNBH có vai trò hết sức quan trọng. Hoạt động này không chỉ giúp DNBH sử dụng hiệu quả nguồn vốn nhàn rỗi của mình để thu lợi nhuận, mà còn giúp DNBH ổn định kinh doanh và đảm bảo quyền lợi cho khách hàng. Do cơ chế hoạt động của mình, các DNBH luôn có các nguồn vốn nhàn rỗi từ vốn điều lệ, quỹ dự phòng nghiệp vụ, dự phòng toán học…Nếu không có hoạt động đầu tư, DNBH sẽ không thể tiến hành kinh doanh một cách ổn định và có hiệu quả.
II. Năng lực cạnh tranh của công ty bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
1. Năng lực cạnh tranh trong bối cảnh hội nhập kinh tế
Trong bối cảnh hội nhập kinh tế và toàn cầu hóa đang diễn ra ngày một sâu rộng và mạnh mẽ hiện nay, nhắc đến hoạt động kinh doanh của một doanh nghiệp là người ta nghĩ ngay đến năng lực cạnh tranh hay nói cách khác là khả năng sinh tồn của doanh nghiệp trên thị trường. Đã có nhiều nghiên cứu về năng lực cạnh tranh (NLCT), tuy nhiên cho đến nay vẫn chưa có định nghĩa thống nhất nào về NLCT, trên các góc độ nghiên cứu khác nhau lại có những định nghĩa khác nhau về NLCT.
Trên góc độ vĩ mô, báo cáo về đánh giá NLCT toàn cầu đã định nghĩa NLCT của một quốc gia là “khả năng của nước đó đạt được những thành quả nhanh và bền vững về mức sống, nghĩa là đạt được các tỷ lệ tăng trưởng kinh tế cao được xác định bằng thay đổi của tổng sản phẩm quốc nội (GDP) trên đầu người theo thời gian”
Còn trên cấp độ vi mô, NLCT của một doanh nghiệp được hiểu là: “khả năng doanh nghiệp đó tạo ra, duy trì và phát triển mức lợi nhuận cao hơn mức trung bình của ngành và liên tục tăng, đồng thời đảm bảo sự hoạt động an toàn và lành mạnh, có khả năng chống đỡ và vượt qua những biến động bất lợi của môi trường kinh doanh”.
2. Các nhân tố ảnh hưởng đến năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế.
- Các nhân tố thuộc môi trường bên ngoài
Mỗi một doanh nghiệp đều tồn tại và chịu tác động bởi hai môi trường đó là môi trường bên ngoài và môi trường bên trong mỗi doanh nghiệp. Môi trường bên ngoài là môi trường chung, doanh nghiệp không trực tiếp tác động lên được nhưng lại có ảnh hưởng rất lớn đến sự tồn vong và phát triển của DN. Các yếu tố thuộc môi trường bên ngoài rất đa dạng và phong phú.
- Các yếu tố về kinh tế Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Từ năm 1986, quán triệt đường lối của Đảng thực hiện mở cửa và hội nhập kinh tế, nền kinh tế nước ta đã có những bước phát triển vượt bậc, GDP liên tục tăng trưởng, thu nhập bình quân đầu người tăng, riêng năm 2025 tăng trưởng GDP đạt 8,2%, xuất khẩu 39,6 tỉ USD, đầu tư nước ngoài FDI đạt 10,2 tỉ USD, chỉ số CPI tăng gần 7%. Tăng trưởng kinh tế mạnh là tiền đề cơ bản cho sự phát triển của ngành bảo hiểm. Tăng trưởng kinh tế sẽ kéo theo các hoạt động kinh doanh, mua bán, trao đổi hàng hóa diễn ra sôi động hơn; đồng thời mức độ rủi ro của các hoạt động cũng gia tăng và một khi các rủi ro xảy ra thì mức độ thiệt hại cũng sẽ nghiêm trọng hơn trước rất nhiều. Cùng với tăng trưởng kinh tế, thu nhập của người dân và các doanh nghiệp cũng gia tăng nhanh chóng. Những yếu tố này chính là cơ sở lí giải cho việc nhu cầu bảo hiểm đối với hoạt động kinh doanh và nhu cầu bảo hiểm cho tính mạng sức khỏe con người ngày một tăng. Cùng với sự gia tăng nhu cầu BH, các doanh nghiệp tham gia ngành cũng tăng lên và do vậy cạnh tranh trong ngành sẽ diễn ra mạnh mẽ hơn.
Bối cảnh HNKT hiện nay cũng đã tác động rất nhiều đến nền kinh tế Việt Nam nói chung và đến ngành bảo hiểm nói riêng. HNKT đòi hỏi chúng ta sẽ phải từng bước mở cửa thị trường trong nước cho các nhà đầu tư nước ngoài. Bảo hiểm là một trong những lĩnh vực tài chính nhạy cảm, so với các doanh nghiệp BH nước ngoài có tiềm lực tài chính mạnh và dầy dạn kinh nghiệm kinh doanh thì các DNBH Việt Nam còn quá nhỏ bé, bởi vậy khi Việt Nam chính thức mở cửa thị trường bảo hiểm cho các nhà đầu tư nước ngoài vào 1/1/2027 theo cam kết gia nhập WTO thì áp lực cạnh tranh đối với các DNBH sẽ là rất lớn.
- Các yếu tố về chính trị – pháp luật
Môi trường chính trị và pháp luật là nền tảng cho hoạt động của các DNBH. So với các nước trong khu vực và trên thế giới môi trường chính trị của Việt Nam được coi là khá ổn định, điều này sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển của cả nền kinh tế nói chung và của các DNBH nói riêng.
Để đáp ứng các yêu cầu của quá trình HNKT, chúng ta cũng đang từng bước hoàn thiện môi trường pháp lý tạo cơ sở cho hoạt động của các DN. Việc điều chỉnh sửa đổi bổ sung các văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động kinh doanh BH cho phù hợp với các qui định và thông lệ quốc tế vừa tạo ra những cơ hội nhưng đồng thời cũng đem lại không ít những thách thức cho các DNBH trong nước trong quá trình cạnh tranh. Một môi trường pháp lý minh bạch công bằng sẽ giúp các doanh nghiệp tiến hành kinh doanh một cách thuận lợi theo đúng các chuẩn mực quốc tế, do đó nâng cao khả năng cạnh tranh nhưng đồng thời việc loại bỏ các rào cản về pháp lý với các DNBH nước ngoài sẽ khiến các DNBH trong nước phải đối mặt với sự cạnh tranh khốc liệt hơn. Xu thế hội nhập là tất yếu do đó đòi hỏi các DNBH trong nước phải nâng cao hơn nữa năng lực tài chính, năng lực cạnh tranh, áp dụng các tiêu chuẩn quốc tế trong quản trị kinh doanh và phát triển sản phẩm để có thể đứng vững trên thị trường. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
- Thị phần
Thị phần hoạt động vừa là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ, nhưng đồng thời cũng tác động đến khả năng cạnh tranh doanh nghiệp trong tương lai. Khi quyết định mua bảo hiểm của một doanh nghiệp nào đó, khách hàng thường xét đến yếu tố thị phần, những doanh nghiệp có thị phần càng lớn thì khả năng được khách hàng lựa chọn càng cao. Do đó doanh nghiệp có thị phần lớn sẽ có khả năng cạnh tranh cao hơn.
Hiện nay với việc thực hiện mở cửa nền kinh tế đất nước, sẽ ngày càng có nhiều DNBH nước ngoài tham gia vào thị trường bảo hiểm Việt nam, do đó nếu không có các biện pháp cạnh tranh phù hợp để nâng cao NLCT của mình thì thị phần của các DNBH Việt Nam sẽ ngày càng bị thu hẹp.
- Uy tín và danh tiếng trong kinh doanh
Đối với bất kì doanh nghiệp nào muốn thực hiện kinh doanh thành công thì yếu tố uy tín luôn phải đặt lên hàng đầu. Không khách hàng nào muốn giao dịch với những doanh nghiệp làm ăn không có uy tín, có tiếng xấu trong kinh doanh. Bởi vậy việc tạo dựng được uy tín và danh tiếng tốt trong kinh doanh cũng đồng nghĩa với việc tạo dựng được năng lực cạnh tranh tốt cho doanh nghiệp.
Hội nhập kinh tế sẽ mang đến cho các DNBH Việt nam các đối thủ cạnh tranh lớn, có uy tín và kinh nghiệm lâu năm trong ngành bảo hiểm và có tiềm lực tài chính lớn. Bởi vậy để có thể đứng vững được trước sức ép cạnh tranh từ các đối thủ lớn sắp tới, đòi hỏi các DNBH Việt nam phải nỗ lực hơn nữa trong việc tạo dựng hình ảnh, uy tín và tên tuổi cho mình.
b. Các nhân tố thuộc môi trường bên trong
- Chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Chiến lược kinh doanh là một trong những yếu tố quan trọng quyết định đến thành công của doanh nghiệp, là kim chỉ nam cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Đặc trưng nổi bật của chiến lược kinh doanh là tính định hướng và xác định những chính sách lớn của doanh nghiệp, nó xác định rõ mục tiêu cơ bản và phương hướng kinh doanh của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và được quán triệt trong tất cả các mặt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Tính định hướng của chiến lược nhằm đảm bảo cho doanh nghiệp phát triển liên tục và vững chắc trong môi trường kinh doanh thường xuyên biến động, đồng thời huy động tối đa và kết hợp tối ưu việc khai thác và sử dụng các nguồn lực hiện tại và tương lai nhằm phát huy những lợi thế và nắm bắt những cơ hội để giành ưu thế trong cạnh tranh, đảm bảo nâng cao vị thế, tăng khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Trước sức ép cạnh tranh ngày càng lớn hiện nay đòi hỏi doanh nghiệp phải không ngừng đưa ra các chiến lược kinh doanh phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của doanh nghiệp, như vậy mới duy trì và nâng cao được khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Đi đôi với chiến lược kinh doanh là chiến lược marketing. Chiến lược marketing thực chất là sự cụ thể hóa của chiến lược kinh doanh, nếu như chiến lược kinh doanh vạch ra đường hướng cho hoạt động của doanh nghiệp thì chiến lược marketing sẽ là sự triển khai cụ thể, từng bước cho các chiến lược kinh doanh đã được vạch ra. Do đó vạch ra và thực hiện thành công chiến lược marketing cũng sẽ đảm bảo cho sự thành công của chiến lược kinh doanh cũng như sự thành công của toàn doanh nghiệp. Sự phối hợp chặt chẽ giữa chiến lược kinh doanh và chiến lược marketing sẽ đảm bảo khả năng cạnh tranh tốt của doanh nghiệp.
- Hệ thống bán hàng trên thị trường (đại lý)
Đối với các DNBH thì hệ thống đại lý chính là cầu nối quan trọng với khách hàng. Kinh doanh bảo hiểm là một lĩnh vực đặc thù, đối tượng kinh doanh của nó là rủi ro, các sản phẩm mà công ty bảo hiểm cung cấp là những hàng hóa vô hình, hay nói cách khác các công ty bảo hiểm không bán cái gì khác ngoài “lời hứa về một sự đảm bảo”, bởi vậy, để khách hàng thực sự tin tưởng và lựa chọn sản phẩm của doanh nghiệp thì không những đòi hỏi đội ngũ nhân viên bảo hiểm phải am hiểu nghiệp vụ mà chất lượng phục vụ cũng phải tốt. Để tạo ra chất lượng phục vụ tốt thì điều quan trọng là phải xây dựng được hệ thống kênh phân phối rộng khắp, có như vậy mới có thể đáp ứng nhanh chóng nhu cầu của khách hàng và phục vụ khách hàng tốt được. Hơn nữa do đối tượng BH thường trải dài trong phạm vi rất rộng, ví dụ như: BH hàng hóa xuất nhập khẩu thì đối tượng BH là hàng hóa có thể di chuyển trên một phạm vi rộng từ nước ngoài về nước hoặc ngược lại, do đó để tạo điều kiện tiếp cận cho khách hàng, cũng như tạo điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện hợp đồng bảo hiểm đòi hỏi các DNBH phải xây dựng được một hệ thống mạng lưới đại lý rộng khắp. Một DNBH có hệ thống đại lý càng lớn thì khả năng thu hút khách hàng, khả năng cạnh tranh càng cao.
- Tiềm lực tài chính Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Tiềm lực tài chính là yếu tố hết sức quan trọng tác động đến NLCT của công ty bảo hiểm. Doanh nghiệp có tiềm lực tài chính càng mạnh thì càng có nhiều cơ hội dành được các hợp đồng BH lớn, tăng khả năng nhận BH và đồng thời đảm bảo khả năng chi trả tốt. Khi có rủi ro lớn xảy ra thì những DNBH có nguồn tài chính nhỏ hẹp sẽ khó có thể đứng vững được, tuy nhiên đối với những doanh nghiệp có tiềm lực tài chính lớn thì họ không những đảm bảo được khả năng chi trả mà còn tạo được danh tiếng tốt do thực hiện việc bồi thường đầy đủ. Tiềm lực tài chính còn có ý nghĩa quan trọng, là yếu tố cơ bản giúp doanh nghiệp thực hiện được các mục tiêu kinh doanh đã đề ra. Tiềm lực tài chính mạnh sẽ giúp doanh nghiệp mở rộng được mạng lưới, tăng đầu tư cho công nghệ hiện đại, đẩy mạnh được hoạt động đào tạo… Bởi vậy tiềm lực tài chính có ảnh hưởng rất lớn đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
- Tổ chức và nhân sự
Cơ cấu tổ chức có ảnh hưởng không nhỏ đến NLCT của DNBH. Nếu một DN có cơ cấu tổ chức hợp lý, phân công trách nhiệm và quyền hạn rõ ràng thì mọi hoạt động sẽ trôi chảy, có năng suất. Ngược lại, một cơ cấu tổ chức chồng chéo, quyền lực không được phân chia thì hiệu quả hoạt động sẽ kém.
Bảo hiểm là một ngành dịch vụ, do vậy khách hàng chỉ có thể đánh giá chất lượng của sản phẩm mà họ mua thông chất lượng phục vụ. Trong giai đoạn hiện nay khi mà trình độ khoa học công nghệ đã phát triển mạnh mẽ, việc tạo ra các sản phẩm tương đồng không phải là vấn đề lớn đối với các doanh nghiệp. Yếu tố quan trọng tạo ra sự khác biệt giữa các doanh nghiệp chính là yếu tố con người. Việc đào tạo được đội ngũ nhân sự có khả năng đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng là một yếu tố có ảnh hưởng lớn đến thành công của DNBH. Đồng thời một đội ngũ nhân sự có trình độ cao sẽ giúp cho toàn hệ thống vận hành tốt hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
- Trình độ công nghệ và kỹ thuật
Công nghệ và kỹ thuật là phương tiện để thực hiện công việc kinh doanh của doanh nghiệp. Nhờ có công nghệ và kỹ thuật hiện đại mà hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp diễn ra một cách dễ dàng hơn, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng. Do đó doanh nghiệp nào trang bị được nhiều công nghệ hiện đại hơn sẽ có khả năng cạnh tranh tốt hơn.
3. Các nhân tố đánh giá năng lực cạnh tranh của một công ty bảo hiểm trong bối cảnh hội nhập kinh tế. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
a. Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua phương thức cạnh tranh
- Đa dạng hoá sản phẩm
Một DNBH được đánh giá là có sức cạnh tranh tốt khi tạo ra được một danh mục sản phẩm phong phú đa dạng phù hợp với nhu cầu thị trường và năng lực quản lý của doanh nghiệp. Đa dạng hóa sản phẩm sẽ làm tăng mức độ thỏa mãn của khách hàng, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và do đó sẽ tăng sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Sự đa dạng hóa các dịch vụ một mặt tạo cho DNBH phát triển ổn định hơn, mặt khác cho phép doanh nghiệp phát huy lợi thế nhờ mở rộng quy mô. Tất nhiên, sự đa dạng hóa các dịch vụ cần phải được thực hiện trong tương quan so với các nguồn lực hiện có của DNBH, nếu không việc triển khai quá nhiều dịch vụ có thể khiến doanh nghiệp kinh doanh không hiệu quả do dàn trải quá mức các nguồn lực.
- Chất lượng dịch vụ
Ngày nay khi mà đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện, thu nhập của người dân ngày một cao, thì nhu cầu của họ đối với các sản phẩm có chất lượng cũng ngày một tăng. Do vậy việc tạo ra các sản phẩm có chất lượng cao sẽ là yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnh tranh cho doanh nghiệp. Đối với một DNBH thì chất lượng dịch vụ sẽ được đánh giá thông qua tính tiện ích của sản phẩm cung ứng; qui trình thủ tục đơn giản, nhanh gọn; việc giải quyết khiếu nại bồi thường khi có tổn thất xảy ra được diễn ra nhanh chóng, kịp thời; các dịch vụ hỗ trợ kèm theo…
- Giá cả dịch vụ
Cũng giống như các sản phẩm dịch vụ khác giá cả luôn là mối quan tâm lớn của những người sử dụng. Với một quốc gia mà thu nhập trung bình của người dân vẫn còn ở mức thấp so với thế giới như Việt Nam thì yếu tố giá cả sản phẩm dịch vụ vẫn có sức ảnh hưởng rất lớn tới quyết định tiêu dùng. Trong bối cảnh cạnh tranh gay gắt như hiện nay, việc tạo ra các sản phẩm có giá thấp hơn nhưng vẫn đảm bảo chất lượng tương đương với đối thủ cạnh tranh sẽ cho thấy khả năng cạnh tranh tốt của doanh nghiệp.
- Khả năng tạo cơ hội tiếp cận, thu hút khách hàng
Khả năng tạo cơ hội tiếp cận, thu hút khách hàng được thể hiện thông qua hệ thống phân phối, hệ thống đại lý rộng khắp. Các giao dịch giữa DNBH với khách hàng chủ yếu được thực hiện qua hệ thống đại lý, chi nhánh của công ty bảo hiểm, việc xây dựng được hệ thống đại lý phân phối rộng khắp sẽ giúp khách hàng biết đến doanh nghiệp nhiều hơn và tăng các giao dịch với khách hàng. Một hệ thống đại lý, chi nhánh được xây dựng và quản lý tốt sẽ giúp DNBH đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng và góp phần đáng kể cho việc quảng bá cho hình ảnh của doanh nghiệp, đồng thời cũng tạo nên sức mạnh cạnh tranh cho doanh nghiệp. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
b. Đánh giá năng lực cạnh tranh thông qua các yếu tố tiềm năng
- Thị phần
Thị phần là yếu tố cơ bản để đánh giá NLCT của các doanh nghiệp nói chung và doanh nghiệp bảo hiểm nói riêng. Thông qua việc đánh giá thị phần ta có thể biết được NLCT của doanh nghiệp bảo hiểm đến đâu.
Khi nhắc đến yếu tố thị phần người ta thường xét đến thị phần tương đối và thị phần tuyệt đối.
- Thị phần tuyệt đối:
Chỉ tiêu này phản ánh quy mô thị trường của doanh nghiệp bảo hiểm, nó có thể được tính toán dựa trên doanh thu phí của DNBH so với tổng phí thu được của toàn thị trường bảo hiểm.
Công thức tính thị phần được minh hoạ như sau: Thị phần của DNBH = Doanh thu của DNBH /Tổng doanh thu toàn TTBH
Thị phần tuyệt đối phản ánh mức độ hoạt động hiệu quả của DNBH trong việc giữ vững và mở rộng thị trường. Chỉ tiêu này tăng lên qua từng thời kỳ chứng tỏ DNBH đã duy trì được vị trí của mình trên thị trường và ngược lại nếu chỉ tiêu này giảm điều đó chứng tỏ DNBH đã không theo kịp tốc độ tăng trưởng của thị trường.
Tuy nhiên chỉ tiêu thị phần tuyệt đối lại không thể hiện được mối tương quan về qui mô thị trường giữa các DNBH, do vậy ta cần phải sử dụng đến chỉ tiêu thị phần tương đối của doanh nghiệp bảo hiểm.
- Thị phần tương đối:
Thị phần tương đối của một doanh nghiệp bảo hiểm là thị phần của doanh nghiệp đó so với thị phần của đối thủ cạnh tranh.
Thị phần tương đối của DNBH được tính theo công thức sau:
Phương pháp này có ưu điểm là dễ tính và đơn giản, nhưng khó đảm bảo tính chính xác do gặp phải khó khăn trong việc thu thập số liệu.
- Khả năng sinh lời Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
Khả năng sinh lời phản ánh hiệu quả hoạt động kinh doanh của DNBH. Để đánh giá về khả năng sinh lời của DNBH, thường sử dụng chỉ tiêu sau:
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn đầu tư vào các hoạt động đem lại bao nhiêu đồng lợi nhuận. Chỉ tiêu này càng lớn, hiệu quả càng cao.
Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn kinh doanh trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu.
Chỉ tiêu này cho biết để tạo ra một đơn vị doanh thu, doanh nghiệp phải bỏ ra bao nhiêu chi phí.
Các chỉ tiêu này càng lớn sức cạnh tranh của doanh nghiệp càng tốt.
- Chiến lược kinh doanh
Một doanh nghiệp sẽ mở rộng hay bị thu hẹp thị phần bởi chiến lược kinh doanh có đúng hướng hay không. Chiến lược kinh doanh thể hiện mục tiêu kinh doanh rõ ràng, lựa chọn sản phẩm ngoại vi phục vụ thiết thực, hiệu quả cho sản phẩm chính.
Như vậy một chiến lược kinh doanh có tác động và là cơ sở để đánh giá NLCT của DNBH. Chiến lược kinh doanh được đánh giá thông qua: mức độ phù hợp của sản phẩm đối với thị trường mà DNBH đang hoạt động; mức độ phù hợp của sản phẩm đối với nhân lực, công nghệ, tiềm lực tài chính của doanh nghiệp; mức độ hấp dẫn của các hoạt động marketing đang được thực hiện.
- Tiềm lực tài chính
Bất cứ một hoạt động đầu tư kinh doanh nào cũng đều phải được tính toán trên cơ sở nguồn vốn và thực trạng tài chính của doanh nghiệp. Nếu một doanh nghiệp gặp khó khăn về mặt tài chính sẽ rất bất lợi cho việc tạo lập, duy trì khả năng cạnh tranh của mình trên thị trường. Ngược lại, những doanh nghiệp có sức mạnh về tài chính sẽ rất thuận lợi cho việc đón lấy các cơ hội, mở rộng sản xuất cũng như tăng thị phần, điều này giúp cho doanh nghiệp có thể nâng cao khả năng cạnh tranh của mình. DNBH cũng không ngoại lệ. Tình hình tài chính của DNBH thể hiện thông qua các chỉ tiêu về vốn: nguồn vốn, tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ. Nếu một DNBH có nguồn vốn nhỏ, tỷ lệ trích lập quỹ dự phòng nghiệp vụ thấp thì khi có rủi ro được bảo hiểm xảy ra, các doanh nghiệp này sẽ không có khả năng bồi thường đầy đủ và kịp thời cho khách hàng dẫn đến tình trạng mất khách hàng và giảm khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên thị trường.
Ngoài ra chúng ta có thể đánh giá tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp bảo hiểm thông qua các chỉ tiêu về tổng tài sản, các quỹ dự phòng nghiệp vụ, vốn chủ sở hữu và tốc độ tăng trưởng của các chỉ tiêu này.
- Nguồn nhân lực
Nguồn nhân lực là yếu tố quan trọng tạo nên sức cạnh tranh của DNBH. NLCT của nguồn nhân lực được thể hiện ở những yếu tố như: trình độ đào tạo, trình độ thành thạo nghiệp vụ, mức độ cam kết gắn bó với doanh nghiệp, các chính sách thu hút nhân tài của công ty, chính sách đào tạo…Nhân sự của một DNBH là yếu tố mang tính kết nối các nguồn lực của doanh nghiệp, đồng thời cũng là cái gốc cho mọi cải tiến hay đổi mới. Trình độ hay kỹ năng của người lao động là những chỉ tiêu quan trọng thể hiện chất lượng của nguồn nhân lực. Một DNBH xây dựng được một đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, am hiểu nghiệp vụ, có mong muốn gắn bó lâu dài với doanh nghiệp sẽ tạo ra sức cạnh tranh lớn cho doanh nghiệp đó.
- Trình độ công nghệ
Trong lĩnh vực bảo hiểm, công nghệ đang ngày càng đóng vai trò như là một nguồn lực tạo ra lợi thế cạnh tranh của mỗi DNBH. Công nghệ trong bảo hiểm không chỉ bao gồm những công nghệ mang tính tác nghiệp như là tính chi phí mà còn bao gồm hệ thống thông tin quản lý MIS, hệ thống báo cáo rủi ro…Khả năng nâng cấp và đổi mới công nghệ của các DNBH cũng là chỉ tiêu phản ánh năng lực công nghệ của một DNBH. Với tốc độ phát triển rất nhanh của ngành công nghệ thông tin nói chung và công nghệ trong lĩnh vực bảo hiểm nói riêng, nếu chỉ tập trung phân tích vào khả năng công nghệ hiện tại mà không chú ý tới khả năng nâng cấp và thay đổi trong tương lai thì sẽ rất dễ có những nhận thức sai lầm về năng lực công nghệ của các DNBH. Vì thế, năng lực công nghệ không chỉ thể hiện ở số lượng, chất lượng công nghệ hiện tại mà còn bao gồm cả khả năng mở (nghĩa là khả năng đổi mới) của các công nghệ hiện tại về kỹ thuật cũng như kinh tế. Khóa luận: Năng lực cạnh tranh của Công ty Bảo hiểm Ngân hàng.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng năng lực cạnh tranh ở công ty bảo hiểm NH


Pingback: Khóa luận: Giải pháp năng lực cạnh tranh ở công ty bảo hiểm NH