Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên giai đoạn 2011 – 2015 dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. lý do chọn đề tài.
Trong giai đoạn ngày nay du lịch không chỉ là ngành kinh tế quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao,mà còn là một nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống văn hóa – xã hội.
Du lịch ngày càng phát triển thu hút hàng tỷ người trên khắp hành tinh mang lại lợi ích to lớn về nhiều mặt. Cùng với sự phát triển du lịch của thành phố Hải Phòng, thì du lịch ở huyện Thủy Nguyên cũng có những bước phát triển rất lớn và mang lại hiệu quả kinh tế cao cho toàn huyện.
Huyện Thủy Nguyên có những lợi thế đặc biệt trong phát triển kinh tế chung và trong hoạt động du lịch nói riêng. Thủy nguyên là vùng đất được hình thành lâu đời với rất nhiều các di chỉ khảo cổ đã được phát hiện. Nơi đây còn bảo lưu một kho tàng văn hóa vật thể và phi vật thể đặc sắc, sự đa dạng về tôn giáo, tín ngưỡng với hàng trăm lễ hội văn hóa dân gian đã tạo nên tính thống nhất trong đa dạng văn hóa của mảnh đất này. Bên cạnh đó, Thủy Nguyên còn được biết đến bởi các di sản văn hóa phi vật thể độc đáo và rất nhiều các tài nguyên thiên nhiên vô cùng hấp dẫn.
Chính vì vậy nếu biết khai thác những lợi thế trên dể phát triển du lịch của huyện thì nhất định sẽ mang lại hiệu quả to lớn trên nhiều phương diện cho Thuỷ Nguyên. Trong chiến lược đẩy nhanh quá trình tăng trưởng, việc nghiên cứu để tim ra các giải pháp phát triển du lịch cho huyện là một yếu tố bức thiết, nhằm huy động, khai thác mọi nguồn lực và phát huy mọi tiềm năng của Thủy Nguyên vào hoạt động du lịch có hiệu quả, góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế, sớm đưa du lịch Thủy Nguyên đứng vị trí tương xứng với tiềm năng và tầm vóc để trở thành một trung tâm du lịch lớn của TP Hải Phòng. Chính vì lý do trên, em đã
chọn đề tài: “Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch ở huyện Thủy Nguyên giai đoạn 2011-2015” làm bài khóa luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1.mục dích.
Nghiên cứu, khai thác có hiệu quả các tài nguyên du lịch của huyện, từ đó đề xuất những giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch của huyện.
2.2.Nhiệm vụ.
Nghiên cứu cơ sở lý luận về du lịch, thực tiễn phát triển du lịch trên địa bàn huyện. Đánh giá tài nguyên du lịch của huyện. Nghiên cứu thực trạng và đưa ra những bài học kinh nghiệm để phát triển du lịch của huyện.
Nghiên cứu,đề xuất các giải pháp cụ thể để phát triển du lịch ở Thủy Nguyên.
3.Đối tượng và phạm vi nghiên cứu.
3.1. Đối tượng nghiên cứu:
Đề tài tập trung chủ yếu nghiên cứu tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn trên địa bàn huyện Thủy Nguyên.
3.2. Phạm vi nghiên cứu:
- Phạm vi không gian: Được giới hạn là địa bàn huyện Thủy Nguyên .
- Phạm vi về thời gian: Thời gian nghiên cứu về thực trạng phát triển du lịch huyện Thủy Nguyên tư 2006-2011, đề xuất một số giải pháp cho giai đoạn 2011 đến 2015.
4.Phương pháp nghiên cứu.
Kết hợp lý luận và thực tiễn, sử dụng phương pháp điều tra, tổng hợp, thống kê, và phân tích.
5.Bố cục của bài khóa luận. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục, phụ lục và tài liệu tham khảo, luận văn gồm có 3 chương:
- Chương 1: 1 số khái niệm về du lịch và công tác quản lý nhà nước về du lịch.
- Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.
- Chương 3: Một số giải pháp nhằm đẩy mạnh phát triển du lịch của huyện đến năm 2015.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH.
1.1. CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH.
1.1.1.Một số khái niệm về du lịch.
1.1.1.1.Khái niệm.
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống của con người, không chỉ ở các nước trên thế giới mà ngay cả ở Việt Nam cũng vậy. Tuy nhiên, cho đến nay vẫn chưa có một khái niệm thống nhất nào về du lịch, mỗi cá nhân, mỗi tập thể có những cái nhìn về du lịch khác nhau, nghiên cứu về du lịch ở những góc độ khác nhau.
Theo liên hiệp Quốc các tổ chức lữ hành chính thức: “Du lịch được hiểu là hành động du hành đến một nơi khác với địa điểm cư trú thường xuyên của mình nhằm mục đích không phải để làm ăn, tức không phải để làm một nghề hay một việc kiếm tiền sinh sống…’’
Hội Nghị Liên Hợp Quốc về du lịch họp tại Roma_italia năm 1963 đưa ra: “Du lịch là tổng thể các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lưu trú không phải là nơi làm việc của họ’’
Nhìn từ góc độ thay đổi về không gian của du khách: “du lịch là một trong những hình thức di chuyển tạm thời từ một vùng này sang một vùng khác, từ một nước này sang một nước khác mà không thay đổi nơi cư trú hay nơi làm việc”.
Nhìn từ góc độ kinh tế: “Du lịch là một ngành kinh tế,dịch vụ có nhiệm vụ phục vụ cho nhu cầu tham quan giải trí nghỉ ngơi, có hoặc không kết hợp với các hoạt động chữa bệnh, thể thao, nghiên cứu khoa học và các nhu cầu khác”.
Bài khóa luận này chủ yếu dựa vào khái niệm trong Luật Du Lịch Việt Nam vừa ngắn gọn và dễ hiểu “ Du lịch là các hoạt động có liên quan đến chuyến đi của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình,nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí, nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định’’. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
1.1.1.2. Chức năng của du lịch.
- Chức năng xã hội:
Thể hiện ở vai trò của du lịch trong việc gìn giữ, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống của nhân dân. Trong chừng mực nào đó, du lịch có tác dụng hạn chế các bệnh tật, kéo dài tuổi thọ, và khả năng lao động của con người. Thông qua hoạt động du lịch, đông đảo quần chúng nhân dân có điều kiện tiếp xúc với những thành tựu văn hoá phong phú và lâu đời của các dân tộc, từ đó tăng thêm lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết quốc tế, hình thành phẩm chất tốt đẹp như lòng yêu lao động, tình bạn…Điều đó quyết định sự phát triển cân đối về nhân cách của mỗi cá nhân trong toàn xã hội.
- Chức năng kinh tế:
Chức năng này của du lịch thể hiện ở sự liên quan mật thiết với vai trò của con người như là lực lượng sản xuát chủ yếu của xã hội. Hoạt động sản xuất là cơ sở tồn tại của xã hội.Việc nghỉ ngơi, du lịch một cách tích cực và được tổ chức hợp lý sẽ đem lại những kết quả tốt đẹp. Một mặt nó góp phần vào việc phục hồi sức khoẻ cũng như khả năng lao động và mặt khác đảm bảo tái sản xuất mở rộng lực lượng lao động với hiệu quả kinh tế rõ rệt.
Ngoài ra chức năng kinh tế của du lịch còn được thể hiện ở khía cạnh khác. Đó là dịch vụ du lịch, một ngành kinh tế độc đáo, ảnh hưởng đến cơ cấu ngành và cơ cấu lao động của nhiều ngành kinh tế: nông nghiệp, công nghiệp, giao thông vận tải, ngoại thương… và là cơ sở quan trọng tạo đà cho nền kinh tế phát triển.
- Chức năng sinh thái:
Tạo môi trường sống ổn định về mặt sinh thái. Nghỉ ngơi du lịch là nhân tố có tác dụng kích thích việc bảo vệ. khôi phục và tối ưu hoá môi trường thiên nhiên bao quanh, bởi vì chính môi truờng này có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khoẻ và hoạt động của con người. Việc đẩy mạnh hoạt động du lịch, tăng mức độ tập trung khách vào những vùng nhất định đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử dụng tự nhiên với mục đích du lịch. Lúc này đòi hỏi con người phải tìm kiếm các hình thức bảo vệ tự nhiên, đảm bảo diều kiện sử dụng tự nguồn tài nguyên một cách hợp lý. Giữa xã hội và môi trường trong lĩnh vực du lịch có mối quan hệ chặt chẽ. Một mặt xã hội đảm bảo sự phát triển tối ưu của du lịch, nhưng mặt khác lại phải bảo vệ môi trường tự nhiên khỏi tác động phá hoại của các dòng khách du lịch và việc xây dựng cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch. Như vậy, giữa du lịch và bảo vệ môi trường có mối liên quan gần gũi với nhau. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
- Chức năng chính trị:
Chức năng chính trị của du lịch được thể hiện ở vai trò to lớn của nó như một nhân tố hoà bình, đẩy mạnh các mối giao lưu quốc tế, mở rộng sự hiểu biết giữa các dân tộc. Du lịch quốc tế làm cho con người sống ở các khu vực khác nhau hiểu biết và xích lại gần nhau.Mỗi năm hoạt động du lịch có những chủ đề khác nhau, như “Du lịch là giấy thông hành của hoà bình’’(1967), “Du lịch không chỉ là quyền lợi mà còn là nghĩa vụ của mỗi người’’(1983)…kêu gọi hàng triệu người quý trọng lịch sử, văn hoá và truyền thống của các quốc gia, giáo dục lòng mến khách và trách nhiệm của chủ nhà đối với khách du lịch, tạo nên sự hiểu biết và tình hữu nghị giữa các dân tộc.
- Vai trò của du lịch trong phát triển kinh tế xã hội.
Ngày nay du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống văn hoá xã hội ở các nước. Mạng lưới du lịch đã được thiết lập ở hầu hết các quốc gia trên thế giới. Du lịch đã trở thành một ngành kinh tế quan trọng của nhiều nước công nghiệp trên thế giới. Các lợi ích mà du lịch mang lại là rất lớn, và là điều không thể phủ nhận.
Du lịch phát triển đã góp phần giải quyết công ăn việc làm cho rất đông người dân ở các điểm, khu du lịch.
Du lịch ngày nay đã trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn của đất nước, chiếm một tỷ trọng lớn trong thu nhập quốc dân. Không những vậy, do đặc tính hoạt động, du lịch còn góp phần không nhỏ trong phát triển kinh tế vùng chậm phát triển, đồng thời giúp xoá đói, giảm nghèo ở những vùng sâu vùng xa. Du lịch còn có vai trò to lớn trong việc bảo tồn và phát huy giá trị văn hoá truyền thống dân tộc.
Ngành du lịch luôn có những đóng góp to lớn đối với sự phát triển kinh tế xã hội của đất nước. Doanh thu du lịch luôn tăng trưởng, tạo nhiều việc làm, xoá đói giảm nghèo, góp phần thay đổi cơ cấu kinh tế. Hàng năm du lịch đóng góp 5% GDP của quốc gia. Đến nay có khoảng 1 triệu lao động làm việc trong lĩnh vực du lịch. Từ năm 1991 đến 2009, lao động trực tiếp trong ngành du lịch đã tăng gấp 20 lần, từ 21.000 lên 370.000 người, lao động gián tiếp đạt 737.800 người. Năm 2009, thu hút đầu tư nước ngoài vào du lịch cũng đạt 8,8 tỷ USD/22,48 tỷ USD, chiếm 41% tổng số vốn đăng ký FDI vào Việt Nam.
1.1.1.3. Khách du lịch.
Khách du lịch gồm khách du lịch nội địa và khách du lịch quốc tế:
Khách du lịch nội địa: là công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam đi du lịch trong phạm vi lãnh thổ Việt Nam. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Khách du lịch quốc tế: là người nước ngoài, người Việt Nam định cư ở nước ngoài vào Việt Nam du lịch, công dân Việt Nam, người nước ngoài thường trú tại Việt Nam ra nước ngoài du lịch.
1.1.1.4. Tài nguyên du lịch.
Tài nguyên du lịch có thể chia làm 2 nhóm: tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn đang được khai thác hoặc chưa được khai thác.
- Tài nguyên du lịch tự nhiên gồm: địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu, thuỷ, hải văn, nguồn nước, động thực vật.
- Tài nguyên du lịch nhân văn gồm: các di tích lịch sử, văn hoá, kiến trúc, các lễ hội dân gian truyền thống, các đối tượng du lịch gắn với dân tộc học, các đối tượng văn hoá thể thao và hoạt động nhận thức khác.
1.1.2. Đặc điểm và các loại hình du lịch.
1.1.2.1.Đặc điểm:
Ngành kinh tế du lịch được hình thành và phát triển khi nghề tiểu thủ công được tách khỏi sản xuất nông nghiệp. Ở thời cổ đại loại hình du lịch phổ biến là du lịch tôn giáo, tín ngưỡng. Thời kì Trung Đại xuất hiện các hình thức du lịch công vụ, du lịch tham quan của các tâng lớp quý tộc, khách thương gia. Sang thời kì Cận Đại khoa học kĩ thuật đã có những bước phát triển đáng kể do vậy du lịch cũng phát triển nhanh chóng, song phần lớn du lịch vẫn chỉ dành cho tầng lớp thượng lưu và trung lưu. Đến thời kì khoa học công nghệ phát triển cao, đặc biệt là sau chiến tranh thế giới thứ 2 đến nay đã thúc đẩy kinh tế du lịch phát triển nhanh chóng, khác với giai đoạn trước du lịch thời kì này đã trở nên quen thuộc với mọi tâng lớp nhân dân trong xã hội. Du lịch trở thành phổ biến trong đời sống của con ngưòi và ngày càng phát triển đa dạng và phong phú hơn.
1.1.2.2.Các loại hình du lịch.
Phân loại theo mục đích của chuyến đi.
- Du lịch tham quan: Tham quan là hành vi quan trọng của con người để nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh. Về mặt ý nghĩa, hoạt động tham quan là một trong những hoạt động để chuyến đi được coi là chuyến du lịch.
- Du lịch lễ hội: Tham gia vào lễ hội du khách muôn hoà mình vào không khí tưng bừng của các cuộc biểu dương lực lượng, biểu dương tình đoàn kết của cộng đồng. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
- Du lịch giải trí: Mục đích của chuyến đi là thư giãn, xả hơi, bức ra khỏi công việc thường ngày căng thẳng để phục hồi sức khoẻ.
- Du lịch nghỉ dưỡng: Địa chỉ cho các chuyến nghỉ dưỡng thường là những nơi có không khí trong lành, khí hậu dễ chịu, phong cảnh ngoạn mục như các bãi biển, các vùng ven bờ nước, vùng núi, vùng nông thôn..
- Du lịch khám phá: Khám phá thế giới xung quanh là nhằm mục đích nâng cao hiểu biết về thế giới xung quanh, các chuyến đi có mục đích khám phá cũng được coi là thuần tuý du lịch.
- Du lịch thể thao: Trong những khoảng thời gian rỗi du khách muốn tự mình được chơi những môn thể thao nào đó không phải là tham gia thi đấu chính thức mà chỉ đơn giản là để giải trí.
- Du lịch tôn giáo: Là các chuyến đi của du khách chủ yếu để thoả mãn nhu cầu thực hiện các nghi lễ tôn giáo của tín đồ, hay tìm hiểu, nghiên cứu tôn giáo của người dị giáo.
- Du lịch nghiên cứu: du lịch kết hợp giữa việc học tập với nghiên cứu khoa học.
- Du lịch hội nghị: khách đi du lịch hội nghị thường được đảm bảo đầy đủ các phương tiện vật chất, khả năng thanh toán rất cao vì thường được bao cấp.
- Du lịch thăm thân: du khách đi du lịch với nhu cầu chính là giao tiếp, thăm hỏi của những người thân giữa các miền, các nước.
- Du lịch chữa bệnh: ở loại hình này, khách di du lịch do nhu cầu điều trị các bệnh tật về thể xác và tinh thần của họ
Phân loại theo môi trường tài nguyên.
- Du lịch thiên nhiên: đưa du khách về những nơi có điều kiện, môi trường tự nhiên trong lành, cảnh quan tự nhiên hấp dẫn…nhằm thoả mãn nhu cầu đặc trưng của họ. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
- Du lịch văn hoá: là hoạt động du lịch diễn ra chủ yếu trong môi trường nhân văn, hoặc hoạt động du lịch đó tập trung khai thác tài nguyên du lịch nhân văn.
Phân loại theo đặc điểm địa lý của điểm du lịch.
- Du lịch biển.
- Du lịch núi.
- Du lịch vùng quê.
- Du lịch thành thị.
Phân loại theo lãnh thổ của chuyến đi du lịch.
Theo tiêu thức này, du lịch được phân thành du lịch quốc tế và du lịch nội địa.
- Du lịch quốc tế: là hình thức du lịch mà ở đó điểm xuất phát và điểm đến của khách nằm ở lãnh thổ của các quốc gia khác nhau. Ở hình thức du lịch này khách phải đi qua biên giới và tiêu ngoại tệ ở nơi đến du lịch.
- Du lịch nội địa: là hình thức đi du lịch mà điểm xuất phát và điểm đến của khách cùng nằm trong lãnh thổ của một quốc gia.
Phân loại theo phương tiện giao thông.
- Du lịch bằng ôtô.
- Du lịch bằng máy bay.
- Du lịch bằng xe đạp
- Du lịch tàu hoả.
- Du lịch tàu thuỷ.
Phân loại theo loại hình lưu trú.
- Khách sạn: là cơ sở lưu trú có đầy đủ tiện nghi phục vụ việc qua đêm và các nhu cầu khác của du khách như ăn, ngủ, vui chơi giải trí…
- Motel: là một dạng cơ sơ lưu trú được xây dựng gần đường giao thông, có kiến trúc thấp tầng, dùng để phục vụ du khách đi bằng phương tiện riêng.
- Camping: là khu vực mà ở đó người ta phân lô theo một quy hoạch nhất định, đoàn du khách có thể thuê một địa điểm để dựng lều trại. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
- Nhà trọ thanh niên:là dạng cơ sở lưu trú phục vụ chủ yếu cho thanh niên, sinh viên và những người không có khả năng thanh toán cao.
- Bungaloue: là một dạng nhà trọ làm bằng gỗ hay các vật liệu nhẹ được lắp ghép lại với nhau.
- Làng du lịch: là quần thể các biệt thự hay bungalow được bố trí để tạo ra một không gian du lịch cho phép du khách vừa có điều kiện giao tiếp, vừa có không gian biệt lập khi họ muốn.
Phân loại theo lứa tuổi du lịch.
- Du lịch thanh niên.
- Du lịch thiếu niên.
- Du lịch trung niên.
- Du lịch người cao tuổi.
Phân loại theo hình thức tổ chức chuyến đi.
- Du lịch theo đoàn.
- Du lịch đơn lẻ.
- Du lịch theo gia đình.
Phân loại theo độ dài của chuyến đi.
- Du lịch ngắn ngày
- Du lịch dài ngày.
Phân loại theo phương thức hợp đồng.
- Du lịch trọn gói.
- Du lịch từng phần.
1.2.THỰC TIỄN PHÁT TRIỂN DU LỊCH. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
1.2.1. Thực tiễn phát triển du lịch ảnh hưởng đến kinh tế xã hội.
1.2.1.1.Những ảnh hưởng của du lịch đến nền kinh tế.
Du lịch có ảnh hưởng rất rõ nét lên nền kinh tế của địa phương thông qua việc tiêu dùng của du khách. Như vậy để hiểu rõ vai trò của du lịch trong quá trình tái sản xuất xã hội, trước hết cần nghiên cứu những đặc điểm cơ bản của việc tiêu dùng du lịch sẽ được đề cập dưới đây:
- Nhu cầu trong tiêu dùng du lịch là những nhu cầu tiêu dùng đặc biệt: nhu cầu nâng cao kiến thức, học hỏi, vãn cảnh, thư giãn, nghỉ ngơi…
- Du lịch nhằm thoả mãn các nhu cầu tiêu dùng các hàng hoá vật chất cụ thể, hữu thể và các hàng hoá phi vật thể. Khi đi du lịch du khách cần được ăn uống, cung cấp các phương tiện vận chuyển, lưu trú…Ngoài ra nhu cầu mở rộng kiến thức, quá trình cung ứng các sản phẩm và thái độ của người phục vụ rất được du khách quan tâm, đó là các nhu cầu về dịch vụ.
- Thông thường các hoạt động du lịch có liên quan đến hoạt động ngoài trời, tức là phụ thuộc khá nhiều vào thời tiết. Do đó việc tiêu dùng du lịch cũng mang tính thời vụ khá rõ nét.
- Một đặc điểm quan trọng và khác biệt giữa việc tiêu dùng du lịch và tiêu dùng các hàng hoá khác là việc tiêu dùng sản phẩm du lịch xẩy ra cùng lúc, cùng nơi với việc sản xuất ra chúng.
Với những đặc điểm kể trên, các mối quan hệ trong tiêu dùng du lịch được phân thành hai loại. Đó là quan hệ vật chất nảy sinh khi khách đến mua những hàng hoá cụ thể và quan hệ phi vật chất nảy sinh khi du khách tiếp xúc với phong tục tập quán, với di sản văn hoá và với tổ hợp thiên nhiên nói chung.
Như vậy ảnh hưởng của du lịch được thể hiện thông qua tác động qua lại của quá trình tiêu dùng và cung ứng sản phẩm du lịch.
Trên bình diện chung, hoạt động du lịch có tác dụng biến đổi cán câm thu chi của khu vực và của đất nước.
Khi Thuỷ Nguyên trở thành một điểm du lịch hấp dẫn, du khách từ mọi nơi đổ về sẽ làm cho nhu cầu về mọi hàng hoá tăng lên đáng kể. Việc đòi hỏi một số lượng lớn vật tư, hàng hoá các loại đã kích thích mạnh mẽ các ngành kinh tế có liên quan, đặc biệt là nông nghiệp, và công nghiệp chế biến. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Bên cạnh đó, các hàng hoá, vật tư cho du lịch đòi hỏi phải có chất lượng cao, phong phú về chủng loại, hình thức đẹp và hấp dẫn.
Điều này có nghĩa là yêu cầu hàng hoá phải được sản xuất trên một công nghệ cao, trình độ tiên tiến. Các chủ xí nghiệp bắt buộc phải đầu tư trang thiết bị hiện đại, tuyển chọn và sử dụng công nhân có tay nghề cao để sản xuất các mặt hàng đáp ứng nhu cầu của khách.
Qua phân tích trên đây ta thấy du lịch có tác dụng tích cực là làm thay đổi bộ mặt kinh tế khu vực.
Tuy nhiên về mặt kinh tế, du lịch cũng có một số ảnh hưởng tiêu cực. Rõ ràng nhất là tình trạng lạm phát cục bộ hay giá cả hàng hoá tăng cao, nhiều khi vượt quá khả năng chi tiêu của người dân địa phương, nhất là của những người mà thu nhập của họ không liên quan đến du lịch.
1.2.1.2.Những ảnh hưởng của du lịch tới xã hội.
Đối với xã hội, du lịch có vai trò giữ gìn, phục hồi sức khoẻ và tăng cường sức sống cho người dân. Trong một chừng mực nào đó du lịch có tác dụng hạn chế bệnh tật, kéo dài tuổi thọ và khả năng lao động của con người.
Thông qua hoạt động du lịch giúp cho mọi người hiểu nhau hơn, tăng thêm tình đoàn kết cộng đồng.
Những chuyến du lịch, tham quan tại các di tích lịch sử, các công trình văn hoá có tác dụng giáo dục tinh thần yêu nước, khơi dậy lòng tự hào dân tộc. Khi tiếp xúc với các thành tựu văn hoá của dân tộc, được sự giải thích cặn kẽ của hướng dẫn viên, du khách sẽ thực sự cảm nhân được giá trị to lớn của các di tích có thể không có quy mô đồ sộ trước mặt mà thường ngày họ không để ý đến. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Một trong những ý nghĩa của du lịch là góp phần cho việc phục hồi và phát triển truyền thống văn hoá dân tộc.
Cũng chính nhờ có du lịch, cuộc sống cộng đồng trở nên sôi động hơn, các nền văn hoá có điều kiện hoà nhập với nhau, làm cho đời sống văn hoá tinh thần của con người trở nên phong phú hơn.
Trong thời đại ngày nay, công ăn việc làm là một trong những vấn đề vướng mắc nhất của các quốc gia. Phát triển du lịch được coi là một lối thoát tý tưởng để giảm bớt nạn thất nghiệp, nâng cao mức sống cho người dân.
Bản chất của hoạt động du lịch là giao lưu, tiếp xuc giữa các các thể, giữa các cộng đồng có thế giới quan không phải luôn luôn đồng nhất. Qúa trình giao tiếp này cũng là môi trường để các ảnh hưởng tiêu cực thâm nhập vào xã hội một cách nhanh chóng. Nạn nghiện hút, mại dâm, trộm cướp không phải do du lịch đẻ ra. Trước khi du lịch phát triển nó đã tồn tại với các mức độ khác nhau. Nhưng không ai phủ nhận rằng hoạt động du lịch làm cho tệ nạn mại dâm gia tăng đáng kể. Ngày nay không phải đã hết những du khách có nhu cầu tìm của lạ ở nơi đến du lịch, không phải không còn những kể cò mồi, muốn làm giàu bằng cách bóc lột trên thân xác phụ nữ. Vì vậy du lịch là môi trường tốt để kẻ ham hưởng lạc và kẻ trục lợi gặp nhau.
Thông thường dưới con mắt người dân bản xứ, du khách là một kẻ giàu sang, lắm tiền. Vì vậy chính họ đã trở thành mục tiêu béo bở cho việc tống tiền, làm ăn của một số kẻ sống bằng nghề trộm cướp, đồng thời đối tượng khá hấp dẫn của những người ăn xin.
Do có cách nhìn nhận về đạo đức khác nhau, một số du khách không thấy những hành động, cử chỉ, cách ăn mặc…của mình là không phù hợp với phong tục truyền thống của cư dân nơi đến du lịch. Điều đó hoặc sẽ là một gương xấu được một số thanh niên bản địa thiếu bản lĩnh bắt chước vì cho là “hiện đại”, “mốt”, “văn minh”, hoặc sẽ gây cho người dân một ấn tượng không đẹp về dân tộc có những người khách đó. Không chỉ du khách xâm phạm đến thuần phong mỹ tục mà người dân bản xứ cũng có một phần trách nhiệm trong vấn đề này.
Dó có những di biệt về tôn giáo, văn hoá, chính trị cho nên có thể xẩy ra sự hiểu lầm, thậm chí dẫn đến hiềm khích, tạo nên căng thẳng giữa chủ và khách. Ngoài ra có thể xẩy ra mối bất hoà giữa cư dân địa phương và nhà cung ứng du lịch khi họ đưa khách đến. Thực chất của vấn đề là người làm du lịch chưa nắm được quan điểm tiếp cận cộng đồng, vì tài nguyên du lịch là của quốc gia, không ai có độc quyền hưởng lợi khi khai thác chúng.
1.2.2. Thực tiễn phát triển du lịch ảnh hưởng đến một trường. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Việc tiếp xúc, tắm mình trong thiên nhiên, được cảm nhận một cách trực giác sự hùng vĩ, trong lành, tươi mát và nên thơ của cảnh quan tự nhiên có ý nghĩa to lớn đối với khách. Nó tạo điều kiện cho họ hiểu biết thêm sâu sắc về tự nhiên, thấy được giá trị của thiên nhiên đối với đời sống con người. Điều này có ý nghĩa là bằng thực tiễn phong phú, du lịch sẽ góp phần rất tích cực vào sự nghiệp giáo dục môi trường, một vấn đề toàn thế giới đang hết sức quan tâm.
Nhu cầu du lịch nghỉ ngơi tại những khu vực có nhiều ảnh quan thiên nhiên đã kích thích việc tôn tạo, bảo vệ môi trường. Để đáp ứng nhu cầu du lịch phải dành những khoảng đất đai có môi trường ít bị xâm phạm, xây dựng các công viên bao quanh thành phố, thi hành các biện pháp bảo vệ môi trường, bảo vệ nguồn nước, không khí nhằm tạo nên môi trường sống phù hợp với nhu cầu của khách. Mặt khác, đẩy mạnh các hoạt động du lịch làm tăng mức tập trung người vào vùng du lịch. Việc đòi hỏi phải tối ưu hoá quá trình sử dụng tự nhiên.
Hiện nay có ít người làm du lịch thực sự quan tâm đến vấn đề môi trường. Có thể do không thấy rõ những ảnh hưởng tiêu cực của du lịch đến môi trường, cũng có thể do lợi ích trước mắt mà họ cố tình không quan tâm đến nguy cơ của hiểm hoạ này.
Hoạt động du lịch ồ ạt có nguy cơ làm suy thoái tài nguyên du lịch tự nhiên. Sự tập trung quá nhiều người và thường xuyên tại địa điểm du lịch làm cho thiên nhiên không kịp phục hồi và đi đến chỗ bị huỷ hoại. Sự có mặt của những đoàn người đã uy hiếp đời sống một số loài vật hoang dã, đẩy chúng ra khỏi nơi cư trú yên ổn trước đây để đi tìm nơi ở mới.
Không ít du khách còn để lại dấu ấn về sự có mặt của mình tại nơi du lịch. Tại nhiều điểm, do ý thức của du khách, trách nhiệm của người làm du lịch, sự quan tâm đầu tư và quản lý của chính quyền chưa tốt nên tình trạng xả rác thải bừa bãi trong mùa su lịch đã đến mức báo động. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
Mặt khác, do số lượng các công trình phục vụ khách tăng lên nhanh chóng vượt quá khả năng chịu tải của cơ sở hạ tầng nên chúng bị xuống cấp trầm trọng, góp phần gia tăng mức độ ô nhiễm môi trường.
Tất cả những điều đó với các mức độ khác nhau, đều ảnh hưởng xấu đến môi trường tự nhiên.
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1
Chương 1 đã nêu ra các cơ sở lý luận và cơ sở thực tiễn để phát triển du lịch. Các khái niệm về du lịch, khái niệm về vai trò của du lịch cũng như vai trò của du lịch đối với sự phát triển của kinh tế xã hội.
Đưa ra được khái niệm về khách du lịch, tài nguyên du lịch, các đặc điểm và tài nguyên du lịch của huyện.
Đưa ra các khái niệm về thực tiễn phát triển du lịch ảnh hưởng đến kinh tế xã hội và ảnh hưởng đến môi trường.
Dựa vào những cơ sở lý luận và thực tiễn đó có thể xây dựng bài khoá luận về những giải pháp phát triển du lịch được tốt hơn, trên cơ sở đó đưa ra được những giải pháp góp phần giúp cho du lịch của Thuỷ Nguyên ngày càng phát triển. Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên