Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

2.1. KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN.

Xưa kia Thuỷ Nguyên có tên gọi là Thuỷ Đường, vì kiêng tên huý của vua Đồng Khánh (Ứng Đường), nên đã đổi tên thành Thuỷ Nguyên từ năm 1886. Mảnh đất này đã được hình thành từ rất sớm vào loại cổ nhất ở Hải Phòng.

Thuỷ Nguyên là một huyện lớn nằm bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Phía Đông Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía tây nam giáp huỵện An Dương và nội thành Hải Phòng, phía đông nam là cửa biển Nam Triệu. Địa hình ở Thuỷ Nguyên khá đa dạng, dốc từ phía tây bắc xuống đông nam, vừa có núi đất núi đá vôi, vừa có đồng bằng và hệ thống sông hồ dày đặc. Đây chính là điều kiện tự nhiên thuận lợi để huyện Thuỷ Nguyên phát triển một nền kinh tế đa dạng về ngành nghề bao gồm cả nông nghiệp, công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, thuỷ sản, và du lịch.

Nằm ở cửa ngõ phía bắc thành phố Hải Phòng.

Diện tích tự nhiên: 243km2.

Đơn vị hành chính: 35 xã, 2 thị trấn, trong đó có 6 xã miền núi. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Trở về Thuỷ Nguyên không chỉ với những người con xa quê lâu ngày mà ngay cả chính những người dân nơi đây cũng không khỏi ngỡ ngàng về sự đổi thay, phát triển nhanh chóng của vùng đất này. Rất nhiều các công trình công nghiệp, dân dụng mọc lên san sát, đướng sá đựơc nâng cấp, mở rộng, đời sống nhân dân ngày càng được cải thiện. Thuỷ Nguyên đang đi đến một bước phát triển mới, một diện mạo mới với vị thế của một trong những trung tâm đô thị hành chính của thành phố Cảng trong tương lai không xa theo quy hoạch điều chỉnh của thành phố Hải Phòng đến năm 2020.

Tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng về kinh tế, đa dạng về ngành nghề Thuỷ Nguyên đã nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiên đại hoá bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Bảng Giá Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.2. TIỀM NĂNG DU LỊCH CỦA HUYỆN.

Thuỷ nguyên là huyện nằm ở phía Bắc thành phố Hải Phòng với thế mạnh về địa lý với tư cách là một huyện ven đô liền kề nội thành Hải Phòng, đây đựơc xem là chiếc cầu nối giữa Hải Phòng với thành phố Hạ Long, cửa khẩu quốc tế Móng Cái và các tỉnh đồng bằng Sông Hồng. Với các trục giao thông thuỷ bộ quan trọng chạy qua như quốc lộ 10, sông Cửa Cấm, sông Bạch Đằng…Từ Thuỷ Nguyên có thể toả đi các tỉnh đồng bằng Sông Hồng,các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, các tỉnh phía nam và các nước trong khu vực tưong đối thuận lợi. Điều này đưa đến cho Thuỷ Nguyên những lợi thế đặc biệt trong phát triển kinh tế xã hội nói chung và hoạt động du lịch nói riêng.

Huyện Thuỷ Nguyên là nơi tập trung nhiều di tích lịch sử và các tài nguyên tự nhiên, danh thắng vào loại bậc nhất ở Hải Phòng.Huyện có rất nhiều điều kiện thuận lợi để phát triển du lịch. Trong tương lai không xa huyện sẽ trở thành một trung tâm du lịch lớn nhất ở thành phố Hải Phòng.

2.2.1.Tài nguyên du lịch tự nhiên.

2.2.1.1. Vị trí địa lý. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Thuỷ Nguyên là một huyện thuộc miền duyên hải Hải Phòng, năng trong khoảng toạ độ 20o55 vĩ Bắc, 100o45 kinh Đông.

Thủy Nguyên được bao bọc bởi một hệ thống sông ngòi phía Tây Bắc là sông Hàn nối liền với sông Đá Bạc, Bạch Đằng kéo dài suốt từ phía Bắc và phia Đông của huyện. Ở ngang huyện là hồ sông Gía thơ mộng bốn mùa nước xanh trong với trữ lượng nước trên 3 triệu m3. Hồ sông Gía là niềm tự hào của huyện Thuỷ Nguyên, ở đây có hệ thống nước từ thượng nguồn xuống đến hạ nguồn và đổ ra biển. Nơi đây hiện nay đã trở thành một trung tâm du lịch, nghỉ dưỡng, hoạt động thể thao và giải trí lớn của huyện Thuỷ Nguyên.

Thuỷ Nguyên là huyện có cấu trúc địa hình phức tạp, ở vào vị trí chuyển tiếp của hai vùng tự nhiên đồng bằng sông Hồng và vùng núi Đông Bắc tạo cho Thuỷ Nguyên sự đa dạng về cảnh quan.

2.2.1.2.Địa hình địa mạo.

Địa hình địa mạo của huyện rất phong phú và đa dạng. Nét cơ bản của địa hình Thuỷ Nguyên là hai cấu trúc chính: phức nếp lồi Hạ Long và phức nếp lõm Hải Phòng. Ranh giới giữa hai cấu trúc này là đứt gãy hồ sông Gía.

  • Dạng thứ nhất: địa hình đồi núi ở phía Bắc huyện.

Gồm địa hình núi đá vôi, đồi núi đất chạy từ An Sơn qua xã Lại Xuân, Liên Khê, Lưu Kiếm, Minh Tân, Gia Minh, Gia Đức và Minh Đức.

Núi đá vôi thấp chia cắt mạnh.

Ở phía Bắc Thuỷ Nguyên độ cao các đỉnh thường thấp hơn so với Cát Bà, nhiều đỉnh thì cao vài chục mét nhưng đặc điểm hình thái vẫn có dạng sắc nét như Cát Bà, nhưng các chỉ số khác về độ dốc và độ sâu chia cắt giảm hơn. Sự có mặt của kiểu điạ hình đặc sắc này giúp tạo điều kiện cho việc thu hút khách.

  • Thuỷ Nguyên địa hình đồi núi đất bị chia cắt mạnh.
  • Địa hình hang động:

Trong quá trình hoạt động của vỏ trái đất đã ban tặng cho Thuỷ Nguyên một điạ hình karst trên cạn với nhiều hang động hấp dẫn và kì vĩ, nhiều hang động hiện nay vẫn còn giữ được vẻ hoang sơ, có các hang nổi tiếng như: hang Lương, hang Vua, hang Vải, hang Ma, hang Đốc Tít…Các hang động của Thuỷ Nguyên phần lớn nằm ở phía Bắc của huyện.

Hầu hết các hang động ở đây đều có độ dài dưới 200m, các hang có độ dài lớn nhất không vượt quá 500m. Vị trí cửa hang thường tập trung ở mức 4-6m, 15-20m hoặc 30m, chiều rộng từ 5-10mvà cao 10-18m.Các hang ở Thuỷ Nguyên thường là không lớn nhưng lại rất đẹp và có nhiều thạch nhũ và gắn liền với quá trình chống giặc xâm lược của nhân dân trong huyện.

Do vậy đây chính là tài nguyên du lịch hấp dẫn để thu hút khách du lich đến với huyện.

2.2.1.3. Khí hậu. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Khí hậu Thuỷ Nguyên mang tính nhiệt đới, nóng ẩm, gió mùa do sự chi phối của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, đặc biệt là không khí cực đới nên khí hậu ở đây chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3.

Khí hậu của Thuỷ Nguyên bị chi phối sâu sắc bởi khí hậu của biển,làm giảm bớt nhiệt độ, độ ẩm. Khí hậu thường xuyên biến động của yếu tố nhiệt độ trong mùa đông và yếu tố mưa trong mùa hạ.

Lượng mưa trung bình hàng năm của huyện là 162mm, năm cao nhất là 1700mm, độ ẩm không khí bình quân là 82-85%.

2.2.1.4.Tài nguyên nước.

Mạng lưới sông ngòi:

Thủy Nguyên giống như một ốc đảo bao quanh và cả tròng lòng huyện Thủy Nguyên là mạng lưới sông ngòi dày đặc.

Chất lượng nước, thành phần hóa học của nước:

Nước sông ngòi nói chung đều chứa chất khoáng chủ yếu là: Ca++, Na+, Mg++ Thủy nguyên là vùng hạ lưu sông ven biển, nước mặn từ biển xâm nhập vào làm cho hàm lượng muối Natriclorua khá lớn trong nước sông.

Độ khoáng hóa ở đây thay đổi theo mùa, mùa lũ thấp hơn mùa cạn.

Nước ngầm:

Thuỷ Nguyên ngoài nguồn nước mặt dồi dào còn có nguồn nước ngầm khá phong phú, là điều kiện tốt góp phần cho việc giải quyết nguồn nước cấp cho đô thị.

Là điều kiện tốt góp phần giúp cho việc giải quyết nguồn nước cấp cho đô thị, thường mực nước chỉ cách mắt đất 0,5 – 2m.

2.2.1.5. Đất đai:

Đất đai phù sa màu nâu xám nhạt có ở Lại Xuân có khả năng trồng lúa và hoa màu. Đất phù sa thường có ở Mỹ Đồng đất này có khả năng trồng lúa. Đất đồi núi và thung lũng thường phân bố ở An Sơn, Phù Ninh, Quảng Thanh, Chính Mỹ, Kênh Giang, Lưu Kiếm, Minh Tân, Ngũ Lão có khả năng trồng lúa và hoa màu như cây chè và dứa.

Đất cát ven sông ven biển nằm ở các xã dọc các dòng sông. Đất chua mặn ở phía nam huyện đất này phân bố ở ven sông, ven biển cần cải tạo.

2.2.1.6.Tài nguyên động thực vật: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

  • Thực vật:

Thuỷ Nguyên có nhiệt đới gió mùa, bị chi phối mạnh khí hậu của biển nên thực vật xanh tốt và sinh trưởng mạnh mẽ quanh năm. Cùng với tính chất đa dạng của điạ hình địa chất đã tạo nên tính đa dạng của các kiểu thực bì và phong phú về nguồn gen.

  • Động vật:

Cho tới nay trên vùng đất của Thuỷ Nguyên đã không con những động vật hoang dã.Đó là hậu quả của một quá trình khai phá rừng hoang để mở rộng địa bàn cư trú và sản xuất của con người.

Tuy nhiên hiện nay vẫn còn một số động vật tồn tại và phát triển trên địa bàn Thuỷ Nguyên thường gặp ở các núi đá như: rắn, dê, tắc kè và các loài chim…

Hiện nay Thuỷ Nguyên đang triển khai kế hoạch phủ xanh đồi trọc, trồng các loại cây có ích và thả các động vật hoang dã để cân bằng môi trường sinh thái. Trong tương lai có thể quy hoạch nơi đây thành một khu bảo tồn thiên nhiên.

Bảng 1: hệ thống số liệu về tài nguyên tự nhiên:

  • Nhận xét về tài nguyên du lịch tự nhiên:

Tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện Thuỷ Nguyên khá phong phú và đa dạng được hình thành bởi đặc điểm tổng hợp của các yếu tố địa chất, địa hình, khí hậu, thuỷ hải văn, thảm thực vật và thế giới động vật.

Với sự phong phú về tài nguyên, Thuỷ Nguyên có khả năng phát triển nhiều loại hình du lịch như: sinh thái, thể thao, nghỉ dưỡng, thăm quan, thắng cảnh và du lịch cuối tuần. Nếu được đầu tư đúng hướng trong tương lai không xa đây sẽ trở thành nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên quan trọng cho sự phát triển của du lịch Thuỷ Nguyên, đặc biệt là phù hợp với loại hình du lịch leo núi,du lịch sinh thái.

Tuy nhiên do đặc điểm về thời tiết, khí hậu và của các yếu tố bất lợi như: bão, gió, mưa…nên hoạt động du lịch Thuỷ Nguyên sẽ bị ảnh hưởng nếu chỉ khai thác các lợi thế về tài nguyên du lịch tự nhiên. Vì vậy, đối với du lịch Thuỷ Nguyên điều quan trọng để phát triển hoạt động du lịch là phải khai thác các giá trị về tài nguyên du lịch nhân văn, đồng thời phải tổ chức được các loại hình vui chơi giải trí…vào những thời gian có điều kiện bất lợi.

2.2.2. Tài nguyên du lịch nhân văn. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

2.2.2.1. Dân cư:

Vùng đất Thuỷ Nguyên hình thành từ rất sớm, dân cư sống tại mảnh đất này có mặt từ rất xa xưa.

Theo điều tra dân số của huyện Thuỷ Nguyên đến năm 2004 có 284.400 nghìn người, mật độ dân số bình quân là 1.171 người/km2. Như vậy Thuỷ Nguyên có mật độ dân số khá cao đứng vào nhất, nhì các huyện ngoại thành Hải Phòng.

2.2.2.2. Các di tích lịch sử văn hoá:

Thuỷ Nguyên là một vùng đất giàu đẹp cả về thiên nhiên và nhân văn, mảnh đất gắn liền với nhiều sự kiện lịch sử oanh liệt chống giặc ngoại xâm. Nhiều di tích đã tror thành niềm khao khát cho du khách và những nhà nghiên cứu dù một lần trong đời được đến tận nơi để chiêm ngưỡng để thả cho trí tưởng tượng trở về với quá khứ hào hùng của non sông nước Việt mới thấy hết cái vĩ đại của thế trận Bạch Đằng. Một số di tích không những có giá trị lịch sử cao mà còn là những tác phẩm kiến trúc nghệ thuật độc đáo mang đặc trưng văn hoá của vùng duyên hải như: đền thờ Trần Quốc Bảo, đình Đồng Lý và đặc biệt là đình Kiền Bái một kiến trúc cổ nhất của Thuỷ Nguyên hiện nay.

  • Đền thở Trần Quốc Bảo:

Ngôi đền nằm ở phía Nam chân núi Hoàng tôn, thuộc thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng.

Đền thờ Trần Quốc Bảo, vị tướng của vương triều Trần có công trong cuộc kháng chiến chống quân xâm lược Nguyên Mông của dân tộc ta ở thế kỷ 13.

Trần Quốc Bảo là cháu gọi vua Trần Nhân Tông (1279 – 1293) bằng ông. Trong trận chiến Bạch Đằng năm 1288, Trần Quốc Bảo đã hi sinh, góp phần quan trọng vào thắng lợi vĩ đại của quân và dân nhà Trần. Vì vậy sau khi ông mất, triều đình nhà Trần đã truyền cho nhân dân địa phương vùng Tràng Kênh, nơi ông đóng quân và hi sinh, lập miếu thờ và truy phong làm Thái Tử. Các triều đại phong kiến tiếp theo đều thừa nhận công lao của Trần Quốc Bảo và suy tôn là Thượng Đẳng Phúc Thần. phong sắc Thành Hoàng Làng Tràng Kênh. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Đền thờ Trần Quốc Bảo được xây dựng vào thời Trần, trải qua nhiều lần trùng tu, lần gần đây nhất là vào năm 1994. Đền gồm có hai toà nhà song song Tiền Đường và Hậu Cung. Ngôi Tiền đường có kiến trúc độc đáo với 2 tầng, 8 mái đao cong, đắp hoạ tiết trang trí lưỡng long, song phụng. Hậu cung là nơi đặt tượng thờ Trần Quốc Bảo.

Hàng năm, hội đền bắt đầu vào mồng 6 tháng giêng âm lịch và kéo dài sau đó khoảng 5 ngày. Đây là một lễ hội có quy mô lớn nhất ở huyện Thuỷ Nguyên được duy trì và tổ chức đều đặn hàng năm, có sức lôi cuốn sự tham gia đông đảo của cả một vùng cư dân rộng lớn Hải Phòng – Quảng Ninh.

  • Đình Đồng Lý:

Đình Đồng Lý thuộc xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Đình quay hướng Đông Bắc, nhìn thẳng ra cánh đồng lúa nước trũng, vốn xưa kia là dấu vết của một dòng sông cổ dẫn nước ra sông Cấm chảy qua địa phận xã Mỹ Đồng. Đình Đồng Lý có kiến trúc đan xen hài hoà giữa nghệ thuật trang trí thời Lê và nghệ thuật thời Nguyễn. Các bộ phận cấu thành bộ khung ngôi đình như: cột, xà, hoành, rường…đều bằng gỗ lim, đục trạm trang trí, tỉ mỉ với nhiều mảng đề tài rồng bay, hoa lá, cỏ cây sinh động thể hiện ước vọng ngàn đời của người nông dân những mong mưa thuận, gió hoà, dân khang vật thịnh.

Đình Đông Lý thờ danh nhân Sỹ Quyền. Sỹ Quyền là người đất Trung Nguyên( phương Bắc), vì tránh loạn Vương Mãng phải sang ẩn cư tại trang Đồng Lý, đạo Hải Đông thuộc đất Giao Châu (lãnh thổ Bắc Bộ nước ta hiện nay). Sỹ Quyền theo Hai Bà Trưng tập hợp nhân dân nổi dậy đánh đuổi giặc Tô Định ra khỏi bờ cõi.

Truyền thuyết và thần tích lưu giữ tại Đồng Lý đã dành những lời tốt đẹp nhất ca ngợi Sỹ Nguyên cùng đội dân binh trang Đồng Lý do ông dẫn đầu, tham gia khởi nghĩa. Trong trận quyết chiến tả xung, hữu đột ở Hồ Lãng Bạc, Sỹ Nguyên đã anh dũng hy sinh giữu trận tuyến. Tương truyền xác ông trôi về đến bến sông thuộc địa phận trang Đồng Lý thì dừng lại, dân làng được báo mộng iền tổ chức an táng trọng thể theo nghi thức vương hầu. Xứ đồng nơi dân làng đươc báo mộng liền tổ chức an táng trọng thể theo nghi thức vương hầu. Xứ đồng nơi dân làng tiễn đưa Sỹ Quyền hoá sinh vào cõi vĩnh hằng nay vẫn còn trong di ngôn của các cụ già người dân địa phương.

Đình Đồng Lý, xã Mỹ Đồng, huyện Thuỷ Nguyên, Hải Phòng được nhà nước xếp hạng di tích lịch sử văn hoá năm 1993.

  • Đình Kiền Bái: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Đình Kiền Bái nằm ở xã Kiền Bái, huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng. Các vị thần được thờ ở Đình là:

  • Trung Quốc Cảm Ứng thượng đẳng thần.
  • Lôi Công Uy Diệu thượng đẳng thần.

Đình Kiền Bái được xây dựng vào cuối thế kỷ 17. Đình có cấu trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung. Tiền đường, trừ gian giữa, 4 gian đều bưng gỗ, lát ván sàn. Trên cột cái, vì xà chính ghi năm tạo dựng (1681) và tên những người đóng góp công đức. Đây là công trình kiến trúc điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc thời Lê hiện còn lại ở Hải Phòng. Điểm nổi bật của đề tài trang trí trên công trình kiến trúc nghệ thuật này là bên cạnh hình ảnh rồng, phượng, hoa lá cách điệu, tia lửa, lưỡi mác….còn thấy rất nhiều cảnh sinh hoạt dân gian rất tự nhiên, sinh động.

Đình Kiền Bái thờ hai vị thành hoàng Ngọc và Bích, là hai anh em sinh đôi. Tương truyền lúc mới sinh hai vị đều khôi ngô tuấn tú, nhưng đều mất sớm, rất linh thiêng, đã nhiều lần phù hộ dân làng Kiền có cuộc sống yên ổn, làm ăn thịnh vượng. Khi quân Nguyên sang xâm lược nước ta (1287 – 1288), hai vị âm phù vua Trần đánh giặc. Vua cho lập đền thờ và phong thần hiệu: Trung Quốc Cảm Ứng thượng đẳng thần và Lôi Công Uy Diệu thượng đẳng thần.

Thuỷ Nguyên là vùng đất được hình thành từ lâu đời vói nhiều di chỉ khảo cổ đã được phát hiện như di chi Tràng Kênh(xã Minh Đức), Việt Khê (xã Phù Ninh).Nơi đây còn bảo lưu một kho tàng văn hoá vật thể và phi vật thể đặc sắc. Sự đa dạng về tôn giáo tín ngưỡng với hàng trăm lễ hội văn hoá dân gian đã tạo nên tinh thống nhất trong đa dạng văn hoá của mảnh đất này.

Theo thống kê hiện nay trên địa bàn còn lưư giữ đựơc trên 150 di tích văn hoá,lịch sử cách mạng,trong đó có 23 di tích được xếp hạng cấp quốc gia và 36 di tích được xếp hạng cấp thành phố.Tiêu biểu là cụm di tích tưởng niệm trạng nguyên Lê Ích Mộc ở xã Quảng Thanh,đình Kiền ở xã Kiền Bái,đền Trần Quốc Bảo ở thị trấn Minh Đức.

Hiện nay một số các di tích ở Thuỷ Nguyên đã trở thành những điểm tham quan du lịch hấp dẫn như:

  • Đền thờ Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức).
  • Chùa Hàm Long (thị trấn Núi Đèo).
  • Chùa Phù Lưu (xã Phù Ninh).
  • Chùa Mỹ Cụ (xã Chính Mỹ).
  • Chùa Khuông Lư (xã Ngũ Lão).
  • Chùa Lâm (xã Lâm Động).
  • Đình Kiền (xã Kiền Bái).
  • Chùa Hang Luồn (thị trấn Minh Đức).

Ngoài ra còn có hai nhà bảo tồn di chỉ Tràng Kênh và Việt Khê.

Những di tích lịch sử văn hoá gắn liền với sông Bạch Đằng lịch sử. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Nói đến Thuỷ Nguyên trước hết phải nói đến sông Bạch Đằng lịch sử. Nơi đây Ngô Quyền năm 938, Lê Hoàn năm 981, Hưng Đạo Vương Trần Quốc Tuấn năm 1228 dã đánh tan các đạo thuỷ binh lớn của giặc phương Bắc. Thuỷ Nguyên có nhiều địa danh gắn liền với chiến thắng Bặch Đằng như: Lưu Kỳ, Lưu Kiếm…Các di tích lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng là một tài nguyên du lịch nhân văn lớn. Việc xây dựng, phục chế lại các sự kiện lich sử thời Trần là rất cần thiết điều đó sẽ tạo ra một sản phẩm du lịch hết sức đặc sắc và độc đáo, chúng ta có cơ hội giới thiệu với khách du lịch bốn phương về những chiến công hiển hách của ông cha ta.

  • Những di tích lịch sử văn hoá ở Tràng Kênh:

Khu Tràng Kênh nằm ở phía Đông Bắc huyện Thuỷ Nguyên là một quần thể núi đá vôi với nhiều hang động, áng hồ, nơi đây dược mệnh danh là “Hạ Long cạn” của Thuỷ Nguyên. Ở Tràng Kênh có núi U Bò đứng bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử. Tràng Kênh là vùng đất cổ được biết đến qua di chỉ khảo cổ học nổi tiếng, hiện còn bảo lưu trong lòng đất. Đây là một địa danh lịch sử từ lâu đã đi vào tiềm thức của ngươi dân thành phố Hải Phòng như một ký ức không thể nào quên về một chiến công vĩ đại chông giặc ngoại xâm của dân tộc ta cách đây trên 7 thế kỷ. Khu di chỉ Tràng Kênh đã được xếp hạng di tích lịch sử văn hoá và danh lam thắng cảnh năm 1962.

Bảng 2: Hệ thống các di tích lịch sử văn hoá ở Thuỷ Nguyên:

  • Nhận xét:

Tài nguyên nhân văn của Thuỷ Nguyên khá phong phú và có giá trị cao đối với du lịch. Thuỷ Nguyên cũng là mảnh đất in dấu nhiều sự kiện lịch sử trọng đại của dân tộc và đồng thời cũng là nơi xuất hiện những người cổ đại qua các di tích mộ cổ, không những thế các di tích này còn có giá trị về lịch sử, giá trị kiến trúc nghệ thuật. Nhiều di tích lại nằm gần các khu danh lam thắng cảnh như Hang Vua, đền thờ Trần Quốc Bảo và di tích về bãi cọc trận chiến Bạch Đằng trên khu vực hồ sông Gía, hang Đốc Tít trong thời kỳ chống thực dân Pháp, càng làm tăng thêm giá trị về du lịch.

2.2.2.3. Các lễ hội:

Lễ hôi truyền thống có một vị trí quan trọng trong đời sống, văn hoá tinh thần của người dân. Lễ hội truyền thống của người Việt xuất phát từ phong tục thờ cúng tổ tiên hướng về cội nguồn. Các lễ hội cũng là một tiềm năng du lịch rất quan trọng, cần chú ý đầu tư khôi phục và phát triển. Trong xu hướng hiện nay du lịch lễ hội thu hút rất đông các du khách thập phương trong nước và quốc tế. Ở Thuỷ Nguyên có một số các lễ hội quan trong có thể phục hồi và phát triển và phuc vụ cho du lịch:

  • Lễ hội mang tính chất văn hoá dân gian: hội Phục Phả, hội Đền Trần Quốc Bảo là lễ hội Bạch Đằng năm xưa.
  • Hội mở mặt được tổ chức vào những ngày đầu xuân, đây là một loại hình độc đáo hiếm nơi nào có.
  • Hội chơi đu đầu xuân, được tổ chức vào dịp tết ở xã An Lư.
  • Những môn thể thao không thể thiếu trong các lễ hội như: bơi chải, đua thuyền, bắn cung, đấu vật…

 Bảng 3: Hệ thống các lễ hội dân gian ở Thuỷ Nguyên: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

  • Nhận xét:

Thuỷ Nguyên là miền đất có nhiều lễ hội dân gian truyền thống đặc sắc, lễ hội lịch sử, trong đó có những lễ hội nổi tiếng không chỉ trong thành phố Hải Phòng mà trong cả nước.

Các lễ hội ở Thuỷ Nguyên rất đặc sắc và độc đáo, tuy nhiên các lễ hội ở đây vẫn chưa có được sự quan tâm của các cấp, các ngành. Nếu được sự quan tâm đầu tư đúng mức vào khôi phục các lễ hội truyền thống để phục vụ cho du lịch thi trong thời gian tới du lịch lễ hội của huyện sẽ rất phát triển và thu hút rất đông du khách.

2.2.2.4. Các loại hình nghệ thuật dân gian.

Hát Đúm một loại hình dân gian có từ lâu đời, hình thức nghệ thuật này thể hiện đức tính nết na, thuỷ chung của người con gái Bạch Đằng.

Hát ca trù là loại hình văn hoá cổ nhất ở Đông Môn- Hoà Bình.

  • Hội hát Đúm:

Hàng năm cứ vào dịp đầu xuân, lễ hội hát Đúm, một truyền thống văn hoá đặc sắc của người dân Thuỷ Nguyên ( Hải Phòng) lại được tổ chức tại 3 xã Phục Lễ, Phả Lễ và Lập Lễ.

Trải qua bao thăng trầm, đến nay hát đúm đã dần tìm lại những nét nguyên sơ và phát triển. Nhân dân Thuỷ Nguyên xem hát đúm như một ( báu vật) trong đời sống tinh thần.

Hát Đúm, hình thức nam nữ đối đáp như lối giao duyên. Ở đồng bằng Bắc Bộ chỉ Hải Phòng với ba “trung tâm” hát Đúm là huyện Thuỷ Nguyên, thị xã Đồ Sơn và huyện Cát Hải nhưng tiêu biểu nhất là hội hất Đúm xã Phục Lễ ( Thuỷ Nguyên).

Theo các cụ ở xã Phục Lễ thì hát Đúm ra đời cùng thời với thuở “khai sinh lập địa” trên mảnh đất Tổng Phục. Lúc bấy giờ tổng phục bao gồm 4 xã hiện nay là Phục Lễ, Phả Lễ, Lập Lễ và Tam Hưng. Trừ xã Tam Hưng, 3 xã vẫn lưu giữ và không ngừng phát triển lễ hội hát Đúm.

Theo truyền thống lời của hát Đúm chủ yếu thuộc hai thể loại chính là lục bát và song thất lục bát, đa dạng về làn điệu như trống quân, cò lả, quan họ… Mỗi cuộc hát có trình tự thường là gặp gỡ, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát mời trầu, hát cưới, kết thúc là hát tiễn, hát ra về. Hát Đúm gắn liền với lễ hội mở mặt của thiếu nữ ở Tổng Phục. Những cô gái tuổi trăng tròn, đôi má ửng hồng hé dần ra sau tấm khăn che mặt, rạng rỡ nét xuân quê, cất giọng hát tha thiết vấn bên trai, rồi lại đến lượt bên trai vấn, bên gái đáp… Có những cô gái, chàng trai say sưa hát từ mờ sáng cho tới đêm khuya, không ít cặp đã nên duyên vợ chồng vì yêu mến tài hát của nhau. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Những ngày đầu xuân, trước sân đình làng, bao tài danh hát Đúm quanh vùng, khách thập phương và trai thanh gái tú đến, xem hội gặp gỡ, làm quen, cùng nghe nhau hát.

Để phát huy lễ hội hát Đúm, một truyền thống văn hoá đặc sắc của địa phương, các cấp uỷ đảng, chính quyền huyện Thuỷ Nguyên đã có chủ trương, biện pháp khôi phục lại truyền thống và coi nó như một “báu vật”.

  • Hát ca trù ở xã Đông Môn:

Có lẽ khó có loại hình nghệ thuật truyền thống nào chứa đựng tình cảm thiết tha sâu lắng đến tột cùng như ca trù. Loại hình nghệ thuật vừa bác học, vừa dân gian này được hoà quyện bởi giọn ca ngọt ngào của các ca nương cộng với nhịp trống, nhịp phách, tiếng trầm đục của đàn đáy làm mê hoặc lòng người. Trải qua bao thăng trầm của lịch sử, ca trù thời nay vẫn có sức sống riêng và là mạch nguồn bền bỉ song hành cùng với các loại hình nghệ thuât dân gian khác tạo nên bản sắc văn hoá dân tộc.

Ở thành phố Hải Phòng có một làng được coi là cái nôi ca trù miền duyên hải, Hải Phòng. Đó là ca trù làng Đông Môn ( thuộc xã Hoà Bình, huyện Thuỷ Nguyên).

Ca trù Đông Môn được thịnh hành nhất vào thế kỷ 19 đến giữ thế kỷ 20. Bà chúa Sang (Phạm Thị Sang) là đào hát được chúa Trịnh phong là thứ phi đã mang nghệ thuật ca trù cề quê hương Đông Môn truyền dạy. Làng có nghệ nhân Tô Tiến Trọng đoạt được bằng cấp cao của nghệ thuật ca trù nên được lập bàn thờ tổ nghề và được bầu làm trùm trưởng giáo phường. Ông là người dạy ca trù cho người thân trong họ, sau đó là dân làng và biến làng Đông Môn thành một ca quán của cả vùng duyên hải. Những năm 1940 – 1950, ca trù trở thành nghề kiếm cơm của nhiều dòng họ trong làng như họ Tô, Phạm, Nguyễn.

Sau gần 20 năm, hiện nay ca trù đã có vị thế của mình. Ca trù Đông môn đã đi biểu diễn nhiều nơi và gặt hái được những thành công nhất định.

2.2.2.5. Các sản vật nổi tiếng của địa phương như:

Làng cau Cao Nhân, bưởi Lâm Động, dừa Kỳ Sơn, Lại Xuân, hay chè xanh Lưu Kiếm nay đã trở thành sản vật nổi tiếng mang lại nguồn lợi kinh tế cho nhân dân trong vùng.

2.2.2.6. Văn hoá ẩm thực: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Rượu ngán, chả cuốn hành trần, với địa hình đồi núi vừa đồng bằng, Thuỷ Nguyên có những giống chim cút, chim ngói độc đáo và hấp dẫn. Ở Thuỷ Nguyên có món sứa là món ăn theo mùa vụ, phổ biến vào tháng 3 (âm lịch) rất hấp dẫn và ngon miệng. Đây là những món ăn mà du khách đến đây có thể thưởng thức và chắc chắn sẽ nhớ mãi hương vị của Thuỷ Nguyên qua những món ăn đặc sản này.

Bảng 4: Các làng nghề truyền thống ở Thuỷ Nguyên:

  • Nhận xét:

Thuỷ nguyên có rất nhiều các làng nghề truyền thống có sức hút du lịch rất cao.

Đa phần các xã ở Thuỷ Nguyên đều có các làng nghề truyền thống, một số làng nghề đã dần bị mai một, nhưng vài năm trở lại đây để đẩy mạnh phát triển du lịch của huyện thì các cấp, chính quyền đã cho khôi phục lại một số làng nghề truyền thống.

Tài nguyên du lịch nhân văn ở Thuỷ Nguyên rất phong phú và đa dạng. Tuy nhiên việc khai thác các tiềm năng trên phục vụ cho du lịch còn hạn chế, các di tích phục vụ du lịch còn quá ít. Lý do chủ yếu là cơ sở hạ tầng kém, giao thông chưa thuận tiện, mặt khác các di tích đang bị xuống cấp nghiêp trọng. Chính vì vậy cần phải có sự quan tâm, đầu tư của các cấp các ngành trong việc tu sửa các di tích để làm cho du lịch ở Thuỷ Nguyên ngày càng phát triển.

2.3. THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH HUYỆN THỦY NGUYÊN.

2.3.1. Công tác quản lý nhà nước về du lịch.

Công tác tuyên truyền, phổ biên văn bản pháp luật về du lịch: Chú trọng triển khai tuyên truyền, phổ biến các văn bản pháp luật liên quan đến du lịch như: Luật Du lịch, Nghị ĐỊNH 92/2007/NĐ-CP ngày 01/06/2007 của chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Du lịch, thông tư 88 và 89/2008/TT- BVHTTDL ngày 30/12/2008 của Bộ Văn Hoá Thể Thao và Du lịch hướng dẫn thực hiện Nghị định 92/2007/NĐ- CP, Nghị định số 140/2007/NĐ- CP ngày 09/10/2007 của chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực du lịch… cho đội ngũ cán bộ làm công tác văn hoá ở cơ sở, các tổ chức, cá nhân có hoạt động kinh doanh dịch vụ du lịch trên địa bàn và nhân dân địa phương.

Công tác kiểm tra hướng dẫn việc chấp hành pháp luật: Phối hợp với thanh tra Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch triển khai kiểm tra, rà soát đánh giá việc chấp hành các căn bản pháp luật về du lịch đối với các cơ sở kinh doanh lưu trú trên địa bàn, đặc biệt là việc chấp hành các quy định về điều kiện hoạt động kinh doanh lưu trú du lịch như: Đăng ký kinh doanh, giấy xác nhận đủ điều kiện về an ninh và trật tự và an toàn xã hội, phòng cháy chữa cháy, vệ sinh an toàn thực phẩm (đối với cơ sở lưu trú du lịch có cung cấp dịch vụ ăn uống). Qua kiểm tra đã góp phần chấn chỉnh, định hướng giúp các cơ sơ kinh doanh đúng với quy định của pháp luật.

2.3.2. Nguồn nhân lực phuc vụ cho du lịch. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Nguồn nhân lực này bao gồm cả cộng đồng dân cư địa phương và những người trực tiếp tham gia, phục vụ du lịch như nhân viên khách sạn, nhà hàng, nhân viên các công ty lữ hành, các cơ sơ dịch vụ du lịch khác.

Thái độ của dân cư địa phương tại điểm du lịch chịu ảnh hưởng nhiều bởi nhiều yếu tố như đặc điểm dân tộc, tôn giáo, địa bàn cư trú, đời sống kinh tế – xã hội, mức thu nhập và đặc biệt là do mức ảnh hưởng của hoạt động du lịch.

Dân cư ở Thuỷ Nguyên trình độ còn nhiều hạn chế, do có điều kiện chưa phát triển bằng ở khu vực thành phố, nên đội ngũ nhân viên làm việc trong các công ty lữ hành, nhà hàng, khách sạn có trình độ đại học còn ít, chủ yếu là những người được đào tạo qua trung cấp. Đây là hạn chế đối với du lịch ở Thuỷ Nguyên vì vai trò của những người làm trong ngành du lịch là rất quan trọng họ là những người am hiểu về mọi mặt, mọi lĩnh vực của cuộc sống xã hội như tình hình kinh tế, chính trị, khoa học, văn hóa, nghệ thuật, luật pháp…họ chính là những người giúp khách du lịch hiểu biết về nơi đến du lịch, những phong tục tập quán, văn hoá của người dân địa phương, đặc biệt là giúp khách du lịch quốc tế hiểu biết về văn hoá và con ngưòi Việt Nam. Chính vì vậy mà huyện Thuỷ Nguyên cần chú trọng hơn đến việc đào tạo nguồn nhân lực phục vụ trong ngành du lịch Thuỷ Nguyên các công ty Lữ Hành đa phần là các công ty nhỏ, chưa có nhiều các công ty lớn và hoạt động có quy mô, số lượng các công ty con ít

2.3.3. Cơ sở vật chất kỹ thuật phục vụ cho du lịch.

  • Hệ thống các cơ sở phục vụ lưu trú:

Trong những năm qua cùng với quá trình xây dựng và phát triển trên địa bàn huyện Thuỷ Nguyên đã hình thành một hệ thống các cơ sở lưu trú đáng kể, bước đầu đáp ứng được nhu cầu về nghỉ dưỡng của khách lưu trú.

Trên địa bàn huyện hiện có trên 40 cơ sở đang hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh dịch vụ lưu trú tiêu biểu là các khách sạn Hoa Thị, Quỳnh Trang, Hoà Bình, khách sạn Đồng Cau, City View…Tuy nhiên ngoài City View được xếp hạng 2 sao, thì hầu hết các cơ sở lưu trú khác đều có quy mô vừa và nhỏ, chất lượng phục vụ hạn chế, phần lớn chỉ dừng lại ở việc cung cấp dịch vụ lưu trú đơn thuần, thiếu vắng các dịch vụ bổ sung khác như: Spa, thể dục thể hình, thẩm mỹ, vật lý trị liệu…Điều này đã ảnh hưởng nhiều đến hệ số sử dụng buồng phòng, doanh thu của các đơn vị cũng như chất lượng phục vụ khách (đặc biệt là với những đối tượng khách có khả năng thanh toán cao). Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

  • Hệ thống cơ sở phục vụ nhu cầu ăn uống:

Hiện nay, toàn huyện có khoảng gần 20 nhà hàng kinh doanh dịch vụ ăn uống có quy mô lớn, chất lượng đảm bảo với đội ngũ cán bộ nhân viên kinh nghiệm có thể phục vụ cùng lúc từ 100-300 lượt thực khách/nhà hàng, thêm vào đó là hệ thống những nhà hàng vừa và nhỏ cùng tham gia hoạt động nhằm thoả mãn tối đa nhu cầu của khách hàng.

  • Hệ thống các cơ sở phục vụ nhu cầu vui choi giải trí:

Tuy xuất hiện với mật độ còn thưa và hầu như mới ở giai đoạn hình thành, các điểm vui chơi giải trí trên địa bàn huyện Thuỷ Nguyên cũng từng bước được đầu tư hiện đại, đáp ứng các nhu cầu đa dạng về vui chơi giải trí lành mạnh của du khách như các câu lạc bộ âm nhạc, quán cà phê internet, quán karaoke…

2.3.4.Kết cấu hạ tầng phục vụ cho du lịch.

  • Hệ thống giao thông vận tải:

Mạng lưới giao thông huyện Thuỷ Nguyên được đánh giá là khá thuận lợi với hệ thống cầu, phà được đầu tư hiện đại với nhiều tuyến huyết mạch quan trọng chạy qua, tạo thuận lợi cho quá trình thông thương với các tỉnh thành trong khu vực như: Khu du lịch Hạ Long – Quảng Ninh và các tỉnh trung du miền núi phía Bắc, các tỉnh duyên hải Bắc Bộ…

Huyện Thuỷ Nguyên hiện có 405 km đường, mật độ bình quân 1,67 km/km2. Trong đó gồm 30 km đường quốc gia, 36 km đường thành phố quản lý, 50 km đường do huyện quản lý và 300 km đường liên thôn, liên xã. Các tuyến đường quốc gia chạy qua huyện gồm có đoạn quốc lộ 10 cũ (cầu Bính – Phà Rừng) dài 16 km và đoạn quốc lộ 10 mới từ cầu Kiền đến cầu Đá Bạc dài 14 km. Các tuyến đường do thành phố quản lý gồm: đường tỉnh lộ 351 và 352. Đường do huyện quản lý gồm 18 tuyến có nền đường rộng trung bình từ 5 – 7 m. Hiện nay, 100% các xã có đường ôtô vào đến trung tâm. Bên cạnh đó là công tác quản lý phương tiện, giải toả hành lang an toàn giao thông được tăng cường, chế độ duy tu, sửa chữa hệ thống đường giao thông được thực hiện thường xuyên đã đáp ứng nhu cầu vận chuyển hàng hoá cũng như phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân và khách du lịch. Đây cũng chính là nền tảng quan trọng cho các hoạt động khai thác du lịch trên địa bàn.

  • Hệ thống thông tin liên lạc: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Mạng lưới thông tin liên lạc có những bước phát triển nhanh, đảm bảo sự thuận tiện, thông suốt. Toàn huyện đạt mức 20 máy/ 100 dân. Đảm bảo 100% các thôn, xóm vùng sâu, các xã miền núi đã có điện thoại, đáp ứng kịp thời yêu cầu về chỉ đạo và điều hành của các cấp uỷ Đảng, chính quyền cũng như nhu cầu thông tin liên lạc của các cơ quan, doanh nghiệp, các tầng lớp nhân dân và đặc biệt là đối với đối tượng du khách trong thời gian tham quan, lưu trú.

  • Hệ thống cung cấp điện nước:

Hiện nay, 100% số hộ dân được sử dụng điện và nguồn nước hợp vệ sinh, hệ thống cung cấp điện, nước được đầu tư hiện đại phục vụ đắc lực cho sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của huyện, cũng như đáp ứng nhu cầu sản xuất và sinh hoạt của nhân dân.

3.3.5. Công tác triển khai các dự án du lịch của huyện.

Khởi công thực hiện dự án khu tổ hợp du lịch Resort Sông Gía do công ty TNHH Amco – Mibaek Vina (Hàn Quốc) làm chủ đầu tư trên địa bàn các xã Lưu Kiếm, Liên Khê, Chính Mỹ với tổng số vốn đầu tư là 582 triệu USD, trong đó giai đoạn 1 là 27,3 triệu USD, giai đoạn 2 là 555 USD.

Tiếp tục triển khai khu dự án khu vui chơi giải trí – thể thao văn hoá – du lịch sinh thái Tân Quang Minh do công ty cổ phần Đầu tư – phát triển du lịch Tân Quang Minh làm chủ đầu tư với tổng diện tích 151,24 ha.

3.3.6.Khách tham quan du lịch.

  • Khách nội địa:

Theo kết quả khảo sát cho thấy khách du lịch đến với Thuỷ Nguyên từ trước đến nay đa phần là học sinh, sinh viên với trí tò mò vì vậy, biết ở Thuỷ Nguyên có nhiều hang động đẹp như hang Vua, hang Lương, hang Ma nên đã tìm đến để khám phá vẻ đẹp của các hang đông nơi đây, hay đi sang suối Mơ, Lựng Xanh ở Quảng Ninh vào các kỳ nghỉ hè, ngày lễ, cuối tuần họ tham gia vào các chuyến đi tự tổ chức rất nhiều.Hoặc những người dân địa phương, người dân trong nội thành hay các tỉnh lân cận hay đi lễ đầu xuân qua khu vực Cửa Ông, Yên Tử biết tiếng của khu di tích đền thờ Trần Quốc Bảo và chiến thắng Bạch Đằng lịch sử nên họ đã ghé vào vãn cảnh đền, và thắp hương tưởng nhớ đến các vị anh hùng của dân tộc.

  • Khách quốc tế: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Khách du lịch quốc tế tại Thuỷ Nguyên đa phần là những người sống và làm việc tại đây tập trung rất đông ở khu công nghiệp Minh Đức. Ngoài ra thì gần đây còn rất nhiều những người Hàn Quốc sang Thuỷ Nguyên du lịch tham quan, đặc biệt là sau khi khu Resotr Sông Gía hoàn thành thì lượng khách Hàn Quốc đến với Thuỷ Nguyên rất đông.

Khách du lịch quốc tế đến với Thuỷ Nguyên với các nhu cầu rất đa dạng như tham quan, nghỉ dưỡng cuối tuần.

  • Số lượng khách du lịch:

Bảng thống kê lượng tổng số khách du lịch đến với Thuỷ Nguyên

Nhận xét:

Qua bảng thống kê trên cho thấy số lượng khách đến với Thuỷ Nguyên ngày một tăng, do huyện đã đẩy mạnh công tác tuyên truyền, quảng bá, xúc tiến du lịch, thu hút được sự đầu tư của các doanh nghiệp vào các dự án phát triển du lịch. Tăng cường thông tin về du lịch cho du khách qua nhiều hình thức như: những tấm quảng cáo lớn, biển chỉ dẫn, đặc biệt là nâng cao nhận thức của người dân về việc bảo tồn các tài nguyên, bảo vệ môi trường …làm cơ sở cho việc phát triển du lịch của huyện.

Tuy nhiên thì khách du lịch đến với Thuỷ Nguyên đa phần là có thời gian lưu trú ngắn, nguyên nhân là do cơ sơ vật chất, các dịch vụ vui chơi giải trí chưa thực sự thu hút được du khách đây là một vấn đề mà ngành du lịch của huyện cần quan tâm để kéo dài thời gian lưu trú của khách, từ đó góp phần tăng doanh thu của hoạt động du lịch cho huyện.

Tại các di tích và danh lam thắng cảnh có ban quản lý họ chính là người theo dõi số lượng khách đến.

Ví dụ:

Đền thờ Trần Quốc Toản trung bình hàng năm có khoảng 20.000 người bao gồm cả khách du lịch trong nước và quốc tế.

Đình Kiền Bái vào ngày mở hội thu hút từ 4.000 – 5.000 người, vào dịp nghỉ hè cuối tuần tại danh lam thắng cảnh như hang Vua, hang Lương, hang Ma thu hút dựơc 10 – 15 nhóm học sinh, sinh viên tới chơi và khám phá vẻ đẹp của hang động, mỗi nhóm có từ 7 – 15 người. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

3.3.7.Công tác quy hoạch xây dựng các dự án bảo tồn các di tích lịch sử, văn hoá.

Nhận thức được tầm quan trọng của tài nguyên nhân văn trong sự phát triển của hoạt động du lịch nói chung, trong thời gian qua công tác quy hoạch xây dựng các dự án bảo tồn và phát huy các giá trị lịch sử văn hoá trên địa bàn được quan tâm chú trọng. Công tác xã hội hoá trong bảo tồn và phát huy giá trị di tích đã được tạo bước chuyển biến mới, trong đó chủ yếu tập trung vào các di tích tiêu biểu như: đình Kiền Bái (xã Kiền Bái), di tích tưởng niệm Trạng nguyên Lê Ích Mộc và khu di tích Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức)…

Quy hoạch tổng thể cụm di tích tưởng niệm chiến thắng Bạch Đằng – đền thờ Trần Quốc Bảo (thị trấn Minh Đức) với các hạng mục: Bia đài, tượng lịch sử, nhà truyền thống di tích lịch sử, khu vực dịch vụ, bãi đỗ xe, khu vực cảnh quan thiên nhiên liạh sử bên sông Bạch Đằng cùng với khu vực dịch vụ. Hiện nay, đã hoàn thành được nhiều hạng mục công trình như: hệ thống tường bao đền Trần Quốc Bảo (tổng kinh phí 430 triệu đồng), khu lăng mộ Trần Quốc Bảo và các công trình bổ trợ (tổng kinh phí 1,2 tỷ đồng).

Hoàn thành các hạng mục tu bổ và nâng cấp đình Kiền Bái, bao gồm toàn bộ khuôn viên khu Đình (rộng 1100 m2), diện tích khu đình chính (500m2) với tổng kinh phí thực hiện trên 6,3 tỷ đồng.

3.3.8.Công tác xây dựng, phát triển các loại hình du lịch, sản phẩm du lịch.

Phối hợp với Sở Văn hoá Thể thao và Du lịch, các địa phương khác trong thành phố triển khai khảo sát nghiên cứu, xây dựng tour du lịch phía Bắc Hải Phòng (Nội thành – Thuỷ Nguyên). Theo đó, đã đưa vào khai thác các điểm tham quan hấp dẫn của huyện Thuỷ Nguyên như: Khu di tích Tràng Kênh – Bạch Đằng, du thuyền hồ Sông Gía, đình Kiền Bái, làng cau Cao Nhân, làng Bưởi Lâm Động…

2.4.NHỮNG THUẬN LỢI VÀ KHÓ KHĂN CỦA HUYỆN. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Thuỷ Nguyên có rất nhiểu tiềm năng để phát triển du lịch, có nguồn tài nguyên du lịch phong phú và đa dạng, các di tích lịch sử đã có từ lâu đời, tài nguyên thiên nhiên hấp dẫn, các lễ hội văn hoá dân gian nổi tiếng hấp dẫn với du khách. Ở nơi đây còn có các trục đường thuận lợi cho việc đi lại phát triển du lịch.

Tuy nhiên măc dù có sự đa dạng về mặt tài nguyên du lịch nhưng trong những năm qua hoạt động du lịch trên địa bàn huyện còn đơn lẻ, chưa xứng với tiềm năng. Hầu hết các nguồn tài nguyên du lịch còn đang tồn tại dưới dạng tiềm năng. Nguyên nhân chủ yếu là do thiếu sự đầu tư, khai thác một cách hợp lý, khoa học và hiệu quả.

Hệ thống các cơ sở kỹ thuật phục vụ du lịch thiếu đồng bộ, hoạt động còn mang tính manh mún, tự phát, thiếu cả về số lượng và chất lượng. Tình trạng phổ biến là sự thiếu vắng các loại hình dịch vụ bổ trợ, cao cấp dẫn đến khả năng chi tiêu của khách bị hạn chế. Việc thực hiện niêm yết giá các dịch vụ du lịch (đặc biệt là tại các cơ sở lưu trú) chưa được thực hiện thường xuyên, hệ số sử dụng buồng phòng thấp…

Hoạt động du lịch mang tính thời vụ cao, chủ yếu dựa vào khai thác tài nguyên du lịch nhân văn, đặc biệt là các di tích, lễ hội nên mùa vụ ngắn, chỉ tập trung chủ yếu trong khoảng tháng giêng và tháng hai âm lịch. Việc tổ chức và khai thác hoạt động lễ hội còn thiếu bất cập, phần lớn chưa khai thác được bản sắc riêng của lễ hội, chưa có dược sự đầu tư về hình thức tổ chức và cơ sở vật chất nên còn thiếu tính hấp dẫn đối với du khách. Nhiều lễ hội văn hoá đặc sắc của huyện như: Hội hát Ca Trù, lễ hội hát Đúm (hội mở mặt) chưa được đầu tư, khai thác và quảng bá với tư cách là một sản phẩm du lịch một cách có hiệu quả.

Công tác bảo vệ môi trường và tài nguyên du lịch tại điểm tham quan còn chưa được quan tâm thường xuyên, phát triển du lịch chưa đồng thời với công tác bảo vệ môi trường và thuần phong mỹ tục của địa phương.

Nhận thức về công tác quảng bá, xúc tiến du lịch còn yếu, hoạt động quảng bá xúc tiến còn hạn chế cả về nội dung và hình thức, dẫn đến tình trạng thiếu thông tin của du khách mỗi khi có nhu cầu đến tham quan du lịch tại Thuỷ Nguyên.

Sự hạn chế về số lượng và chất lượng của đội ngũ cán bộ, nhân viên lám công tác du lịch của huyện đặc biệt là đội ngũ cán bộ có kinh nghiệm trong việc nghiên cứu xây dựng các tour – tuyến du lịch. Đội ngũ lao động phục vụ tại các cơ sở kinh doanh lưu trú, dịch vụ vui chơi giải trí phần lớn là lao động phổ thông, trình độ, chuyên môn nghiệp vụ thấp chưa đáp ứng nhu cầu của phát triển du lịch giai đoạn hiện nay và trong giai đoạn tiếp theo. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Công tác phối kết hợp với các đơn vị liên quan trong hình thành và xây dựng các tour – tuyến du lịch còn hạn chế. Đặc biệt là công tác phối kết hợp với các doanh nghiệp lữ hành trong và ngoài thành phố trong việc quảng bá đưa thông tin về sản phẩm cho khách hàng. Do vậy các sản phẩm du lịch của huyện còn mang tính đơn lẻ và hầu hết mới chỉ ở giai đoạn hình thành, chậm đưa vào khai thác.

2.5. NGUYÊN NHÂN CỦA SỰ TỒN TẠI.

Nguyên nhân thì có rất nhiều, song những nguyên nhân mang tính quyết định đây trước hết phải đề cập đến nhận thức chưa đầy đủ của các cấp, các ngành và nhân dân về vị trí, vai trò và tầm quan trọng của du lịch.

Huyên Thuỷ Nguyên chưa có giải pháp hỗ trợ thiết thực để du lịch phát triển, vẫn còn có nhận thức coi phát triển du lịch là nhiệm vụ riêng của ngành quản lý du lịch mà chưa xem trọng trách nhiệm của các cấp lãnh đạo huyện và của cộng đồng dân cư địa phương.

Phần lớn cán bộ kinh doanh và người dân ở các điểm du lịch chưa ý thức đúng trách nhiệm của mình với môi trường cũng như văn hoá du lịch.

Công tác quy hoạch chưa ưu tiên phát triển du lịch tại các trọng điểm du lịch. Huyện Thuỷ Nguyên chưa ưu tiên và cũng chưa có kế hoạch bố trí ngân sách dành cho quảng bá, xú tiến du lịch cũng như chưa có cơ chế huy động các nguồn vốn khác để nâng cao chất lượng cho công tác tuyên truyền quảng bá, xúc tiến du lịch, hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực.

Năng lực đội ngũ cán bộ quản lý Nhà Nước còn hạn chế, chưa năng động, sáng tạo, trình độ chuyên môn của lao động du lịch chưa đáp ứng yêu cầu của tình hình mới.

Du lịch là ngành kinh tế tổng hợp, cần tính xã hội hoá cao nhưng lại chưa có được sự hỗ trợ chung của xã hội.

2.6.VỊ TRÍ CỦA DU LỊCH ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN KINH TẾ CỦA HUYỆN.

Du lịch có vị trí đặc biệt quan trọng trong phát triển kinh tế của Thuỷ Nguyên, với thế mạnh là phát triển du lịch sẽ tạo cho huyện những thuận lợi sau:

  • Phát triển du lịch nhằm góp phần bảo tồn, phát huy giá trị của các di tích lịch sử văn hoá, bảo tồn và phát triển các lễ hội truyền thống của Thuỷ Nguyên.
  • Tạo công ăn việc làm cho một bộ phận dân cư tại các khu, các điểm du lịch, góp phần xoá đói giảm nghèo.
  • Phát triển du lịch nhằm góp phần phát triển thể chất, nâng cao trí tuệ và đời sống văn hoá tinh thần cho nhân dân, tăng tình đoàn kết giữa các dân tộc, các quốc gia.Mọi thành phần xã hội đều có cơ hội bình đẳng thụ hưởng những giá trị, tinh hoa thông qua hoạt động du lịch.
  • Phát triển du lịch “xanh” gắn hoạt động du lịch với giữ gìn và phát triển giá trị tài nguyên và bảo vệ môi trường. Đảm bảo môi trường du lịch là yếu tố hấp dẫn du lịch,đảm bảo chất lượng và giá trị thương hiệu du lịch.
  • Du lịch phát triển góp phần thúc đẩy sản xuất và tiêu dùng.

2.7. MỐI QUAN HỆ GIỮA DU LỊCH VỚI CÁC NGÀNH KINH TẾ KHÁC. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Du lịch và các ngành kinh tế khác có mối quan hệ qua lại và tác động mạnh mẽ đến nhau. Du lịch có sức lan toả và tạo ra nguồn thu cho ngành kinh tế khác, vì du lịch là một ngành kinh tế có tính liên ngành cao.

Nông nghiệp là một ngành có ảnh hưỏng quan trọng đến du lịch. Người nông dân cung cấp cho các khách sạn, nhà hàng lương thực thực phẩm để phục vụ khách.

Ngành du lịch tiêu thu một khối lượng lớn lương thực và thực phẩm cả tươi sống cũng như đã qua chế biến. Ở đây vai trò của các ngành công nghiệp thực phẩm như công nghiệp chế biến dường, thịt, sữa, đồ hộp, công nghiệp chế biến rượu bia, thuốc lá…luôn được coi trọng. Đây là cơ sở cung ứng nhiều hàng hoá nhất cho du lịch. Một số ngành công nghiệp nhẹ đóng vai trò không kém quan trọng trong cung ứng vật tư cho du lịch công nghiệp dệt, công nghiệp thuỷ tinh, sành sứ và đồ gốm.

Khía cạnh công nghiệp ở một địa phương là động lực quan trọng đối với du lịch. Một số đông khách du lịch, đặc biệt là khách du lịch nước ngoài, rất muốn biết về nền kinh tế của một nước hay một quốc gia. Ở những địa phương có nền công nghiệp phát triển sẽ là điều kiện thuận lợi cho du lịch tham quan công nghiệp phat triển.

Trong thời gian xây dựng ban đầu, ngành xây dựng và vật liệu xây dựng có vai trò rất quan trọng đối với du lịch. Những công trình kiến trúc đẹp, được xây dựng kì công tốn kém vừa là công cụ phục vụ khách vừa là tài nguyên góp phần hấp dẫn khách đến và lưu khách lại lâu hơn.

Thông tin liên lạc cũng có ảnh hưởng sâu sắc đến du lịch. Các phương tiện truyền tin nhanh chóng sẽ giúp cho việc quảng bá du lịch một cách hữu hiệu. Thông tin hiện đại hỗ trợ ngành du lịch, đưa đến cho hàng triệu khách hàng tiềm năng khắp mọi nơi những thông tin cần thiết về một sản phẩm du lịch độc đáo, tạo nhu cầu du lịch và dẫn họ đến quyết định mua sản phẩm du lịch.

Khi nói đến nền kinh tế đất nước, không thể không nói đến giao thông vận tải. Từ xa xưa, giao thông vận tải đã trở thành một trong những nhân tố chính cho sự phát triển của du lịch, đặc biệt là du lịch quốc tế. Trong những năm gần đây giao thông vận tải có những chuyển biến quan trọng, điều này ảnh hưởng trực tiếp tới sự phát triển của du lịch.

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2: Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

Chương 2 đã nêu ra được những tiềm năng du lịch tự nhiên và nhân văn của huyện Thuỷ Nguyên.

Qua chương 2 có thể thấy rằng các tài nguyên du lịch nhân văn và tài nguyên du lịch tự nhiên của huyện Thuỷ Nguyên rất phong phú và đa dạng và có giá trị cao đối với du lịch của huyện

Thực trạng phát triển du lịch của huyện trong thời gian qua. Những thuận lợi, khó khăn và nguyên nhân của sự tồn tại, từ đó có thể đưa ra được các giải pháp để đẩy mạnh việc phát triển du lịch của huyện.

Trong thời gian qua du lịch của huyện cũng có những bước phát triển đáng kể, đã có những dự án phát triển du lịch , các khu vui chơi giải trí, nghỉ dưỡng để phục vụ cho hoạt động du lịch của huyện.

Đặc biệt trong thời gian vừa qua huyện đã khai trương khu tổ hợp resort Sông Gía bước đầu mang lại hiệu quả kinh tế rất cao sự phát triển du lịch của huyện.

Từ thực trạng phát triển du lịch của huyện ở chương 2 có thể đưa ra những giải pháp nhằm đẩy mạnh phat triển du lịch trong thời gian tới. Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên

One thought on “Khóa luận: Thực trạng phát triển du lịch của huyện Thủy Nguyên

  1. Pingback: Khóa luận: Phát triển du lịch ở huyện Thuỷ Nguyên

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537