Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An-Ninh Bình dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
PHẦN MỞ ĐẦU
1. LÝ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Ngày nay cùng với sự phát triển kinh tế trên thế giới, du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống văn hóa-xã hội của con người. Du lịch không những là một ngành kinh tế góp phần nâng cao đời sống vật chất mà còn giúp con người có điều kiện giao lưu văn hóa giữa các quốc gia vùng miền. Chính vì vậy ngày nay du lịch đã nằm trong chiến lược phát triển của rất nhiều quốc gia, trở thành nền kinh tế quan trọng có đóng góp lớn trong sự phát triển của các nước.
Cùng với sự phát triển của ngành du lịch nói chung thì Du lịch sinh thái (DLST) đã và đang phát triển mạnh mẽ trên toàn cầu và trở thành mối quan tâm lớn của nhiều quốc gia trong chiến lược phát triển du lịch. Ngày nay khi nền công nghiệp bùng nổ kéo theo môi trường bị ô nhiễm nặng nề thì DLST có ý nghĩa vô cùng to lớn đối với con người. Mô hình DLST giúp con người có điều kiện tiếp cận với thiên nhiên hoang sơ, môi trường trong lành, tìm hiểu nền văn hóa bản địa đặc sắc, thỏa mãn nhu cầu khám phá và hồi phục sức khỏe cho con người. Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
DLST là loại hình du lịch có trách nhiệm, du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ cho các mục tiêu bảo tồn tự nhiên và phát triển cộng đồng và đây là loại hình du lịch có nhiều đóng góp thiết thực cho việc phát triển bền vững, bảo vệ tự nhiên và mang lại lợi ích kinh tế. Chính vì vậy DLST đã trở thành mục tiêu phát triển của nhiều quốc gia trên thế giới về du lịch bởi tính ưu việt của nó.
Ninh Bình là một tỉnh nằm ở phía Đông Nam của đồng bằng bắc bộ, hấp dẫn du khách bởi quần thể du lịch kỳ thú với những giá trị tự nhiên và văn hóa nổi bật như: Vườn quốc gia Cúc Phương, Tam Cốc, Bích Động, Cố đô Hoa Lư, Nhà Thờ đá Phát Diệm…Hai năm trở lại đây khu du lịch Tràng An được đầu tư xây dựng và đưa và khai thác phục vụ du lịch thì du lịch Ninh Bình càng phát triển với định hướng khai thác du lịch thành ngành kinh tế chủ yếu của tỉnh.
Khu du lịch Tràng An nằm ở phía đông bắc của tỉnh Ninh Bình thuộc địa phận các xã: Trường Yên, Ninh Xuân, Ninh Hải (Thuộc huyện Hoa Lư), xã Gia Sinh (của huyện Gia Viễn), xã Ninh Nhất, phường Tân Thành (Thành phố Ninh Bình) với tổng diện tích là 1.566 ha. Khu du lịch Tràng An là điểm du lịch mới được đưa vào khai thác và với lợi thế về cảnh quan Tràng An đã được đánh giá là một trong những địa điểm du lịch hấp dẫn vào bậc nhất của nước ta hiện nay. Đến với Tràng An du khách sẽ được chiêm ngưỡng cảnh núi non hùng vĩ được ví như một “Hạ Long trên cạn” với những hang động kỳ thú, những dải núi đá vôi, cùng với dòng sông xanh biếc tạo nên một khung cảnh hết sức lên thơ. Tràng An còn là nơi du khách có thể khám phá những giá trị về lịch sử của mảnh đất và con người nơi đây được hình thành trong suốt chiều dài lịch sử của dân tộc. Với những giá trị về cả thiên nhiên và văn hóa, Tràng An đang dần trở thành điểm du lịch hấp dẫn đối với du khách khi lựa chọn các chuyến du lịch sinh thái.
DLST đang trở thành mối quan tâm lớn của nhiều lĩnh vực, để góp phần vào việc phát triển du lịch của đất nước, khai thác có hiệu quả tiềm năng du lịch sinh thái tại khu du lịch sinh thái Tràng An-Ninh Bình. Việc chọn đề tài “Nghiên cứu, phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An-Ninh Bình” nhằm nghiên cứu và đánh giá hoạt động du lịch tại Tràng An, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp nhằm phát triển du lịch, bảo vệ môi trường tự nhiên của địa phương, góp phần tăng hiệu quả kinh tế, nâng cao đời sống cho người dân địa phương.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. MỤC ĐÍCH VÀ NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
- Mục Đích Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Trên cơ sở lý luận về DLST đồng thời vận dụng những kiến thức đã học về du lịch để áp dụng nghiên cứu về DLST và thực trạng của hoạt động DLST Tràng An từ khi đưa vào khai thác, từ đó xác định hướng khai thác hợp lý, kết hợp phát triển kinh tế với việc bảo vệ môi trường tự nhiên, phát triển du lịch bền vững.
Góp phần quảng bá rộng rãi hình ảnh của khu du lịch Tràng An đối với khách du lịch trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển du lịch của tỉnh Ninh Bình nói chung và Tràng An nói riêng.
Đề xuất một số giải pháp cho phát triển DLST ở Tràng An .
- Nhiệm Vụ
Hệ thống hóa cơ sở lý luận về DLST
Nghiên cứu tiềm năng và hiện trạng phát triển DLST ở Tràng An, tìm hiểu những hạn chế còn tồn tại cần giải quyết.
Trên cơ sở nghiên cứu hiện trạng của khu du lịch, khóa luận đề xuất phương hướng và một số giải pháp phát triển loại hình DLST ở khu du lịch Tràng An.
3. ĐỐI TƯỢNG VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu: Khóa luận nghiên cứu những vấn đề về: Tiềm năng, hiện trạng khai thác du lịch tại Tràng An
Phạm vi nghiên cứu: Không gian: Đề tài tập trung nghiên cứu trong phạm vi khu du lịch Tràng An, với tổng diện tích là:1566ha. Thuộc địa phận các xã: Trường Yên, Ninh Hải, Ninh Xuân (huyện Hoa Lư); Gia Sinh ( huyện Gia Viễn); xã Ninh Nhất, phường Tân Thành (TP Ninh Bình)
Thời gian: Nghiên cứu sự hình thành và phát triển thành một khu DLST tại Tràng An
4. PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Khóa luận sử dụng kết hợp các phương pháp nghiên cứu sau:
4.1. Phương pháp thu thập và xử lý số liệu Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Thông tin về đối tượng nghiên cứu được thu thập từ nhiều nguồn khác nhau nên cần phải phân loại, so sánh và chọn lọc những thông tin có giá trị nhất để sử dụng trong bài viết. Đây là phương pháp giúp nhận rõ những thông tin cần thiết để thành lập ngân hàng số liệu.
4.2. Phương pháp khảo sát thực địa:
Đây là phương pháp nghiên cứu truyền thống để khảo sát thực tế, áp dụng việc nghiên cứu lý luận gắn với thực tiễn, bổ sung cho lý luận ngày càng hoàn chỉnh hơn. Việc có mặt tại thực địa trực tiếp quan sát và tìm hiểu thông tin từ những người có trách nhiệm là rất cần thiết. Quá trình thực địa giúp cho tài liệu thu thập được phong phú hơn, giúp cho việc học tập nghiên cứu đạt hiệu quả cao và có một tầm nhìn khách quan để nghiên cứu đề tài. Đây là phương pháp vô cùng quan trọng để thu thập được những thông tin xác thực cho đề tài tăng tính thuyết phục. Phương pháp này giúp cho người nghiên cứu có cái nhìn khách quan và có những đánh giá đúng đắn về vấn đề nghiên cứu. Hiểu vấn đề một cách sâu sắc và tránh được tính phiến diện trong khi nghiên cứu.
4.3. Phương pháp so sánh tổng hợp:
Phương pháp này nhằm định hướng cho người viết thấy được tính tương quan giữa các yếu tố và từ đó thấy được hiện trạng và sự ảnh hưởng của các yếu tố tới hoạt động du lịch tại nơi đang nghiên cứu. Việc so sánh tổng hợp các thông tin và số liệu đã thu thập được giúp người viết hệ thống được một cách khoa học những thông tin số liệu cũng như các vấn đề thực tiễn. Đây là phương pháp giúp cho người viết thực hiện được mục tiêu dự báo, đề xuất các dự án, các định hướng phát triển, các chiến lược triển khai quy hoạch các dự án mang tính khoa học và đạt hiệu quả cao.
4.4.Phương pháp điều tra xã hội học
Phương pháp này có ý nghĩa vô cùng quan trọng trong việc nghiên cứu đề tài. Sử dụng phương pháp này để phỏng vấn trực tiếp một số du khách tham gia du lịch tại khu du lịch Tràng An và những người có trách nhiệm quản lý khu du lịch, những người cung cấp dịch vụ cho khách du lịch. Qua đây có thể biết được tính hấp dẫn của khu du lịch, tâm tư nguyện vọng của du khách cũng như của người dân địa phương, những người đang trực tiếp làm du lịch từ đó có cái nhìn xác thực về tài nguyên và hoạt động du lịch tại nơi nghiên cứu.
5. Ý NGHĨA CỦA KHÓA LUẬN Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Điều tra, khảo sát, đánh giá khai thác tài nguyên du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An. Trên cơ sở đó đề ra những giải pháp để phát huy những lợi thế, khắc phục những hạn chế còn tồn tại góp phần thúc đẩy khu du lịch Tràng An phát triển tương xứng với tiềm năng sẵn có.
6. BỐ CỤC CỦA KHÓA LUẬN
Ngoài phần mở đầu và kết luận bài khóa luận có kết cấu thành 3 chương.
- Chương I: Cơ sở lý luận về du lịch sinh thái.
- Chương II: Tiềm năng, hiện trạng hoạt động du lịch sinh thái ở Tràng An.
- Chương III: Định hướng và một số giải pháp phát triển du lịch sinh thái ở Tràng An.
CHƯƠNG I: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH SINH THÁI
1.1. Cơ sở lý luận về Du lịch
1.1.1. Khái niệm về du lịch
Khi xã hội càng phát triển, đời sống vật chất của con người được nâng cao, con người có nhu cầu khám phá thế giới xung quanh vì vậy du lịch đã phát triển một cách mạnh mẽ và trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người. Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng xã hội, đóng vai trò quan trọng trong việc làm tăng thêm sự phong phú trong đời sống tinh thần và nhận thức của con người về thế giới xung quanh. Thông qua du lịch mối quan hệ giữa các quốc gia, dân tộc ngày càng được mở rộng và du lịch cũng đã trở thành ngành kinh tế quan trọng của nhiều quốc gia trên thế giới.
Du lịch được hiểu một cách đơn giản là hoạt động gắn liền với việc nghỉ ngơi, giải trí thỏa mãn các nhu cầu khác nhau của con người. Du lịch không tồn tại độc lập mà phải gắn liền với sự phát triển của một số ngành dịch vụ tạo thành một chuỗi hoàn chỉnh đáp ứng mọi nhu cầu của khách khi tham gia hoạt động du lịch. Từ khi du lịch xuất hiện đã có rất nhiều định nghĩa khác nhau về du lịch được đưa ra.
Tại hội nghị liên hợp quốc về du lịch họp tại Roma-Italia(21/8-05/9/1963), các chuyên gia đã đưa ra định nghĩa về du lịch: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hiện tượng kinh tế bắt nguồn từ các cuộc hành trình và lưu trú của cá nhân hay tập thể ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ hay ngoài nước họ với mục đích hòa bình. Nơi họ đến lư trú không phải là nơi làm việc của họ” Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Theo Pirogionic, 1985 khái niệm vầ du lịch được xác định như sau: “Du lịch là hoạt động của dân cư trong thời gian rỗi liên quan đến sự di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên nhằm nghỉ ngơi, chữa bệnh, phát triển thể chất và tinh thần, nâng cao trình độ nhận thức –văn hóa hoặc thể thao kèm theo đó là việc tiêu thụ các giá trị về tự nhiên, kinh tế, văn hóa lịch sử” [8]
Tổ chức du lịch thế giới WTO đưa ra khái niệm về du lịch năm 1993: “Du lịch là tổng hợp các mối quan hệ, hiện tượng và các hoạt động kinh tế bắt nguồn từ những cuộc hành trình và lưu trú của con người ở bên ngoài nơi ở thường xuyên của họ với mục đích hòa bình”
Theo điều 4 luật du lịch Việt Nam(2005): “Du lịch là các hoạt động có liên quan đến di chuyển của con người ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhằm đáp ứng nhu cầu tham quan, tìm hiểu, giải trí nghỉ dưỡng trong một khoảng thời gian nhất định”
Du lịch không chỉ là một hiện tượng xã hội mà nó còn gắn với hoạt động kinh tế: “Du lịch là sự di chuyển tạm thời của con người hay tập thể từ nơi này đến nơi khác nhằm thỏa mãn nhu cầu tinh thần, đạo đức, do đó tạo nên các hoạt động kinh tế”.[2]
Khái niệm du lịch một mặt mang ý nghĩa xã hội là việc đi lại của con người nhằm mục đích nghỉ ngơi giải trí, tìm hiểu, khám phá…mặt khác du lịch là ngành kinh tế có liên quan đến nhiều thành phần tạo thành một ngành dịch vụ như : Lưu trú, ăn uống, giao thông vận tải…vì vậy có thể đánh giá tác động của du lịch ở rất nhiều khía cạnh khác nhau.
Nhìn chung thông qua các định nghĩa về du lịch từ rất nhiều nguồn khác nhau có thể hiểu: Du lịch là hoạt động của con người di chuyển ngoài nơi cư trú thường xuyên của mình nhưng không thường xuyên với mục đích phục hồi sức khỏe và thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu khám phá, nâng cao nhận thức của bản thân.
1.1.2. Phân loại về du lịch
Du lịch có rất nhiều tiêu chí để phân loại thành nhiều nhóm khác nhau. Có thể phân loại theo tiêu chí mục đích chuyến đi hoặc lãnh thổ hoạt động, cũng có thể phân loại theo tiêu chí thời gian tổ chức chuyến đi, hoặc tiêu chí về phương tiện tổ chức chuyến đi. Hiện nay các chuyên gia về du lịch Việt Nam thường phân chia các loại hình du lịch theo các tiêu chí cơ bản sau đây:
- Phân loại theo môi trường tài nguyên:
- Môi trường tài nguyên du lịch tự nhiên.
- Môi trường tài nguyên du lịch nhân văn.
- Phân loại theo mục đích chuyến đi.
- Du lịch thuần túy (tham quan, giải trí, khám phá, nghỉ dưỡng, thể thao, lễ hội).
- Du lịch kết hợp (tôn giáo, nghiên cứu, chữa bệnh, hội nghị, hội thảo, thể thao, thăm người thân).
- Phân loại theo lãnh thổ hoạt động:
- Du lịch quốc tế.
- Du lịch nội địa.
- Du lịch quốc gia.
1.2. Cơ sở lý luận về DLST Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
1.2.1. Khái niệm về du lịch sinh thái
Du lịch sinh thái”(Ecotourism) là một khái niệm tương đối mới ở Việt Nam và đã thu hút được sự quan tâm của nhiều lĩnh vực. Đây là một khái niệm rộng được hiểu theo nhiều góc độ khác nhau. Đối với một số người, “Du lịch sinh thái” được hiểu một cách đơn giản là sự kết hợp ý nghĩa của hai từ ghép “Du lịch” và “sinh thái”. Tuy nhiên cần có góc nhìn rộng hơn, tổng quát hơn để hiểu du lịch sinh thái một cách đầy đủ. Trong thực tế khái niệm “Du lịch sinh thái” đã xuất hiện từ những năm 1800. Với khái niệm này mọi hoạt động du lịch có liên quan đến thiên nhiên như: tắm biển, nghỉ núi…đều được hiểu là du lịch sinh thái.
Có thể nói cho đến nay khái niệm về DLST vẫn được hiểu dưới nhiều góc độ khác nhau với nhiều tên gọi khác nhau . Cho đến nay vẫn còn nhiều tranh luận nhằm đưa ra một định nghĩa chung được chấp nhận về DLST, đa số ý kiến tại các diễn đàn quốc tế chính thức về DLST đều cho rằng: DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên, hỗ trợ các hoạt động bảo tồn và được quản lý bền vững về mặt sinh thái. Du khách sẽ được hướng dẫn tham quan với những diễn giải cần thiết về môi trường để nâng cao hiểu biết, cảm nhận được giá trị thiên nhiên và văn hóa mà không gây ra những tác động không thể chấp nhận đối với các hệ sinh thái và văn hóa bản địa. [1,6]
DLST là loại hình du lịch có những đặc tính cơ bản sau:
- Tổ chức thực hiện và phát triển dựa vào những giá trị thiên nhiên và văn hóa bản địa.
- Được quản lý bền vững về môi trường sinh thái.
- Có giáo dục và diễn giải về môi trường.
- Có đóng góp cho những nỗ lực bảo tồn và phát triển cộng đồng.
Định nghĩa tương đối hoàn chỉnh về DLST lần đầu tiên được Hector Ceballos-Lascurain đưa ra vào năm 1987: “DLST là du lịch đến những khu vực tự nhiên còn ít bị biến đổi, với những mục đích đặc biệt : Nghiên cứu, tham quan với ý thức trân trọng thế giới hoang dã và những giá trị văn hóa được khám phá” [1,8] Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Theo Allen.K(1993): “DLST được phân biệt với các loại hình thiên nhiên khác về mức độ giáo dục cao về môi trường sinh thái, thông qua hướng dẫn viên có nghiệp vụ. DLST tạo ra mối quan hệ giữa con người với thiên nhiên hoang dã cùng với ý thức được giáo dục để biến bản thân khách du lịch thành những người đi đầu trong công tác bảo vệ môi trường. Phát triển DLST là giảm thiểu tác động của du khách đến văn hóa và môi trường, đảm bảo cho địa phương được hưởng quyền lợi tài chính do du lịch mang lại và chú trọng đến những đóng góp tài chính cho việc bảo tồn thiên nhiên”
Định nghĩa của(Wood,1991): “Du lịch sinh thái là du lịch đến với những khu vực còn tương đối hoang sơ với mục đích tìm hiểu về lịch sử môi trường tự nhiên và văn hóa mà không làm thay đổi sự toàn vẹn của các hệ sinh thái. Đồng thời tạo những cơ hội về kinh tế ủng hộ việc bảo tồn tự nhiên và mang lại lợi ích về tài chính cho người dân địa phương”.[3,9]
Một số định nghĩa về DLST có thể tham khảo như sau:
Định nghĩa của Nêpal: Du lịch sinh thái là loại hình du lịch đề cao sự tham gia của nhân dân vào việc hoạch định và quản lý các tài nguyên du lịch để tăng cường phát triển cộng đồng, liên kết giữa bảo tồn thiên nhiên và phát triển du lịch, đồng thời sử dụng thu nhập từ du lịch để bảo vệ các nguồn lực mà ngành du lịch phụ thuộc vào.[1,9]
Định nghĩa của Malaysia: Du lịch sinh thái là hoạt động du lịch thăm viếng một cách có trách nhiệm với môi trường tới những khu thiên nhiên còn nguyên vẹn, nhằm tận hưởng và trân trọng các giá trị của thiên nhiên (và những đặc tính văn hóa kèm theo, trước đây cũng như hiện nay ), mà hoạt động này sẽ thúc đẩy công tác bảo tồn, có ảnh hưởng của du khách không lớn, và tạo điều kiện cho dân chúng địa phương được tham dự một cách tích cực có lợi về xã hội và kinh tế. [1,10]
Định nghĩa của Australia: DLST là du lịch dựa vào thiên nhiên có liên quan đến sự giáo dục và diễn giải về môi trường thiên nhiên và được quản lý bền vững về mặt sinh thái. [1,10]
Định nghĩa của Hiệp hội Du lịch sinh thái Quốc tế: DLST là việc đi lại có trách nhiệm tới các khu vực thiên nhiên mà bảo tồn được môi trường và cải thiện phúc lợi cho người dân địa phương.Trong đó yếu tố quản lý bền vững bao hàm cả nội dung hỗ trợ phát triển cộng đồng. [5,3]
Có rất nhiều định nghĩa khác về DLST trong đó Buckley (1994) đã tổng quát như sau: “Chỉ có du lịch dựa vào thiên nhiên, được quản lý bền vững , hỗ trợ bảo tồn, và có giáo dục môi trường mới được xem là du lịch sinh thái”.
Như vậy DLST là hoạt động du lịch không chỉ đơn thuần là du lịch ít tác động đến môi trường tự nhiên mà là du lịch có trách nhiệm với môi trường tự nhiên, có tính giáo dục và diễn giải cao về tự nhiên, có đóng góp cho hoạt động bảo tồn và đem lại lợi ích cho cộng đồng địa phương. Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Việt Nam, DLST là một lĩnh vực mới được nghiên cứu từ giữa những thập kỷ 90 của thế kỷ XX, xong đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của các nhà nghiên cứu về du lịch và môi trường. Do trình độ nhận thức khác nhau, ở những góc độ nhìn nhận khác nhau. Khái niệm về DLST cũng chưa có nhiều điểm thống nhất. Để có được sự thống nhất về khái niệm làm cơ sở cho công tác nghiên cứu và hoạt động thực tiễn của DLST, Tổng cục du lịch Việt Nam đã phối hợp với nhiều tổ chức quốc tế như ESCAP, WWF…có sự tham gia của các chuyên gia, các nhà khoa học quốc tế Việt Nam về DLST và các lĩnh vực liên quan, tổ chức hội thảo quốc gia về “Xây dựng chiến lược phát triển du lịch sinh thái ở Việt Nam” từ ngày 7 đến 9/9/1999. Một trong những kết quả quan trọng của hội thảo lần đầu tiên đã đưa ra định nghĩa về DLST ở Việt Nam, theo đó: “DLST là loại hình du lịch dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa gắn với giáo dục môi trường, có đóng góp cho nỗ lực bảo tồn và phát triển bền vững, với sự tham gia tích cực của cộng đồng địa phương”.[6,7]
DLST còn có những tên gọi khác nhau:[7,8] Du lịch thiên nhiên (Nature Tourism)
- Du lịch dựa vào thiên nhiên (Nature based Tourism)
- Du lịch môi trường (Environmental Tourism)
- Du lịch đặc thù (Particcular Tourism)
- Du lịch xanh (Green Tourism)
- Du lịch thám hiểm (Adventure Tourism)
- Du lịch bản xứ (Indigennous Tourism)
- Du lịch có trách nhiệm (Responsible Tourism)
- Du lịch nhậy cảm (Sensitized Tourism)
- Du lịch nhà tranh (Cottage Tourism)
- Du lịch bền vững (Sustainable Tourism)
1.2.2. Những đặc trưng cơ bản của DLST:
Mọi hoạt động du lịch nói chung và DLST nói riêng đều được thực hiện dựa trên những tài nguyên du lịch tự nhiên và những giá trị văn hóa lịch sử do con người tạo nên và có sự kết hợp của các dịch vụ, cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch. Dựa vào những yếu tố đó để hình thành lên sản phẩm du lịch phục vụ nhu cầu vui chơi, nghỉ dưỡng khám phá của khách du lịch, mang lại lợi ích kinh tế cho xã hội. DLST là một dạng hoạt động của du lịch nói chung vậy nó cũng bao hàm những đặc trưng cơ bản của hoạt động du lịch nói chung bao gồm: Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Tính đa ngành: Tính đa ngành thể hiện ở đối tượng được khai thác phục vụ du lịch ( sự hấp dẫn về cảnh quan tự nhiên, các giá trị lịch sử, văn hóa , cơ sở hạ tầng và các dịch vụ kèm theo…) Thu nhập xã hội từ du lịch cũng mang lại nguồn thu cho nhiều ngành kinh tế khác nhau thông qua các sản phẩm dịch vụ cung cấp cho khách du lịch ( điện, nước, nông sản, hàng hóa…)
Tính đa thành phần: Biểu hiện ở tính đa dạng trong thành phần khách du lịch, những người phục vụ du lịch, cộng đồng địa phương, các tổ chức chính phủ và phi chính phủ, các tổ chức tư nhân tham gia vào hoạt động du lịch.
Tính đa mục tiêu: Biểu hiện ở những lợi ích đa dạng về bảo tồn thiên nhiên, cảnh quan lịch sử văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống của khách du lịch và người tham gia hoạt động dịch vụ du lịch, mở rộng sự giao lưu văn hóa , kinh tế và nâng cao ý thức tốt đẹp của mọi thành viên trong xã hội.
Tính liên vùng: Biểu hiện thông qua các tuyến du lịch với một quần thể các điểm du lịch trong một khu vực, trong một quốc gia hay giữa các quốc gia với nhau.
Tính mùa vụ: Biểu hiện ở thời gian diễn ra hoạt động du lịch tập trung với cường độ cao trong năm. Tính mùa vụ thể hiện rõ nhất ở các loại hình du lịch nghỉ biển, thể thao theo mùa …(theo tính chất của khí hậu ) hoặc loại hình du lịch nghỉ cuối tuần, vui chơi giải trí …(theo tính chất công việc của những người hưởng thụ sản phẩm du lịch).[4,45]
Tính chi phí: Biểu hiện ở chỗ mục đích đi du lịch của các khách du lịch là hưởng thụ các sản phẩm du lịch chứ không phải mục đích kiếm tiền.
Tính xã hội hóa: Biểu hiện ở việc thu hút toàn bộ mọi thành phần trong xã hội tham gia có thể trực tiếp hoặc gián tiếp vào hoạt động du lịch .
Bên cạnh những đặc trưng chung của ngành du lịch, DLST cũng hàm chứa những đặc trưng riêng bao gồm:
Tính giáo dục cao về môi trường: DLST hướng con người tiếp cận gần hơn nữa với các vùng tự nhiên và các khu bảo tồn, nơi có cá giá trị cao về đa dạng sinh học và rất nhạy cảm về mặt môi trường. Hoạt động du lịch gây lên những áp lực lớn đối với môi trường, và DLST được coi là chiếc chìa khóa nhằm cân bằng giữa mục tiêu phát triển du lịch và bảo vệ môi trường.
Góp phần bảo tồn các nguồn tài nguyên thiên nhiên và duy trì tính đa dạng sinh học: Hoạt động DLST có tác dụng giáo dục con người bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và môi trường, qua đó hình thành lên những ý thức bảo vệ các nguồn tài nguyên đó cũng như thúc đẩy các hoạt động bảo tồn đảm bảo yêu cầu phát triển bền vững.
Thu hút sự tham gia của cộng đồng địa phương: Sự tham gia của cộng đồng địa phương có tác dụng to lớn trong việc giáo dục du khách bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cũng góp phần nâng cao hơn nữa giá trị nhận thức cho cộng đồng, tăng nguồn thu nhập cho người dân sở tại. Điều này cũng tác động ngược trở lại một cách tích cực với hoạt động bảo tồn tài nguyên DLST.[4,46] Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Những nguyên tắc cơ bản của DLST DLST cần phải tuân thủ một số nguyên tắc sau:
Có hoạt động diễn giải nhằm nâng cao hiểu biết về môi trường, qua đó tạo ý thức tham gia vào các nỗ lực bảo tồn
Đây là một trong những nguyên tắc cơ bản của hoạt động DLST tạo ra sự khác biệt rõ ràng giữa DLST với các hình thức du lịch tự nhiên khác. Cùng một nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên, các sản phẩm của chúng đều có giá trị, giá trị sử dụng, được trao đổi mua bán qua các hình thức dịch vụ du lịch. Song DLST lại có tính giáo dục và trách nhiệm cao hơn nhiều so với loại hình du lịch tự nhiên. DLST phức tạp hơn trên nhiều phương diện: Hướng dẫn an toàn, chi phí bảo hiểm… và đòi hỏi cao hơn về ý thức trách nhiệm của người tổ chức cũng như du khách.
Khách du lịch sinh thái sau một chuyến tham quan sẽ có tầm nhìn và hiểu biết hơn về những đặc tính sinh thái khu vực và văn hóa cộng đồng địa phương. Với những hiểu biết đó, thái độ cư sử của du khách sẽ thay đổi được thể hiện bằng nhiều nỗ lực tích cực trong việc bảo tồn và phát triển tự nhiên sinh thái và văn hóa khu vực.
Bảo vệ môi trường và duy trì hệ sinh thái:
Du lịch nói chung và DLST nói riêng có ảnh hưởng trực tiếp đến môi trường và hệ sinh thái khu vực. Các tác động tiêu cực của DLST sẽ làm thay đổi và biến tính hệ sinh thái và môi trường. Một số hệ sinh thái và môi trường sống đặc biệt dễ bị tổn thương vì áp lực phát triển DLST, một phần môi trường sống có chất lượng kém hơn, điều này dẫn đến giảm đi về đa dạng sinh học.
Với các loại hình du lịch khác, vấn đề bảo vệ môi trường, duy trì hệ sinh thái chưa phải là ưu tiên hàng đầu thì ngược lại DLST coi đây là một nguyên tắc cơ bản cần tuân thủ bởi:
Mục tiêu của hoạt động DLST là bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái.
DLST tồn tại được thì nó luôn phải gắn liền với việc bảo vệ môi trường và duy trì các hệ sinh thái điển hình. Sự hủy hoại hệ sinh thái và sự thoái hóa xuống cấp của môi trường sẽ là những nhân tố dẫn đến sự diệt vong của DLST.
Bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc : Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Văn hóa là sự tích lũy kiến thức về ứng xử giữa con người với con người, giữa con người với tự nhiên. Nếu coi văn hóa là kết quả thể hiện quá trình thích ứng của con người với môi trường tự nhiên, thì tính đa dạng sinh học và tính đa dạng văn hóa có mối quan hệ mật thiết theo những quy luật nhất định. Vì vậy nguyên tắc bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc là một trong những nguyên tắc quan trọng mà hoạt động DLST phải tuân thủ theo. Các giá trị nhân văn và bộ phận hữu cơ không thể tách rời các giá trị môi trường tự nhiên đối với các hệ sinh thái ở một nơi cụ thể. Sự xuống cấp hoặc biến đổi liên tục, sinh hoạt văn hóa truyền thống của một cộng đồng địa phương dưới tác động của một hoạt động nào đó sẽ trực tiếp làm mất đi sự cân bằng sinh thái tự nhiên vốn có của khu vực vì vậy làm mất đi giá trị của hệ sinh thái đó.
Tạo thêm việc làm và mang lại lợi ích cho cộng đồng địa phương:
Dân địa phương là những người trực tiếp sống trên địa bàn du lịch sinh thái và họ cũng là người trực tiếp thấy được sự biến đổi (phát triển hay xuống cấp) của hệ sinh thái, môi trường, văn hóa…của khu vực. Các hệ sinh thái, môi trường văn hóa đó có được bảo tồn, duy trì hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của người dân ở đây.
Chính vì thế mà đây là nguyên tắc, là mục tiêu hướng tới của DLST. DLST khuyến khích người dân địa phương tham gia các hoạt động du lịch như cho thuê nhà nghỉ, làm hường dẫn viên du lịch, sản xuất các mặt hàng nông sản, hàng thủ công mỹ nghệ truyền thống…Kết quả là cuộc sống của người dân địa phương sẽ ít phụ thuộc vào việc khai thác tự nhiên, đồng thời họ sẽ thấy được lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên thiên nhiên, phát triển DLST.[9,9]
1.2.3. Vai trò của phát triển DLST
Phát triển DLST là khai thác có hiệu quả những giá trị của tài nguyên DLST kèm theo những giá trị về cơ sở hạ tầng và lao động, tạo ra sức hấp dẫn về tài nguyên DLST bằng các sản phẩm du lịch có sức cạnh tranh đáp ứng nhu cầu của du khách, đem lại lợi ích cho xã hội. Sự phát triển DLST có vai trò vô cùng to lớn.
1.2.4.1. DLST với bảo vệ môi trường
Môi trường và du lịch có mối quan hệ biện chứng với nhau. Môi trường là các thông số đầu vào, tiền đề để phát triển mạnh du lịch, ngược lại thông qua phát triển DLST sẽ giúp môi trường được bảo vệ và nâng cao chất lượng.
DLST được xem là công cụ tốt nhất để bảo tồn thiên nhiên, nâng cao chất lượng môi trường, đề cao các giá trị cảnh quan và nhận thức của toàn dân về sự cần thiết phải bảo vệ hệ sinh thái (HST) dễ bị tổn thương, khống chế sự thay đổi của môi trường sinh thái, khắc phục những tài nguyên đang bị hủy hoại. Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Phát triển DLST đồng nghĩa với bảo vệ môi trường vì DLST tồn tại gắn với bảo vệ môi trường tự nhiên và các hệ sinh thái điển hình. DLST được xem là công cụ bảo tồn đa dạng sinh học, nếu các hoạt động DLST được thực hiện một cách đúng nghĩa thì sẽ giảm thiểu được các tác động tiêu cực đến đa dạng sinh học. Sở dĩ như vậy là vì bản chất của DLST là loại hình du lịch dựa trên cơ sở các khu vực có tính hấp dẫn cao về tự nhiên và có hỗ trợ cho bảo tồn tự nhiên.
Bên cạnh đó, việc phát triển DLST còn đặt ra yêu cầu đồng thời khuyến khích và tạo điều kiện về kinh phí để nâng cáp cơ sở hạ tầng, duy trì và bảo tồn các thắng cảnh, tuyên truyền, vận động người dân địa phương thông qua các dự án bảo vệ môi trường, ngoài ra, DLST còn tạo cơ hội để du khách ủng hộ tích cực trong việc bảo tồn tài nguyên môi trường.
DLST còn tạo động lực quan trọng, khơi dậy ý thức bảo vệ môi trường và duy trì HST. Người dân khi nhận được lợi ích từ hoạt động DLST, họ có thể hỗ trợ ngành du lịch và công tác bảo tồn tốt hơn, bảo vệ các điểm tham quan.
Không chỉ dừng lại ở đó DLST còn khuyến khích cải thiện cơ sở hạ tầng địa phương gồm đường xá, cầu cống, hệ thống cấp thoát nước, xử lý chất thải, thông tin liên lạc…nhờ đó mà ngày càng thu hút khách du lịch và cải thiện môi trường địa phương.
Như vậy phát triển DLST ngoài việc thỏa mãn những nhu cầu mong đợi của du khách nó còn duy trì, quản lý tối ưu các nguồn tài nguyên môi trường và là “Bí quyết để phát triển bền vững”
1.2.4.2. DLST với giải quyết việc làm và các vấn đề văn hóa xã hội
Việc phát triển DLST tạo điều kiện giải quyết công ăn việc làm cho nhiều lao động, đặc biệt là cộng đồng địa phương DLST phát triển làm thay đổi cách sử dụng tài nguyên truyền thống, thay đổi cơ cấu sản xuất, thúc đẩy phát triển nền kinh tế quốc dân dựa trên cơ sở tài nguyên và nội lực của mình. Phát triển DLST góp phần cải thiện đáng kể đời sống văn hóa xã hội của nhân dân. DLST tạo điều kiện đẩy mạnh sự giao lưu văn hóa giữa du khách và người địa phương, góp phần làm cho đời sống văn hóa – xã hội những vùng này càng trở lên sôi động hơn, văn minh hơn. DLST phát triển tốt, nhiều dịch vụ du lịch chất lượng cao được tăng cường, điều đó tạo điều kiện giữ gìn trật tự, an toàn xã hội.
Tuy nhiên về mặt người dân bản địa dù dưới hình thức nào khi đã thương mại hóa thì văn hóa của họ cũng bị ảnh hưởng, du lịch luôn du nhập những thói quen có thể tốt có thể tiêu cực. DLST sẽ góp phần hạn chế tối thiểu mặt tiêu cực thông qua giáo dục có mục đích cho du khách, cộng đồng địa phương khi tham gia vào hành trình DLST.
1.2.4.3. DLST góp phần tăng GDP
Du lịch là một ngành kinh doanh sinh lợi hơn bất kỳ một ngành kinh tế nào khác. Lợi nhuận hàng năm mang lại cho các quốc gia này hàng trăm triệu USD. Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
Theo số liệu điều tra của hiệp hội DLST thế giới thì DLST chiếm khoảng 20% thị phần du lịch thế giới, ước tính DLST đang tăng trưởng hàng năm với tốc độ trung bình từ 10%-30%. Sự đóng góp kinh tế của DLST không chỉ phụ thuộc vào lượng tiền mang đến khu vực mà điều quan tâm là lượng tiền đọng lại ở khu vực mà nhờ đó tạo ra được những tác động nhân bội. Theo ước lượng chung là không đến 10% số tiền tiêu của du khách được nằm lại ở cộng đồng gần điểm DLST vì phần lớn kinh phí được sử dụng cho tiếp thị và đi lại trước khi du khách đến điểm du lịch.[10,9]
Tiểu kết Chương I:
Du lịch đã trở thành một bộ phận không thể thiếu trong đời sống tinh thần của con người trong thời đại kinh tế phát triển. Tuy nhiên khi du lịch phát triển sẽ có những ảnh hưởng tiêu cực đến môi trường và văn hóa bản địa. DLST xuất hiện là một công cụ vô cùng hữu ích để hạn chế những tiêu cực của du lịch, góp phần vào việc phát triển kinh tế, nâng cao đời sống của cộng đồng địa phương nơi có tài nguyên du lịch và đang làm du lịch. Qua chương I, tìm hiểu về du lịch và du lịch sinh thái đã tổng kết những đặc trưng của DLST và những nguyên tắc cơ bản phát triển DLST để từ đó làm cơ sở cho việc đưa ra hướng nghiên cứu và những giải pháp để phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An. Khóa luận: Phát triển du lịch sinh thái tại khu du lịch Tràng An.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
