Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thực trạng hoạt động Marketing với việc nâng cao năng lực cạnh tranh của Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) cho các bạn.

2.1. VÀI NÉT VỀ AGRIBANK

2.1.1. Lịch sử hình thành và phát triển

Năm 1988, Ngân hàng phát triển Nông nghiệp Việt Nam thành lập theo nghị định số 53/HĐBT ngày 26/03/1988 của Hội đồng Bộ trưởng (nay là Chính phủ) về việc thành lập các ngân hàng chuyên doanh.

Ngày 14/11/1990, chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng (nay là Thủ tướng Chính phủ) ký Quyết định số 400/CT thành lập Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam (NHNoVN) thay thế Ngân hàng Phát triển Nông nghiệp Việt Nam.

Ngày 01/03/1991 Thống đốc Ngân hàng Nhà nước có Quyết định số 18/NH- QĐ thành lập Văn phòng đại diện Ngân hàng Nông nghiệp tại thành phố Hồ Chí Minh và ngày 24/6/1994.

Ngày 30/7/1994 tại Quyết Định số 160/QĐ-NHN9, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước chấp thuận mô hình đổi mới hệ thống quản lý của Ngân hàng Nông nghiệp Việt Nam.

Ngày 07/3/1994 theo Quyết định số 90/TTg của Thủ tướng Chính phủ, NHNoVN hoạt động theo mô hình Tổng công ty Nhà nước với cơ cấu tổ chức bao gồm Hội đồng Quản trị, Tổng Giám đốc, bộ máy giúp việc bao gồm bộ máy kiểm soát nội bộ, các đơn vị hoạch toán phụ thuộc, hoạch toán độc lập, đơn vị sự nghiệp, phân biệt rõ chức năng quản lý và điều hành, Chủ tịch Hội đồng Quản trị không kiêm Tổng Giám đốc. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Ngày 15/11/1996, được Thủ tướng Chính phủ ủy quyền, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký Quyết định số 280/QĐ-NHNN đổi tên Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam(NHNo&PTNT VN)

NHNo&PTNT VN hoạt động theo mô hình Tổng công ty 90, là doanh nghiệp Nhà nước hạng đặc biệt, hoạt động theo Luật các tổ chức tín dụng và chịu sự quản lý trực tiếp của NHNN Việt Nam và hệ thống hiện tại bao gồm:

  • 149 chi nhánh cấp 1 và hơn 000 phòng giao dịch trải dài từ thành thị đến nông thôn;
  • 03 văn phòng đại diện, một ở khu vực Miền trung, một ở khu vực Miền Nam và một ở PhnomPenh_Campuchia
  • 01 sở giao dịch; 01 sở quản lý kinh doanh vốn và ngọai tệ;
  • 05 trung tâm gồm: Trung tâm công nghệ thông tin, Trung tâm đào tạo, Trung tâm thẻ, Trung tâm thanh toán, Trung tâm phòng ngừa và xử lý rủi ro.
  • 08 Cty trực thuộc gồm: Cty cho thuê tài chính I, Cty cho thuê tài chính II, Cty TNHH Chứng khóan, Cty in thương mại và dịch vụ ngân hàng, Cty KD Mỹ nghệ Vàng bạc Đá quý, Cty Vàng bạc đá quý Tp.HCM, Cty Du lịch Thương Mại Agribank, Cty KD lương thực và đầu tư phát triển.
  • 01 Ngân hàng liên doanh: Ngân hàng liên doanh Việt _ Thái (Vinasiam)

Năm 2024 là năm ghi dấu chặng đường 20 năm xây dựng và trưởng thành của Agribank và cũng là năm có tính quyết định trong tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế theo chủ trương của Đảng, chính phủ.. Trong chiên lược phát triển của mình, Agribank sẽ trở thành một tập đoàn tài chính đa ngành, đa sở hữu, hoạt động đa lĩnh vực. Theo đó toàn hệ thống xác định những mục tiêu lớn phải ưu tiên đó là: tiếp tục giữ vai trò chủ đạo chủ lực trên thị trường tài chính nông thôn, luôn là người bạn đồng hành thủy chung tin cậy của hơn 10 triệu hộ gia đình, xúc tiến cổ phần hóa các công ty trực thuộc, tiến tới cổ phần hóa Agribank theo định hướng và lộ trình thích hợp, đẩy mạnh tái cơ cấu ngân hàng, giải quyết triệt để vân đề nợ xấu, đạt hệ số an toàn vốn theo tiêu chuẩn quốc tế, phát triển hệ thống công nghệ thông tin, đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng dịch vụ, chuẩn bị nguồn nhân lực chất lượng cao, đảm bảo các lợi ích của người lao động và phát triển thương hiệu, văn hóa Agribank.

Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam được khẳng định là ngân hàng chủ đạo, chủ lực trong thị trường tài chính nông thôn, đồng thời là ngân hàng thương mại đa năng, giữ vị trí hàng đầu trong hệ thống ngân hàng thương mại ở Việt Nam. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.1.2. Tình hình hoạt động kinh doanh của Agribank trong thời gian gần đây

Trong giai đoạn 2018 – 2024 nhìn chung Agribank có hoạt động kinh doanh khả quan, các tiêu chí phần lớn đều đạt mức tăng trưởng dương và khá đều đặn. Cụ thể:

Về tổng huy động vốn: đã có sự tăng trưởng mạnh qua các năm, tỷ lệ tăng trưởng dao động từ 20-30%.

Về cho vay: Agribank tiếp tục khẳng định nông nghiệp, nông thôn là thị trường truyền thống, đồng thời chú trọng mở rộng cho vay khu vực kinh tế tư nhân. Đến cuối năm 2024, Agribank đã đầu tư cho hơn 9 triệu hộ với số vốn gần 213.000 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 55.5% tổng dư nợ.

Kết quả đến cuối năm 2024, tỷ lệ nợ xấu giảm chỉ còn 1.7%.

Tổng doanh số thanh toán quốc tế đạt 8.335 triệu USD vào cuối năm 2024, tăng hơn 1.000 triệu USD so với năm 2023, chất lượng thanh toán quốc tế toàn hệ thống được nâng cao, góp phần nâng cao năng lực cạnh tranh và thu hút khách hàng xuất, nhập khẩu.

Agribank chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý nhằm đáp ứng yêu cầu thanh toán xuất-nhập khẩu của khách hàng. Số lượng các ngân hàng đại lý tăng từ 784 ngân hàng năm 2018 lên 921 ngân hàng tại hơn 113 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Kinh doanh ngoại tệ phát triển mạnh, an toàn và vững chắc. Agribank không những cân đối được nguồn ngoại tệ trong kinh doanh mà còn tăng cường xuất khẩu ngoại tệ mạnh và bán cho Ngân hàng Nhà nước và các TCTD khác trên thị trường liên ngân hàng.

2.1.3. Nguồn lực công nghệ của Agribank Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Các ngân hàng hiện đại đều hướng tới xây dựng một hệ thống thông online giữa hội sở và các chi nhánh, đồng thời xây dựng hệ thống tài khoản khách hàng tập trung, đây là điều kiện tiên quyết cho việc triển khai các dịch vụ ngân hàng bán lẻ, ngân hàng điện tử, phát triển các dịch vụ gia tăng.

Năm 2023, Agribank triển khai thành công giai đoạn 1 dự án: hệ thống thanh toán nội bộ và kế toán khách hàng (IPICAS: Intra Payment and Customer Accounting System). Hiện nay Agribank đã hoàn tất triển khai giai đoạn 2 của dự án này, tới tháng 6 năm 2025 đã kết nối giao dịch tới tất cả các chi nhánh cấp 1, các chi nhánh phục vụ khu công nghiệp, trung tâm thương mại, du lịch…. Đây là hệ thống Core Banking (ngân hàng lõi) lớn nhất Việt Nam.

2.1.4. Sản phẩm dịch vụ của Agribank

Sản phẩm tín dụng: Căn cứ theo mục đích sử dụng vốn vay thì hiện tại sản phẩm tín dụng của Agribank gồm có: Cho vay tiêu dùng (mua xe, mua nhà trả bằng lương, bằng thu nhập, mua sắm vật dụng gia đình..); Cho vay kinh doanh bất động sản; Cho vay kinh doanh chứng khoán; Cho vay du học; Cho vay đi lao động nước ngòai; Cho vay bổ sung vốn lưu động sản xuất kinh doanh; Cho vay lưu vụ; Cho vay tài trợ xuất nhập khẩu; Cho vay mua sắm tài sản cố định, đầu tư dự án.

Sản phẩm huy động vốn gồm: Tiền gửi không kỳ hạn; Tiền gửi thanh toán; Tiền gửi tiết kiệm (Tiền gửi tiết kiệm đảm bảo bằng vàng, tiền gửi tiết kiệm bậc thang); Chứng chỉ tiền gửi có kỳ hạn; Tài khoản tiền gửi có kỳ hạn; Tiền gửi của ngân hàng khác.

Sản phẩm bảo lãnh trong nước bao gồm: Bảo lãnh dự thầu; Bảo lãnh thực hiện hợp đồng; Bảo lãnh thanh toán; Bảo lãnh hoàn thanh toán; Bảo lãnh bảo hành công trình, thiết bị; Bảo lãnh vay vốn; Bảo lãnh khác.

Sản phẩm thanh toán quốc tế: Mở L/C; Ủy nhiệm chi; Ủy nhiệm thu; Nhờ thu; Chuyển tiền; Chiết khấu bộ chứng từ.

Sản phẩm dịch vụ: Dịch vụ kiều hối; Dịch vụ chi trả Western Union; Dịch vụ thẻ; Dịch vụ thu, chi hộ; Dịch vụ trả lương qua thẻ; Dịch vụ chuyển tiền trong nước; Dịch vụ séc; Dịch vụ ngân quỹ; Dịch vụ tài khoản; Dịch vụ thanh toán đa biên; Dịch vụ mua bán ngoại tệ.

Sản phẩm ngân hàng điện tử bao gồm: SMS banking; Atransfer;

2.2. THỰC TRẠNG VỀ NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.2.1. Xét về hoạt động kinh doanh của Agribank trong thời gian gần đây

2.2.1.1. Năng lực tài chính

Bảng 2.1: Vốn chủ sở hữu, tổng tài sản của các NHTM năm 31/12/2023

ĐVT: Tỷ đồng

Tên NHTM AGRIBANK ICB BIDV ACB VCB SACOM- BANK
Vốn chủ sở hữu 10.5480 10.497 10.640 2.630 13.551 5.948
Tổng tài sản 321.444 190.000 201.400 85.390 197.410 63.364

( Nguồn : Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2023)

Về năng lực tài chính, đến thời điểm 31/12/2023, Agribank vẫn là NHTM có tiềm lực tài chính mạnh nhất so với các NHTM khác trong nước. Thế nhưng, kể từ khi VCB cổ phần hóa thì đã trở thành NHTM CP có vốn điều lệ lớn nhất Việt Nam. Tuy nhiên, mức vốn điều lệ trên vẫn còn khá khiêm tốn so với các NHNNg trong khu vực, điều này làm cho năng lực cạnh tranh của Agribank sẽ suy giảm khi sử dụng các yếu tố có liên quan đến vốn tự có, cụ thể như: Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Dưới đây là bảng thể hiện vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng hàng đầu trên thế giới:

Bảng 2.2: Vốn chủ sở hữu của một số ngân hàng hàng đầu trên thế giới

Ngân hàng Vốn chủ sở hữu (triệu USD)
Citigroup 112.537
JP Morgan Chase 107.211
HSBC 98.226
Mitsubishi UFJ Financial Group 83.281
BNP Paribas 56.61
Mizuho Financial Group 52.243

(Nguồn: http://en.wikipedia.org/wiki/Ban)

Với tiềm lực tài chính hùng mạnh của các NHNNg như trên thì một khi cam kết của WTO hoàn toàn đựơc áp dụng thì sức mạnh cạnh tranh của Agribank sẽ bị ảnh hưởng rất lớn. Bên cạnh đó, trong những năm gần đây các NHTM CP đã luôn đặt việc tăng vốn điều lệ là mục tiêu quan trọng trong chiến lược kinh doanh của mình. Mục tiêu tăng vốn của các NHTM CP được thể hiện sơ lược qua bảng dưới đây:

Bảng 2.3: Tăng vốn điều lệ của 05 NHTM CP lớn trong giai đoạn 2024 -2026

ĐVT: Tỷ đồng

STT Tên ngân hàng 31/12/2022 31/12/2023 Mục tiêu 2024 Mục tiêu 2026
1 Sacombank 2.089,4 4.448,8 6.493
2 ACB 1.100 2.630 6.355 8.000
3 Eximbank 1.212,4 2.800 7.380
4 Dong A bank 880 1.600 3.000
5 NHTM CP Quân đội 1.045,2 2.000 3.400 7.300

(Nguồn: Tạp chí công nghệ ngân hàng số 27 (tháng 06/2024)) Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Theo xu thế tăng vốn như trên của các NHTM CP thì năng lực cạnh tranh của các NHTM CP sẽ được nâng lên đáng kể, tất yếu sẽ ảnh hưởng rất lớn đến vị trí của Agribank trên thị trường Việt Nam trong những năm sắp tới.

Bên cạnh việc tăng vốn điều lệ của mình các NHTM CP đã chủ động lựa chọn đối tác chiến lược của mình là các NHNNg để liên kết nhằm tạo tăng cường sức mạnh tranh canh của mình thông qua kinh nghiệm quản lý, công nghệ, sản phẩm mới… một số NHTM CP có vốn của NHNNg gồm:

Bảng 2.4: Tỷ lệ sở hữu cổ phần của các TCTC nước ngoài tại các NHTM Việt Nam

NHTM Đối tác nước ngoài Tỷ lệ sở hữu (% cổ phần)
ACB Ngân hàng Standard Chartered 15%
Ngân hàng ANZ 10%
SACOMBANK Dragon Financial Holdings và 8.73%
Công ty tài chính quốc tế IFC 6.96%
TECHCOMBANK HSBC 20%
VPBANK Oversea Chinese Banking 20%
Corporation (OCBC)

(Nguồn: Tổng hợp từ trang web của các ngân hàng thương mại)

Ngoài những lợi ích mang giá trị thực tế mà các NHTM CP có được thông qua sự liên kết với các TCTC hay Tập đoàn tài chính nước ngoài mà các NHTM CP còn tạo được uy tín, thương hiệu của mình nhờ thương hiệu của các đối tác chiến lược trên. Điều này rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của Ngân hàng. Nó góp phần không nhỏ trong việc gia tăng sức mạnh cạnh tranh của NHTM đó. Do vậy, áp lực cạnh tranh ngày càng được đẩy lên vai các NHTM QD trong đó có Agribank.

2.2.1.2. Khả năng sinh lời và hệ số CAR: Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Khả năng sinh lới và hệ số CAR là một trong những chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của các NHTM với nhau, dưới đây là kết quả sinh lời của các NHTM trong năm qua:

Bảng 2.5: Các hệ số tài chính của các NHTM năm 2023

Tên NHTM AGRIBANK BIDV ACB SACOMBANK
ROE 43,20% 25,01% 53,8% 39,16%
ROA 1,41% 0,89% 3,3% 2,9%
CAR 7,2% 6,7% 16,19% 11,07%

( Nguồn : Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2023)

So với các NHTM QD khác và khối NHTM CP về các hệ số tài chính đánh giá năng lực tài chính của NHTM thì đến hết năm 2023 Agribank vẫn chiếm ưu thế. Đặc biệt là hệ số CAR của Agribank luôn được cải thiện trong những năm qua và gần đạt được mức chuẩn theo qui định.

Dù hệ số sinh lời của Agribank trong những năm qua là khá cao so với các NHTM khác trong nước. Tuy nhiên xét về cơ cấu của nguồn thu nhập thì thu nhập chủ yếu của Agribank là từ tín dụng chiếm tỷ trọng khá cao trên 92%, trong khi đó các NHTM khác tỷ lệ này ngày được cải thiện đáng kể. Dưới đây là bảng thể hiện tỷ trọng thu nhập ngoài lãi trên tổng thu nhập của một số NHTM tiêu biểu: Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Bảng 2.6: Tỷ trọng thu nhập phi lãi trên tổng thu nhập của một số NHTM

Ngân hàng

Agribank VCB BIDV ACB
Tỷ trọng thu nhập phi lãi/ tổng thu nhập 7,34% 28,86% 17,21% 38,36%
Tỷ trọng thu nhập từ dịch vụ/ tổng thu nhập 4,64% 15,5% 10,45% 18,6%

(Nguồn: Báo cáo thường niên của các NHTM năm 2023)

Dù đã thành lập và đi vào hoạt động hơn 20 năm, Agribank được đánh giá là một trong những NHTM QD sở hữu nhiều lợi thế cạnh tranh nhất trong hệ thống NHTM trong nước (thương hiệu đã ăn sâu vào lòng người dân trong nước, mạng lưới rộng khắp, qui mô khách hàng lớn…). Thế nhưng, với những gì mà Agribank đạt được của một ngân hàng hiện đại vẫn chưa được thể hiện. Theo kết quả trên cho thấy khả năng cạnh tranh của Agribank về mảng dịch vụ và thu nhập ngoài tín dụng là khá thấp. Điều này cho thấy lĩnh vực dịch vụ của Agribank còn quá thấp, cũng có thể do chất lượng dịch vụ chưa cao, sản phẩm dịch chưa phong phú và đa dạng…. Bên cạnh đó, cũng có thể kể đến là sự hoạt động kém hiệu quả của các Cty thành Viên (Cty Chứng Khoán, Cty quản lý nợ, Cty vàng bạc đá quí, Cty du lịch..).

Agribank với nhiều lợi thế như trên mà thu nhập chủ yếu dựa vào cho vay thì còn có rất nhiều việc phải làm để cũng cố vị trí của mình trên thương trường cũng như gia tăng sức mạnh tranh với các Ngân hàng trong nước nói chung và NHNNg tại Việt Nam nói riêng. Rủi ro về tín dụng là rủi ro không thể tránh khỏi trong hoạt động kinh doanh, nó ảnh hưởng rất lớn đến khả năng thanh khoản của một ngân hàng. Việc nguồn thu nhập của Agribank còn phụ thuộc quá nhiều vào nguồn cho vay sẽ làm sức mạnh cạnh tranh của Agribank giảm.

2.2.2. Xét về chất lượng dịch vụ Ngân hàng và sự hài lòng của khách hàng Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Như đã trình bày ở phần trên, sản phẩm Ngân hàng có những đặc điểm khác biệt với các sản phẩm thông thường, một trong số đó là tính vô hình. Tính vô hình của sản phẩm dịch vụ thể hiện ở chỗ khách hàng không thể nhìn thấy, không thể nắm giữ và đặc biệt là khó khăn trong việc đánh giá chất lượng sản phẩm dịch vụ trước khi mua, trong quá trình mua và sau khi mua. Do vậy, khi lựa chọn sử dụng sản phẩm dịch vụ ngân hàng, khách hàng buộc phải tìm kiếm các dấu hiệu chứng tỏ chất lượng sản phẩm dịch vụ. Dưới đây là bảng đánh giá vị trí xếp hạng về một số sản phẩm dịch vụ của các NHTM VN dựa trên các tiêu chí như: sự an toàn, tinh chính xác, mức độ bảo mật, hiệu quả, phương thức làm việc, tác phong làm việc của nhân viên.

Bảng 2.7: Xếp hạng của 5 loại dịch vụ tại các NHTM Việt Nam.

Ngân hàng

Agribank ICB BIDV VCB ACB Sacombank EAB
1. Dịch vụ ngân quỹ 4 6 7 2 1 5 3
2. Dịch vụ tài trợ thương mại quốc tế 3 4 5 1 2 6 7
3. Dịch vụ tư vấn tài chính 3 7 4 5 6 2 1
4. Dịch vụ tài trợ nội địa 5 2 7 3 1 6 4
5. Dịch vụ chuyển khoản thanh toán 6 7 4 1 2 3

(Nguồn: Báo Tiếp thị Sài Gòn Giải Phóng)

Như vậy có thể thấy chất lượng dịch vụ của Agribank chưa được khách hàng đánh giá cao. Cụ thể, theo cuộc điều tra của Trung tâm Nghiên cứu người tiêu dùng và doanh nghiệp đã công bố kế quả điều tra ý kiến của người tiêu dùng về sự hài lòng của mình khi sử dụng các sản phẩm dịch vụ của mình thì Agribank hiện đang xếp thứ 4 sau NHTM CP ACB, NHTM CP Ngoại thương, NHTM CP Đông Á. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.2.3. Tính đổi mới về sản phẩm dịch vụ

Dù đã ra đời khá lâu (hơn 20 năm), nhưng số lượng sản phẩm dịch vụ của Agribank vẫn còn là những con số khiêm tốn, ngoài những sản phẩm truyền thống như: Cho vay, huy động vốn, thanh toán trong ngoài nước, bảo lãnh… nhưng tất cả những sản phẩm trên của Agribank là khá đơn điệu, cụ thể là cùng một lọai hình cho vay cá nhân thì Sacombank có đến trên 20 hình thức cho vay khác nhau, còn sản phẩm huy động thì cũng có trên 11 hình thức khác nhau.

Bảng 2.8: Tổng hợp các sản phẩm chủ lực mà các NHTM tiêu biểu

ĐVT: Sản phẩm

Chỉ tiêu Tên NHTM Cho vay Tiền gửi Sản phẩm thẻ Chuyển tiền/TTQT Dịch vụ khác
nhân Doanh nghiệp Tiết kiệm Thanh toán dịch vụ TK
AGRIBANK 8 5 6 3 3 5 5
ACB 21 13 8 15 6 12 20
VIETCOMBANK 5 5 3 9 5 5 13
SACOMBANK 24 12 11 9 5 11 21

(Nguồn: Website của các ngân hàng)

Bên cạnh những sản phẩm truyền thống thì hầu hết các NHTM CP luôn dẫn đầu về tính đột phá khi cho ra đời những dòng sản phẩm mới đáp ứng ngày càng cao của người tiêu dùng, đặc biệt là dòng sản phẩm thẻ, dịch vụ tài khoản, sản phẩm ngân hàng điện tử, sản phẩm phái sinh, sản phẩm liên quan đến vàng….

Hiện tại hầu hết các NHTM CP và NHTM QD đều đang nỗ lực phát triển thị trường bán lẻ của mình, tất cả các NHTM mạnh đều định hướng cho mình trở thành một một tập đoàn tài chính hàng đầu, ngân hàng bán lẻ chuyên nghiệp…Vì thế trong thời gian này ngoài cuộc chạy đua về lãi suất để đảm bảo tính thanh khoản các ngân hàng đều đẩy mạnh công tác marketing để giới thiệu sản phẩm, đẩy mạnh đầu tư công nghệ… Đặc biệt là sau Chỉ thị số 20/2023/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ về trả lương qua tài khoản cho các đối tượng hưởng lương từ Ngân sách nhà nước thì thị trường thẻ lại càng được phát triển. Thực tế, tình hình thị trường thẻ của Agribank so với các NHTM khác như sau: Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Bảng 2.9: Số lượng máy ATM và máy POS của các NHTM đến thời điểm tháng 6/2024

ĐVT: Cái

Tên ngân hàng Số lượng máy ATM Số lượng máy POS
12/2023 6/2024 Tăng 12/2023 6/2024 Tăng
Agribank 602 802 200 203 203 0
VCB 1890 2090 200 5500 5930 430
BIDV 682 815 133 425 780 355
ICB 492 742 250 1305 1597 292
EAB 667 794 127 753 822 69
Sacombank 212 350 138 1773 1752 -21
ACB 134 174 40 7050 7060 10
Techcombank 165 230 65 1804 1839 35
VIB 157 225 68
NHNNg và LD 54 108 54 3000 3000
Các NHTM khác 433 555 122 3190 4744 1554
Tổng cộng 5488 6885 1397 22022 24730 2724

(Nguồn: Tạp chí ngân hàng số 15 tháng 8/2024)

Xét về số lượng máy ATM thì hiện tại Agribank chỉ đứng sau VCB và BIDV, thế nhưng xét về những tiện ích, tính đa dạng và chuẩn loại thẻ cho đến thời điểm này thì Agribank còn thua khá nhiều NHTM khác như ACB, Techcombank, ICB, EAB và một số NHTM khác hiện đã phát hành thẻ ghi nợ, thẻ thấu chi và visa… Còn những tiện ích khác như gửi tiền tại máy ATM của EAB, thanh toán tiền điện, nước…Trong khi đó sản phẩm thẻ của Agribank chỉ dùng rút tiền, chuyển tiền in sao kê tài khỏan và cũng chỉ mới phát hành thẻ tín dụng, và Visa card trong năm 2024.

Sự nổi bật lớn nhất về sản phẩm thẻ của Agribank là sự kết nối vào hệ thống thanh toán Banknet, vì thế số máy ATM chấp nhận thẻ của Agribank đã tăng lên đáng kể, điều này cũng góp phần làm giảm áp lực về việc lắp đặt máy ATM cho Agribank nói riêng và cho các NHTM có tham gia Banknet nói chung. Nó cũng góp phần làm gia tăng sức hấp dẫn của thị trường thẻ của Agribank trong giai đọan sắp tới.

2.2.4. Thị phần hoạt động: Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Đến thời điểm 31/05/2024, cả nước có 37 NHTMCP, 29 NHTM nước ngoài, 6 NHLD, 4 NHTMQD, 01 NHCS và 01 Ngân hàng phát triển. Tổng dư nợ cho vay, huy động vốn của toàn ngành ngân hàng phần lớn tập trung vào 3 NHTMQD và 03 NHTMCP được thể hiện dưới bảng sau:

Bảng 2.10: Thị phần các NHTM lớn ở Việt Nam năm 2023

Tên NHTM Huy động vốn (%) nợ (%)
2021 2022 2023 2021 2022 2023
AGRIBANK 26,13 25,89 23,68 25,43 23,40 23,07
BIDV 12,01 11,83 10,45 13,48 12,70 11,82
ICB 14,95 13,50 10,91 14,01 13,08 11,73
ACB 3,01 4,46 5,80 1,58 2,14 3,00
VCB 17,84 17,41 14,24 9,64 9,55 9,21
SACOMBANK 1,64 2,34 4,33 1,26 1,89 3,28
NHTM KHÁC (LD và NNg) 24,42 24,57 30,59 34,60 37,24 37,89
TỔNG CỘNG 100 100 100 100 100 100

( Nguồn : Báo cáo thường niên của các NHTM từ năm 2021_2023; thời báo kinh tế Việt Nam 2021_2022)

Mặc dù hiện tại thị phần huy động vốn của Agribank vẫn chiếm tỷ trọng cao (23,68%) so với toàn ngành kinh tế. Thế nhưng tỷ trọng đã và đang có xu hướng giảm trong những năm gần đây (25,89% năm 2022 xuống còn 23,68% năm 2023), trong khi đó những NHTM CP tiêu biểu thì luôn tăng và khối các NHNNg và NHLD cũng tăng. Điều này cho thấy sức mạnh cạnh tranh của Agribank đang có chiều hướng giảm, xa hơn nữa là hiện tại các NHTM CP, NHNNg và NHLD không ngừng phát triển mạng lưới hoạt động xuống cả khu vực nông thôn, đa dạng hóa các sản phẩm, công nghệ trình độ quản lý… để dành giật khách hàng, mở rộng thị phần, điều này tất yếu sẽ làm cho thị phần của Agribank sẽ bị giảm trong tương lai.

Sự suy giảm về thị phần huy động vốn không chỉ đơn giản làm cho tính cạnh tranh về huy động giảm mà tất yếu sẽ kéo theo sự suy giảm về những sản phẩm dịch vụ khác liên quan đến tài khỏan, thanh toán…vì thế, để giành lại những khách hàng mà mình mất đi thật vô cùng khó khăn, khi mà hầu hết các NHTM đang ra sức lôi kéo khách hàng về phía mình.

2.3. THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG MARKETING TRONG VIỆC NÂNG CAO NĂNG LỰC CẠNH TRANH CỦA AGRIBANK – NHỮNG KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC VÀ HẠN CHẾ Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.3.1. Thực trạng hoạt động nghiên cứu thị trường và xác định thị trường mục tiêu của Agribank

Tại các chi nhánh loại I của Agribank đều có phòng/ tổ tiếp thị, do vậy từ Trung ương tới địa phương đã hình thành được một hệ thống chuyên trách về mảng công tác, nghiệp vụ này.Tuy nhiên, phòng/ tổ tiếp thị tại các chi nhánh này hiện tại lại được lồng ghép và đảm nhiệm nhiều mảng công việc khác nhau như: tiếp thị, thẻ, quan hệ khách hàng, thậm chí ghép cả phần tiếp cận các dự án ngân hàng phục vụ…Do vậy mặc dù tên là phòng “tiếp thị” song hầu như không phải mang chức năng tổ chức các hoạt động Marketing cho ngân hàng. Hơn nữa, các phòng này đều thiếu cán bộ chuyên trách, không được đào tạo về Marketing, cán bộ không được trang bị kiến thức về quan hệ công chúng (PR) và cách tổ chức điều tra thị trường, tổng hợp, viết tin, hoạch định chiến lược Marketing. Phần lớn cán bộ làm việc tại phòng/ tổ tiếp thị là kiêm nhiệm, bán chuyên trách.Trong khi đó, các ngân hàng thương mại là đối thủ cạnh tranh của Agribank hầu như đều thành lập phòng Marketing chuyên biệt, do vậy công tác nghiên cứu thị trường cũng được thực hiện rất bài bản và chuyên nghiệp. Ví dụ như ACB là một trong những ngân hàng thương mại đầu tiên tại Việt Nam thành lập một phòng chuyên trách về Marketing thuộc hội sở. Phòng được chia làm 4 bộ phận, phụ trách 4 mảng chính trong hoạt động Marketing.

Hình 2.1: Cơ cấu phòng Marketing của ACB hội sở

Tóm lại, công tác nghiên cứu thị trường của Agribank được đánh giá là còn rất yếu kém so với các đối thủ của mình. Đó chính là nguyên nhân khiến cho những sản phẩm dịch vụ Agribank cung ứng ra thị trường thường không đáp ứng được nhu cầu của khách hàng, đơn điệu và kém hấp dẫn so với các sản phẩm dịch vụ hiện có trên thị trường của các đối thủ cạnh tranh.

Tuy nhiên, bước sang năm 2026, thay đổi tư duy, nhận thức về phát triển sản phẩm dịch vụ bằng hành động cụ thể, lần đầu tiên, Agribank tổ chức khảo sát cơ sở khách hàng, môi trường cạnh tranh, hệ thống SPDV… trên từng địa bàn trong toàn hệ thống. Các chi nhánh đã huy động tất cả cán bộ tham gia khảo sát. Triển khai tốt công việc này, Ngân hàng nắm được tiềm năng khách hàng, hiểu rõ toàn bộ hoạt động dịch vụ tại chi nhánh, cũng như môi trường cạnh tranh giữa các ngân hàng trên địa bàn. Dựa trên cơ sở thông tin thu được qua khảo sát, Ngân hàng thực hiện đánh giá SWOT – đánh giá điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội, thách thức và phân đoạn thị trường cho từng sản phẩm, từng nhóm sản phẩm, từ đó xác định địa bàn, xu hướng phát triển từng sản phẩm, đối tượng sử dụng sản phẩm v.v.. Qua đây tạo ra cơ sở dữ liệu hết sức quan trọng cho hệ thống chi nhánh. Trên cơ sở nắm chắc tiềm năng khách hàng trên địa bàn, các chi nhánh có kế hoạch điều hành, xây dựng chiến lược phát triển cho từng sản phẩm hằng năm nhằm gia tăng thị phần.

2.3.2. Thực trạng về các hoạt động Marketing cụ thể của Agribank Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.3.2.1. Thực trạng cung ứng sản phẩm dịch vụ của Agribank

Trong cuộc chạy đua phát triển thị trường bán lẻ, các NHTM không ngừng cho ra đời những dòng sản phẩm mới đáp ứng ngày càng cao nhu cầu của khách hàng. Mặt khác, so với các đối thủ cạnh tranh của mình thì sản phẩm dịch vụ Agribank cung ứng ra thị trường còn khá khiêm tốn và đơn điệu. Đứng trước thực trạng đó, Agribank đang nỗ lực từng bước cải thiện nhằm mang đến cho khách hàng những sản phẩm đa dạng với nhiều tiện ích hơn. Một trong số là sản phẩm và dịch vụ thẻ, một trong những thế mạnh của Agribank.

Chỉ sau 5 năm tham gia thị trường thẻ, Agribank đã phát hành được hơn 2 triệu thẻ, nâng thị phần thẻ của ngân hàng tại Việt Nam lên 19%, đứng thứ hai trong tổng số 40 ngân hàng tham gia hoạt động thẻ tại Việt Nam. Bên cạnh sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa (Success) ra đời từ năm 2021, với đặc tính đa năng, tiện dụng cho việc chi trả lương hưu, trợ cấp bảo hiểm xã hội và đối tượng hưởng lương từ ngân sách nhà nước, Agribank tiếp tục khẳng định vị thế trong cung ứng các sản phẩm thẻ quốc tế.

Từ tháng 9 năm 2024, ngân hàng đã chính thức đưa ra thị trường 2 dòng sản phẩm thẻ uy tín: Thẻ ghi nợ quốc tế (Agribank Visa Debit – Success) và thẻ tín dụng quốc tế với hạn mức tín dụng lên tới 300 triệu đồng Việt Nam (Agribank Visa Credit – Golden Key). Theo đó, khách hàng có thể sử dụng thẻ để rút/ứng tiền mặt và các dịch vụ khác tại hơn một triệu máy ATM tại Việt Nam và thế giới; thanh toán tiền hàng hoá, dịch vụ tại hơn 30 triệu điểm chấp nhận thẻ hay trực tiếp mua hàng qua mạng Internet.

Năm 2024 cũng là năm đánh dấu những nỗ lực vượt bậc của ngân hàng trong việc mở rộng mạng lưới chấp nhận thẻ. Agribank đã đầu tư hệ thống cơ sở hạ tầng hiện đại và trang bị thêm nhiều máy ATM để tạo cho khách hàng một không gian sử dụng thẻ dễ dàng, thuận tiện. Tính đến cuối năm 2024, hơn 1.200 máy ATM đã được ngân hàng trang bị trên khắp các tỉnh thành, quận huyện, tăng hơn 49% so với năm 2023. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Không những thế, với phương châm mang đến cho khách hàng sự tiện lợi tối đa, ngân hàng đã đưa ra dịch vụ chấp nhận thanh toán qua POS/EDC tại quầy giao dịch ở tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch loại 1, loại 2 của Ngân hàng và liên tục mở rộng mạng lưới này nhằm tạo sự thuận tiện hơn nữa cho các chủ thẻ. Hiện nay, với trên 2.200 chi nhánh và phòng giao dịch rộng khắp toàn quốc, Agribank đã thiết lập được một mạng lưới gần 2.000 EDC tại quầy, chấp nhận các loại thẻ thông dụng như thẻ quốc tế mang thương hiệu Visa, MasterCard do Agribank và các tổ chức khác phát hành.

Bên cạnh việc phát triển mạng lưới chấp nhận thanh toán trong nội hệ thống, trong năm 2024, Agribank còn kết nối thanh toán thẻ với 13 ngân hàng khác nhờ sự hợp tác thành công giữa Công ty cổ phần Chuyển mạch tài chính quốc gia Việt Nam (Banknetvn) và Công ty cổ phần Dịch vụ thẻ Smartlink (Smartlink).

Đặc biệt, Ngân hàng đã chủ động tham gia kết nối thanh toán với Tổ chức thẻ quốc tế MasterCard. Việc tham gia kết nối thanh toán thẻ MasterCard và Banknetvn- Smartlink không những cung cấp nhiều hơn các dịch vụ, tiện ích cho khách hàng, mà còn khẳng định sự hội nhập bền vững, sâu rộng tới thị trường thẻ trong nước và quốc tế của Agribank.

Trong thời gian tới đây, Ngân hàng sẽ đưa ra thị trường dòng sản phẩm thẻ quốc tế trả trước, thẻ công ty và thẻ dành riêng cho các khách hàng V.I.P. Đồng thời, Ngân hàng cũng tích cực và chủ động trong việc tham gia kết nối với các tổ chức thẻ quốc tế khác như JCB, Amex, Dinner Club, v.v…

2.3.2.2. Thực trạng sử dụng công cụ lãi suất (giá) để cạnh tranh

Kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, Agribank đã nhận thức được vai trò của công cụ lãi suất trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động, trong việc thu hút khách hàng, duy trì mối quan hệ với khách hàng và tăng cường khả năng cạnh tranh trên thị trường.

Đối với lãi suất huy động: Agribank đưa ra rất nhiều lãi suất áp dụng cho các kỳ hạn từ “không kỳ hạn” đến 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 1 năm…với rất nhiều sản phẩm như tiết kiệm thường, tiết kiệm bậc thang. Các mức lãi suất này thường xuyên được cạp nhật và thay đổi để bảo đảm tính cạnh tranh trên cơ sở kết quả khảo sát các mức lãi suất huy động của các Ngân hàng trên thị trường Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Lãi suất cho vay: Hiện nay Agribank đã xây dựng được chính sách lãi suất áp dụng với khách hàng vay vốn trên cơ sở xếp hạng tín dụng của các khách hàng với tiêu chí lãi suất cho vay áp dụng đối với khách hàng dựa vào xếp hạng tín dụng của khách hàng có tính mức giảm trừ của tài sản đảm bảo. Khách hàng có mức xếp hạng tín dụng càng cao thì mức lãi suất áp dụng càng thấp để đảm bảo tính cạnh tranh so với các ngân hàng khác.

Phí dịch vụ: Agribank thực hiện việc xây dựng biểu phí dịch vụ trên cơ sở khảo sát các biểu phí của các ngân hàng thương mại cổ phần trên thị trường để đảm bảo tính cạnh tranh. Tính đến nay so với các NHTM CP thì biểu phí của Agribank khá hợp lý, tạo điều kiện cho khách hàng được sử dụng những dịch vụ tốt nhất.

2.3.2.3. Thực trạng phát triển hệ thống phân phối

Việc phát triển hệ thống phân phối được Agribank xác định bao gồm hai kênh chính:

  • Kênh phân phối truyền thống về mặt địa lý
  • Kênh phân phối điện tử hiện đại

Việc phát triển song song cả 2 kênh phân phối này vừa giúp Agribank mở rộng mang lưới kênh phân phối được nhanh chóng hiệu quả vừa đáp ứng được nhu cầu của nhiều đối tượng khách hàng.

Đối với kênh phân phối truyền thống: Tính đến hiện tại, Agribank là ngân hàng lớn nhất Việt Nam, có mạng lưới rộng khắp trên toàn quốc với trên 2.230 chi nhánh và điểm giao dịch được bố chí trải đều từ Miền Bắc xuống Miền Nam, từ miền núi cao hẻo lánh đến các vùng hải đảo xa xôi.

Ngoài ra, Agribank luôn chú trọng mở rộng quan hệ ngân hàng đại lý nhằm đáp ứng mọi yêu cầu thanh toán xuất – nhập khẩu của khách hàng. Hiện nay Agribank có quan hệ ngân hàng đại lý với 931 ngân hàng tại 113 quốc gia và vùng lãnh thổ.

Đối với kênh phân phối điện tử hiện đại: Agribank đã đưa vào khai thác các dịch vụ giao dịch trực tuyến để phục vụ khách hàng, đồng thời sẽ hướng tới đưa thêm nhiều các sản phẩm dịch vụ điện tử để giảm thiểu việc đi lại giao dịch của khách hàng cũng như chi phí giao dịch của Ngân hàng, tạo sự tiện lợi cho khách hàng trong việc sử dụng các dịch vụ của Ngân hàng cũng như khai thác hiệu quả kênh phân phối điện tử hiện đại này. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Cụ thể, ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank) và Công ty cổ phần Giải pháp thanh toán Việt Nam (VNPAY) mới đây khai trương dịch vụ thanh toán hóa đơn qua tin nhắn (APayBill) và dịch vụ ví điện tử VnMart.

Ðây là hai dịch vụ hoàn toàn mới trên thị trường, do Agribank và VNPAY tiên phong phát triển và cung cấp nhằm mang lại cho khách hàng của hai bên những dịch vụ thanh toán tiện ích, không dùng tiền mặt.

APayBill là dịch vụ cho phép khách hàng nhắn tin để tra cứu và thanh toán cước dịch vụ bằng cách soạn tin nhắn theo cú pháp quy định gửi đến tổng đài 8149 của VNPAY, số tiền được tự động trừ trực tiếp vào tài khoản của khách hàng tại Agribank phục vụ các dịch vụ thu cước di động… Hiện tại APayBill đang được áp dụng cho khách hàng sử dụng mạng điện thoại Sfone có tài khoản tại Agribank. Nhằm gia tăng tiện ích đến nhiều người tiêu dùng, mô hình này sẽ tiếp tục mở rộng tới các mạng viễn thông di động khác như: Viettel, Mobifone, Vinaphone, EVN Telecom… và sẽ được mở rộng để thanh toán các dịch vụ như: tiền điện, tiền nước, Internet, truyền hình cáp… Ví điện tử VnMart là phương tiện thanh toán được thể hiện dưới dạng một tài khoản điện tử, có chức năng như “Ví tiền” trong thế giới số (mạng Internet và các mạng di động…), cho phép chủ tài khoản Agribank chuyển tiền từ tài khoản ngân hàng sang tài khoản ví và sử dụng tiền trong đó để giao dịch, mua bán, trao đổi tại các trang web thương mại điện tử…

Có thể nói phát triển kênh phân phối điện tử hiện đại là một cách hữu hiệu để đưa các sản phẩm của Agribank đến với khách hàng một cách nhanh chóng nhất và khẳng định vị thế của Agribank trên thị trường.

2.3.2.4. Thực trạng hoạt động xúc tiến quảng bá

Có thể nói, trong quá trình xây dựng, phát triển thương hiệu từ năm 1990 đến nay, đặc biệt trong những năm gần đây, hoạt động quảng bá xúc tiến đã được Agribank chú ý coi trọng hơn và bắt đầu được triển khai có hệ thống. Agribank thực hiện công tác tiếp thị, quảng bá thương hiệu với nhiều hình thức như từ việc định vị đến đồng bộ hóa logo, slogan, màu sắc, biển hiệu, biển quảng cáo tấm lớn (Bill board), thông qua các chương trình, sự kiện quan trọng, có ý nghĩa trong cộng đồng; quảng cáo trên các ấn phẩm báo chí, phương tiện truyền thông; quảng cáo trên các biển tấm lớn, tấm nhỏ, panô ngoài trời; phim TVC… Đồng thời, thực hiện công tác thông tin tuyên truyền thông qua tờ Thông tin Agribank; website Agribank (tiếng Việt và tiếng Anh). Thông qua các hình thức nêu trên cùng với việc nâng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ, thái độ phục vụ tận tình, chu đáo, hình ảnh và thmương hiệu của Agribank được gắn với các sự kiện chính trị, kinh tế, văn hóa – xã hội của đất nước có nhiều ý nghĩa, tác động sâu rộng, thu hút được sự quan tâm của đông đảo khách hàng, cộng đồng.

Tuy nhiên, đối với một Ngân hàng thương mại lớn nhất Việt Nam, Top 10 Giải Sao Vàng đất Việt, Anh hùng Lao động thời kỳ đổi mới, Doanh nghiệp số 1 Việt Nam (UNDP xếp hạng năm 2023), hoạt động xây dựng và phát triển thương hiệu của Agribank hiện tại chưa đồng bộ, còn thiếu tính chuyên nghiệp, mang tính thụ động, chưa chuyển tải hết thông điệp của một ngân hàng thương mại hàng đầu. Logo và Slogan được thiết kế và sử dụng từ những năm 90 với thông điệp của ngân hàng hoạt động phục vụ cho một thị trường trọng tâm đó là nông nghiệp, nông thôn. Do đó, đòi hỏi cần có những bổ sung phù hợp với tính chất, phạm vi, chức năng hoạt động hiện tại cũng như định hướng phát triển Agribank trở thành một Tập đoàn Tài chính – Ngân hàng hiện đại trong tương lai… Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

Nhận thức được điều này, vừa qua, Agribank đã hoàn tất quá trình đấu thầu quốc tế chọn ra một đơn vị chuyên nghiệp giúp xây dựng chiến lược phát triển thương hiệu Agribank giai đoạn 2025- 2026 và 05 năm tiếp theo. Theo đó, Agribank sẽ tiến hành nghiên cứu thị trường, đánh giá thương hiệu cũng như hiệu quả các hoạt động truyền thông hiện nay; tiến hành định vị thương hiệu bao gồm: xác định lại hình ảnh, giá trị thương hiệu Agribank theo định hướng trở thành Tập đoàn tài chính đa ngành, đa lĩnh vực, đa sở hữu hàng đầu tại Việt Nam. Hệ thống nhận diện thương hiệu mới được xây dựng dựa trên các giá trị thương hiệu của Agribank, thể hiện bản sắc riêng có của Agribank. Xây dựng hệ thống nhận diện thương hiệu; chuẩn hóa hệ thống logo; Slogan; Thông điệp truyền thông; bảo hộ thương hiệu; xây dựng chiến lược hoạt động truyền thông cho thương hiệu Agribank và các sản phẩm dịch vụ của Agribank; tổ chức quản trị thương hiệu; xây dựng và phát triển văn hóa Agribank một cách chuẩn mực và chuyên nghiệp, vun đắp giá trị cốt lõi…

2.3.2.5. Thực trạng phát triển năng lực nguồn nhân lực

Đến cuối năm 2023, Agribank có khoảng 30.849 lao động, tuổi đời bình quân 38, trình độ chuyên môn của CBCNV đã được nâng lên. Về chất lượng nhân sự, đến thời điểm 31/12/2023 Agribank có 1 Phó giáo sư, 41 đồng chí có học vị Tiến sỹ, 357 đồng chí có học vị Thạc sỹ, trình độ đại học 18.756 cán bộ, chiếm tỷ lệ 60.8%.

Xét về số lượng cán bộ công nhân viên thì Agribank đang dẫn đầu trong khối ngân hàng trong nước. Thế nhưng, xét đến chất lượng nhân sự của Agribank chưa cao, trình độ không đồng đều, chưa thật sự nhạy bén với những thay đổi của ngành, vẫn còn tư tưởng “xin _cho”, đặc biệt là khu vực nông thôn. Phần lớn CBCNV của Agribank được đào tạo từ thời bao cấp, nay tuổi đã cao nên khả năng tiếp cận công nghệ chậm… nên xảy ra tình trạng thừa lao động không làm được việc và thiếu lao động có trình độ chuyên môn cao, chuyên gia đầu ngành, năng động sáng tạo, dám nghĩ dám làm.

Trong năm 2023, Agribank đã ký hợp đồng đào tại trị giá 5 triệu Euro bằng nguồn vốn do Cơ quan Phát triển Pháp (AFD) tài trợ nhằm tập trung đào tạo kỹ năng quản lý cho đội ngũ cán bộ quản lý chủ chốt trong toàn hệ thống.

Tiếp tục xây dựng văn hóa doanh nghiệp với nội dung mà Ban lãnh đạo Agribank tổng kết trong 10 chữ: “Trung thực, kỷ cương, sáng tạo, chất lượng và hiệu quả”. Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

2.3.2.6. Thực trạng quy trình cung ứng sản phẩm dịch vụ

Quy trình là việc hướng dẫn các bước để thực hiện các nghiệp vụ trong ngân hàng. Việc nghiên cứu để xây dựng và ngày càng hoàn thiện các quy trình nghiệp vụ sẽ giúp các ngân hàng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình trên thị trường nhờ việc rút ngắn thủ tục cần thiết yêu cầu khách hàng thực hiện, bảo đảm sự tiện lợi cho khách hàng cũng như rút ngắn được thời gian phục vụ khách hàng nhưng vẫn đảm bảo tính tuân thủ đối với các quy định của Pháp luật và Ngân hàng Nhà nước. Nhận thức được tầm quan trọng của các quy trình nghiệp vụ, ngay từ khi thành lập cho đến nay, Agribank luôn chú trọng xây dựng hoàn thiện quy trình cho các hoạt động chính của mình bao gồm: quy trình mở tài khoản, quy trình cho vay, quy trình thanh toán quốc tế, quy trình kinh doanh ngoại tệ…bảo đảm các sản phẩm đưa ra đều có quy trình hướng dẫn các bước thực hiện chi tiết.

2.3.2.7. Thực trạng cơ sở hạ tầng

Từ khi thành lập cho đến nay, Agribank luôn chú trọng đầu tư vào cơ sở vật chất để tạo một diện mạo khang trang, hiện đại cho Ngân hàng. Tuy nhiên công tác này vẫn chưa thực sự đạt được hiệu quả như mong muốn, vẫn xảy ra tình trạng có quá nhiều phòng giao dịch, chi nhánh với cơ sở hạ tầng, trang thiết bị thấp, làm ảnh hưởng đến vị thế của Agribank với khách hàng.

Mặt khác, trong những năm qua Agribank cũng đã triển khai hàng lọat các dự án công nghệ có tầm quan trọng như: Dự án IPCAS giai đọan II; Dự án kết nối thẻ Visa, Master Card, Banknetvn; Cung cấp dịch vụ SMS; Dự án tư vấn chiến lược phát triển công nghệ thông tin và sản phẩm dịch vụ tới năm 2015; Mua bản quyền Microsoft Office cho toàn hệ thống…và đã đạt được những kết quả đáng khen ngợi.

Cụ thể là rạng sáng ngày 11/5/2025, tại Trung tâm Công nghệ Thông tin Agribank (cơ sở 2) tầng 9 – tòa nhà Thăng Long 105 Láng Hạ, trước sự chứng kiến của toàn thể cán bộ Agribank thuộc dự án IPCAS và các chuyên gia Hàn Quốc, Phó Tổng giám đốc Phạm Thanh Tân đã “click chuột” khai trương hệ thống IPCAS II. 6h sáng 11/5/2025, tại tất cả các chi nhánh, phòng giao dịch của Agribank trên toàn quốc chính thức thực hiện giao dịch trên hệ thống IPCAS II đã được nâng cấp phiên bản mới, thêm một lần nữa khẳng định bước tiến vững chắc của Agribank trong việc áp dụng công nghệ ngân hàng hiện đại, góp phần đáng kể đưa thương hiệu Agribank vươn lên tầm cao mới. Đây là kết quả lao động miệt mài của hơn 100 cán bộ dự án, cùng sự phối hợp đồng bộ của hàng nghìn cán bộ chi nhánh Agribank trong hơn 33 tháng (dự án IPCAS II chính thức được triển khai mở rộng đến các nhi nhánh từ tháng 8/2023). Khóa luận: Thực trạng nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh của Agribank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537