Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking

Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Thực trạng khai thác và phát triển loại hình du lịch Trekking tại Cát Bà – Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.

Loại hình trekking tuy mới xuất hiện ở Việt Nam khoảng 20 năm trở lại đây nhưng hiện có chiều hướng phát triển nhanh và mở rộng các điểm đến. Cát Bà tại Hải Phòng là một điểm đến đang được chú ý cho loại hình trekking của những du khách quốc tế trong vài năm gần đây. Thiên nhiên ưu đãi cho Cát Bà nhiều cảnh quan đẹp, tài nguyên rừng và biển phong phú, một quần thể đảo và hang động trên biển làm mê hồn du khách. Vùng biển có đảo Cát Bà được ví như hòn ngọc của Hải Phòng. Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất trong số các đảo thuộc vịnh Bắc Bộ. Nơi đây hội tụ nhiều yếu tố phát triển cho loại hình du lịch trekking.

Cát Bà từ ngàn xưa đã nổi danh là một vùng đất trù phú và kỳ vĩ, như Đại Nam nhất thống chí đã ghi: “Một vùng núi non dựng lên như ngọc, cá tôm nhiều như đất, dân đua nhau thu lượm, lúa má không có, thuế đánh không nhiều. Sóng vỗ dập dồn vách núi, thuyền xuyên vỉa đá mà đi. Nhân dân vui hưởng thái bình, …”. Cũng có sách khác lại ghi rằng: “Cát Bà là nơi voi quỳ, mã phục, quần ngư tranh thực”, có thể sản sinh các vị anh hùng, hào kiệt; hay “Thắng vi đế vi vương, bại Cát Bà vi cứ”, ý nói về vị trí chiến lược của quần đảo này từ ngàn xưa. Năm 2004, Cát Bà được Unesco công nhận là khu dự trữ sinh quyển thế giới. Với sự kiện này cũng đã làm tăng sự hấp dẫn, thu hút khách du lịch.

Hiện nay loại hình du lịch này chưa thực sự phát triển tại Cát Bà. Điểm đến Cát Bà trong bản đồ loại hình du lịch trekking mới chỉ xuất hiện ở một vài đất nước có nền du lịch phát triển như Anh, Pháp, Mỹ. Đồng thời đó khách du lịch nội địa không lựa chọn Cát Bà là điểm du lịch trekking vì họ chưa có những thông tin cũng như chưa có tổ chức/công ty du lịch nào chuyên sâu về loại hình du lịch này. Bên cạnh đó chính quyền và cộng đồng địa phương chưa biết đến để tham gia và thực hiện loại hình du lịch trekking theo đúng nghĩa của nó, chưa có sự quan tâm, hợp tác để phát triển chuyên nghiệp loại hình du lịch trekking.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Du Lịch

2.1. Giới thiệu khái quát về Cát Bà

2.1.1. Vị trí địa lý

Quần đảo Cát Bà là một trong hai đơn vị hành chính trực thuộc huyện Cát Hải phía đông bắc thành phố Hải Phòng. Đảo chính là Cát Bà cách trung tâm thành phố 60km về phía Đông, ở phía tây nam Vịnh Hạ Long và vịnh Bái Tử Long, cách thành phố Hạ Long 25km, cách thủ đô Hà Nội khoảng 150km về phía Đông.

Tọa độ địa lý: Từ 20042’ đến 20054’ vĩ Bắc

Từ 106052’ đến 107007’ kinh Đông

Quần đảo Cát Bà có diện tích 262,41 km2 (170,41km2 phần đảo và 92km2 phần biển), quần thể gồm hơn 360 đảo lớn nhỏ như: hòn Cát Ông, hòn Cát Đuối, hòn Mây, hòn Tai Kéo,…. Đảo Cát Bà là đảo lớn nhất trong quần thể đảo với diện tích khoảng 200 km2, độ cao trung bình 70m so với mực nước biển.

2.1.2. Tên gọi Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Theo lời kể trong dân gian, vùng đảo núi đá Cát Bà đã từng là hậu cứ của các bà cho việc trồng tỉa, hái lượm, cung cấp lương thực thực phẩm cho các ông chống theo Thánh Gióng đánh giặc Ân ở hòn đảo lân cận (đảo Cát Ông). Và chính từ những trận chiến chống giặc đã xuất hiện nhiều nữ tướng dũng cảm nên người dân xưa đặt là Các Bà.

Có một câu chuyện dân gian khác của vùng Đông Bắc, đảo Cát Bà khi xưa vốn là hậu phương của người đàn ông đầu tiên đến khai sơn phá thạch vùng đất này. Khi ông phát hiện ra cái vịnh quý giá với nhiều hòn đảo đẹp mà sau này có tên là Hạ Long, thì cũng là lúc ông phải cưu mang cùng lúc nhiều số phận nhi nữ đơn côi, mà chồng của họ đã vĩnh viễn không trở về sau những chuyến đi biển đầy bất trắc. Rồi để rảnh tay khai phá vùng Hòn Gai, Bãi Cháy, ông đã tập hợp tất cả các bà ra sống tại hòn đảo xinh đẹp, trù phú, biệt lập giữa biển khơi, nằm trong vịnh Lan Hạ. Vì thế, sau này vùng đất Bãi Cháy, Hòn Gai có tên là Ðất Của Ông, còn hòn đảo kia thì có tên là Ðảo Các Bà. Trải bao biến đổi, thăng trầm, bây giờ còn lại hai địa danh Cửa Ông (Quảng Ninh) và Cát Bà (Hải Phòng).

Huyện Cát Hải bao gồm quần đảo Cát Bà và đảo Cát Hải Lại có câu chuyện khác gắn với lịch sử giữ nước của Việt Nam rằng, thời chiến đấu chống quân Nguyên xâm lược, người anh hùng dân tộc Trần Hưng Ðạo đã chọn vùng biển Ðông Bắc này làm nơi tập kết, luyện quân, tích trữ lương thảo. Những hang động trong vùng biển này đều được huy động vào việc cất giấu quân lương, che ém tàu thuyền của quân ta. Vì vậy, vùng biển phía Hạ Long được chọn làm khu vực quân sự – ngày nay còn có Hang Dấu Gỗ tương truyền là nơi quân ta cất dấu những chiếc cọc gỗ bịt sắt đã làm nên chiến thắng Bạch Ðằng lừng lẫy, còn vùng biển phía vịnh Lan Hạ là nơi tích trữ lương thảo, chăm sóc y tế, là khu vực do Các Bà cai quản. Vì thế mà có tên là Cửa Ðức Ông, Ðảo Các Bà. Bản đồ hành chính thời Pháp thuộc năm 1938 ghi địa danh này là Các Bà. Có lẽ theo thời gian tên gọi Các Bà đã bị đọc lệch đi thành Cát Bà.

2.1.3. Lịch sử hình thành

Trước năm 1957, Cát Hải – Cát Bà là hai tổng thuộc phủ Quảng Yên (Cát Bà là tổng Hà Sen và Cát Hải là tổng Đôn Lương), sau đó thuộc khu Hồng Quang. Năm 1956, tổng Hà Sen và Đôn Lương được cắt nhập về Hải Phòng, từ đó, tổng Hà Sen là huyện Cát Bà và tổng Đôn Lương là huyện Cát Hải. Đến ngày 22/07/1957, huyện Cát Hải được thành lập theo nghị định số 318-TTg của Thủ tướng Chính phủ, theo đó huyện Cát Hải gồm vùng đất của huyện Cát Bà cũ, thị xã Cát Bà nay là thị trấn Cát Bà. Cát Bà gồm một thị trấn Cát Bà và 6 xã: Gia Luận, Hiền Hào, Phù Long, Trân Châu, Việt Hải, Xuân Đám.

2.1.4. Sơ lược hoạt động du lịch tại Cát Bà Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Du lịch Cát Bà trong những năm gần đạt được nhiều kết quả cao cả về mặt số lượng và chất lượng. Khách quốc tế chủ yếu đến Cát Bà theo loại hình du lịch trekking đến các vùng rừng núi, các làng dân cư vùng lõi và những điểm di tích có giá trị. Theo kết quả điều tra, lượng du khách quốc tế đến Cát Bà tham gia du lịch trekking khá cao (34 %), chủ yếu đến với mục đích: khám phá (72%) và nghỉ dưỡng (24%). Trong khi đó tỷ lệ khách nội địa tham gia trekking là không cao, họ dường như chưa biết đến loại hình du lịch này, họ đơn thuần đến đây với mục đích nghỉ dưỡng.

Cát Bà là nơi có nguồn tài nguyên tự nhiên đa dạng và phong phú với nhiều loại hình du lịch như tham quan, nghỉ dưỡng, thể thao – mạo hiểm,… đã và đang khai thác có hiệu quả cho hoạt động du lịch. Nhờ có những điều kiện lợi thế về vị trí, tài nguyên,… mà hàng năm Cát Bà thu hút rất đông lượng khách du lịch quốc tế và nội địa.

Bảng 2.2: Lượng khách du lịch và doanh thu hàng năm đảo Cát Bà

Đảo Cát Bà đạt chỉ tiêu đón một triệu khách trước một năm so với dự kiến. Năm 2009, lượng khách du lịch tăng cao khiến doanh thu du lịch của Cát Bà đạt 400 tỷ đồng, vượt 100 tỷ đồng so với năm 2008. Theo thông tin của Tổng cục du lịch: “chỉ trong 9 tháng đầu năm 2012, khách du lịch đến Cát Bà ước đạt 1.168.000 lượt (trong đó khách quốc tế ước đạt 203.400 lượt).

Tổng doanh thu từ du lịch ước đạt 525,5 tỷ đồng. Cả về lượng khách lẫn tổng doanh thu từ du lịch, huyện Cát Hải đều cao hơn nhiều tỉnh trong nước”.

Bảng 2.3: Dự báo lượng khách quốc tế đến Cát Bà

Như vậy có thể thấy lượng du khách quốc tế đến Cát bà ngày càng tăng là một dấu hiệu tốt, đem lại nhiều lợi ích cho địa phương Cát Bà nói riêng cũng như thành phố Hải Phòng nói chung.

Trên địa bàn huyện Cát Hải hiện có 154 khách sạn, nhà nghỉ, trong đó tập trung chủ yếu ở Cát Bà, có 1 khách sạn 4 sao, 27 khách sạn đạt tiêu chuẩn từ 1 đến 3 sao; 124 phương tiện vận chuyển du khách, 3.300 lao động phục vụ trong lĩnh vực du lịch.

Quần đảo Cát Bà đã và đang phát triển nhiều loại hình du lịch: lịch sử, văn hóa, sinh thái, biển đảo, nghỉ dưỡng, khám phá, tham quan… hay du lịch thể thao (leo núi, đi bộ, đi xe đạp, chèo thuyền kayak, lặn biển ngắm san hô…). Những điểm tham quan, tour du lịch đang được ưa thích ở Cát Bà hiện nay là Vườn Quốc gia Cát Bà, hang Trung Trang, hang Quân Y, đi thuyền trên vịnh Lan Hạ, đảo Khỉ, đảo Nam Cát, khu du lịch suối Gôi, pháo đài thần công… Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Đặc biệt năm 2013, khi thành phố Hải Phòng được chọn là nơi đăng cai Năm Du lịch quốc gia đồng bằng sông Hồng thì có nghĩa là Cát Bà sẽ là điểm bứt phá về du lịch của thành phố. Trong 4 ngày nghỉ lễ (30/04 và 01/05) vừa qua, có hơn 2,5 vạn khách du lịch trong và ngoài nước đến thăm quan, nghỉ mát tại khu du lịch Cát Bà, trong đó 30% là khách quốc tế. Ngày cao điểm, lượng khách đến Cát Bà lên tới hơn 8 nghìn người. Nét mới trong dịp nghỉ lễ này là, nhiều du khách, nhất là khách nước ngoài ưa thích tham gia tua du lịch sinh thái cộng đồng thay vì tập trung ở trung tâm và một số bãi tắm Cát Cò như mọi năm. Khách du lịch khám phá sinh thái ở các điểm du lịch cộng đồng như Xuân Đám, Việt Hải, Gia Luận, Phù Long…, ăn, nghỉ qua đêm ở các khu vực đến thăm, vừa giảm áp lực khách lưu trú dồn về trung tâm của Cát Bà, vừa tạo điều kiện phát triển dịch vụ du lích ở các khu vực này.

Cát Bà đã đạt được những kết quả khả quan và đang trở thành ngành kinh tế mũi nhọn mang lại nguồn ngân sách lớn cho địa phương, tạo ra công ăn việc làm cho người dân địa phương.

2.2. Thực trạng khai thác và phát triển du lịch trekking tại Cát Bà Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Cát Bà là một điểm đến phù hợp để xây dựng loại hình du lịch trekking.

Cát bà có nhiều điều kiện thuận lợi tạo điều kiện cho việc khai thác và phát triển loại hình. Tuy nhiên bên cạnh đó cũng có những mặt hạn chế trong việc phát triển loại hình du lịch này. Việc tìm hiểu, đánh giá thực trạng phát triển du lịch trekking là một vấn đề cần thiết để từ đó có thể định hướng việc phát triển, khai thác có hiệu quả.

2.2.1. Thực trạng tài nguyên du lịch

2.2.1.1. Tài nguyên du lịch tự nhiên

  • Địa hình

Khu vực Cát Bà địa hình khá đa dạng, chủ yếu là núi đá vôi xen kẽ nhiều thung lũng hẹp chạy dài theo hướng Tây Bắc – Đông Nam, bao gồm vùng núi có độ cao dưới 500m, đa phần có độ cao từ 50 – 200m kết hợp với hệ sinh thái phong phú tại Vườn quốc gia Cát Bà tạo nên cảnh quan hùng vĩ và hấp dẫn. Khu vực này cũng như phần Đông Bắc Việt Nam có lịch sử phát triển địa chất lâu dài, từng là một bộ phận của cấu trúc uốn nếp caledoni đánh dấu sự kết thúc chế độ địa máng biển sâu Karstzia vào cuối kỷ Silua.

Các khối đá vôi này có tuổi trung bình là các bon muộn – pecmi (250 – 280 triệu năm). Cấu tạo dạng khối, đôi khi phân tầng khá mỏng, màu xám hay xám trắng nằm xen kẽ với đá vôi silic. Chúng có đầy đủ những dạng của một miền Karst ngập nước biển, do tác động của nước mặt và nước ngầm đã tạo ra một hệ thống các hang động ở các độ cao khác nhau (4m, 15m và 25 – 30m). Do các hoạt động của sóng biển đã tạo ra các ngấn sóng vỗ ở tất cả các chân đảo đá vôi vùng Cát Bà và các mái hiên mài mòn dạng dài và hẹp bao quanh chân, có nơi gập ngấn sóng kép ở mức 3,5 – 4m và 1,0 – 1,5m. ở các vùng kín, sóng biển còn tạo ra các tích tụ cát rất sạch, bao quanh các đảo nhỏ. Đó là các bãi tắm mini rất lý tưởng cho các dịch vụ du lịch tắm biển.

Về phía Bắc và Tây Bắc đảo Cát Bà còn có một diện tích khá lớn thành tạo đệ tứ không phân chia tạo nên dạng đồng bằng ven biển, chúng được thành tạo do phù sa sông biển. Lớp trầm tích phủ lên trên khá dày (> 2m), dưới sâu hơn là phù sa hạt thô (độ sâu 5 – 10m) chủ yếu là sỏi cuội và cát… Sát biển hơn (nơi hàng ngày chịu ảnh hưởng của nước triều) có sú, vẹt, đước, trang, mắm, bần… mọc dầy đặc phủ kín hầu hết diện tích này. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Nhìn chung địa hình khu vực Cát Bà thuận lợi cho việc phát triển du lịch trekking ở cấp độ thấp đến trung bình, chủ yếu là khu vực Vườn quốc gia Cát Bà và xung quanh. Dựa vào các chỉ tiêu về độ cao, độ dốc, mật độ chia cắt có thể chia thành các dạng địa hình khác nhau:

Dạng địa hình núi thấp, chia cắt mạnh là kiểu địa hình chủ yếu tại đảo Cát Bà. Các đỉnh núi ở đây đa số có độ cao khoảng 100 – 250m. Đỉnh cao nhất là ngọn Cao Vọng 331m thuộc phần Tây đảo Cát Bà, được xem như là nơi “bồng lai tiên cảnh”, có “bàn cờ tiên” ẩn dưới những gốc cây cổ thụ và hương rừng đỗ quyên quyến rũ.

Đặc điểm nổi bật nhất của núi trên đảo là đỉnh nhọn, sắc, sườn núi dạng răng cưa, dốc đứng, hiểm trở, lởm chởm tai mèo và có nhiều hang động không kém vùng Ninh Bình, đặc trưng cho địa hình Karst nhiệt đới, Karst ngập nước ở vùng Đông Bắc Việt Nam như hang Nàng Tiên, hang Trinh Nữ, hang Áng Vải, động Trung Trang, động Cô Tiên, động Đá Hoa, động Cao Vọng, động Hùng Sơn,… Hầu hết các hang/động ở đây đều có độ dài dưới 200m, hang/động dài nhất không quá 1.000m (động dài nhất là động Trung Trang dài gần 1.000m). Vị trí cửa hang/động đều tập trung ở các mức 4 – 6m, 15 – 20m, 30 – 40m so với mặt đất. Tuy về kích thước không lớn nhưng các hang động ở Cát Bà có hình thái đẹp, nhiều thạch nhũ, nhiều ngách và thường gắn liền với quá trình chống giặc ngoại xâm của dân tộc. Một số hang trên đảo Cát Bà trước đây đã được các nhà khảo cổ khảo sát và tìm được hóa thạch răng người tiền sử và các công cụ bằng đá thời văn hóa Hạ Long. Vì vậy, đây là nguồn tài nguyên có giá trị lớn, không những hấp dẫn du khách bốn phương mà còn là tiền đề thuận lợi cho việc phát triển du lịch trong nước hay địa phương trong thời điểm hiện tại và lâu dài.

Phía Đông Nam Cát Bà là những ngọn núi cao sừng sững như những tấm bình phong khổng lồ kết hợp với nhiều vách núi đá đâm thẳng ra biển, ngăn chặn gió lạnh phương Bắc làm cho vùng đảo này sóng nước luôn hiền hòa. Vùng trung tâm đảo là vùng địa hình núi đan xen trùng điệp tạo thành những thung lũng trù phú, kết hợp với biển tạo nên sự đa dạng địa hình hấp dẫn du khách.

Dạng địa hình đồi đá phiến: Chiếm một diện tích khá nhỏ. So với địa hình núi đá vôi thì địa hình đồi đá phiến mềm mại hơn nhiều, sườn thoải, đỉnh tròn và thấp hơn núi đá vôi, khả năng sinh trưởng và phát triển của thực vật cũng khả quan hơn.

Dạng địa hình thung lũng giữa núi: Là những vùng trũng với nhiều hình dạng khác nhau thường kéo dài theo vỉa đá vôi và nối với nhau qua sống đá thấp tạo thành máng trũng dài. Thung lũng trong vùng có dáng khá bằng phẳng và được phủ bởi tàn tích của đá vôi. như thung lũng Trung Trang, thung lũng Việt Hải, thung lũng Khe Sâu, đất đai ở các thung nhìn chung khá tốt có thể sử dụng trồng cây ăn quả, rau xanh, và trồng các loài cây màu, lúa.

Dạng địa hình đồng bằng khá bằng phẳng: Chỉ có ở huyện Phù Long với góc dốc bề mặt 1 – 30. Độ chia cắt sâu trung bình 4 – 5km, chia cắt dày lớn, trung bình 7 – 8 km/km2. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Dạng địa hình đáy biển nguyên là đồng bằng lục địa lớn bị biển làm ngập trong thời gian biển tiến sau băng hà lần cuối cùng. Đáy biển có hình thái đồng bằng, vùng đáy sâu 5 – 10m, cực đại 39m.

Trong phạm vi đồng bằng này có một số rặng san hô. Sự phức tạp của địa hình đáy biển với nhiều rạn san hô có gia trị ở vùng ven đảo Cát Bà là yếu tố quan trọng, tạo điều kiện cho việc đa dạng hóa loại hình du lịch, đặc biệt loại du lịch ở biển như du lịch lặn ngầm, du lịch mạo hiểm.

Dạng địa hình bờ biển xung quanh quần đảo Cát Bà mang kiểu bờ biển mài mòn hóa học. Cát Bà chủ yếu là núi đá vôi, có đường biển khúc khuỷu, dáng hùng vĩ, độ dốc lớn, đới bờ hẹp, bị chia cắt mạnh dạng răng cưa. Bờ biển có nhiều mũi nhô đá gốc xen kẽ với các vụng nhỏ hình dáng không nhất định tạo thành do kết quả quá trình hòa tan tạo thành các vịnh nhỏ, bãi cát trải dài, phẳng mịn, nước trong vắt, soi rõ cả đáy cát vàng như bãi Đá Bằng, bãi Cát Cò I, II, bãi Định Gianh, bãi Cát Dứa,… Đó là những bãi tắm đẹp nổi tiếng có sức hút mạnh đối với du khách trong và ngoài nước

Đới bờ (coastal zone): là các mảng không gian nằm chuyển tiếp giữa lục địa và biển, luôn chịu tác động tương hỗ giữa lục địa và bieent, hệ tự nhiên và hệ nhân văn, các ngành và người sử dụng tài nguyên vùng bờ theo cả cấu trúc dọc và cấu trúc ngang, giữa cộng đồng dân địa phương và các thành phần kinh tế khác.

Bảng 2.4: Danh mục các bãi biển có tiềm năng phát triển du lịch ở đảo Cát Bà

Ngoài ra, ở huyện Phù Long còn có kiểu bờ biển cửa sông hình phễu, xen kẽ mũi nhô sóng mài mòn tạo thành các vách dựng đứng là các cung lõm có bãi tích tụ vật liệu giải phóng và vật liệu từ sông đưa ra. Phù Long thuộc nhóm đảo cát, địa hình bằng phẳng, rìa biển có các bãi cát rộng, được cấu tạo bằng bãi cát hiện đại (phù hợp xây dựng với các khu tắm biển). Ven rìa các đảo thường có bãi triều rộng, các bãi biển này có nhiều thực vật ngập mặn mọc dày đặc, phát triển tạo hệ sinh thái rừng ngập mặn đặc sắc mang tính chất nhiệt đới có sức thu hút với khách du lịch châu Âu làm phong phú thêm những chuyến trekking dài ngày của khách tại đảo ngọc.

Các rạn san hô ngầm tập trung ở phía Đông Nam đảo Cát Bà. Các rạn san hô phát triển khá nhanh. Đây là các rạn san hô kiểu ven bờ, đôi khi cũng có các dạng giống như các ám tiêu vòng nhỏ ở ngoài đại dương trông rất đẹp.

Bên cạnh đó quanh Cát Bà có nhiều bến chính phân bổ theo các hướng khác nhau như Phù Long, Gia Luận, Việt Hải, Bến Bè, Cảng Cá. Các bến này đều có thể đến bằng đường bộ phù hợp cho chuyến đi bộ tìm hiểu về cuộc sống và hoạt động của người dân vùng biển.

  • Khí hậu Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Khí hậu là một trong những yếu tố quan trọng tạo ra môi trường du lịch. Với loại hình du lịch trekking thì yếu tố này đặc biệt cần lưu ý vì có ảnh hưởng trực tiếp đến những trekkers. Nhiệt độ, độ ẩm,…sẽ gây tác động đến quá trình đi bộ dài hay ngắn, có thuận lợi hay khó khăn trong việc bộ hành hay việc tìm hiểu, khám phá tài nguyên. Cát Bà có những ưu thế về khí hậu, cũng như các điểm du lịch khác ở ven biển phía Bắc, khí hậu Cát Bà bị chi phối sâu sắc bởi biển. Ảnh hưởng của biển làm điều hòa khí hậu khu vực đảo, giảm bớt các ảnh hưởng cực đoan về nhiệt độ và độ ẩm, mùa hè, thời tiết Cát Bà không quá oi bức, mùa đông không quá lạnh. Cát Bà có khí hậu đại dương, đặc biệt là nơi có khí hậu lí tưởng cho những du khách muốn thoát khỏi những ngày hè nóng và oi trong đất liền. Do sự chi phối hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, khí hậu mang tính nhiệt đới nóng ẩm và gió mùa, khí hậu nơi đây chia làm hai mùa rõ rệt:

Mùa hè, từ tháng 5 đến tháng 9, khí hậu nóng ẩm gần trùng với mùa mưa nhiều, rất thuận lợi cho hoạt động du lịch. Hoạt động trekking được diễn ra thuận lợi hơn vì trời sáng dễ di chuyển và thời gian hoạt động kéo dài hơn. Tháng 4 và tháng 10 là các tháng chuyển tiếp mùa.

Nhiệt độ trung bình mùa hè là 27,90C, nhiệt độ cao nhất là 35, 360C;

Trung bình có trên 10 ngày mưa/1 tháng, tổng lượng mưa từ 1500 – 1600mm, chiếm 80 -90% lượng mưa năm, mưa nhiều nhát vào các tháng 7, 8;

Có gió mùa đông nam, tốc độ trung bình 2,5 – 3,0 m/s, cực đại 20 – 30 m/s.

Mùa đông mang tính lạnh, từ tháng 11 đến tháng 3 năm sau, hạn chế các nhu cầu du lịch truyền thống, cũng phù hợp với hoạt động trekking vì người dân vùng đảo chỉ sống tập trung nhiều tại thị trấn và Phù Long, còn những nơi địa điểm khác thì gần như đây là các vùng hẻo lánh, càng rèn luyện ý chí của những trekkers.

Nhiệt độ trung bình là 19,80C, nhiệt độ thấp nhất là dưới 100C;

Trung bình có 6 – 8 ngày mưa/1 tháng, tổng lượng mưa đạt 200 – 500mm, đầu mùa thường khô hanh, cuối mùa thường ẩm ướt vì có mưa nhỏ, mưa phùn;

Có gió mùa đông bắc, tốc độ trung bình là 2,5 – 3,0 m/s.

Tuy nhiên, vì Cát Bà nằm giáp biển Đông nên hàng năm Cát Bà vẫn xuất hiện các hiện tượng thời tiết bất thường:

Bão và áp thấp nhiệt đới thường xuất hiện vào khoảng các tháng 7, 8, 9, 10. Hàng năm, có từ 3 – 5 lần đổ bộ vào Cát Bà. Bão thường gây mưa lớn trên toàn khu vực, gây tổn hại lớn đến các tài nguyên tự nhiên, các công trình phục vụ khách du lịch trên đảo. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Dông: Trung bình mỗi năm có khoảng 40 – 50 ngày có dông lớn. Dông thường xuất hiện vào mùa hạ. Đôi khi cơn dông có kèm theo cả gió lốc và mưa đá, hiện tượng vòi rồng gặp trên biển gây trở ngại rất lớn cho tàu bè qua lại cũng như hoạt động du lịch trên địa bàn, đồng thời hiện tượng này tác động tiêu cực đến tâm lý khách du lịch khi chọn Cát Bà vào đúng mùa mưa bão.

Sương mù: Thường tập trung vào mùa đông từ tháng 11 đến tháng 4 năm sau. Thời điểm sương mù là từ 5 – 8 giờ sáng. Khi mặt trời lên cao sương mù tan. Hiện tượng này làm giảm tầm nhìn từ xa, gây nhiều trở ngại nhiều cho việc tìm đường, nhận biết hướng của những trekker.

Đối với du lịch trekking, thời gian thuận lợi nhất cho hoạt động là các tháng 1, 2, 3, 5, 6 và các tháng 11, 12. Thực tế so với nhiều điểm đến khác của Việt Nam, khí hậu Cát Bà khá thuận lợi cho hoạt động du lịch dài ngày. Nắm bắt được quy luật, đặc điểm của khí hậu sẽ giúp cho những trekker có lựa chọn thời điểm phù hợp cho hành trình đi bộ đường dài, hay chuẩn bị những đồ dùng cần thiết để khắc phục yếu tố thời tiết bất thường xảy ra. Đồng thời bên cạnh đó nắm bắt được đặc điểm khí hậu sẽ giúp cho các công ty du lịch, nhà điều hành quản lý sẽ tổ chức được tour trekking hợp lý, đảm bảo an toàn cho du khách.

  • Sinh vật

Tài nguyên động, thực vật góp phần làm sinh động thêm cho điểm du lịch và cũng là nét độc đáo riêng biệt của mỗi địa phương, là tài sản quý, hiếm của mỗi điểm du lịch và của cả nước. Đặc biệt là với vùng đảo này được Unessco công nhận là khu dự trữ sinh quyển Thế giới làm tăng thêm yếu tố hấp dẫn du khách.

Đảo Cát Bà là thảm rừng nhiệt đới xanh quanh năm, có khu rừng nguyên sinh với nhiều loài chim, thú, bò sát và thảm thực vật quý hiếm. Ngoài ra, đảo còn có giá trị lớn về hải sản, hệ sinh thái rừng ngập mặn, có ao hồ trên núi đá vôi, góp phần làm phong phú thêm các hình thức du lịch trên đảo.

Thực vật

Cát Bà có khí hậu nhiệt đới gió mùa bị chi phối mạnh bởi biển nên thực vật xanh tốt và sinh trưởng mạnh mẽ quanh năm. Rừng trên đảo nguyên là rừng rậm nhiệt đới, nhưng do bị tác động mạnh của con người nên hầu hết đã bị thay bằng thực bì thứ sinh nghèo nàn hơn: thành phần cay ít, chủ yếu là loại ưa đá vôi, tăng trưởng chậm nên thường không cao, ít tầng tán, ít cây leo. Tuy nhiên tại trung tâm đảo Cát Bà hiện vẫn còn một vùng rừng rậm nhiệt đới xanh quanh năm được bảo tồn khá nguyên vẹn.

Những đặc điểm nổi bật của hệ thực vật rừng Cát Bà: Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Có nhiều loài thực vật vùng đảo đá Đông Bắc đều có mặt ở Cát Bà;

Có những loại gốc cây quý, hiếm ở Việt Nam như kim giao (đặc hữu), lát hoa (quý), chỏ đãi (đặc hữu), trai (quý), đinh (quý), gội nếp (quý), cọ Bắc Sơn (đặc hữu);

Có nhiều loại thực vật có nguồn gốc từ các khu hệ lân cận như long não, sau, sồi giẻ, hoan hài,…;

Có 270/745 loài có thể làm thuốc chữa bệnh, đáng chú ý hơn cả là thuyết giáo, hương nhu, bình vôi, lá khôi, kim ngâu,…;

Rừng Cát Bà được coi là một khu rừng tự nhiên khá độc đáo nằm giữa biển rộng. Diện tích núi đá vôi chiếm 19.827 hecta, trong đó phần diện tích có cây che phủ là 13.200 hecta chiếm 60% núi trên đảo Cát Bà. Rừng tại Cát Bà có một kiểu chính là rừng nhiệt đới thường xanh mưa mùa ở đai thấp và một số kiểu phụ như: rừng trên núi đá vôi, rừng ngập mặn, rừng ngập nước với đặc trưng là cây Và nước ở khu Ao Ếch,… tạo ra cảnh quan đa dạng, đặc sắc.

Rừng ở các thung, áng, chân núi đá vôi: có ba tầng cây gỗ, độ tàn che 0.6 – 0.8, ít bị tác động:

  • Tầng 1: cao trên 20m, gồm các cây sấu, gội nếp, phay, săng lẻ, cà lồ, lim xẹt;
  • Tầng 2: cao trên 12m, có 4 loại: cây tầng, chẹo, ngát, bứa;
  • Tầng 3: cao trên 8m, với nhiều cây gỗ nhỏ của hau tầng trên và các cây thau linh, trọng đũa

Tầng cỏ tuyết không có, chỉ nơi nào tán rừng mở rộng mới có lá che và lá khôi. Thực vật ngoại tầng thường là các cây dây leo gỗ như nho rừng, dây quạch, dây chưng bầu. Loại hình rừng này phân bố ở các áng, thung lũng của trung tâm khu đảo như: áng Lụt Trong, áng Lụt Ngoài, áng re bờ đá, áng Man Táu, áng Mái Cọ, áng Cây cau, áng Rạng, áng Mây Bầu, áng Phay, dọc đường và trong các thung lũng từ Việt Hải sang Trà Báu, Trà Báu sang Gia Luận.

Rừng trên sườn núi đá vôi: độ tán che rừng từ 0,4 – 0,6, ít bị tác động, tầng rừng đơn giản hơn với hai tầng cây gỗ:

Tầng 1: cao 15 – 20m, gồm các cây như dâu da xoan, màu cau đá, trường, nhãn rừng,… nơi có tầng đất dày thì có rải rác cọ Bắc Sơn cao 20 – 30m;

Tầng 2: cao dưới 10m, có các loại cây: mạy tèo, lèo heo, các cây con của tầng trên.

Tầng cỏ quyết có các cây mọng nước của họ Gai, họ Lan. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Rừng trên đỉnh núi đá vôi: luôn có gió mạnh nên các cây gỗ thường cao không quá 5m, thực bì chỉ có từ 1 – 2 tầng. Các loài thực vật thường là huyết giác, nhọ nồi, xanh quýt, móc mật,… rải rác các cây cọ xẻ có tán che từ 0,2 – 0,3. Dưới tán có xương rồng, chân chim núi mọc xen lẫn với loại dây leo và cây bụi như dây móng bò. Nơi gió mạnh thường chỉ có loài trúc đũa.

Khu rừng Kim giao: ở khu vực Trung Trang có một khu rừng non thuần cây kim giao mọc khá tập trung trên diện tích chừng 32 hecta. Những cây kim giao có đường kính lớn đã bị phá hủy do nạn chặt phá rừng, hiện nay chỉ còn lại một vài cây có đường kính 30 – 40cm ở sâu trong rừng. Đây là khu rừng rất quý trong hệ thực vật miền Bắc Việt Nam, theo các nhà chuyên môn loài cây này đang trong giai đoạn bị tiêu diệt, số lượng giảm mạnh. Hiện nay khu rừng non đang được tu bổ, cải tạo thêm, chuyển hóa dần sẽ là một khu rừng giống bảo vệ nguồn gen phục vụ công tác khoa học và tham quan du lịch có giá trị cao.

Rừng ngập nước trên Ao Ếch: đây là đầm nước ngọt duy nhất nhằm trên núi cao, được bảo vệ nghiêm ngặt trong khi vực vườn quốc gia Cát Bà trên tuyến du lịch đi sang làng Việt Hải. Khu vực này cách trung tâm vườn quốc gia 5km, có diện tích chừng 3 hecta , mực nước có độ cao trung bình 50cm, bùn lầy thụt, chỉ có cây Và Nước thuộc họ liễu. Cây Và Nước có độ cao từ 8 – 15m, đường kính 15 – 20cm, phát triển rất mạnh với mật độ 2500 cây/ha, cây có hệ thống rễ thở độc đáo, mọc đều trên toàn bộ mặt đầm. Thân cây và cành cây có nhiều loại hình thù kì lạ sẽ dễ khiên du khách liên tưởng đến những loài vật trong rừng như trăn, rắn, tắc kè,… Ao Ếch là một trong những điểm tham quan hấp dẫn và độc đáo nhất của vườn quốc gia Cát Bà cũng như của chuyến trek khám phá tự nhiên.

Rừng ngập mặn: phân bố chủ yếu ở phía Tây Bắc của Cát Bà, thuộc địa phận xã Phù Long, nằm trên cung đường đi vào vườn quốc gia, thị trấn Cát Bà. Rừng ngập mặn ở đây bao gồm các cây thường xanh lá cứng cao từ 1 – 7m. Thực vật ở đây thuộc họ đước, họ ô rô, họ ráng, họ cỏ tai ngựa, họ bần, họ báng, họ thầu dầu. Rừng có một tầng, các loài chiếm ưu thế là đước xanh, vẹt dù, sú.

Về đa dạng sinh học, trong vườn quốc gia đã xác định có 745 loài thực vật bậc cao thuộc 495 chi và 149 họ thực vật, trong số thực vật đã xác định có thể chia thành:

Sự phân bổ các loài động vật quý hiếm trên đảo không đều. Hiện tại các loài khỉ vàng, sơn dương phân bố rải rác ở các thung, áng dân cư như Re Bờ Đá, Nước Lụt, Man Dớp; voọc đầu trắng– loài động vật đặc hữu duy nhất trên thế giới, tập trung ở vách núi bên cửa sông Việt Hải, Lạch Tàu, Trà Báu, áng Ong Cam,…; chim quý, đặc biệt là chim Cu Gáy phân bố dọc tuyến Trung Trang – Áng Sỏi, Trung Trang – Mốc Trắng, Trung Trang – Gia Luận.

Theo kết quả điều tra, quan sát và phân loại hệ động vật rừng Cát Bà gồm các loại chim, thú, ếch nhái, bò sát.

Bảng 2.5: Thành phần loài động vật rừng tại Cát Bà Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Về đa dạng sinh học, trong số hơn 2000 loài động thực vật  ở Cát Bà, có gần 60 loài được coi là đặc hữu, quý hiếm nằm trong sách đỏ Việt Nam và thế giới. Có thể thống kê như sau:

Những loài động vật trên cạn: khoảng 30 loài;

Bậc E: là những loài đang đứng trước nguy cơ bị tiêu diệt gồm: Đồi mồi, Quán đồng, Rùa da, Ác là, Quạn khoang, Voọc đầu trắng, Voọc quần đùi trắng;

Bậc V: Nhưng loài có nguy cơ bị tổn thất gồm 13 loài: Kỳ đà nước, Trăn đất, Rắn hổ chúa, Đẹn vẩy bụng không đều, Vích, Khỉ mặt đỏ, Khỉ đuôi lơn, Sơn dương, Hươu sao, Hoẵng, Tê tê vàng, Sóc bụng đỏ;

Bậc R: loài có vùng phân bố hẹp, số lượng ít gồm 4 loài: Cốc đế, Cò thìa, Yến núi, Mòng biển đen;

Bậc T: loài tương đối an toàn gồm 7 loài: Tắc kè, Rắn ráo thường, Rắn ráo trâu, Rắn cạp nong, Rắn hổ mang, Le khoang cổ, Rái cá thường.

Vọc đầu trắng: hiện nay ước tính số lượng khoảng trên 300 cá thể trên toàn đảo Cát Bà, đây là loài động vật cực kì quý hiếm, là biểu tượng của Vườn quốc gia Cát Bà.

Trong số trên có loại Voọc đầu trắng đã được tổ chức IUCN tài trợ nhằm bảo vệ và nhân nhanh đàn giống chúng sang các khu vực khác như vườn quốc gia Cúc Phương.

Như vậy có thể thấy Cát Bà đặc biệt khu vườn quốc gia Cát Bà có nguồn tài nguyên sinh vật vô cùng phong phú và độc đáo, đây chính là một tiềm năng lớn đối với việc thu hút du khách trekking. Đến đây, các trekker sẽ được tận hưởng nhiều điều thú vị với những nét lạ gây ngạc nhiên khi qua các hệ sinh thái khác nhau, được chiêm ngưỡng những loài sinh vật mà không nơi nào có được. Sự kì thú của cảnh quan tạo nên cảm giác hứng khởi muốn tìm hiểu, muốn khám phá, thực sự hòa mình vào thiên nhiên để tăng hiểu biết và tình yêu với thiên nhiên của địa phương.

  • Thủy văn Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Cát Bà không có những suối lớn mà là những khe suối nhỏ, hệ thống suối nổi tiếng như:

  • Suối Thuồng Luồng (xã Trân Châu): Lưu lượng khá lớn, tốt, chảy quanh năm cung cấp đủ nước cho sinh hoạt hàng ngày;
  • Suối Trung Trang: Nguồn nước nhỏ, có nhiều nước trong mùa mưa, lưu lượng về mùa khô chỉ đạt khoảng 0,11 lít/giây;
  • Suối Treo Cơm (khu Đồng Cỏ): Mùa mưa về nhiều nước, mùa mưa lưu lượng chỉ đạt 26 lít/giây.

Trên đảo có suối nước khoáng Thuồng Luồng thuộc xã Trân Châu, chảy ra từ chân núi đá vôi với lưu lượng lớn. Hiện nay Cát Bà cũng phát hiện thêm một số khoáng ngầm là những “túi nước” có trữ lượng lớn hàng vạn mét khối. Xã Xuân Đám có nguồn nước khoáng nóng, chảy quanh năm với độ nóng 380C.

Ngoài ra ở vườn quốc gia Cát Bà có nguồn nước Ao Ếch phong phú, các ao ếch là hồ nước thiên nhiên trên núi đá vôi, diện tích khoảng 3,6 hecta, nước có quanh năm, đạt trên dưới 30cm, nằm giữa khu vực rừng nguyên sinh. Bên cạnh đó một số áng cũng có nước quanh năm như áng Bèo, áng Bơ, áng Thắm, áng Vẹm,…

Nguồn tài nguyên nước không chỉ phục vụ cho sinh hoạt, sản xuấ mà còn phục vụ cho hoạt động du lịch. Những dòng nước mát tạo cảm giác thoải mái, dễ chịu xua đi sự mệt nhọc của chuyến trek.

2.2.1.2. Tài nguyên nhân văn

  • Lễ hội

Cát Bà có nhiều lễ hội truyền thống có sức hút du khách như:

  • Lễ ra biển: Được tổ chức tại làng chài Trân Châu vào tháng Giêng âm lịch hàng năm;
  • Hội đền Hiền Hào: Được tổ chức vào 21 tháng 1 âm lịch với lễ cầu phúc ở đền Cô;

Lễ hội kỉ niệm ngày Bác Hồ về thăm làng cá (01/04/1995): Diễn ra vào ngày 01/04 dương lịch hàng năm. Đây là lễ hội được tổ chức lớn nhất trong năm với các hoạt động văn hóa sôi nổi như hội đua thuyền rồng trên biển, đua thuyền thúng, bơi trải,… thu hút được sự chú ý của đông đảo du khách từ mọi miền và đây cũng là cơ hội để Cát Bà quảng bá hình ảnh của mình trước khi bắt đầu vào mùa du lịch; Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Hội đền Các Bà được tổ chức vào tháng 10 âm lịch hàng năm.

  • Các di tích khảo cổ học

Cát Bà là một trong những nơi có nhiều di chỉ khảo cổ có giá trị lịch sử thuộc nền văn hóa Hạ Long, nền văn hóa từ thời dựng nước. Theo kết quả nghiên cứu của các nhà khảo cổ học đã phát hiện ở đây có 77 di chỉ khảo cổ học thuộc các nền văn hóa Sơn Vi, Soi Nhụ cách đây 2000 – 4000 năm. Họ đã tìm thấy ở dưới lớp đất sâu ở các công cụ bằng đá ghè, đẽo, các kiểu chày đá hình tháp, bàn nghiền đá, đồ gốm, thô sơ, bếp đun với đấy vết than tro. Lớp đất nông phía trên là những cồn cụ đá đã được mài, các đồ bằng gốm, đồ trang sức được chế tác tiến bộ, hoa văn đẹp và tinh vi hơn. Những di chỉ này không nằm tập trung mà phân tán ở các khu vực Xuân Đám, Hiền Hào, Cái Bèo (thị trấn Cát Bà), Gia Luận.

Điển hình tại Cát Bà là di chỉ Cái Bèo, theo tài liệu ghi lại “kết quả của đợt khai quật gần đây nhất tháng 12/2008 do Phó giáo sư – Tiến sĩ Nguyễn Khắc Sử tiến hành, tìm thấy nồi gốm ở độ sâu 2,6m có niên đại cách ngày nay từ 7000 – 7500 năm”12. Di chỉ Cái Bèo thuộc nền văn hóa Cái Bèo – gạch nối giữa hai nền văn hóa Soi Nhụ và Hạ Long. Di chỉ được phát hiện năm 1938, khai quật được hơn 479 công cụ bằng đá cuội, đồ gốm thô cứng, các xương răng động vật, xương thú. Di chỉ Cái Bèo là một trong những bằng chứng điển hình khẳng định tổ tiên của người Việt cổ đã bắt đầu tiến ra biển khơi để chinh phục và khai thác biển cả và đã tạo nên một nền văn hoá mang sắc thái đặc biệt. Đồng thời Cái Bèo còn là một địa danh đẹp với cảnh quan hoang sơ hùng vĩ, bãi biển phẳng lặng trong xanh làm xua tan những mệt mỏi và thay đổi không khí của chuyến trek trong rừng.

Theo báo cáo nghiên cứu khảo cổ học Cát Bà của viện khảo cổ học, ở Cát Bà có:

Bảng 2.6: Các di chỉ/di tích khảo cổ học tại Cát Bà

  • Các di tích lịch sử

Tại Cát Bà còn nhiều dấu tích mang giá trị cao như:

Hòn cẩm thạch của làng Gia Luận từng là nơi tập kết dấu cọc lấy gỗ từ Vân Đồn để góp phần làm lên chiến thắng quân Nam Hán trong trận Bạch Đằng Giang của Ngô Quyền năm 938.

Tân tạo thạch bia” ở chùa Gia Lộc (thị trấn Cát Bà) là một khối đá bốn mặt chạm khắc hoa văn sinh động hiếm thấy được tạo dựng từ thời Cảnh Thịnh tứ niên năm 1797; Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Phần kiến trúc bức thành xếp đá xây dựng từ thời nhà Mạc thế kỉ XVI tại xã Xuân Đám, đặc biệt là còn tương đối nguyên vẹn ở khu vực chùa Hòa Hy (Hào Quang). Ở chùa có nhiều pho tượng độc đáo, nét hoa văn chạm trên bia đá đặc trưng của bia chùa miền Bắc;

Bảng 2.7: Danh sách các di tích lịch sử văn hoá, danh thắng được xếp hạng tại Cát Bà

  • Văn hóa ẩm thực

Đến với Cát Bà những trekker có thể thưởng thức các đặc sản của vùng đất sau chuyến bộ hành mệt nhọc, làm tăng thêm dư vị cho chuyến đi, như:

Sam 7 món: món ăn đặc trưng hương vị biển vừa ngon, vừa độc đáo, có nguồn gốc tự nhiên, luôn đảm bảo độ tươi sống. Sam biển chế biến rất nhiều món ăn khác nhau như: tiết canh, gỏi, chân sam xào chua ngọt, sam xào xả ớt, trứng sam chiên giòn hoặc xào lá lốt, sam hấp, sam bao bột rán, sụn sam nướng, sam xào miến…

Tu hài: là hải sản quý hiếm, chỉ Cát Bà mới có tu hài sau này mới được nhân giống rộng rãi sang các vùng khác. Tu hài có giá trị dinh dưỡng cao và hương vị đặc biệt, chế biến được nhiều món ăn như: gỏi, nấu cháo…; được biết đến nhiều nhất là món tu hài nướng trên bếp than, mùi thơm tỏa ngào ngạt và vị ngọt, tươi ngon của tu hài in đậm trong tâm trí du khách.

Cá song: ở Cát Bà có 3 loại là cá song mỡ, song đen và song cáo, chế biến nhiều món ăn hấp dẫn, bổ dưỡng như: gỏi, cháo, lẩu, hấp, sốt, nướng…

Bún tôm Cát Bà: đã từ rất lâu được coi như là một đặc sản hấp dẫn du khách.

Ngoài những món đặc sản từ biển thì cũng có những đặc sản của các xã như: cam Gia Luận, gà Liên Minh, khoai Mụt Ốc (Việt Hải) khiến cho nhiều du khách khó quên khi thưởng thức. Dê núi cũng là món ăn được đánh giá cao ở đây, được du khách đánh giá ngon hơn nhiều nơi khác.

Bảng 2.8: Tài nguyên du lịch nhân văn ở Cát Bà

Tài nguyên du lịch nhân văn ít phong phú hơn về số lượng và chủng loại so với tài nguyên du lịch tự nhiên, lại phân bố rải rác. Tuy nhiên, có thể khẳng định tài nguyên du lịch nhân văn tại Cát Bà độc đáo và có giá trị lịch sử cao đối với địa phương nói riêng và cả nước nói chung.

2.2.2. Cơ sở hạ tầng, vật chất kĩ thuật và các dịch vụ du lịch Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

2.2.2.1. Giao thông

Cát Bà nằm ngay phạm vi dải ven bờ biển và là nơi giao lưu của nhiều tuyến giao thông đường biển quan trọng trong vùng biển nội địa và quốc tế nên điều kiện giao lưu với đất liền rất dễ dàng, thuận lợi cho việc phát triển giao thông vận tải đường biển, thuận tiện cho việc đi lại, việc kết hợp các tuyến du lịch của khách tham quan. Đảo Cát Bà nằm trong tổng thể vùng du lịch ven biển Hạ Long – Bái Tử Long, là cửa ngõ tới di sản thiên nhiên thế giới – vịnh Hạ Long và là điểm du lịch sáng nối giữa hai cực của tam giác tăng trưởng kinh tế của miền Bắc Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh, hai trung tâm du lịch lớn nhất miền Bắc Việt Nam Hà Nội – Quảng Ninh; tạo thành một tuyến du lịch theo đường biển kết hợp với đường bộ, đường sắt và đường biển. Khách du lịch sẽ có nhiều trải nghiệm thú vị với nhiều loại phương tiện khi đến Cát Bà du lịch. Hơn nữa, ngày nay du khách thường đến thăm di sản thế giới vịnh Hạ Long, sau đó theo đường biển đến Cát Bà, đây là một thuận lợi cho du khách có dịp được chiêm ngưỡng vùng biển đảo vịnh Bắc Bộ của Việt Nam vừa hùng vĩ mà cũng rất thơ mộng.

Từ Hải Phòng ra Cát Bà, du khách có thể lựa chọn các hình thức ra đảo như sau:

Tàu cao tốc, tàu cánh ngầm từ Bến Bính ra thẳng cảng cá Cát Bà (thị trấn Cát Bà). Giá vé từ 130.000 – 150.000 đồng/1 người/1 lượt, vào mùa du lịch từ 20/04 hàng năm tăng lên 180.000 – 200.000 nghìn đồng/1 người/1 lượt. Thời gian đi chuyển mất 45 phút. Mỗi ngày có bốn chuyến, 2 chuyến sáng, 2 chuyến chiều; mùa du lịch cao điểm tăng lên từ 6 – 8 chuyến/1 ngày. Có nhiều loại tàu với số lượng 50 – 150 du khách phù hợp với những đoàn du lịch lớn.

Tàu tránh sóng từ Bến Bính đến bến Gót. Giá vé 110.000 đồng/1 người/1 lượt, mùa cao điểm tăng lên 130.000 – 150.000 đồng/1 người/1 lượt. Tàu tránh sóng hiện nay chỉ có của hãng HADECO do Khách sạn các Hoàng tử đầu tư, loại tàu này cho phép người đi mang xe máy, xe đạp lên tàu đến bến Gót, thuận tiện cho những du khách thích tự khám phá ngay những chặng đường đầu tiên tại vùng đất Cát Bà. Những du khách không mang phương tiện thì sẽ được xe ô tô của công ty chở đến thị trấn Cát Bà (giá vé đã bao gồm phí vận chuyển này). Phương thức di chuyển này phù hợp với những du khách đi tham quan vườn quốc gia Cát Bà mà không phải quay ngược trở lại. Tàu thường chở từ 20 – 25 du khách mỗi chuyến.

Đi ô tô hoặc xe máy bằng đường bộ thông qua đường xuyên đảo Hải Phòng – Cát Bà qua hai bến phà Đình Vũ, Ninh Tiếp và bến Gót, cái Viềng ra Cát Bà. Hai bến phà này hoạt động với tổng số 37 chuyến/1 ngày với 6 phà lớn và 6 phà nhỏ. Thời gian di chuyển khá lâu từ 2 tiếng 30 phút đến 3 tiếng. Giá vé phà với nhiều mức áp dụng:

  • Du khách đi bộ là 11.000 nghìn đồng/1 người/1 lượt;
  • Du khách đi xe đạp hoặc xe thồ các loại 8.000 đồng/ 1 lượt;
  • Du khách đi xe máy là 30.000 đồng/1 người/1 lượt;
  • Loại xe ô tô từ 9 chỗ ngồi trở xuống (không có người trên xe) là 110.000 đồng/1 lượt;
  • Loại xe ô tô từ 9 đến 24 chỗ ngồi (không để người trên xe) là 155.000 đồng/1 lượt;
  • Loại xe ô tô từ 24 đến 32 chỗ ngồi là 180.000 đồng/1 lượt;

Đường xuyên đảo Hải Phòng – Cát Bà là tuyến giao thông đường bộ và đường thủy kết hợp nối đảo Cát Bà và đảo Cát Hải với đất liền ở hải Phòng. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Loại xe ô tô từ 32 chỗ ngồi trở lên là 195.000 đồng/1 lượt.

Để đi tới Cát Bà khách du lịch phải đổi nhiều loại phương tiện: đường bộ và đường thủy. Điều này vừa mang lại sự phong phú phương tiện cho chuyến đi nhưng lại cũng gây ra sự không tiện lợi cho sức khỏe du khách.

Giao thông đường bộ ở Cát bà chủ yếu là đường con đường xuyên đảo Hải Phòng – Cát Bà, dài hơn 20km, rộng 5,5m gồm hai làn xe. Đường đi đẹp, sạch tuy nhiên nhiều khúc cua nguy hiểm, dốc lên, xuống đòi hỏi các phương tiện di chuyển phải luôn chú ý và cẩn thận đặc biệt là trong mùa cao điểm. Hiện nay có hai tuyến đi vào thị trấn Cát Bà, một tuyến đang thi công làm lại đường và một tuyến đi qua vườn quốc gia. Các con đường ở khu vực thị trấn nhỏ và có độ dốc thấp như đường 1/4, Núi Ngọc, Hà Sen đều là những tuyến được được sử dụng vào du lịch hiệu quả nhiều năm nay. Du khách có thể thuê xe đạp, xe máy với giá 100.000 đồng/1 ngày để di chuyển tại Cát Bà.

Hệ thống giao thông trong vườn quốc gia Cát Bà đang dần dần được cải thiên, đường nhựa to và đẹp trải dài được một nửa chặng đến các địa danh tại vườn quốc gia. Các chặng đường rừng là nhừng đường mòn to, khá an toàn và có chỉ dẫn cụ thể tại mỗi chặng đường. Điều này không ảnh hưởng nhiều đến du lịch trekking tuy nhiên vào mùa mưa gây mất dấu vết, lầy lội, trơn trượt qua các vùng núi đá, làm cho chuyến trek khó khăn và có thể không thực hiện được.

Dự án mở rộng đường xuyên đảo Cái Viềng – Mốc Trắng và giai đoạn 2 của dự án mở rộng đường Khe Sâu – Áng Sỏi được huyện và các ngành chức năng tập trung triển khai. Đây là dự dán quan trọng nhưng gặp không ít khó khăn do địa hình núi đồi hiểm trở.

2.2.2.2.  Hệ thống thông tin liên lạc

Do đặc điểm vị trí địa lý và địa hình nên hệ thống thông tin liên lạc tai Cát Bà còn kém về chất lượng. Sóng của các mạng điện thoại ở đây đều rất kém, vùng thị trấn Cát Bà có sóng ổn định và tốt nhất, các vùng khác thì thường xuyên mất sóng và không có sóng đặc biệt đi vào sâu khu vực vườn quốc gia. Yếu tố này cũng gây ảnh hưởng tới những trekker không chuyên hoặc mới đi sẽ gặp nhiều bỡ ngỡ về đường đi, hoặc gây khó khăn khi gặp nạn trong chuyến trek.

Hiện nay đảo ngọc đang được Viễn thông Hải Phòng cung cấp miễn phí dịch vụ wifi toàn bộ thị trấn Cát Bà.

2.2.2.3. Hệ thống điện, nước Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Hệ thống thủy lợi và điện còn hạn chế. Tình hình cấp điện tại đây còn nhiều khó khăn, nhiều nơi có nhà máy nước, nhưng trạm bơm nước của Công ty Cấp nước không có điện để phục vụ sản xuất nước, Công ty và Xí nghiệp Cấp nước Cát Bà buộc phải đầu tư máy phát điện để sản xuất. Chi phí cao song giá thành bán nước cho người dân vẫn được tính như các khu vực khác trên địa bàn thành phố. Đây là khó khăn về chi phí đối với Công ty Cấp nước Hải Phòng nói chung và Xí nghiệp Cấp nước Cát Bà nói riêng. Năm 2012, huyện Cát Hải cùng với các đơn vị, ngành liên quan đã cho xây dựng hồ chứa nước Trân Châu và Xuân Đám. sẽ chứa được khoảng 300.000 m3 nước, cải thiện đáng kể tình trạng thiếu nguồn nước, nhất là thời điểm vào mùa khô cho các nhà máy nước tại đây, như vậy sẽ đáp ứng nhu cầu ngày càng cao về nước sạch của người dân cũng như du khách đến với huyện đảo Cát Hải, thị trấn Cát Bà.

Dự án đường điện 110KV Chợ Rộc – Cát Bà đang trong quá trình triển khai để giải quyết vấn đề tốn kém khi sử dụng máy nổ dự phòng, đáp ứng được nhu cầu của cộng đồng địa phương cũng như hoạt động du lịch.

2.2.2.4.  Cơ sở lưu trú

Cát Bà hấp dẫn du khách bởi ngôi làng có cư dân sinh sống lâu đời nhất đảo Cát Bà, đó là làng Việt Hải. Làng Việt Hải nằm trong vùng lõi của vườn quốc gia Cát Bà. Đời sống nhân dân phụ thuộc vào thiên nhiên là chính. Đến làng Việt Hải có hai con đường: đường bộ và đường biển. Khi đến làng Việt Hải du khách có thể thấy những ngôi nhà được xây dựng hết sức đơn giản, có diện tích đất chăn nuôi và trồng trọt những cây ngắn ngày. Tại đây mới được xây dựng khu Whisper Nature Bungalow & Resort như một ngôi làng truyền thống, sạch sẽ và trang thiết bị đơn giản, một số căn nhà có hướng nhìn ra Phố cổ Hà Nội và cầu Long Liên. Chuyến trekking đến làng Việt Hải cũng là một trong những lựa chọn thú vị cho những trekker.

Khu Suối Gôi, tuy đây là một khu resort nghỉ dưỡng nhưng lại nằm sâu trong vùng lõi của khu dự trữ sinh quyển Cát Bà. Suối Gôi là quần thể những nhà sàn riêng biệt đậm chất Việt. Ở đây có những hoạt động trải nghiệm như đời sống của người dân nơi đây.

Trên đây là hai khu làng được phục vụ du lịch nổi trội nhất tại Cát Bà, hầu hết các khu resort tại Cát Bà đều là những kiểu nhà bungalow đơn giản gắn liền với cuộc sống của người dân địa phương, nằm tại những khu cách biệt thị trấn, dân cư đông đúc. Tuy tính chất là các khu du lịch song các khu làng này vẫn giữ được những nét văn hóa của cư dân nông nghiệp, ngư nghiệp truyền thống, đặc sắc.

Hiện nay các dịch vụ cung ứng phục vụ cho loại hình du lịch trekking không có. Bắt buộc những trekker tham gia phải chuẩn bị trước chuyến đi hoặc phải ở tại các cơ sở lưu trú sẵn có. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

2.2.3. Các chính sách khuyến khích phát triển du lịch và các dự án đầu tư tại Cát Bà

Phát triển du lịch cũng là một chính sách được Chính phủ tập trung ưu tiên phát triển tại Hải Phòng. Theo thống kê của Phòng Văn hóa, thông tin và Du lịch huyện Cát Hải cho thấy, 6 tháng đầu năm 2009 đã có 437.000 lượt khách tới Cát Bà, tăng 13,2% so với cùng kỳ năm 2008 và đạt 51,5% so với kế hoạch năm 2009. Tổng doanh thu từ du lịch đạt 136,2 tỷ đồng, nhưng con số này còn khá khiêm tốn so với tiềm năng của đảo Cát Bà. Tính chung cả năm 2009, lượng khách tới đảo Cát Bà lên tới trên 1 triệu người. Đảo Cát Bà với lợi thế là khu dự trữ sinh quyển thế giới đang ngày càng được biết đến như là một địa điểm nghỉ dưỡng lý tưởng của du khách, lượng khách du lịch đến với Cát Bà đóng góp lớn vào mức tăng trưởng du lịch hàng năm của Hải Phòng. Trong 6 tháng đầu năm 2008 là 418.000 lượt khách, tăng 37,5% so với cùng kỳ năm 2007.

Trước thềm Năm du lịch quốc gia 2013 do thành phố Hải Phòng đăng cai tổ chức, du lịch Cát Bà đang có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Đó là sự quan tâm của thành phố với những ưu ái tạo điều kiện về cơ chế chính sách, hỗ trợ đầu tư về cơ sở vật chất, quảng bá cho du lịch Cát Bà ở trong và ngoài nước. Năm 2011 là thời điểm các nhà đầu tư nhộn nhịp đầu tư nâng cấp các nhà hàng, khách sạn, trong đó có khách sạn Hùng Long Harbour, Sea Pearl… và các phương tiện phục vụ nhu cầu của du khách. Cùng với sự quan tâm hỗ trợ thiết thực, của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, sự lãnh đạo tập trung của Huyện ủy, Uỷ ban nhân dân huyện, du lịch Cát Bà có những chuyển động tích cực, trong đó có việc tổ chức lễ hội làng cá và khai trương du lịch trở thành sự kiện thường niên thu hút đông đảo du khách. Đặc biệt, sự quan tâm của thành phố và các sở, ngành trong việc giải quyết những khó khăn của ngành du lịch như: giao thông trên đảo, hệ thống điện, nước phục vụ cho du lịch và dân sinh. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về du lịch được triển khai ngày càng tốt hơn. Công tác vệ sinh môi trường tại khu trung tâm du lịch bước đầu hạn chế tình trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị. Cụ thể là:

Hiện nay chính phủ đang rất ưu tiên xúc tiến thực hiện các dự án do Trung ương đầu tư trực tiếp tại Hải Phòng. Đó là những dự án: dự án đường ô tô cao tốc Hà Nội – Hải Phòng (đường 5B), dự án Cảng cửa ngõ quốc tế Lạch Huyện, cầu Đình Vũ – Cát Hải; cảng Đình Vũ tiếp tục hoàn thành giai đoạn II; cải tạo nâng cấp các bến tàu khách Cát Bà, Gia Luận, Bến Bèo, cảng Hàng không Quốc tế Cát Bi, xây dựng sân bay taxi ở Đồ Sơn, Cát Bà, Bạch Long Vĩ phục vụ du lịch và cứu hộ.

Khắc phục tình trạng ách tắc đường Đình Vũ ra bến phà, cần sớm có quy hoạch phát triển du lịch Cát Bà.

Nâng cao chất lượng và phát triển du lịch cộng đồng tại các xã Hiền Hào, Trân Châu, Xuân Đám; mở rộng phát triển du lịch sinh thái và cộng đồng tại xã Việt Hải và xã Phù Long, cho phép khách du lịch được lưu trú qua đêm;

Chú trọng công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức để mọi người dân có trách nhiệm tham gia xây dựng và phát triển du lịch;

Xây dựng hoàn chỉnh quy chế, nội quy bảo vệ tài nguyên ở các điểm du lịch, có phương án bảo đảm an toàn, vệ sinh môi trường, an ninh trật tự tại các điểm du lịch và nơi lưu trú du khách;

Kết hợp phương thức Nhà nước – doanh nghiệp – hộ gia đình cùng tham gia đào tạo nguồn nhân lực;

Dự án đường điện 110KV Chợ Rộc – Cát Bà, dự án mạng internet không dây của Viễn thông điện tử Hải Phòng,…đang được triển khai và đầu tư hoàn thiện cả về số lượng và chất lượng. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Bên cạnh những dự án, chính sách phát triển du lịch nói chung làm thay đổi Cát Bà trở thành vùng du lịch trọng điểm, hỗ trợ cho khách du lịch thuận tiện đến Cát bà tham gia du lịch trekking chuyên nghiệp thì cũng có rất nhiều dự án, chính sách phát triển tài nguyên, những giá trị cần được bảo tồn. Đây chính là yếu tố thu hút những trekker về một điểm đến sạch, đẹp, hoang sơ và độc đáo.

Khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà được đánh giá là một nơi năng động nhất trong Mạng lưới MAB Việt Nam15 với nhiều sáng kiến kinh tế chất lượng như Nhãn hiệu chứng nhận Khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà, quỹ phát triển bền vững khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà và sự tham gia rộng rãi của các bên liên quan như nhà nước, viện nghiên cứu, doanh nghiệp tư nhân, tổ chức phi chính phủ và cộng đồng dân cư. Khu Dự trữ sinh quyển Cát Bà cũng là nơi đầu tiên trên thế giới nghiên cứu áp dụng khoa học hệ thống vào quản lý khu Dự trữ sinh quyển như những phòng thí nghiệm học tập về phát triển bền vững.

Năm 2000, Dự án bảo tồn voọc Cát Bà đã được thành lập với sự giúp đỡ của chuyên gia Đức. Các nhà khoa học đã tuyên bố voọc Cát Bà là một trong những loài linh trưởng hiếm nhất thế giới thể. Dự án đã thuê người dân địa phương bảo vệ loài voọc này thay vì săn bắn chúng, đồng thời mở các chương trình giáo dục tại các cộng đồng xung quanh. Nhóm nghiên cứu thuộc Vườn Quốc gia Cát Bà, Bảo tàng Thiên nhiên Việt Nam, Trường Đại học Lâm nghiệp và Viện Sinh thái và Tài nguyên Sinh vật vừa phối hợp nghiên cứu, nhân nuôi thành công ba loài bướm quý hiếm thuộc Họ Bướm phượng (Papilionidae) tại Vườn Quốc gia Cát Bà.

Đề án xây dựng Chương trình Phát triển bền vững cho khu DTSQ Quần đảo Cát Bà (do Viện VESDI tư vấn, triển khai). Hoạt động nghiên cứu này thống đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của con người.

Viện VESDI : Viện Môi trường và Phát triển Bền vững Việt Nam, trước là Trung tâm Môi trường và Phát triển Bền vững Việt Nam được Cơ quan hợp tác Phát triển Quốc tế của Thụy điển (Sida) và chương trình VIDA của AusAID tài trợ. IUCN đã tiến hành một nghiên cứu về 27 dự án phát triển và bảo tồn được quốc tế tài trợ tại đảo Cát Bà từ năm 1995.

2.2.4. Thực trạng về khách Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Loại hình du lịch trekking hiện nay chủ yếu được thực hiện tại các điểm thuộc sự quản lý của vườn quốc gia Cát Bà nên chính vì vậy nắm bắt được đặc điểm khách đến với vườn quốc gia Cát Bà sẽ phản ánh một phần đặc điểm khách của loại hình du lịch trekking. Tác giả kết hợp những thông tin khách của vườn quốc gia với kết quả điều tra để đưa ra phản ánh về đặc điểm khách của loại hình du lịch này.

Số lượng khách:

Bảng 2.9: Số lượng khách du lịch đến tham quan vườn quốc gia Cát Bà

Nguồn khách:

Khách quốc tế chủ yếu đến từ Canada (33,33%), Pháp (25%), Anh và Mỹ (12,5%) các nước khác số lượng rất ít nhằm cảnh báo thế giới về tình trạng suy thoái môi trường thiên nhiên trên toàn cầu, và những tác động của con người lên sự sống của trái đất.

Biểu đồ 2.1: Tỷ lệ khách du lịch quốc tế tham gia du lịch trekking trả lời phiếu hỏi

Khách nội địa đa phần đến từ các tỉnh/thành phố miền Bắc, riêng khách từ Hải Phòng chiếm tỉ lệ rất cao (64.3%) trong tổng số khách nội địa. Cũng có những du khách ở các miền khác nhưng tỉ lệ thấp.

Biểu đồ2.2: Tỷ lệ khách du lịch nội địa tham gia du lịch trekking trả lời phiếu hỏi

Lượng khách nội địa biết và đã từng tham gia trekking trả lời phiếu hỏi chủ yếu đến từ Hải Phòng, nhiều khách từ các tỉnh lân cận như Quảng Ninh, Hải Dương. Tuy nhiên tỷ lệ này nhỏ, bằng với các tỉnh/thành phố ở các miền khác. Các tỉnh/thành phố miền Trung, miền Nam ít biết điến Cát Bà. Theo phỏng vấn khách từ Hà Nội họ thường tham gia các loại hình truyền thống như tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan, du lịch bằng xe đạp,…; họ di chuyển từ Hà Nội – Quảng Ninh – Cát Bà. Cát Bà thường chỉ là hành trình phụ trong tuyến du lịch, họ không tham gia loại hình du lịch trekking.

Thành phần khách:

Khách trong nước: Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Chủ yếu là học sinh, sinh viên các trường đại học, phổ thông tại Hải Phòng và các tỉnh lân cận. Loại khách này thường đi theo nhóm từ 10 – 20 người, có đoàn lớn tới 60 người. Thời gian họ đi chủ yếu là vào những ngày nghỉ cuối tuần, ngày lễ, nghỉ hè.

Ngoài ra tham gia loại hình này còn có những du khách tự do yêu thích khám phá, tuy nhiên họ kết hợp nhiều loại hình du lich trong một chuyến đi mà chủ yếu vẫn là đi bộ. Đây cũng có thể xét là một chuyến trek. Họ thường đi bằng phương tiện xe máy đến Cát Bà, đi theo nhóm từ 5 – 10 người, bao gồm nhiều lứa tuổi, đi vào bất kì thời gian nào trong năm.

Khách quốc tế:

Họ chủ yếu là đi theo đoàn của công ty gửi khách đến Cát Bà. Tuy nhiên hoạt động du lịch tại Cát Bà của họ lại tự túc, họ tự do lựa chọn các điểm đến, cách thức di chuyển trong vùng, điểm ăn, uống,… Chuyến đi của họ thường kéo dài hơn 2 ngày. Đa phần khách quốc tế đến tham gia trekking độ tuổi từ 20 – 30 từ nhiều ngành nghề khác nhau. Về độ tuổi của khách quốc tế tham gia trekking rất phong phú, có những trekker ở độ tuổi cao, trên 60 tuổi. Họ tham gia loại hình du lịch trekking với nhiều cấp độ khác nhau.

Biểu đồ 2.3: Tỷ lệ độ tuổi của khách du lịch trekking trả lời phiếu hỏi

Qua biểu đồ trên ta thấy trekker trong nước ở độ tuổi thanh/thiếu niên tham gia hoặc biết đến loại hình du lịch trekking chiếm lượng lớn (92,85%). Họ là những người có thời gian tham gia du lịch nhưng chủ yếu đi theo đoàn và đi trong dịp nghỉ lễ, nghỉ hè; có nhiều sức khỏe và lòng đam mê, khám phá. Cũng xuất hiện những trekker ở độ tuổi trên 45 tuổi nhưng rất ít (7,15%) với lí do muốn rèn luyện sức khỏe là chính. Riêng độ tuổi từ 36 – 45 không có khách du lịch trekking. Có thể thấy đây là độ tuổi chủ yếu là không có thời gian tham gia hoạt động du lịch, đặc biệt các chuyến đi dài ngày phải tiêu tốn nhiều sức khỏe. Trong khi đó những trekker nước ngoài ở độ tuổi dưới 20 không có ai, theo phỏng vấn thì khách ở độ tuổi này chủ yếu tham gia các hoạt động du lịch theo đoàn gia đình với mục đích nghỉ dưỡng, tham quan, tắm biển đơn thuần. Cũng giống như với trekker trong nước, độ tuổi từ 20 – đều chiếm tỷ trọng lớn nhất (trên 60% trong tổng số người biết hoặc đã tham gia trekking trả lời phiếu hỏi). Đây là độ tuổi có nhiều sức khỏe, thời gian, đam mê với các loại hình mới. Bên khách nước ngoài, độ tuổi trên 45 chiếm tỷ lệ khá lớn (25%), họ có sức khỏe hơn khách trong nước, có thời gian và tiền bạc.

2.2.5. Phương thức tổ chức

2.2.5.1. Hướng dẫn viên và dịch vụ hướng dẫn

Những đoàn gửi khách lớn từ Hà Nội, Hồ Chí Minh, Đà nẵng đều có những hướng dẫn viên đi cùng. Họ là những người trẻ, khả năng giao tiếp ngoại ngữ chuẩn, kiến thức tốt. Tuy nhiên không có nhiều kinh nghiệm nên thường chỉ dẫn những tour trek ở cấp độ dễ, đường đi thuận tiện. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Bên cạnh những hướng dẫn viên theo đoàn của các công ty du lịch thì tại vườn quốc gia Cát Bà là nơi có hoạt động hướng dẫn và cung cấp hướng dẫn viên tốt và phù hợp nhất cho loại hình trekking. Từ cổng vào vườn quốc gia, tại phòng đón tiếp du khách có thể liên hệ tìm thông tin về hướng dẫn viên hay các dịch vụ khác trong tuyến du lịch. Các hướng dẫn viên tại trung tâm chủ yếu là những người có trình độ học vấn, sinh sống lâu năm tại Cát Bà, nhiều người từ Hải Phòng chuyển ra vì tình yêu nghề, yêu huyện đảo.

Bên cạnh đó là những hướng dẫn viên người bản địa, họ thường có độ tuổi trên 40, rất nhiệt tình, nhanh nhẹn, khả năng giao tiếp tiếng anh với du khách tốt, kinh nghiệm đi đường và tạo đường thông thạo, luôn có ý thức bảo vệ tài nguyên. Tuy nhiên họ hạn chế về kiến thức nên không mang lại nhiều thông tin về điểm đến cho du khách. Những hướng dẫn viên bản địa này được nhiều trekker nước ngoài lựa chọn vì họ đưa họ đi khám phá những cung đường mới, sẵn sàng cùng họ trek những chặng đường xa và cách giao tiếp vui vẻ, hài hước, nhiệt tình.

Các du khách Việt Nam thường ít lựa chọn hướng dẫn viên, họ thích tự khám phá hoặc chỉ lựa chọn hướng dẫn viên tại từng điểm đến ở Hang Quân Y, động Trung Trang. Những hướng dẫn viên tại điểm theo đanh giá chung thì họ làm việc thiếu trách nhiệm, hay bỏ điểm vào những ngày thường, thái độ thiếu hợp tác với những câu hỏi của du khách, trừ hướng dân viên tại điểm hang Quân Y. Hướng dân viên tại điểm hang Quân Y có thể coi là một hình mẫu cho đội ngũ hướng dẫn viên nói chung: nhiệt tình, khả năng giao tiếp với khách và khả năng ngoại ngữ, chuyên môn tốt, rất vui vẻ và cởi mở.

2.2.5.2. Cách tiếp cận điểm đến và giao thông

Phương tiện giao thông mà khách du lịch Việt Nam chủ yếu thường được sử dụng từ nơi họ đến như ô tô (với các đoàn khách lớn, đoàn khách gia đình,…), xe máy (chủ yếu khách du lịch ở Hải Phòng và một số tỉnh lân cận) đi theo phà sang đảo. Về giá cả, độ an toàn cơ bản đã đáp ứng được nhu cầu của du khách. Song vẫn tồn tại một số mặt như giờ phà đến, giờ phà đi thường không đúng, người đợi phà lâu, xảy ra hiện tượng chen lấn xô đẩy khi lên, xuống phà, sự quá tải vào những mùa cao điểm, hiện tượng chèo kéo khách mua hàng tại điểm đợi và trên phà. Về việc đi lại trong đảo được đánh giá là thuận lợi, đường khá nguy hiểm, họ đề nghị xây bờ chắn cũng như gương cầu to trên đường để thuận tiện cho việc đi lại. Còn vấn đề di chuyển trong tour thì du khách nội địa đánh giá là khó đi nên thường lựa chọn những tour trek đơn giản, dễ đi và quen thuộc.

Đối với du khách quốc tế thì thường đi tàu cao tốc – tàu cánh ngầm đến Cát Bà, họ sẽ có ô tô đưa vào thị trấn nhận điểm lưu trú chính rồi mỗi cá nhân hoặc đoàn có những chương trình riêng. Họ lựa chọn thuê phương tiện xe máy, xe đạp để di chuyển trên đảo, tới các điểm đến. Ở Cát Bà độ an toàn rất cao, du khách có thể để xe ở mọi chỗ trên đường đi để tham quan mà không sợ mất. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

2.2.5.3. Thông tin du lịch

Du khách tham gia chuyến trekking có thể liên hệ trực tiếp tại vườn quốc gia Cát Bà. Đây là nơi quản lý cũng như tổ chức, điều hành, bán tour chính với loại hình du lịch này tại Cát Bà. Đến vườn quốc gia du khách có thể liên hệ với:

Trung tâm hướng dẫn thông tin, giáo dục môi trường: là nơi giới thiệu thông tin cho du khách về cảnh quan thiên nhiên, địa mạo địa chất, những nét đặc sắc về căn hóa, du lịch và tính đa dạng sinh học của vườn quốc gia Cát Bà nói riêng cũng như khu Dự trữ dinh quyển Cát Bà nói chung. Bên cạnh đó, trung tâm hướng dẫn còn giúp du khách hiểu được ý nghĩa, tầm quan trọng của việc giữ gìn, bảo tồn các giá trị thiên nhiên và có trách nhiệm hơn trong việc bảo vệ tài nguyên đa dạng sinh học cho hôm nay và mai sau.

Phòng đón tiếp: là nơi đón tiếp, giới thiệu thông tin chung về các điểm và tuyến tham quan tại vườn và đảo Cát Bà, các thông tin cho du khách, lệ phí tham quan, lệ phí hướng dẫn, lệ phí các dịch vụ thuê đồ, mang vác và các nội quy, quy định cho du khách khi tham quan vườn và đảo Cát BàHiện nay tại trung tâm có dịch vụ hướng dẫn.

Về vấn đề thông tin du lịch của chuyến trekking, du khách hoàn toàn không có những thông tin cụ thể về loại hình này. Những thông tin khách du lịch biết chỉ là những hiểu biết sơ qua, không chuyên sâu về việc cần chuẩn bị, tổ chức và điểm đến. Những công ty trekking chuyên nghiệp chưa có điều kiện để thực hiện tốt một tour trekking tại Cát Bà. Chính vì vậy những trekker thường lấy thông tin từ trên mạng, các website, các diễn đàn uy tín, kinh nghiệm của bản thân khi chuẩn bị đến trekking tại Cát Bà và kết hợp cùng với sự giúp đỡ của người dân địa phương, ban quản lý khi đến Cát Bà để có những thông tin hữu hiệu nhất cho chuyến trekking. Trong chuyến đi, thông tin qua hướng dẫn viên chỉ có ở một số điểm, chủ yếu nhờ hiểu biết về địa bàn du lịch và kinh nghiệm của bản thân.

2.2.5.4. Các hình thức tổ chức và kinh doanh chuyến trek

Qua khảo sát ý kiến du khách và một số công ty du lịch tại Cát Bà và Hải Phòng thì nhận dạng được bốn loại hình kinh doanh du lịch trekking: Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Trung tâm quản lý vườn quốc gia Cát Bà: là nơi quản lý cũng như trực tiếp điều hành, kinh doanh các loại hình du lịch tại vườn quốc gia Cát Bà, đây có nhiều loại hình du lịch như du lịch cộng đồng, du lịch sinh thái, du lịch nghỉ dưỡng,…và du lịch trekking cũng là một trong số đó, đã được triển khai từ 3 trước. Ngoài ra, trung tâm cũng liên kết với các công ty du lịch khác để đảm bảo thỏa mãn mọi nhu cầu cho du khách từ bình dân đến cao cấp. Chủ yếu hình thức tổ chức của trung tâm đơn giản;

Các cơ sở chuyên kinh doanh du lịch trekking: hầu hêt là những công ty gửi khách ở nước ngoài, công ty ở hai thành phố lớn Hà Nội và Hồ Chí Minh. Theo khảo sát được biết đến một số công ty nổi trội với đoàn du khách quốc tế lớn;

Các cơ sở kinh doanh du lịch tổng hợp: từ nhiều tỉnh/thành phố khác cũng như nhiều cơ sở từ Cát Bà và Hải Phòng. Có thể nhắc đến những công ty nổi tiếng và thường xuyên đưa các đoàn đến trekking tại Cát Bà như: The Sinh Tourist – Sinh Café (Hồ Chí Minh), Focushalong (Quảng Ninh). Thường tổ chức các tour liên kết từ Hạ Long sang Cát Bà;

Các tổ chức hội/nhóm thuộc loại du lịch thể thao – khám phá/mạo hiểm: là những tổ chức có chung niềm đam mê khám phá, tìm hiểu, họ có niềm đam mê với các loại hình mới, nơi có cơ hội thể hiện bản thân. Từ một cá nhân khởi xướng, nêu ra ý tưởng sẽ thành lập nên một đội tham gia. Những tổ chức này đáp ứng được sự chuẩn bị kĩ càng cùng kinh nghiệm dày dặn của các vị thủ lĩnh dẫn đoàn sẽ tạo cho những tour trek trở nên đúng nghĩa và thú vị hơn. Tuy nhiên hiện nay chỉ có ít những tổ chức như thế này thực sự uy tín như tổ chức “phượt”.

Khách trong nước Khách nước ngoài

Biểu đồ 2.4: Hình thức tổ chức chuyến đi của khách du lịch trekking tham gia trả lời phiếu hỏi

2.2.5.5. Thực trạng về điểm đến

Tại thị trấn Cát Bà, hiện tượng người dân chèo kéo thuê xe, thuê nhà nghỉ gây phiền nhiễu cho du khách. Được biết những người tạo nên hiện tượng này là những người thất nghiệp từ trong đất liền ra đảo làm ăn, chính quyền và người dân bản địa đã nhiều lần nhắc nhở song vẫn tái diễn. Tuy vậy, tại các điểm đến khác ở các xã của Cát Bà, hiện tượng này không có, người dân đối xử với du khách bằng thái độ thân thiện đúng mực. Du khách đều đánh giá cơ sở vật chất tại vườn quốc gia còn yếu, kém tiện nghi, nơi nghỉ chân cho du khách chỉ có tại ở cổng, khu vực vệ sinh và phục vụ ăn uống, lưu trú mới có tại tuyến Ngự Lâm – Kim Giao. Đặc biệt du khách quốc tế rất thích quang cảnh hoang sơ và môi trường sạch sẽ nơi đây. Họ đánh giá rất tốt/rất hài lòng cho hai tiêu chí cảnh quan, môi trường và cộng đồng địa phương. Và hầu hết các du khách đều muốn quay trở lại Cát Bà lần nữa hoặc nhiều lần nữa để tận hưởng vẻ đẹp và những giá trị của đảo ngọc này.

Theo quá trình khảo sát, hiện nay có động Trung Trang bắt đầu bớt chú trọng đầu tư, tuy hàng năm vào mùa du lịch ban quản lý đều dọn dẹp đường, nhưng đó chỉ là những việc làm khi vào vụ mùa, còn ngày thường khi mùa du lịch chưa tới động Trung Trang gần như bị bỏ hoang, cổng đóng, không có hướng dẫn viên hay người quản lý. Các dịch vụ tại khu vực quanh động không có, hệ thống đèn chiếu sáng trong động còn kém và xuống cấp. Chính vì thế mà lượng khách đến động Trung Trang – nơi được coi là một trong những động đẹp nhất Cát Bà. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Xét về góc độ tổng thể, các điểm đến tại Cát Bà đều đẹp và có những giá trị về tự nhiên hay lịch sử cao. Tuy nhiên ban quản lý chưa có những đầu tư đồng bộ, hầu hết là những phương pháp nhất thời, giải quyết theo mùa vụ. Thực trạng cụ thể từng điểm đến, tác giả sẽ nhắc đến tại phần “Các tuyến du lịch trekking”.

2.2.5.6. Các tuyến du lịch trekking

Đây là các tuyến du lịch được trung tâm vườn quốc gia Cát Bà xây dựng cho khách du lịch tham gia chuyến trek, có 6 tuyến được xây dựng, ghi trên bản đồ ngay ngoài cổng vườn quốc gia, những trekker theo dõi thuận lợi và lựa chọn cho mình những chuyến trekker phù hợp nhất. Những trekker có thể tự túc hoặc mua tour ngay tại trung tâm của vườn quốc gia, sẽ có các hướng dẫn viên người bản địa chỉ dẫn. Dưới đây là 6 tuyến du lịch trekking đang được khai thác và được biết đến nhiều nhất:

  • Kim Giao – Ngự Lâm (2h)
  • Động Trung Trang – Hang Ủy Ban (1,5h)
  • Tuyến du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường
  • Ao Ếch – Việt Hải – Vịnh Lan Hạ (7h)
  • Mây Bầu – Khe Sâu (4h)
  • Ngự Lâm – Mé Cồn – Động Trung Trang (5h)
  • Tuyến Trung tâm vườn quốc gia – Kim Giao – Ngự Lâm
  • Tuyến Trung tâm vườn quốc gia – Động Trung Trang – Hang Ủy Ban
  • Tuyến du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường
  • Tuyến Ao Ếch – Việt Hải – Vịnh Lan Hạ
  • Tuyến Mây Bầu – Khe Sâu
  • Tuyến Trung tâm vườn quốc gia – Ngự Lâm – Mê Cồn – Động Trung Trang
  • Điểm khảo sát đã đến

Hình 2.1: Bản đồ các tuyến, điểm du lịch có thể khai thác du lịch trekkig

  • Tuyến trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Kim Giao – Ngự Lâm

Hình 2.2: Biển chỉ dẫn đường đi rừng Kim Giao – đỉnh Ngự Lâm Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Đây là tour thuộc cấp độ dễ, thời gian đi từ 2 – 4 giờ đồng hồ. Tour này được du khách lựa chọn nhiều, khách nội địa chủ yếu lựa chọn tuyến này để tham gia. Những trekker không phải mang hành lý nhiều (hành lý có thể gửi tại trung tâm vườn quốc gia). Tại khu vực chân đỉnh Ngư Lâm/đỉnh Kim Giao này có một nhà sàn phục vụ ăn uống ở dưới, nghỉ ngơi ở tầng trên cho du khách. Xuất phát từ cổng vườn quốc gia Cát Bà du khách đi dọc đường bê tông, trên đường có thể ghé thăm vườn thú, vườn thực vật. Sau đó, đi theo biển chỉ dẫn Kim Giao – Ngự Lâm đến chân núi đi theo những bậc đá, thấy dãy nhà sàn, rẽ trái là hướng đi lên, rẽ phải là hướng đi xuống. Đến ngã ba sẽ thấy biển chỉ dẫn, du khách có thể lựa chọn 2 cách đi:

Cách 1: Chọn đi đỉnh Kim Giao trước, du khách đi ngay con đường đá bên phải tấm biển chỉ dẫn. quý khách lên đỉnh Kim Giao, ngắm khu rừng Kim Giao, rồi du khách quay trở lại đường đi 50m sẽ có một lối rẽ ít dốc hơn dài khoảng 800m lên đỉnh Ngự Lâm. Gần tới đỉnh du khách sẽ thấy những chiếc thang sắt nhỏ, hẹp để leo lên. Lên Khi xuống sẽ đi theo con đường mạo hiểm dốc hơn dài 500m.

Cách 2: Chọn lên đỉnh Ngự Lâm trước, đi theo con đường mạo hiểm dài 500m. Qua đỉnh Yên Ngựa, rẽ tráu và đi tiếp lên sẽ tới đỉnh Ngự

Vườn thực vật: gồm các loài cây đại diện cho hơn 1.500 loài thực vật mà vườn quốc gia Cát Bà hiện có, nào là vườn cây hạnh phúc do các vị lãnh đạo và phu nhân trồng.

Lâm. Khi xuống rẽ trái đi con đường ít dốc dài 800m đến ngã ba rẽ trái sang thăm khu rừng Kim Giao (50m), quay trở lại đường đá rẽ trái xuống đường trung tâm.

Rừng Kim Giao: Với bạt ngàn thân cây thẳng đứng, rừng Kim giao có một khuôn viên yên bình, thơ mộng và là một điểm dừng chân thưởng ngoạn lý tưởng để các du khách có cơ hội được cảm nhận những giá trị của cuộc sống. Kim giao là một loại cây lá cứng và thuộc loại cây quý. Ra hoa vào tháng 4, tháng 5, thành quả, kết đài vào tháng 6, tháng 7, những quả kim giao già khô được hái về ươm trồng vào khoảng tháng 11. Nghỉ chân dưới bóng mát của những tán lá kim giao xanh mướt, lắng nghe những âm thanh của gió và “dàn đồng ca mùa hạ” của ve. Kim Giao được sách đỏ xếp ở bậc V (có nguy cơ tuyệt chủng). Cây Kim Giao là đối tượng bảo vệ của vườn quốc gia Cát Bà.

Hình 2.3: Rừng Kim Giao trên đỉnh Kim Giao

Đỉnh núi Ngự Lâm cao 210m so với mực nước biển. Ngự Lâm theo nghĩa Hán Việt là ngồi trên đỉnh núi. Trên đỉnh có chòi quan sát cao hơn 20m, đứng trên đỉnh lô cốt du khách thỏa sức ngắm nhìn khung cảnh của Cát Bà từ trên cao.

Hình 2.4: Chòi quan sát trên đỉnh Ngự L âm Bảng 2.10: Tuyến trekking Trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Kim Giao – Ngự Lâm Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

  • Đường lên đỉnh là đường bậc thang bằng đất, đá;
  • Có đầy đủ dịch vụ: nhà hàng, nơi nghỉ trưa, khu mua sắm lưu niệm, nhà vệ sinh, thùng rác trải dọc tuyến;
  • Tuyến được thực hiện nhiều, có nhiều đoàn khách lớn tham gia.
  • Tuy nhiên một số cầu thang sắt và chòi quan sát đã quá cũ, không an toàn, cần tu sửa gấp hoặc quy định số khách tham gia.

Tuyến trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Động Trung Trang – Hang Ủy Ban (1,5h)

Đây là tour thuộc cấp độ dễ, thời gian di chuyển và khám phá từ 3 – 5 tiếng với tổng chiều dài khoảng 5km. Tại đây du khách sẽ phải mua vé tham quan động Trung Trang (15.000 đồng/1 người lớn). Tại đây không có dịch vụ nghỉ ngơi, bán hàng nên những trekker cần chuẩn bị đồ cần thiết như nước uống, đèn pin, dao,…

Xuất phát từ vườn quốc gia đi bộ dọc đường nhựa phía ngoài cổng về phía thị trấn Cát Bà đến động Trung Trang. Chặng đường dài 3,5 km, đi bộ hết khoảng 2 giờ đồng hồ. Biển chỉ dẫn cho du khách đi thăm động ở phía bên phải đường.

Hình 2.2.25: Biển chỉ dẫn – đường vào động Trung Trang

Động Trung Trang thuộc thung lũng Trung Trang – thung lũng lớn nhất đảo Cát Bà, có diện tích khoảng 300 ha, thấp hơn mặt nước biển từ 10 đến 30m và cách thị trấn Cát Bà 15 km về phía tây bắc. Động dài khoảng 300m xuyên qua núi, là hang động do thiên nhiên kiến tạo trải qua hàng nghìn năm lịch sử. Động với muôn nghìn nhũ đá thiên nhiên có hình dáng độc đáo, sáng lấp lánh như những khối châu báu, và luôn gợi cho con người liên tưởng đến hình ảnh của chốn bồng lai tiên cảnh. Tại đây có cả một dãy đá đứng sừng sững với hơn chục phiến xếp song song, khi dùng tay vỗ vào sẽ nghe thấy âm thanh ngân vang rất xa. Động có thể chứa hàng trăm du khách đến tham quan. Tại động Trung Trang còn có khu rừng Kim Giao mọc tự nhiên rất đẹp và có giá trị về kinh tế lẫn nghiên cứu khoa học.

Hình 2.6: Nhũ đá trong động Trung Trang

Từ phía của ra của động đi xuống con đường mòn có hai ngã rẽ, rẽ phải sẽ đi sang hang Ủy Ban, đường rẽ này ngắn, nhưng nhiều bụi rậm, lối mòn khó nhận biết dễ bị lạc đường, nguy hiểm. Ngã rẽ khác là đường thẳng đi ra. Lối đi ra động Trung Trang cách khoảng 20m, cách khoảng 20m lối đi ra về phía thị trấn cát Bà có một lối mòn nhỏ, đây chính là con đường đi Hang Ủy Ban. Tuy nhiên hang Ủy Ban hiện nay không được khai thác, lối vào cửa hang rất nhiều cây che chắn, ánh sáng bị bao phủ nên những trekker khó vào hang nếu không chuẩn bị dụng cụ cần thiết. Tuy nhiên vào được hang rồi du khách sẽ vô cùng thích thú khi thấy phía bên trong hang.

Hình 2.7: Hình ảnh trong hang Ủy Ban Bảng 2.11: Tuyến trekking Trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Động Trung Trang – Hang Ủy Ban Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Đường vaog động Trung Trang thuận tiện, đường vào hang/động là đường bậc thang bằng đá;

Động Trung Trang và hang Ủy Ban được đánh giá những hang/động đẹp nhất Cát Bà và có giá trị cao, thu hút đông khách du lịch chủ yếu khách nội địa;

Tuy nhiên hiện nay tuyến trekking này càng ngày càng ít lượng khách; không có các cơ sở dịch vụ; hướng dẫn viên tại điểm thiếu trách nhiệm; đường vào Hang Ủy Ban bị che khuất, khó đi vào; chỉ mở cửa vào mùa du lịch, ngày nghỉ lễ,…; các công ty du lịch và khách du lịch quốc tế thường bỏ qua tuyến du lịch này; lượng khách càng ngày càng giảm.

  • Tuyến du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường

Hình 2.8: Biển chỉ dẫn tuyến đường du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường

Tour du lịch sinh thái – giáo dục môi trường là tour ở cấp độ dễ với thời gian từ 3 – 6 tiếng và độ dài quãng đường là gần 3km. Tuyến đường này nằm trên cung đường đến Ao Ếch. Với tour này những trekker có thể được ngắm rất nhiều loài động vật độc đáo như rắn lục, các loài chim,…Vườn đã thiết lập đội ngũ cán bộ hướng dẫn viên có trình độ chuyên môn, nghiệp vụ để phục vụ du khách trong và ngoài nước thông qua đó du khách có nhận thức tốt hơn về bảo vệ môi trường, bảo vệ đa dạng sinh học,… Mỗi năm Vườn đã tuyên truyền cho từ 60.000 – 80.000 lượt khách.

Du khách quốc tế thường kết hợp tuyến đường này cùng với tuyến đường Ao Ếch – Việt Hải.

Bảng 2.12: Tuyến trekking Du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường

  • Tuyến trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Ao Ếch – Việt Hải – Vịnh Lan Hạ

Đây là tour trek ở mức độ trung bình, những trekker không phải di chuyển ở những độ cao trên 3000m nhưng độ nguy hiểm khi phải vượt qua những núi đá vôi lởm chởm, sắc nhọn, dễ trơn trượt do ẩm ướt, rêu phong bao phủ,… và đi bộ từ 6 – 8 tiếng. Thời gian đi tour thường là 2 ngày 1 đêm.

Xuất phát từ cổng vườn quốc gia Cát Bà, những trekker có hai lựa chọn để đi đến Ao Ếch:

Cách 1: thuận tiện, dễ dàng hơn. Du khách từ cổng đi bằng đường nhựa chính phía ngoài, đi ngược với hướng tới thị trấn Cát Bà khoảng 20m cùng phía bên cổng vườn sẽ thấy ngã rẽ nhỏ bằng bê tông. Du khách đi vào con đường đó, cứ đi thẳng qua trạm quản lý rồi tiếp tục hành trình. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Cách 2: đi vào cổng vườn quốc gia thẳng đường dẫn vào, sẽ ngã rẽ phân cách các khu nhà, du khách đi vào lối đó. Đây là con đường mòn của người dân nơi đây để đi tắt sang Ao Ếch, con đường này phù hợp với những người yêu thích khám phá và phiêu lưu, vì nếu không có kinh nghiệm rất dễ bị lạc đường đi trở lại khu vực hồ bơi, đỉnh Ngự Lâm. Đi băng qua con đường mòn sẽ thấy đường bê tông đi vào Ao Ếch (không phải qua trạm soát vé).

Đi hết con đường bê tông dẫn vào dài 2,5km, du khách có thể nghỉ ngơi tại chòi nhỏ, tại đây chỉ có dịch vụ nước uống phục vụ du khách. Vì đây là tour đi một chiều nên trekker thường mang đầy đủ hành lý của mình. Tiếp tục hành trình đi bộ với con đường đá đắp cao dần lên. Chặng đường từ điểm du lịch sinh thái – giáo dục môi trường đến Ao Ếch dài 4km. Con đường đi tới Ao Ếch tương đối khó, dễ bị lạc, vì vậy những trekker cần có tầm nhìn xa, nhìn những dấu hiệu chỉ dẫn, đánh dấu của vườn quốc gia hay của những trekker đã đi trước (khắc trên cây, vết sơn,…). Những trekker sẽ xuyên qua rừng tự nhiên trên núi dốc và những trảng cỏ rậm rạp qua địa danh Mây Bầu. Hiện nay vùng Mây Bầu rất hoang tàn, biển tên Mây Bầu cũng đã bị đổ xuống, cây cỏ che lấp. Trên đường đi ta sẽ thấy hai bên sườn núi là rừng thân gỗ dày đặc, có cây đổ xuống chắn ngang lối đi, cây khác thì thả xuống bộ rễ chùm tuyệt đẹp hoặc tạo thành cổng chào trên đường, những loài côn trùng, nấm. Từ Mây Bàu sẽ đi qua trạm Kiểm lâm cũ, áng Vỏ, thung lũng Mé Gợ.

Ao Ếch là một đầm nước ngọt nhỏ trên núi cao, là nơi chỉ có cây Và Nước. Đây là một sinh cảnh rừng ngập nước nội địa độc đáo ở Cát Bà, một khu vực rừng ngập nước trên núi cao duy nhất ở miền Bắc với nguồn nước không bao giờ cạn, thậm chí vào mùa mưa còn ngập cả lối đi. Ao Ếch có diện tích khoảng 3ha với loài thực vật được bảo vệ nghiêm ngặt là cây Và Nước mọc thành một quần thể rất đẹp và bí ẩn. Ao Ếch là nơi cư trú của chuột, nhím, rùa núi, rắn, ếch, nhái, cua, cá… Ao Ếch đi Việt Hải đường mòn vòng quanh vách núi đá vôi vẫn khuất dưới tán cây rừng kín đặc, các loại dây leo chằng chéo trên mặt đất. Vào mùa hè đây là nguồn nước chủ yếu của các loài chim và thú nhỏ. Đến đây du khách sẽ được nghe bản đồng ca của các loài ếch, nhái rất vui tai, làm xua tan đi những xô bồ của cuộc sống thường ngày.

Hình 2.9: Ao Ếch Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Tiếp tục chuyến trek tới làng Việt Hải. Chặng đường từ Ao Ếch đến Việt Hải dài khoảng 4km, độ khó và nguy hiểm hơn chặng đường đến Ao Ếch. Là con đường mòn vòng quanh vách núi đá vôi vẫn khuất dưới tán cây rừng kín đặc, các loại dây leo chằng chéo trên mặt đất, những vách đá dựng đứng, những khe hẹp dốc ngược, đôi lúc phải bám vào rễ cây và vách đá để đu người lên – xuống. Chặng đường này thay đổi độ cao liên tục, lên núi, xuống thung lũng,… rất hoang sơ và bí ẩn.

Tour này thường được trekker nước ngoài lựa chọn, họ thường đi từ 1 – 2 người. Những trekker nội địa rất hiếm, thường đi một lần duy nhất với đoàn hơn 5 người. Trekker nội địa thường không chịu được áp lực, không có kinh nghiệm nên dễ bị lạc hướng, mất sức, thời gian kéo dài.

Đến làng chài Việt Hải du khách thường nghỉ qua đêm tại khu bungalow hoặc nghỉ tại nhà người dân theo kiểu homestay. Tại đây du khách hòa mình vào cuộc sống của người dân như trồng cây hoa màu, nhặt hà,…

Sáng hôm sau du khách thăm rừng có thể sẽ thấy voọc đầu trắng. Tiếp tục hành trình đi thăm vịnh Lan Hạ.

Đồng Ninh Tiếp – làng Việt Hải là nơi sinh sống của cư dân bản địa trong vùng lõi của vườn quốc gia Cát Bà. Tại đây du khách được trải nghiệm đời sống văn hóa, sinh hoạt cộng đồng dân cư sinh sống tại đây với những nét đặc sắc, độc đáo của một ngôi làng – xã được vườn quốc gia bao quanh, chưa bị tác động, ảnh hưởng nhiều từ sự phát triển ồ ạt quá mức như ở bên ngoài bởi không có đường giao thông bộ nối liền với các xã và trung tâm huyện. Du khách được tham quan những kiến trúc truyền thống của làng quê nơi đây, đồng thời tìm hiểu, thưởng thức những nét văn hóa, ẩm thực, sinh hoạt của người dân làng Việt Hải, khám phá tài nguyên thiên nhiên quanh khu vực xã trong vườn quốc gia, tự chinh phục những nơi mà nhiều người chưa biết đến trong vườn quốc gia.

Hình 2.210: Cổng làng Việt Hải

Nếu du khách không nghỉ đêm tại Việt Hải, du khách đi bộ tiêp 3km ra bến lên tàu đi thăm vịnh Lan Hạ. Trên chặng đường tiếp theo du khách có thể dừng chân ở những nơi như: bãi tắm Vạn Bội, bãi tắm Hoàng Tử,…để dựng lều nghỉ qua đêm. Hình thức này thường được những trekker ưa thích mạo hiểm chọn lựa.

Khi thăm vịnh Lan Hạ du khách sẽ được ghé thăm làng chài Vạn Giá trên 100 tuổi, ngắm khỉ trên đảo Khỉ,…

Bảng 2.13: Tuyến trekking Trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Ao Ếch – Việt Hải – vịnh Lan Hạ

chủ yếu là tự tổ chức nên những trekker chưa hiểu hết những giá trị tài nguyên thiên nhiên trên tuyến hành trình này. Chưa có những đoàn khách mua tour được tổ chức chuyên nghiệp. Dịch vụ còn hạn chế (một nơi bán nước uống ở chặng 2,5km đường bê tông, một hệ thống bungalow ở đầy đủ tiện nghi ở làng Việt Hải). Hệ thống các biển chỉ dẫn đã bị hư hại nặng.

  • Tuyến trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Mây Bầu – Khe Sâu

Đây là chuyến trek ở mức độ trung bình dễ, độ dài toàn tuyến 7km với thời gian di chuyển 4 – 6 tiếng. Xuất phát từ đường phía sau vườn quốc gia đi thẳng cùng cung đường đến Ao Ếch. Đi gần 1km sẽ thấy tấm biển chỉ địa danh Mây Bầu, tại địa danh này du khách sẽ được thấy rất nhiều cây rừng nguyên sinh lâu đời với những hình dáng thú vị, quan sát các loài chim.

Hình 2.11: Khu vực Mây Bầu Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Qua đỉnh Mây Bầu sẽ tới một đồng cỏ lớn sẽ thấy tấm biển chỉ dẫn đường đi tới Khe Sâu20 – hang Quân Y. Chặng đường tới hang dài 5km, là con đường mòn nhỏ, độ dốc nhỏ nhưng dễ bị trượt, tuyến đường này cần có hướng dẫn viên người bản địa dẫn đường, vì tour này ít được lựa chọn nên đường mòn bị che lấp, khó nhận biết, lạc vào những vùng nguy hiểm.

Khe Sâu: đây là tên gọi cũ của vùng dân cư tại vùng lõi rừng quốc gia, tuy nhiên theo thời gian, quá trình xây dựng cơ sở hạ tầng nên vùng dân cư đã bị chuyển dần, nay chỉ còn một số ít hộ ở lại phục vụ du lịch.

Đồng thời tại Khe Sâu có hang Quân Y nổi tiếng từ những lâu nên du khách biết đến Quân Y nhiều hơn.

Nhưng thực chất địa danh hang Quân Y là Khe Sâu theo quan niệm của người dân nơi đây.

Hình 2. 12: Biển chỉ dẫn đường Hang Quân Y (5km)

Hang Quân Y, hay Bệnh viện Quân y nằm lưng chừng núi khu vực Khe Sâu, xã Trân Châu, thuộc địa phận Vườn Quốc gia Cát Bà. Bệnh viện Quân Y được xây dựng ngay trong lòng núi Cát Bà, từ thời chiến tranh chống Mỹ, đã trở thành niềm tự hào của ngành Quân y Việt Nam. Trước đây, hang Quân y mang tên Hùng Sơn, theo tên một vị tướng thời nhà Trần tham gia đánh trận trên sông Bạch Đằng lịch sử, người đã tìm ra hang. Thời kháng chiến chống Mỹ, khoảng những năm 60, hang được xây dựng thành một bệnh viện để làm nơi chữa bệnh cho thương binh, nơi trú ẩn, tránh bom đạn của dân cư địa phương và dân cư sơ tán về từ đảo Bạch Long Vỹ. Bệnh viện có sức chứa hơn 100 thương binh. Ngoài 17 phòng bệnh và các phòng chức năng, trong lòng hang còn có bể bơi, bãi chiếu phim và khu tập luyện thể lực… Sau chiến tranh, mỗi lần có bão, người dân nơi đây cũng chọn hang để làm nơi trú ẩn.

Hình 2.13: Biển chỉ dẫn đường vào Hang Quân Y

Hình 2.14: Cửa Hang Quân Y

Lối ra của hang nằm ở mặt sau của sườn núi, với đường mòn thoai thoải, hai bên là cây rừng khiến du khách hòa mình cùng thiên nhiên giữa cảnh quan của núi rừng vườn quốc gia. Hang có cấu trúc đặc biệt với nhũ thạch và núi đá vôi ven biển hình thành do trầm tích. Bên cạnh đó là những nhũ đá lấp lánh của tạo hóa ban tặng, cùng với ánh sáng trong động, tạo nên không gian bí hiểm, lãng mạn. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Lối ra ngay cạnh đường nhựa chính tới thị trấn Cát Bà. Tại đây có nơi gửi xe, cho thuê xe đạp, phục vụ ăn uống cho du khách. Từ đây những trekker có thể đi bộ về thị trấn Cát bà để nghỉ qua đêm, hoặc tới địa danh Cái Bèo tìm hiểu hoạt động vận chuyển của chợ hải sản vào sáng hôm sau.

Bảng 2.14: Tuyến trekking Trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Mây Bầu – Hang Quân Y

  • Tuyến trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Ngự Lâm – Mé Cồn – Động Trung Trang (5h)

Là tour trek ở cấp độ trung bình với thời gian di chuyển từ 4 – 6 tiếng, độ dài toàn tuyến là 7km. Mé Cồn là địa danh cũ được gọi khu vực thung lũng ngày trước, nay đã được trải đường nhựa để vào thị trấn Cát bà.

Xuất phát từ cổng vườn quốc gia Cát Bà du khách đi dọc đường bê tông, trên đường có thể ghé thăm vườn thú, vườn thực vật. Sau đó, đi theo biển chỉ dẫn Kim Giao – Ngự Lâm đến chân núi đi theo những bậc đá, thấy dãy nhà sàn, rẽ trái là hướng đi lên, rẽ phải là hướng đi xuống. Đến ngã ba sẽ thấy biển chỉ dẫn, du khách có thể lựa chọn hai đường đi, một là con đường ít dốc hơn dài khoảng 800m, hai là con đường dốc và nguy hiểm hơn dài 500m. Gần tới đỉnh du khách sẽ thấy những chiếc thang sắt nhỏ, hẹp để leo lên. Sau khi đã chinh phục đỉnh Ngự Lâm, ngắm khung cảnh toàn Mé Cồn từ trên chòi quan sát. Du khách xuống chân núi đi theo đường mòn của Mé Cồn đi ra thăm động Trung Trang.

Bảng 2.15: Tuyến trekking Trung tâm vườn quốc gia Cát Bà – Ngự Lâm – Mé Cồn – Động Trung Trang

Tuy nhiên một số cầu thang sắt và chòi quan sát đã quá cũ, không an toàn, cần tu sửa gấp hoặc quy định số khách tham gia. Tuyến đường này cũng không được thực hiện nhiều vì mỗi lần thực hiện tour phát sinh ra thêm một lối mòn khác, gây ảnh hưởng đến hệ thực vật. Còn một số tồn tại Động Trung Trang. Tuyến này không được thực hiện, chủ yếu đi bằng con đường lớn bên ngoài trung tâm đến động trung Trang.

  • Một số điểm trekking khác

Động Cây Thị thuộc xã Hiền Hào

Được xây dựng trong thời chiến tranh, dùng làm nơi tránh bom, đạn, nằm cheo leo trên sườn núi, cách mặt nước biển khoảng 30m.

Động Hiền Hào, xã Hiền Hào

Được phát hiện trong thời kỳ phá đá làm đường xuyên đảo nên giữ được vẻ hoang sơ với những tảng thạch nhũ còn nguyên độ sắc cạnh và óng ánh, hấp dẫn du khách khi đến Cát Bà Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Động Hoa Cương hay động đá Hoa, xã Gia Luận

Động ở độ cao khoảng 15 – 20m so với mặt bằng cư trú, 50m so với mực nước biển. Chiều cao của động khoảng trên dưới 10m. Nơi rộng nhất của động là 25m, chiều dài khoảng 100m. Phía trên cửa động có nhiều thạch nhũ với hình khối như những công trình điêu khắc tuyệt vời của tạo hóa. Dưới nền động có hồ nước nhỏ càng làm tăng sự huyền ảo khi có luồng ánh sáng đi qua. Những hình khối của thạch nhũ đá mang dáng dấp của những pho tượng hình người, hình thú… như những bức họa nhuốm màu thần thoại. Các nhà khảo cổ học đã khai quật và phát hiện ra chiếc răng hóa thạch của người vượn cổ có niên đại cách đây 10 vạn năm.

Động Thiên Long nằm trên địa bàn xã Phù Long

Là một điểm du lịch đang hút khách với nhiều điều huyền bí. Theo người dân địa phương, ngoài cảnh đẹp tựa chốn bồng lai, đây còn là nơi lưu giữ dấu tích của người xưa, hay từng là nơi tá túc của hải tặc… Thiên Long động được chia thành ba khu tương đối tách biệt, với những lớp thạch nhũ buông rủ có từ cách đây hàng triệu năm, tí tách những giọt nước rơi mát lạnh, trong vắt. muốn đến “tam động” du khách phải chèo qua một hình khối nhũ đá như hình còn rùa lớn để đến hai khu là thiên cung ở bên trái và phật điện bên phải. Động Thiên long mới được đưa vào khai thác từ năm 2009, nhưng được đánh giá là đẹp hơn động Trung Trang.

Ngoài ra còn rất nhiều nhiều tuyến, nhiều địa danh khác nữa đã được khai thác nhưng chỉ ở mức nhen nhóm với số ít trekker thực sự yêu thích tìm hiểu, khám phá, mạo hiểm như:

Tour hang động: Hang Ma – Hang Minh Châu – Hang Quân Y – Động Trung Trang – Động Đá Hoa – Hang Dơi

Tuor dấu ấn người Việt cổ: hang động Trung Trang, Giếng Ngoé, Quân Y, Tiền Đức, Đá Hoa, Phù Long, Hang Rí, Áng Mả

Tour khảo cổ: Di chỉ Cái Bèo (thi trấn Cát Bà) – Bãi Bến Làng (xã Hiền Hòa) – Cát Đồn – Thành Nhà Mạc (xã Xuân Đám)

Những điểm trekking này thường là tự phát và chủ yếu với những du khách nghiên cứu, đam mê khám phá, họ thường đi bằng phương tiện xe đạp đến. Vì vậy mà có thể khẳng định rằng chưa có hoạt động trekking tại các điểm đến này.

2.3. Đánh giá thực trạng hoạt động du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng

2.3.1. Những điểm mạnh, cơ hội Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Tài nguyên thiên nhiên và nhân văn của Cát Bà là điểm mạnh để phát triển du lịch nói chung cũng như loại hình du lịch trekkking nói riêng. Đảo Cát Bà – khu dự trữ sinh quyển thế giới được xem là hòn ngọc của vịnh Bắc Bộ. Rừng trên đảo như một tấm thảm xanh với hệ thực vật vô cùng phong phú phủ trên địa hình núi đá vôi và các thung áng; vùng biển rộng với nhiều loại hải sản phong phú. Những hang động kỳ thú và bãi tắm thiên nhiên cát trắng mịn màng, nước trong như ngọc làm cho Cát Bà có vẻ đẹp vừa hoang sơ, kỳ vĩ nhưng vẫn không mất đi vẻ thơ mộng. Bên cạnh đó cộng đồng địa phương tại Cát Bà thân thiện, nhiệt tình hỗ trợ du lịch. Ngoài ra không thể nhắc đến cộng đồng dân cư địa phương, rất nhiệt tình, thân thiện, khả năng giao tiếp tốt, có tình yêu thiên nhiên và ý thức bảo vệ tài nguyên, họ sẵn sàng giúp đỡ, tham gia vào hoạt động du lịch. Đây chính là những điểm mạnh tạo điều kiện trực tiếp cho sự phát triển loại hình du lịch trekking ở Cát Bà.

Bảng 2.16: Đánh giá mức độ hài lòng về cảnh quan và cộng đồng địa phương của du khách tham gia trả lời phiếu hỏi

Bên cạnh đó lượng khách quốc tế và nội địa đến Cát Bà ngày càng tăng (Bảng 2.7), đặc biệt là lượng khách đến khu vực vườn quốc gia Cát Bà chiếm tỷ lệ lớn. Hệ thống khách sạn, nhà hàng nhìn chung đáo ứng được nhu cầu cảu khách lưu trú, chất lượng dịch vụ đang được dần nâng cao, có nhiều khách sạn, resort cao cấp chất lượng tốt. Trong vài năm trở lại đây chính quyền thành phố Hải Phòng đã đưa Cát Bà trở thành trung tâm du lịch trọng điểm của thành phố, đặc biệt trong năm du lịch quốc gia 2013 do Hải phòng đăng cai tổ chức, Cát Bà có nhiều hứa hẹn tốt đẹp. Đó là sự quan tâm của thành phố với những ưu ái tạo điều kiện về cơ chế chính sách, hỗ trợ đầu tư về cơ sở vật chất, quảng bá cho du lịch Cát Bà ở trong và ngoài nước. Năm 2011 là thời điểm các nhà đầu tư nhộn nhịp đầu tư nâng cấp các nhà hàng, khách sạn, trong đó có khách sạn Hùng Long Harbour, Sea Pearl… và các phương tiện phục vụ nhu cầu của du khách. Cùng với sự quan tâm hỗ trợ thiết thực, của Sở Văn hóa – Thể thao và Du lịch, sự lãnh đạo tập trung của huyện ủy, ủy ban nhân dân huyện, du lịch Cát Bà có những chuyển động tích cực, trong đó có việc tổ chức lễ hội làng cá và khai trương du lịch trở thành sự kiện thường niên thu hút đông đảo du khách. Sự quan tâm của thành phố và các sở, ngành trong việc giải quyết những khó khăn của ngành du lịch như: giao thông trên đảo, hệ thống điện, nước phục vụ cho du lịch và dân sinh. Bên cạnh đó, công tác quản lý nhà nước về du lịch được triển khai ngày càng tốt hơn. Công tác vệ sinh môi trường tại khu trung tâm du lịch bước đầu hạn chế tình trạng rác thải gây ô nhiễm môi trường, mất mỹ quan đô thị đã được lựa chọn. Đây là những cơ hội tốt giúp cho loại hình du lịch trekking Cát Bà có điều kiện phát triển. Đặc biệt các chính sách khuyến khích việc bảo tồn, phát huy các giá trị tài nguyên, thu hút các nhà nghiên cứu, đầu tư cho việc bảo vệ nguồn gen, đa dạng sinh học, bảo tồn động vật quý hiếm đã là cơ hội lớn thúc đẩy sự phát triển loại hình du lịch trekking lâu dài.

Du khách tham gia loại hình du lịch trekking hầu hết đều có ý thức môi trường nên các giá trị bảo tồn còn được nguyên ven, họ không gây tác động xấu đến môi trường. Du khách đều có những nhận xét rất tốt về cảnh quan, môi trường, cộng đồng ở Cát Bà; đồng thời, đánh giá chuyến trekking tại Cát Bà rất thú vị, lạ, người dân rất thân thiện, nhiệt tình, cảnh quan đẹp, hoang sơ, độc đáo, đa dạng tài nguyên. Đây chính là cơ hội giúp quảng bá Cát bà trở thành điểm đến của du lịch trekking nhiều hơn, được du khách quốc tế lựa chọn nhiều hơn và khách du lịch nội địa từ đó cũng biết đến loại hình này rộng rãi hơn.

2.3.2. Những điểm yếu, hạn chế, thách thức

Chưa có sự quan tâm, đầu tư loại hình du lịch trekking: Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Có thể nói rằng du lịch Cát Bà phát triển dựa vào ưu thế tài nguyên là chủ yếu. Từ những điều kiện sẵn có và kinh nghiệm, thói quen du lịch của những người đi trước mà phát triển các loại hình du lịch truyền thống, mang tính đại chúng như: du lịch nghỉ dưỡng, du lịch tăm biển,…Du lịch Cát Bà chưa có sự bứt phá, tìm hiểu và đầu tư tạo ra các sản phẩm du lịch mới, lạ như những địa phương khác.

Việc quan tâm của chính quyền, các doanh nghiệp đều mới chỉ ở mức hạn chế, chưa có sự chuyên sâu trong việc tìm hiểu để phát huy tối đa trong việc khai thác các điều kiện cho sự phát triển loại hình du lịch trekking.

Về việc đầu tư cho loại hình chưa đồng đều, theo mùa vụ và đầu tư cho loại hình du lịch trekking bị xen lẫn các loại hình du lịch khác. Đầu tư không cân đối vào các hoạt động dịch vụ du lịch của địa phương, phần lớn tập trung vào các dịch vụ lưu trú và ăn uống. Trong khi đó các dịch vụ này thường xuyên xảy ra tình trạng dư thừa, vào mùa chính vụ có hiện tượng “cháy phòng” nhưng chỉ với các khách sạn/nhà hàng lớn, có tên tuổi. Các nhà nghỉ bình dân chất lượng phục vụ kém, giá cả không phù hợp, dư thừa ngay chính mùa vụ. Trong khi đó các dịch vụ khác như: cho thuê lều bạt, dụng cụ trekking, cho thuê người khuôn vác, nấu ăn, khu lưu trú mang đặc trưng tiêu biểu của cộng đồng, địa phương,… lại chưa có.

Bên cạnh đó chưa có quy hoạch cụ thể về những vùng để xây dựng dịch vụ phục vụ loại hình du lịch trekking. Ví dụ như: các chốt nghỉ chân có kèm bán đồ ăn, uống với quy mô nhỏ, đơn giản; chỗ cắm trại, nghỉ qua đêm,…;

Nguồn nhân lực chưa đáp ứng cho phát triển loại hình du lịch trekking.

Cát Bà là một điểm du lịch có giá trị tài nguyên, giá trị văn hóa địa phương đặc sắc, đa dạng và độc đáo còn giữ được những nét hoang sơ so với nhiều nơi khác, chính những yếu tố này không chỉ có sức hút các loại hình du lịch truyền thống nói chung mà còn có sức hút với các loại hình mới, trong đó có loại hình du lịch trekking. Trong khi đó Cát Bà có lượng khách hàng năm đến du lịch lớn, đặc biệt du khách nước ngoài, các đoàn khách quốc tế tuy không lớn nhưng phần đông từ các nước du lịch phát triển nên nhận thức và khả năng tham gia các loại hình mới của họ cao. Tuy nhiên, lượng khách quốc tế quay trở lại Cát Bà không cao. Đồng thời đó là sự hạn chế thông tin của du khách trong và ngoài nước nên những giả trị của Cát Bà chưa được biết đến hết. Du lịch trekking Cát Bà còn tồn tại nhiều mặt làm hạn chế sự phát triển của loại hình du lịch này.

Thiếu các tổ chức kinh doanh loại hình du lịch trekking chuyên nghiệp tại Cát Bà:

Hiện nay tại Cát Bà chưa có cơ sở chuyên doanh loại hình du lịch trekking. Hầu hết là các cơ sở kinh doanh tổng hợp nên phổ biến các loại tour trekking tổng hợp, tour trekking kết hợp, rất ít tour trekking thuần túy và hạn chế tìm ra các tuyến trekking mới, thường đưa ra các sản phẩm quen thuộc. Giá dịch vụ cao song lại không được bảo đảm, được trang bị các vật dụng cần thiết. Chính vì vậy mà khách du lịch quốc tế tham gia loại hình này không chọn mua tour qua các công ty du lịch.

Các công ty du lịch này chủ yếu sử dụng các hướng dẫn viên của họ mà không liên kết với người dân bản địa để cùng tham gia hoạt động du lịch trekking. Họ cũng không quảng bá loại hình này như một sản phẩm mới mà chỉ nhắc đến trong các tour tổng hợp như một phần phải có (vì tính chất địa hình Cát Bà có những địa điểm bắt buộc phải đi bộ). Chính điều này mà du khách không hiểu được giá trị cũng như những thông tin của loại hình du lịch này. Các du khách nội địa thường loại bỏ nó trong tour tổng hợp.

Tiểu kết chương 2 Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

Ngày nay, bên cạnh những loại hình du lịch quen thuộc như tắm biển, nghỉ dưỡng, tham quan,… vào những dịp ngày lễ, cuối tuần, du lịch trekking đang là một loại hình phát triển tại Cát Bà. Tuy nhiên loại hình này chưa phát triển chuyên nghiệp gây nhiều trở ngại cho du khách nội địa hay sự không thỏa mãn của du khách quốc tế.

Chương 2 tác giả đã giải quyết được vấn đề chính của đề tài đó là tìm ra được những điều kiện của Cát Bà để phục vụ cho loại hình du lịch trekkking và thực trạng của du lịch trekking tại Cát Bà. Từ những thực trạng đó tác giả có những đánh giá cơ bản nhất về những điểm manh, cơ hội và những điểm yếu, hạn chế, tồn tại trong hoạt động phát triển loại hình du lịch này. Để từ đó có những giải pháp, kiến nghị được triển khai ở chương 3. Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển loại hình du lịch Trekking

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537