Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Nghiên cứu phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
MỞ ĐẦU
1. Lý do chọn đề tài khóa luận
Ngày nay du lịch đã trở thành một hiện tượng kinh tế – xã hội phổ biến không chỉ ở các nước phát triển mà ở các nước đang phát triển trong đó có Việt Nam. Thủ tướng Chính phủ vừa qua đã phê duyệt việc phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn và chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu GDP tại “Quy hoạch tổng thể phát triển du lịch Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030” cho thấy Du lịch đang và sẽ trở thành một ngành kinh tế lớn và mang lại nhiều nguồn lợi cho đất nước. Hàng năm, Việt Nam thu hút hơn bốn triệu lượt khách quốc tế không chỉ bởi lợi thế về nguồn tài nguyên phong phú, đa dạng mà còn vì những giá trị nhân văn của dân tộc. Tuy nhiên lượng khách quay trở lại Việt Nam mới chỉ có khoảng 15%, đây là tỷ lệ còn quá thấp. Có rất nhiều nguyên nhân khiến du khách quốc tế không muốn quay trở lại Việt Nam nhưng chủ yếu là do sản phẩm du lịch còn nghèo nàn, chúng ta mới chỉ biết khai thác một cách đơn giản những giá trị mà thiên nhiên ban tặng cho Việt Nam. Trong khi đó nhu cầu của khách du lịch đặc biệt du khách quốc tế ngày càng đa dạng và đòi hỏi cao, không chỉ là đơn thuần là dược tham quan, nghỉ dưỡng mà còn được tham gia là những loại hình chuyên biệt hơn như sinh thái, MICE, thể thao – mạo hiểm,… Chính vì vậy việc đòi hỏi yếu tố “mới” và “lạ” tại các điểm đến du lịch tại Việt Nam là vô cùng cần thiết để thay đổi những điểm đến truyền thống đã quá quen thuộc với khách du lịch.
Để tạo ra tính mới và lạ cho các điểm đến, việc khai thác các loại hình du lịch mới là việc cần thiết và Trekking là một loại hình như vậy. Trên thực tế theo kết quả của sự kiện du lịch quốc tế – thế thao (Giải đua Raid Gauloises Việt Nam 2002): “Việt Nam bước đầu được nhìn nhận như một điểm đến mới mẻ, hấp dẫn an toàn và thân thiện không chỉ với loại hình chuyên biệt: du lịch thể thao – khám phá, mạo hiểm… Là một trong những loại hình phổ biến nhất trong hệ thống loại hình du lịch chuyên biệt theo hướng thể thao – khám phá, mạo hiểm, du lịch trekking đã được triển khai trong khoảng gần hai thập kỷ qua” (Trịnh Lê Anh, 2007). Tuy nhiên loại hình trekking chưa được biết đến nhiều và hoạt động trekking còn thiếu, chủ yếu mang tính chất tự phát, thiếu trách nhiệm với tài nguyên. Để giải quyết vấn đề này cần phải nghiên cứu cứu sâu về loại hình du lịch được đánh gia là tiềm năng và vẫn còn mới này. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Sinh ra và lớn lên tại Thành phố Hải Phòng – thành phố Cảng biển lớn nhất miền Bắc, nơi có điều kiện tư nhiên rất phong phú, giàu đẹp, đa dạng và có nhiều nét độc đáo mang sắc thái của cảnh quan nhiệt đới gió mùa. Hải Phòng cũng là nơi có lịch sử lâu đời, một vùng đất hội tụ đủ khí thiêng sông núi. Đặc biệt là vùng đảo Cát Bà – “Thiên nhiên đã quá hào phóng ban tặng cho Cát Bà món quà quí giá, đó là tiềm năng du lịch sinh thái vô cùng hấp dẫn. Bao trùm toàn bộ đảo Cát Bà trùng điệp là các dãy núi đá vôi có độ cao trung bình 150m so với mực nước biển trong vắt, cao nhất là đỉnh núi Vọng 322m. Tiếp giáp với các triền núi đá dốc thoai thoải là những bãi cát óng ả trắng mịn, những dải rừng ngập mặn, các đầm nước mặn, nước lợ cùng hàng loạt bãi tắm mi ni, bãi tắm tiên đẹp mê hồn.”1. Bên cạnh đó Cát Bà cũng là nơi có nhiều dấu tích người cổ xưa, điển hình có cộng đồng những người sống bằng nghề biển vùng Duyên hải Bắc Bộ.
Trong khi đó du lịch tại Cát Bà chưa phát triển, các loại hình du lịch còn đơn điệu, chưa tạo được sản phẩm độc đáo với khách du lịch. Khách du lịch quốc tê thường đến với Cát Bà một lần mà không quay trở lại. Chính vì vậy đòi hỏi yếu tố “mới” và “lạ” về loại hình, sản phẩm cũng như phương thức tổ chức du lịch. Với những điều kiện thiên nhiên ban tặng kết hợp với những giá trị lịch sử văn hóa sẽ là cơ sở hấp dẫn sự khám phá, tìm hiểu của du khách. Hay nói cách khác là phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà là phù hợp. Đặc biệt là ở nơi vị trí thuân lợi, loại hình này sẽ trở nên phổ biến với cả khách du lịch nội địa. Phát triển loại hình du lịch trekking là hợp với xu hướng phát triển du lịch hiện nay: từ đại chúng chuyển dần sang chuyên biệt, từ du lịch thụ động sang dần thành du lịch chủ động. Cùng với đó là nhu cầu cảu khách du lịch luôn sẵn có ham muốn mãnh liệt chinh phục những vùng đất lạ, khao khát khám phá và chiêm ngưỡng những khung cảnh mới. Đời sống con người ngày càng nâng cao, thời gian rảnh rỗi nhiều, thu nhập tăng, môi trường sống ô nhiễm, trình độ dân trí cao đã thúc đẩy con người muốn đi du lịch theo hướng tích cực hơn nhằm mục đích phát triển cá nhân, hoàn thiện bản thân, hòa mình với thiên nhiên, tôn trọng và bảo vệ môi trường. Trekking tour còn mới mẻ ở Việt Nam, đối tượng phục vụ cũng hạn chế nhưng có nhiều triển vọng sẽ phát triển mạnh mẽ trong vài năm tới. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Từ những vấn đề trên và kết hợp, tác giả tiến hành nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng”.
Đây là bước phát triển từ đề tài khoa học trước đó của tác giả.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Mục đích và ý nghĩa của khóa luận
2.1. Mục đích nghiên cứu
Đề tài tiến hành nghiên cứu cơ sở lý luận về loại hình du lịch trekking, đồng thời tìm hiểu, đánh giá thực trạng phát triển loại hình du lịch này tại Cát Bà – Hải Phòng. Qua đó nhằm phát triển loại hình còn “mới” và “lạ” tại Cát Bà, góp phần phát triển kinh tế địa phương. Đóng góp vào nỗ lực bảo tồn và phát triển tài nguyên tự nhiên và nhân văn ở Cát Bà.
2.2. Ý nghĩa
Ý nghĩa khoa học:
Đề tài góp phần bổ sung cơ sở khoa học của loại hình du lịch trekking, khẳng định hướng nghiên cứu loại hình như một hướng nghiên cứu cần thiết với ngành học.
Ý nghĩa thực tiễn:
Chỉ ra những điều kiện phát triển loại hình này tại Cát Bà, tìm hiểu và đánh giá thực trạng loại hình trekking hiện nay nhằm phát triển loại hình du lịch này tại Cát Bà. Từ đó đề xuất định hướng và những giải pháp tích cực nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các nhà quản lý, cộng đồng địa phương và du khách trong việc phát triển loại hình du lịch trekking, góp phần đưa Cát Bà trở thành một điểm du lịch trekking hấp dẫn và là điểm đến du lịch trọng điểm tại Hải Phòng cũng như của đất nước. Đồng thời góp phần làm phong phú thêm hệ thống sản phẩm du lịch của huyện đảo Cát Hải và thành phố Hải Phòng. Thêm vào đó, đề tài nghiên cứu trên sẽ là một trong những cứ liệu giúp cho các nhà quản lý du lịch, những nhà làm tour chuyên biệt và du khách biết đến đầy đủ những giá trị du lịch tại Cát Bà.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của khóa luận Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
3.1. Đối tượng nghiên cứu
Loại hình du lịch trekking và thực trạng phát triển loại hình du lịch trekking.
3.2. Phạm vi nghiên cứu
Về mặt không gian: Huyện đảo Cát Hải, các tuyến điểm du lịch điển hình trên đảo Cát Bà, đặt trong mối quan hệ với các khu vực xung quanh.
Về mặt thời gian: từ tháng 04/2013 đến tháng 06/2013
Về mặt nội dung: Đề tài khóa luận tập trung nghiên cứu cơ sở lý luận về loại hình du lịch trekking và thực trạng phát triển loại hình du lịch này tại Cát Bà – Hải Phòng. Từ đó đưa ra những đề xuất và kiến nghị để loại hình du lịch trekking thực sự phát triển tại Cát Bà – Cát Hải – Hải Phòng.
4. Phương pháp nghiên cứu
Các phương pháp được sử dụng chủ yếu trong đề tài nghiên cứu:
4.1. Phương pháp thu thập và xử lý tài liệu
Trên cơ sở thu thập, tìm kiếm các thông tin, tư liệu từ sách, báo, internet và các công trình nghiên cứu đi trước, sau đó có sự phân tích, xử lý để có những kết luận cần thiết.
4.2. Phương pháp khảo sát thực địa
Là phương pháp đi thực tế để khảo sát địa hình, các điều kiện phục vụ cho đề tài.
Tác giả đã tiến hành khảo sát thực tế tại các tuyến sau:
- Tuyến Vườn quốc gia Cát Bà – Kim Giao – Ngự Lâm
- Tuyến Động Trung Trang – Hang Ủy ban
- Tuyến du lịch sinh thái – Giáo dục môi trường
- Tuyến Ao Ếch – Việt Hải – Vịnh Lan Hạ
- Tuyến Mây Bầu – Khe Sâu
- Tuyến Vườn Quốc gia Cát Bà – Ngự Lâm – Mê Cồn – Động Trung Trang Ngoài ra tác giả còn đến một số địa điểm khác được đánh giá cao tại Cát Bà như: Đảo Khỉ, Cái Bèo. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Qua khảo sát thực tế đã thấy được hiện trạng phương thức tổ chức du lịch trekking của vườn Quốc gia Cát Bà, của các công ty du lịch, cùng với các phương pháp phỏng vấn, quan sát, thảo luận,… đã có kết luận về hiện trang khai thác du lịch tại Cát Bà. Kết quả khảo sát này được nêu cụ thể ở chương 2.
4.3. Phương pháp xã hội học
Phương pháp xã hội học đặc biệt quan trọng, nhằm nhận diện được thực trạng một cách có căn cứ. Thông qua phương pháp này, tác giả nhằm mục đích kiểm chứng và khẳng định những kết luận hay đề xuất như là hệ quả của việc nghiên cứu.
Thời gian: Tác giả tiến hành điều tra 3 đợt. Ngoài đợt chính, điều tra bổ sung được tiến hành tại chuyến khảo sát thực địa với điều tra tại địa bàn Hải Phòng song song với việc tiếp cận các đối tượng trả lời bảng hỏi. Thời điểm khảo sát này, khách du lịch quốc tế và nội địa có phần gia tăng từ đợt nghỉ lễ 19 tháng 4 (giỗ tổ Hùng Vương); tuy nhiên, lượng khách vẫn còn rất hạn chế. Qua quá trình điều tra, tổng cộng kết quả thu thập được từ 42 bảng hỏi khách quốc tế và 46 bảng khách nội địa.
Thời gian điều tra ngắn nên tác giả lựa chọn ở thời điểm trước và bắt đầu mùa vụ du lịch tại Cát Bà cũng như Hải Phòng. Thời điểm này khá mát mẻ, khô ráo, khách du lịch tham gia đông, du khách tham gia loại hình du lịch trekking ở nhiều cấp độ hơn. Tuy nhiên, vì khả năng còn hạn chế nên số lượng phiếu điều tra thu lại có kết quả không được cao so với lượng phiếu phát ra.
Địa điểm: tác giả tiến hành điều tra tại Hải Phòng và Cát Bà. Tại Cát Bà, nhờ sự giúp đỡ của ban quản lý, hướng dẫn viên vườn quốc gia Cát Bà, tác giả đã thu nhận được phần lớn bảng hỏi của khách quốc tế, trong khi đó lượng khách Việt Nam chỉ thu được 10 bảng hỏi. Tại hai đợt 1 và 2, tác giả chú trọng lấy ý kiến và điều tra khách nước ngoài nhiều hơn trên cơ sở phát bảng hỏi trực tiếp tại khu vực thị trấn, khu vực vườn quốc gia Cát Bà. Các phiếu với khách du lịch Việt Nam chủ yếu được thực hiện tại Hải Phòng, theo tác giả nhận định là tiếp cận với khách nội địa khó khăn hơn rất nhiều so với người nước ngoài, có lẽ bởi do tính cách của người Việt ngại hoặc chưa quen với hoạt động cho ý kiến, đồng thời cũng vì lí do thời điểm lựa chọn khảo sát ngoài Cát Bà khách nội địa chưa nhiều, mới nhen nhóm theo hình thức du lịch MICE. Vì vậy mà lượng phiếu điều tra khách nội địa chủ yếu ở đợt 3 tại nội thành Hải Phòng, tác giả cũng lựa chọn đối tượng điều tra phù hợp với mục đích bảng hỏi tuy nhiên lượng khách biết đến loại hình trekking thấp. Quá trình điều tra, tác giả nhận thấy sự e ngại trả lời thật của cả du khách nước ngoài và Việt Nam nên tác giả đã chủ động quan sát tham dự, phỏng vấn để có cái nhìn chân thực nhất.
Phiếu hỏi: có hai loai cho khách Việt Nam và khách nước ngoài. Nội dung phiếu hỏi của hai loại khách là như nhau, bao gồm 8 câu, 7 câu hỏi đóng, 1 câu hỏi mở về cảm nhận của du khách về loại hình du lịch trekking. Phiếu hỏi gồm 3 phần chính: phần câu hỏi chung lấy ý kiến du khách về Cát Bà, phần câu hỏi lấy ý kiến về khách du lịch trekking, phần thông tin của du khách.
Nội dung điều tra: Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Khảo sát khách du lịch Cát Bà về mục đích chuyến đi, cách thức tổ chức, cảm nhận về Cát Bà, du khách có biết đến loại hình trekking hay không; Khảo sát khách du lịch trekking về cách thức tổ chức chuyến đi, những nơi du khách đã thực hiện chuyến trek và ý kiến của du khách về loại hình du lịch trekking;
Khảo sát thông tin về du khách chủ yếu đến từ đâu, độ tuổi, giới tính và nghề nghiệp.
4.4. Phương pháp bản đồ
Dùng phương pháp bản đồ nhằm thể hiện sự phân bố của các đối tượng tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn, sự liên hệ giữa các đối tượng trong không gian cũng chính là mối liên hệ của các tuyến du lịch trong quá trình tạo tuyến. Dùng phương pháp này còn nhằm thể hiện những biến động các yếu tố du lịch.
5. Bố cục và nội dung của đề tài
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận, danh mục bảng, danh mục biểu đồ, danh mục sơ đồ, danh mục hình, phụ lục và tài liệu tham khảo, phần nội dung chính của khóa luận gồm 3 chương:
- Chương 1. Cơ sở lý luận và thực tiễn về du lịch trekking
- Chương 2. Thực trạng khai thác và phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng
- Chương 3. Một số giải pháp phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà – Hải Phòng.
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ DU LỊCH TREKKING
1.1. Cơ sở lý luận loại hình du lịch trekking
1.1.1. Thuật ngữ và các quan điểm về loại hình du lịch trekking
Từ “trek” có nguồn gốc từ Nam Phi. Đó là một từ của người Boer2 có nghĩa là một “chuyến đi bằng hoặc theo xe bò”3. Sau này khi được sử dụng rộng rãi nó được hiểu theo nghĩa rộng là một chuyến đi nào đó dài và gian khổ. Tiếp đó, từ “trek” được dùng để diễn tả các chuyến đi bộ đường dài (hiking) được cung cấp (thương mại hóa) với sự hỗ trợ của những nhân viên khuân vác (porters) và ê kíp phục vụ người Sherpa4 qua các vùng núi Nepal, nơi nổi tiếng với địa danh Hymalayas và đỉnh Everest – “nóc nhà thế giới”, có thể coi là không gian đầu tiên của các hoạt đọng và loại hình du lịch trekking được gọi tên từ nửa sau thế kỉ XX.
Khái niệm “trekking” trong thuật ngữ “du lịch trekking” có sự khác biệt tương đối rõ so với khái niệm “hiking” và có thể có trong loại hình du lịch thể thao (luyện tập/thi đấu) ở chỗ: “hiking” chỉ đơn thuần là “đi bộ” với cường độ cao, chỉ cách thức và nỗ lực di chuyển của con người, hay chỉ một môn thể dục thể thao; còn trekking có nghĩa là đi bộ khám phá, mạo hiểm, ngoài việc chỉ cách thức và nỗ lực di chuyển, “trekking”còn nêu lên sắc thái, đặc điểm của hoạt động này là tính khó khăn, thách thức vượt qua, mang tính mạo hiểm như một trải nghiệp thú vị.
Tuy đã gần nửa thế kỉ tồn tại và phát triển nhưng nội hàm của hoạt động Trekking và loại loại hình du lịch trekking vẫn chưa hoàn toàn thống nhất. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Dưới đây là ý kiến của hai tác giả của hai cuốn sách nổi tiếng về trekking:
David Noland (2001): “Trek” là một chuyến đi bộ đường dài, nhiều ngày từ một điểm A đến một điểm B (hay quay lại A) mà trong suốt chuyến đi đó người bộ hành không phải mang hành lý nặng nề mà cũng không phải chuẩn bị nấu ăn.
Robert Strauss (1996): Những chuyến trekking cố gắng cắt đứt liên hệ của du khách với thế giới văn minh, gia tăng nhu cầu khám phá bản thân, thử thách sức chịu đựng của bản thân với những hoạt động qua đêm dài ngày ở những vùng sâu, vùng xa và nơi hẻo lánh, hoang dã.
Trong hầu hết sách hướng dẫn và tại các diễn đàn du lịch nổi tiếng Du lịch Trekking được coi là một dạng của du lịch mạo hiểm mang tính chất kết hợp với hoạt động thể thao ngoài trời (đi bộ đường dài với chặng đường trung bình 15km mỗi ngày, leo núi với các trang thiết bị sau lưng) và bảo tồn tài nguyên (giữ gìn môi trường, gắn bó với cộng đồng người bản địa). Đây là hoạt động rèn luyện thể lực, ý chí và khả năng sinh tồn rất hiệu quả.
Nói chung, hoạt động trekking thể hiện mức độ tự chủ (ít hoặc không phụ thuộc) của con người đạt được thông qua một không gian tách biệt với thế giới văn minh.
Nhóm thực hiện dự án Hỗ trợ du lịch bền vững huyện Sa Pa5 đã đưa cách hiểu trekking như sau:
Trekking không đơn thuần chỉ là một chuyến dã ngoại ngoài trời, đi bộ trên núi hay là một chuyến leo trèo;
Trekking là một chuyến đi đòi hỏi sự cố gắng nỗ lực cao về thân thể, vật chất của người thực hiện;
Là một chuyến đi mang tính thách thức bởi độ dài và những cái khác lạ trong nhận thức của du khách;
Là chuyến đi kéo dài ít nhất 2 ngày. Vì vậy người thực hiện trekking sẽ cần thực pẩm, nghỉ ngơi/ lưu trú trên đường đi, chuẩn bị các trang thiết bị và cần sử dụng hướng dẫn. Lưu trú ở đây được hiểu là khách có thể ngủ trong nhà của các gia đình tại các bản làng xa xôi hẻo lánh hoặc nghỉ tại những điểm cắm trại;
Trong chuyến đi khách phải leo trèo qua những vùng tự nhiên có dốc lớn hay núi cao hoặc những làng xa xôi hẻo lánh nằm trên đồi cao, nơi mà SaPa năm 1998 trong sự hợp tác chặt chẽ với các nhóm địa phương tại SaPa, tổ chức IUCN, SNV và ý kiến đóng góp của Sở TMDL Lào Cai cũng như Viện nghiên cứu và phát triển Du lịch người dân làm rẫy và chăm sóc gia súc. Hầu hết các làng không có điện thoại và trạm xá (nơi không xuất hiện các tiện nghi hiện đại).
Tùy theo sự hiểu biết và góc độ nghiên cứu của từng người mà đưa ra cho mình một định nghĩa riêng về trekking tour. Tác giả tạm dịch loại hình du lịch trekking là “du lịch đi bộ mạo hiểm”. Tuy nhiên trước xu thế quốc tế hóa các thuật ngữ du lịch thì không nhất thiết phải dịch tương đương thuật ngữ “Trekking tour” ra tiếng Việt.
1.1.2. Đặc trưng Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Từ những khái niệm trên và hoạt động trekking thực tế có thể rút ra những đặc trưng của loại hình du lịch trekking như sau:
Thực hiện chuyến đi bằng phương thức đi bộ.
Khách du lịch tham gia các chuyến đi trekking thực hiện chuyến đi của mình bằng hình thức đi bộ đường dài, có thể kéo dài một hay nhiều ngày. Trên đường đi có sự tìm hiểu, khám phá thiên nhiên và văn hóa bản địa để thấy được những giá trị truyền thống của cư dân, những nét đẹp và sự hấp dẫn của tài nguyên. Đồng thời bên cạnh đó, du lịch trekking cũng đem lại những trải nghiệm nguy hiểm, thử thách khả năng cá nhân của mỗi người, đó cũng là những kĩ năng sinh tồn khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn trong môi trường sống của con người. Chính yếu tố này đã tạo nên sức hút lớn nhất trong hoạt động trekking – rèn luyện và thể hiện bản thân, thử thách khả năng thích nghi, chịu đựng của con người về tâm sinh lý.
Điểm đến là các vùng thiên nhiên hoang sơ, chủ yếu là đồi núi và cao nguyên.
Các địa điểm được chọn chủ yếu là những khu vực núi rừng mà điển hình là các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên hoặc các bản làng nằm cách xa đồng bằng và thành phố, những điểm đến này thường hẻo lánh, giao thông bất tiện, không có đường cho ô tô, xe máy, xe đạp đi lại khó khăn; tài nguyên đa dạng, còn hoang sơ và văn hóa bản địa độc đáo. Chặng đường trekking thường hoang dã, đòi hỏi sự khám phá và ưa thích mạo hiểm. Vì đặc điểm của điểm đến nên mang tới cho du khách nhiều nhận thức mới lạ, hòa mình vào thiên nhiên và cuộc sống của con người nơi đến.
Tuy nhiên cũng cần phải nhấn mạnh rằng yếu tố vất vả, nặng nhọc hay nguy hiểm vốn không được bao hàm trong khái niệm du lịch trekking. Đó chỉ là những đặc điểm có thể có và thường có của những chuyến đi loại này mà thôi.
Chuyến du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu hòa mình vào thiên nhiên, tìm hiểu thiên nhiên và cuộc sống con người ở điểm đến; rèn luyện và thể hiện bản thân, thử thách khả năng chịu đựng của con người về cả tâm lý và sinh lý.
1.1.3. Điều kiện hình thành và phát triển
1.1.3.1. Điều kiện về điểm đến
- Tài nguyên du lịch Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Tài nguyên du lịch là cơ sở quan trọng để phát triển các loại hình du lịch. Điều kiện tài nguyên du lịch bao gồm cả tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn. Việc khai thác các tài nguyên du lịch và phát triển các loại hình du lịch luôn gắn liền và có sự tác động qua lại lẫn nhau. Chính sự xuất hiện của các loại hình du lịch đã làm nhiều yếu tố của điều kiện tự nhiên và xã hội trở thành tài nguyên du lịch. Những cánh rừng nguyên sinh âm u và hoang vắng, những đỉnh núi cao và hiểm trở, suối, thác nước, khí hậu ôn hòa mát mẻ, trong lành có giá trị tạo nên phong cảnh thiên đẹp và sống động là những nguồn tài nguyên du lịch tự nhiên phong phú, độc đáo và đặc sắc. Những nguồn tài nguyên này thường tập trung ở những vùng đồi núi cao, các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Ngoài ra các dân tộc thiểu số, những vùng cư dân ít người còn giữ được nhiều giá trị truyền thống cũng sinh sống chủ yếu ở những nơi này. Vì vậy các vườn quốc gia, khu vảo tồn không những giàu về tài nguyên du lịch tự nhiên mà còn phong phú và độc đáo bởi nguồn tài nguyên du lịch nhân văn.
Tài nguyên du lịch tự nhiên phục vụ du lịch trekking: Đặc trưng tự nhiên gồm các yếu tố địa hình và độc đáo, cảnh quan thiên nhiên, tài nguyên rừng.
Địa hình độ cao là thành phần của tự nhiên, là một trong những yếu tố quan trọng, là thành phần không thể thiếu được trong nguồn tài nguyên tự nhiên phục vụ du lịch trekking. Hệ thống đồi núi cao, địa hình đa dạng tương phản bao gồm thung lũng, áng, suối, thác nước,… sẽ tăng thêm sức hấp dẫn. Giả sử nếu không có địa hình phức tạp, độ dốc cao thì sẽ bị nhầm lẫn sang các loại hình đi bộ dã ngoài. Cùng với đó cần có tài nguyên rừng bao phủ để tránh sự đơn điệu, tài nguyên rừng với các hệ sinh thái rừng đa dạng phân bố ở các độ cao khác nhau, có các loại đặc trưng riêng. Hệ động, thực vật phong phú, đa dạng và quý hiếm với nhiều loài đặc hữu. Đây là yếu tố kích thích tò mò, khám phá của du khách. Bên cạnh những yếu tố đó điều kiện tài nguyên tự nhiên cần có yếu tố hoang sơ – đây là đặc điểm đặc trưng cho điều kiện tài nguyên tự nhiên phục vụ cho loại hình này. Vì trekking là về “những nơi hẻo lánh, hoang sơ”. Các hệ sinh thái không bị tác động của con người, bảo tồn được nguồn gen, độc đáo, co nhiều loài sinh vật quý hiếm. Thường những vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên,…có nhiều điều kiện tài nguyên tự nhiên phù hợp để phát triển du lịch trekking. Các loại tài nguyên tự nhiên, các dạng địa hình càng đa dạng, tương phản, hoang sơ, độc đáo ở những độ cao khác nhau càng phù hợp cho việc phát triển loại hình trekking ở nhiều mức độ. Tuy nhiên các dạng địa hình núi đồi, suối, thác nước không quá nguy hiểm gây trở ngại cho việc bộ hành. Bên cạnh đó yếu tố khí hậu dễ chịu sẽ là điều kiện thuận lợi cho việc khai thác trekking tour quanh năm. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Điểm đến nào có nguồn tài nguyên tự nhiên phong phú, đa dạng hệ sinh thái, có những loài động, thực vật đặc hữu, không bị tác động của con người, càng có những nét riêng, khác biệt hơn thì sẽ càng là điểm đến trekking thu hút du khách.
Tài nguyên du lịch nhân văn phục vụ cho du lịch trekking: Đây là yếu tố quan trọng sau tài nguyên du lịch tự nhiên. Tuy nhiên nguồn tài nguyên này càng ngày càng thu hút các du khách trekking, chính vì thế mà điếm đến nào có cả hai yếu tố tự nhiên và nhân văn kết hợp sẽ là điểm đến trekking hấp dẫn và thu hút khách du lịch. Tài nguyên nhân văn phải mang những nét đặc sắc truyền thống, không bị hiện đại hóa, bao gồm: kiến trúc nhà ở, trang phục truyền thống, phong tục tập quán, lễ hội, cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của cư dân bản địa có những nét khác biệt, giữ được những giá trị truyền thống của địa phương, của dân tộc. Các làng, bản này thường xa xôi, hẻo lánh, thông tin liên lạc hạn chế, cuộc sống dân cư phụ thuộc vào tự nhiên là chính.
Điều kiện tài nguyên du lịch là điều kiện tiên quyết cho việc lựa chọn điểm đến của du khách, đây cũng là cơ sở căn cứ để xác định điều kiện hình thành và phát triển của loại hình du lịch này ở điểm đến. Trekking tour là loại hình đặc biệt phù hợp với các Vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên. Đây là những nơi hay vùng sinh thái đòi hỏi vấn đề bảo tồn được đặt lên hàng đầu, nên chỉ phát triển hệ thống đường mòn, các điểm dừng chân, cắm trại mà không xây dựng đường giao thông, cơ sở lưu trú trong các phân khu bảo vệ nghiêm ngặt, phân khu phục hồi sinh thái.
- Điều kiện kinh tế, xã hội
Cộng đồng, dân cư: Các làng, bản ít người sinh sống, thường sống trong vùng được bảo tồn, không có sự giao lưu với bên ngoài nhiều, chủ yếu là cuộc sống khép kín, tự cung tự cấp trong vùng. Có nhiều hoạt động trong sinh hoạt và lao động thú vị giúp du khách trải nghiệm. Tuy nhiên cũng cần có lực lượng lao động tốt để cùng tham gia vào việc phát triển du lịch.
Cơ sở hạ tầng và khả năng cung ứng các dịch vụ: Các cơ sở lưu trú, nhà hàng, dịch vụ cần giữ nguyên được kiến trúc của địa phương sẵn có. Các mô hình dịch vụ nhỏ, tiện nghi đơn giản phù hợp với loại hình này. Khả năng tiếp cận không quá khó khăn, các điểm đến chính không có đường cho xe ô tô đi vào, chủ yếu là các con đường mòn, các bậc đá để đến với điểm đến. Điểm đến càng tách biệt, hẻo lánh càng gây sự thích thú tò mò cho du khách. Tuy nhiên, việc đến các địa điểm này không mang tính chất nguy hiểm mà chỉ có yếu tố mạo hiểm. Thông tin liên lạc không có, bị hạn chế. Có các dịch vụ cho thuê lều bạt, đồ cắm trại, đồ nấu nướng, người khuôn vác, nấu ăn,…ở tại đầu tuyến trekking. Các điều kiện này không làm ảnh hưởng đến vẻ đẹp, cảnh quan hoang sơ của thiên nhiên hay gây tác động xấu đến cuộc sống của cộng đồng dân cư. Ngoài ra cũng cần có những mô hình trạm y tế, đội cứu trợ tại các tuyến hành trình để đảm bảo ứng cứu kịp thời cho những tai nạn bất ngờ xảy ra.
Cơ chế chính sách pháp luật: Có những chính sách, quy định về việc bảo tồn thiên nhiên, môi trường, giá trị văn hóa. Tuy nhiên cũng cần có cơ chế tạo điều kiện cho việc khách du lịch tới điểm đến một cách phù hợp.
1.1.3.2. Điều kiện về chủ thể tham gia
- Đối với khách du lịch Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Yêu cầu hàng đầu với những du khách muốn thực hiện một chuyến du lịch trekking, đó là sức khỏe. Đây là loại hình đòi hỏi mỗi người phải tham gia vào những hoạt động mang tính nguy hiểm, nếu không có sức khỏe và tinh thần tốt du khách sẽ không thể thực hiện được chuyến du lịch của mình và cũng sẽ không tìm được cảm giác thích thú, vui sướng khi chinh phục được thiên nhiên.
Thứ hai là thời gian, vì trekking là một loại hình du lịch ít nhất là hai ngày nên đò hỏi du khách cần có thời gian để chinh phục, khám phá.
Cuối cùng, du khách tham gia trekking cần trang bị cho mình những đồ dùng, dụng cụ bảo hộ cần thiết phù hợp với từng tour trek. Chính vì vậy mà chi phí bỏ ra cho chuyến trek đúng nghĩa cũng cao hơn so với các tour bình thường khác. Đặc biệt các tour trekking mua bởi các công ty du lịch có chi phí khá cao.
- Cộng đồng địa phương
Còn giữ được những giá trị truyền thống, những nét văn hóa của cư dân bản địa. Có am hiểu nhất định về tài nguyên của địa phương mình cũng như có ý thức bào tồn môi trường. Sẵn sàng và chủ động tham gia, hỗ trợ cho du lịch bằng việc tham gia vào hoạt động hướng dẫn, chỉ đường, vác đồ thuê, nấu ăn thuê, sống cùng du khách, cùng tham gia các hoạt động lao động với du khách,… Hiểu được lợi ích của loại hình này mang lại mà không gây biến động lớn về những giá trị đã giữ gìn, bảo tồn.
- Các nhà tổ chức/điều hành tour
Luôn phải kết hợp cùng với cộng đồng địa phương, đưa họ trở thành những nhân viên đắc lực nhất trong chuyến trekking, từ người hướng dẫn, người khuôn vác, người nấu ăn thuê, đến những nhà cho thuê. Các nhà tổ chức/điều hành tour trekking chuyên nghiệp cần xây dựng các lớp học, lớp kĩ năng trước chuyến đi cho du khách, có cẩm nang về điểm đến. Việc xây dựng và phát triển tour đảm bảo các yếu tố phù hợp với nhu cầu và thể lực của du khách (một tour trek đạt chuẩn có độ dài ngắn nhất là 2 ngày). Hỗ trợ tối đa để đảm bảo cho chuyến trekking của du khách không mang tính chất nặng nhọc, được đảm bảo về tính mạng, sức khỏe (có bảo hiểm).
1.1.4. Vị trí phân loại, phân loại các thành tố và cấp độ Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
1.1.4.1. Vị trí phân loại
Để hiểu rõ hơn về vị trí đặc thù của loại hình du lịch trekking và hướng phát triển của loại hình du lịch này tác giả đã căn cứ vào các đặc trưng của du lịch trekking ở phần trên xác định du lịch trekking có các vị trí như sau:
Theo tiêu chí phân loại dựa vào phương tiện giao thông: du lịch trekking với đặc trưng là đi bộ nên có thể xếp cùng loại với các loại hình du lịch khác như: xe đạp, mô tô, thuyền,…
TIÊU CHÍ PHƯƠNG TIỆN GIAO THÔNG – DU LỊCH PHƯƠNG TIỆN
Sơ đồ 1.1: Vị trí phân loại của du lịch trekking theo tiêu chí phương tiện du lịch
Theo tiêu chí phân loại dựa vào đặc trưng điểm đến: dựa vào đặc trưng về địa hình của loại hình trekking chủ yếu là vùng núi, có địa hình cao hiểm trở có thể xếp du lịch trekking phần nào thuộc phân hệ du lịch núi, du lịch thiên nhiên, du lịch dân tộc học, du lịch làng bản,…
TIÊU CHÍ ĐẶC TRƯNG ĐIỂM ĐẾN
Sơ đồ 1.2: Vị trí phân loại của du lịch trekking theo tiêu chí đặc trưng điểm đến
Ngoài ra còn nhiều tiêu chí phân loại khác nhau như theo tiêu chí đặc trưng mạo hiểm/ khám phá, đặc trưng thể thao,… Có thể khẳng định du lịch trekking là một loại hình du lịch khá đặc biệt, mang nhiều đặc điểm của các loại hình du lịch khác. Hay nói cách khác sự ra đời và phát triển của loại hình du lịch trekking là sự kế thừa, tiếp thu và chọn lọc từ nhiều loại hình khác.
1.1.4.2. Phân loại Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Theo mục đích chuyến đi của du khách trekking tour, có thể phân loại loại hình này như sau:
Trekking tour thuần túy: Đặc điểm tự nhiên của điểm đến là quan tâm hàng đầu và lớn nhất của khách du lịch. Đó thường là những vùng đồi núi, cao nguyên hoang dã (có thể thuộc hoặc không thuộc các vườn quốc gia, khu bảo tồn thiên nhiên) có địa hình thích hợp với đi bộ. Bên cạnh đó kết hợp với việc tìm hiểu những tài nguyên nhân văn trên tuyến hành trình (nếu có). Có thể gọi đơn giản loại này là du lịch khám phá bằng đi bộ.
Trekking tour kết hợp: Ngoài vai trò chủ đạo của loại hình trekking tour sẽ kết hợp với một loại hình khác hay các thành tố của một loại hình du lịch khác. Ví dụ Trekking tour kết hợp nghỉ mát, Trekking tour kết hợp chữa bệnh, Trekking tour kết hợp nghiên cứu khoa học, Trekking tour kết hợp loại phương tiện khác,…
Trekking tour tổng hợp: Trên cơ sở đặc điểm của điểm đến và nhu cầu, mục đích của du khách. Thể loại trekking tour tổng hợp có thể là sự kết hợp của nhiều loại hình du lịch, trong đó trekking tour là chủ đạo.
1.1.4.3.Các thành tố và cấp độ
Đây là cơ sở cho việc xác định phương thức tổ chức loại hình du lịch trekking cũng như khẳng định lần nữa về những đặc trưng đã nêu ở trên.
Các thành tố cơ bản của loại hình trekking:
Độ dài chuyến đi (trip length): Tổng thời gian du khách rời khỏi nhà cho đến khi về nhà cho chuyến đi vì mục đích trekking. Nếu là các chuyến đi kết hợp thì sẽ tính điểm bắt đầu và kết thức khác so với nhà của du khách.
Thời gian trek (time on trek): Số ngày trek tại điểm du lịch.
Khoảng cách đi bộ (walking distance): tổng số dặm/km đi qua trong chuyến trek. Trong nhiều trường hợp phải ước lượng.
Độ cao tối đa (maximum altitude): Độ cao cao nhất so với mực nước biển mà du khách đạt được trong suốt chuyến đi trek. Thông số này ngoài việc thể hiện khả năng chinh phục đỉnh cao mà du khách đạt được trong suốt chuyến đi trek. Thông số này ngoài việc thể hiện khả năng chinh phục đỉnh cao của du khách còn giúp cho việc kiểm soát hội chứng không khí loãng nhằm bảo vệ du khách.
Thách thức về thể lực (Physical challenge): Đòi hỏi thể lực trong mỗi chuyến trek thông thường được phân thành 5 cấp độ, từ 1 đến 5 với mức độ khó dần. Việc phân định cấp độ này đồng thời phản ánh một sự tổng hợp của các thành tố độ cao tối đa, địa hình, khoảng cách đi bộ mỗi ngày. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Trek cấp độ 1 thông thường đi bộ từ 4 đến 6 giờ qua vùng địa hình có độ cao thấp. Một người đi bộ khỏe mạnh và có tinh thần tích cực không cần đến hoặc cần rất ít sự chuẩn bị cho chuyến trek cấp độ 1;
Trek cấp độ 2, 3 hay 4 chiếm đại đa số trong số những tour trek tiêu biểu trên thế giới cũng như tại Việt Nam. Vì sự phối hợp giữa các thành tố bản thân đã rất khác nhau, tùy thuộc vào các yếu tố khác đến chuyến trek như thời tiết,… nên khó phân định rõ ràng giữa các cấp độ này. Việc nghiên cứu cho thấy trek cấp độ 3 đòi hỏi đi bộ một ngày từ 6 đến 7 giờ, sự thay đổi độ cao cách biệt từ 600m – 900m, cách biệt so với mực nước biển từ 3.000m – 4.500m;
Trek cấp độ 5 đòi hỏi một ngày đi bộ tối thiểu 10h, độ cao chênh lệch tối thiểu 1220m (4000 feet) một ngày, và độ cao đỉnh đạt được là trên 5135m (17.000 feet). Những chuyến trek như vậy đòi hỏi những du khách thực sự khỏe mạnh và phải được tham gia vào một khóa huấn luyện thể lực và ý chí trước khi tham gia.
Thách thức tinh thần (mental challenge): Thách thức tinh thần được đo bằng tỷ lệ số lượng các sự kiện tồi tệ hay rủi ro trên 1km đường trek. Đay là chỉ số rên rỉ (whine/ whimper index). Nói chung sự chịu đựng thể xác liên quan rất lớn đến tinh thần, do đó chỉ số đau cơ và chỉ số rên rỉ có liên quan mật thiết với nhau và trong nhiều trường hợp giống nhau.
Chi phí:
Đối với trek tự tổ chức: bao gồm chi phí thuê người khuân vác và/ hoặc hướng dẫn viên tại điểm, cũng như thức ăn và lệ phí đi đường. Nếu tại điểm có sẵn lều bạt hay phương thức ngủ đêm nào đó, chi phí sẽ bao gồm cả yếu tố này.
Đối với đoàn trek hoặc theo nhóm mua tour: ở mức thấp nhất, một chuyến trek kiểu này (do một nhà điều hành du lịch địa phương ở mức thấp nhất thực hiện) tối thiểu thông thường không bao gồm chi phí khách sạn trước và sau chuyến trek, chi phí vận chuyển từ các chặng đón khách tới điểm đến, cũng như các tour phụ. Hướng dẫn viên có thể hạn chế về khả năng giao tiếp tiếng Anh. Còn chi phí ở mức cao nhất thì sẽ do các nhà tổ chức nước ngoài thực hiện, bao gồm khách sạn, vận chuyển toàn bộ, tour phụ và hướng dẫn viên tốt nhất.
Khoảng thời gian chính vụ: Là khoảng thời gian tốt nhất trong năm để thực hiện chuyến trek có tính đến việc dự đoán thời tiết.
Chặng đón khách: nơi mà các nhà tổ chức thông thường đón khách để bắt đầu tham gia một tour trek. Còn đối với những người đi trek tự tổ chức thì đó là những thành phố, đô thị lớn gần nhất so với điểm đến mà họ có thể tìm thấy được nhà tổ chức địa phương cũng như hướng dẫn viên.
1.1.5. Vai trò của du lịch trekking Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
1.1.5.1. Góp phần đa dạng hóa các loại hình du lịch
Tác giả tái khẳng định loại hình du lịch trekking còn mới tại Việt Nam. Vì những đặc trưng của loại hình du lịch trekking mà mỗi chuyến trek lại đem lại những trải nghiệm khác lạ. Chính vì yếu tố này mà loại hình du lịch này cần được phát triển.
Thành phố Hải Phòng được biết đến là một thành phố Cảng biển, do đó hiện nay tại thành phố phát triển các loại hình du lịch biển, sinh thái, MICE, văn hóa, hay trong vài năm trở lại đây có thêm loại hình du lịch đồng quê,… Chính vì vậy mà du lịch trekking nếu được phát triển cả góp phần làm đa dạng các loại hình du lịch không chỉ tại Cát Bà nói riêng mà Thành phố Hải Phòng nói chung. Điều này góp phần đa dạng hóa thành phần khách du lịch, thu hút lượng lớn khách đến và quay trở lại Cát Bà với mục đích du lịch khác nhau.
1.1.5.2. Giáo dục hiệu quả ý thức bảo vệ tài nguyên du lịch
Điểm đến của trekking là vùng núi hay các bản làng chính vì vậy mà yếu tố giữ gìn tài nguyên cần được phát huy từ cộng đồng. Chính du lịch trekking đã tác động trở lại cộng đồng địa phương trong việc bảo tồn những giá trị tài nguyên tại địa phương mình, xung quanh nơi cư dân đang sinh sống. Bên cạnh đó, chính những du khách trek chuyên nghiệp thông qua hoạt động tìm hiểu, khám phá của mình sẽ biết cách bảo vệ tài nguyên trong mỗi chuyến trek để điểm đến đó vẫn còn nguyên vẹn cho những chuyến trek sau của các cá nhân/đoàn khác.
1.1.5.3. Chia sẻ lợi ích từ du lịch với công đồng địa phương
Trekking là loại hình du lịch gắn bó với cư dân bản địa. Du khách đến du lịch tại địa bàn sẽ sử dụng các dịch vụ (khuôn vác, thuê đồ, thuê hướng dẫn viên,…) do cộng đồng cư dân bản địa cung cấp. Điều này làm góp phần tạo việc làm và tăng thu nhập cho người dân địa phương, góp phần làm cải thiện cuộc sống của họ, cũng như của địa phương. Đồng thời khi hoạt động trek phát triển, một số cơ sở du lịch và chính quyền địa phương sẽ có những đầu tư cho cơ sở hạ tầng.
1.1.5.4. Rèn luyện cá nhân Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Du lịch trekking là một trong những loại hình phổ biến nhất trong hệ thống loại hình du lịch chuyên biệt theo hướng thể thao – khám phá, mạo hiểm. Chính vì thế mà yếu tố sức khỏe và ý chí, cũng như các khả năng ứng phó với các tình huống bất ngờ được đặt lên cao. Hoạt động trek bao gồm cả hoạt động leo núi và băng rừng. Nếu như băng rừng là hoạt động trong không khí thiên nhiên trong lành giúp cải thiện hệ hô hấp thì “Leo xuống núi trong thời gian dài giúp làm giảm lượng đường huyết, và do đó làm giảm nguy cơ hoặc tác động của bệnh tiểu đường và tác động tới nồng độ cholesterol trong cơ thể” (Các nhà khoa học Bỉ tuyên bố). Đối với những du khách yêu trek hay trek ở những cấp độ cao thì đòi hỏi phải qua những khóa huấn luyện hoặc tự bản thân rèn luyện dài ngày để đảm bảo cho chuyến trek tốt. Chính vì vậy, trekking sẽ góp phần rèn luyện sức khỏe và ý chí, bản lĩnh của các cá nhân tham gia loại hình du lịch này.
Bên cạnh đó, hoạt động du lịch trekking phát triển đem lại nhiều vai trò khác với kinh tế, xã hội và cộng đồng địa phương:
- Góp phần giải quyết vấn đề việc làm, đào tạo nguồn nhân lực tại chỗ;
- Góp phần tăng thu nhập, nâng cao mức sống cho cộng đồng địa phương và giảm thiểu tình trạng đói nghèo;
- Đóng góp trực tiếp trong việc duy trì và bảo tồn đa dạng sinh học và văn hóa bản địa;
- Giao lưu, trao đổi văn hóa giữa các nên văn hóa trong nước, văn hóa quốc tế, giúp mở mang dân trí, phong phú thêm bản sắc dân tộc.
1.2. Du lịch trekking trên Thế giới và Việt Nam
1.2.1. Du lịch trekking trên Thế giới
1.2.1.1. Sự hình thành của hoạt động trekking và loại hình du lịch trekking
Từ nửa sau thế kỷ XX, đặc biệt trong khoảng bốn thập niên trở lại đây, bên cạnh những loại hình du lịch truyền thống như tắm biển, nghỉ dưỡng, nhiều loại hình du lịch mới đã xuất hiện và phát triển, không đơn giản chỉ là về mặt số lượng loại hình mà còn đánh dấu sự thay đổi khuynh hướng nhu cầu, sở thích đi du lịch của du khách. Sau chiến tranh thế giới lần 2, khi công cuộc khôi phục kinh tế đã đạt được những thành quả, ngành du lịch thế giới mới có điều kiện phát triển trở lại vì mọi người đã bắt đầu đi du lịch. Tới những năm 1960, hoạt động du lịch sôi động tại Châu Âu – một châu lục luôn tiên phong trong lĩnh vực du lịch thế giới. Nếu như lúc đầu chủ yếu là đi tham quan các kỳ quan thế giới như Kim tự tháp, Vườn treo Babilon, đền thờ nữ thần Artemis ở Ephese,… rồi sau đó là các mục đích nghỉ ngơi, giải trí, thư giãn, phục hồi sức khỏe. Các chuyến du lịch này được cung ứng theo quy cách trọn gói bởi các tập đoàn lữ hành, khi đó là tập đoàn Thomas Cook và các con trai với các chi nhánh khắp thế giới. Cùng thời điểm đó, bên cạnh xu hướng du lịch truyền thống với sự thụ hưởng bị động và cổ điển, bắt đầu xuất hiện ngày càng tăng thêm những người muốn đi du lịch theo hướng khác, tích cực hơn, bớt tính thụ hưởng, do đó mà thú vị hơn bởi có nhiều điều mới lạ, tự bản thân khám phá nhất là những vùng thiên nhiên kì thú ít được biết đến. Ban đầu là khuynh hướng tự tổ chức, sau đó trở lại khuynh hướng thuê mướn rồi đến việc tổ chức trọn gói chuyên nghiệp. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
hướng du lịch này có thể kể đến các loại hình mang tính thể dục, thể thao – khám phá, mạo hiểm như du lịch xe đạp, du lịch chèo thuyền/xuồng kayak, du lịch mô tô, du lịch trượt tuyết, du lịch đi bộ khám phá, mạo hiểm,… Tính độc đáo tạo nên sức hấp dẫn với du khách, thỏa mãn tìm kiếm sự khách biệt đã khiến khách du lịch ngày càng muốn tham gia vào nhiều loại hình mới lạ… Trên một cơ sở loại hình du lịch đã có, đáp ứng nhu cầu chuyên biệt của du khách và dựa trên những đặc điểm riêng của địa phương, một loại hình du lịch mới có thể nảy sinh, trước hết phục vụ cho một đối tượng khách nhất định, sau đó dần được biết đến và được áp dụng rộng rãi ở những địa phương khác có điều kiện tương tự. Trekking là trường hợp như vậy.
Tháng 01/1969 đánh dấu sự hình thành của công nghiệp du lịch khám phá/mạo hiểm tại Mỹ khi tập đoàn Moutain Travel U.S ra đời với một số thành viên từ Châu Âu. Ngay năm đó tập đoàn đã kinh doanh 6 chuyến trek tại Nepal, 1 chuyến trek tại Kashmir và cả các tour đi bộ và leo núi tại Corsica, Thụy Sĩ, New Zealand và Kenya. Vào cuối những năm 1970, làn sóng thứ hai nổ ra khi hàng loạt công ty kinh doanh trekking ra đời tại Mỹ.
Có thể khẳng định rằng hoạt động trekking cũng như hình thức du lịch này đã hình thành từ những thập kỷ đầu thế kỉ XX tại Châu Âu, khi mà một bộ phận tri thức, quý tộc và thương nhân cũng như những người đam mê khám phá các vùng đất khác nhau trên thế giới, muốn tìm kiếm một cách thức hưởng thụ du lịch mới mẻ hơn nhưng cũng thách thức và trải nghiệm hơn.
1.2.1.2. Sự phát triển của loại hình du lịch trekking trên thế giới
Từ những năm đầu thế kỷ XX, hoạt động du lịch trekking đã xuất hiện tại châu Mỹ, châu Âu, khởi phát từ sáng kiến của những người giàu có muốn tổ chức chuyến đi mang tính vận động cao, rèn luyện sức khỏe, thử thách với các địa hình, độ cao, khám phá những nét nguyên sơ của thiên nhiên. Tại thời kỳ này, hoạt động trek chỉ được biết tới và thực hiện trong tầng lớp quý tộc, giàu có; tầng lớp lao động không có mặt trong những tour du lịch như thế này vì điều kiện thời gian, tài chính không phù hợp cho những chuyến đi đó. Đồng thời tại thời điểm đó, du lịch trekking mới phát sinh, chưa phổ biến, cũng được xã hội ít quan tâm, kể cả tầng lớp thượng lưu. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Trong khoảng ba thập niên tiếp theo, du lịch trekking được chấp nhận chủ yếu bởi đối tượng qúy tộc, tư sản cấp tiến và được truyền bá chủ yếu theo phương thức truyền kinh nghiệm. Hình thức tổ chức tour cũng mang tính tự phát cao. Loại hình du lịch này lúc đấy trở thành niềm đam mê, thứ sở thích riêng của một số lượng người không lớn nhưng ngày càng gia tăng.
Trong khoảng 30 năm trở lại đây, hoạt động du lịch trekking đã phát triển nhanh và có những bước chuyển biến lớn trên thế giới.
Các điểm đến mới luôn được bổ sung. Ngoài các vùng núi nổ tiếng lâu đời ở Châu Âu, châu Á như Alps, Himalayas,… các điểm đến mới còn luôn được mở rộng tới nhiều vùng núi hoang dã tại các châu lục khác. Và cũng không bó hẹp tại các vùng núi, địa điểm trek còn đươck mở rộng tới những vùng đất hẻo lánh, những bản làng xa xôi.
Đối tượng khách luôn mở rộng, không chỉ những người giàu có như thời kì đầu mà còn có cả đối tượng sinh viên, học sinh, công chức, văn nghệ sỹ, nhà nghiên cứu,… với mong muốn du lịch tích cực, tự bản thân khám phá hay thỏa mãn nhu cầu đam mê.
Nghiệp vụ tổ chức ngày càng chuyên nghiệp với trình độ cao, chương trình tour được chú ý đầu tư với những điểm đến khó tiếp cận hơn, thời gian tour kéo dài hơn với sự cách biệt văn minh. Tuy nhiên, các phương tiên hỗ trợ đã được chuyên biệt hóa cho loại hình này để đảm bảo tính an toàn cho du khách, chuyến đi cũng như sự bền vững của môi trường thiên nhiên.
Nhà cung ứng, hãng lữ hành chuyên kinh doanh trekking, các đại lý quảng cáo cho loại hình này có mặt ở nhiều nơi với hàng loạt chi nhánh, tư vấn, đáp ứng như cầu của du khách ở nhiều thời điểm trong năm.
Dưới đây là một số điểm đến chính của loại hình du lịch trekking trên thế giới:
Châu Âu: Italia (dãy núi Alps – dãy núi lớn nhất Châu Âu), Pháp (núi Pyrenees, vùng Korsica), Tây Ban Nha (núi Iberian), Na Uy (vùng Hardangervidda Plateau), đảo lớn nhất Greenland;
Châu Á: Nepal (dãy Hymalayas với đỉnh núi Everest cao nhất thế giới), Tây Tạng (vùng Lhasa, núi Kailas), Indonesia (cao nguyên Sulawesi, đảo Borneo), Malaysia (đảo Sabah, núi Kinabalu), Ấn Độ (núi Annapurna), Pakistan (núi Hindu Kush);
Châu Phi: Morocco (sa mạc Sahara, dãy núi Atlas), Tanzania (vùng núi Kilimanjaro, Zanzibar, thảo nguyên Serengeti), Nam Phi (vùng núi Drakensberg); Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Châu Mỹ: Hoa Kỳ (dãy núi Rocky, núi Appalachian, vùng Hồ Lớn), Canada (dãy núi Rocky), Bolivia (núi Andes), Peru (rừng Amazon);
Châu Úc: New Zealand (dãy Alps Nam), Australia (dãy Great Dividing).
Xếp hạng các điểm đến theo thứ tự phổ biến và được nhiều du khách trekking đến nhất là:
- Nepal – Gokyo & Everest Base Camp
- Tanzania – Kilimaniaro
- Pakistan – Snow Lake
- Chile – The Paine Circuit
- Italia – The Dolomites Traverse
1.2.2. Du lịch treeking tại Việt Nam
Tiềm năng du lịch trekking của khu vực Đông Nam Á dường như vẫn chưa được phát huy vì những nguyên nhân kinh tế – chính trị. Indonesia, Malaysia, Thái Lan là những quốc gia dầu tiên trong khu vực áp dụng khai thác du lịch trekking. Trong những năm 90 của thế kỷ XX, Việt Nam mới chỉ được coi như một điểm đến phụ trong lộ trình du lịch trekking của khách du lịch quốc tế. Sau những chuyến thăm Việt Nam của những du khách ưa thích tìm hiểu những miền đất mới lạ, một số điểm du lịch miền núi, cao nguyên ở Việt Nam phù hợp với loại hình du lịch trekking dần dần được du khách quốc tế biết đến như Sa Pa, Điện Biên, Lai Châu, Hòa Bình, Đắk Lắk, Đà Lạt,… những nơi mà phần lớn có thế mạnh truyền thống là du lịch nghỉ dưỡng.
Những chuyến trek đầu tiên mang tính khảo sát được tiến hành ở Tây Bắc Việt Nam. Địa điểm được chọn là Sa Pa, từ đó những kinh nghiệm tổ chức du lịch trekking được truyền lại cho chính người dân địa phương và trong gần hai thập niên qua, Việt Nam đã được các hãng lữ hành chuyên về du lịch trekking quốc tế chú ý, quảng cáo như một điểm đến chính thức và thực sự hấp dẫn.
Theo đặc thù của loại hình trekking, tiềm năng phát triển loại hình này tại Việt Nam đáng kể hơn các nước trong khu vực về cả mặt điều kiện tự nhiên và nhân văn. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Cùng với một số loại hình du lịch khám phá/mạo hiểm khác, du lịch trekking thực sự xuất hiện ở Việt Nam từ khoảng những năm 1990. Thời điểm đó, trekking xuất hiện như một hình thức du lịch khám phá thiên nhiên được du khách châu Âu ưa chuộng, nhất là với những người có kì nghỉ dài ngày.
Các tour trekking ở Tây Nguyên được chọn nhiều, thường dài từ 7 đến 20 ngày bao gồm leo núi, tham quan các khu rừng, thác nước cũng như cuộc sống của các cộng đồng dân tộc ít người.
Hiện nay, nhiều hãng lữ hành lớn hay chuyên kinh doanh du lịch khám phá/mạo hiểm đã đưa trekking thành một sản phẩm du lịch và ngày càng được ưa chuộng hướng đến thị trường khách quốc tế. Tuy nhiên đối với người dân Việt Nam, du lịch trekking vẫn còn là loại hình khá xa lạ hay chỉ phổ biến ở giới trẻ. Các công ty du lịch cũng hạn chế khai thác khách du lịch nội địa nên phần lớn du khách Việt Nam tham gia hoạt động trek một cách tự phát.
1.2.3. Một số điểm du lịch trekking tiêu biểu ở Việt Nam
1.2.3.1. Sa Pa (Lào Cai)
Sa Pa là một thị trấn vùng cao trên 1500m so với mực nước biển, nằm cách thành phố Lào Cai 38km, phần lớn cư dân sinh sống là người dân tộc thiểu số H’mong, Dao đỏ, Tày, Giáy,… Đây là một trong số ít những nơi hiếm hoi của Việt Nam có tuyết. Sa Pa nổi tiếng với nhiều địa danh có cảnh quan đẹp như Thác Bạc, Cầu Mây, cổng Trời, động Tả Phìn, bãi đá cổ Sa Pa, núi Hàm Rồng, Phan Si Păng, vườn quốc gia Hoàng Liên…; thêm vào đó là các làng bản của người dân tộc như bản Cát Cát, bản Sín Chải, bản Tả Van,… Tour trekking được lựa chọn thường xuyên và hấp dẫn nhất là “Chinh phục đỉnh Phan Si Păng – nóc nhà Đông Dương”. Tại Sa Pa đã có những cơ sở chuyên nghiệp, những phương thức tổ chức chuyên biệt cho loại hình du lịch này. Sa Pa được đánh giá là điểm đến số một cho du lịch trekking.
1.2.3.2. Vườn quốc gia Phong Nha – Kẻ Bàng (Quảng Bình)
Phong Nha – Kẻ Bàng nằm trên khu vực núi đá vôi cao trên 800m so với mực nước biển, cách trung tâm thành phố Đồng Hới 50km. Được UNESCO công nhận là Di sản thiên nhiên thế giới theo tiêu chí địa chất, địa mạo năm 2003, Phong Nha – Kẻ Bàng cũng từng được đề cử UNESCO công nhận lần 2 là Di sản thiên nhiên thế giới với tiêu chí đa dạng sinh học ngày 29/6/2011. Khu vực Phong Nha – Kẻ Bàng có lẽ là một trong những mẫu hình riêng biệt và đẹp nhất về sự kiến tạo carxtơ phức tạp ở Đông Nam Á. Tại đây có một hệ thống khoảng 300 hang động lớn nhỏ, có giá trị hàng đầu thế giới, trong đó nổi bật là những hang như hang Tối, hang Chà An, hang Thung, hang Én, hang Vòm, hang Hổ, động Thiên Đường, động Tiên Sơn; ngoài hang động khu vực này còn đa dạng loại địa hình như suối, thác, núi rừng. Chính yêu tố địa hình đa dạng, nhiều nét nguyên sơ, cảnh quan đẹp, phong phú hệ động thực vật đã làm cho Phong Nha – Kẻ Bàng là một điểm đến được những trekker chọn lựa hàng đầu.
1.2.3.3. Khu vực Tây Nguyên Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Tây Nguyên là vùng đất gồm nhiều cao nguyên liền kề có độ cao trên 500m. Nơi đây là địa bàn sinh sống hơn 17 tộc người thiểu số người Thượng. Về mặt địa hình Tây Nguyên không có sự chênh lệch độ cao lớn, địa hình ít hiểm trở, tuy nhiên vùng đất này lại thu hút dân trek bởi những khu rừng đặc chủng, những nét văn hóa đặc sắc của đồng bào thiểu số trong đời sống, sinh hoạt, đặc biệt không gian văn hóa Cồng Chiêng Tây Nguyên được UNESCO công nhận là Kiệt tác truyền khẩu và phi vật thể của nhân loại (ngày 15 tháng 11 năm 2005). Khu vực Tây Nguyên bao gồm 5 tỉnh: Kon Tum, Gia Lai, Đắk Lắk, Đắk Nông, Lân Đồng với nhiều điểm đến hấp dẫn như: làng cổ K’tu, rừng nguyên sinh Chư Môn Ray, đường mòn Hồ Chí Minh, làng Ba Na (Kon Tum); Vườn quốc gia Yóc Đôn, khu lâm viên Ea Kao, Buôn Đôn (Đắk Lắk); dòng Sêrepok (Đắk Nông); rừng nhiệt đới Kon Ka Kinh & Kon Cha Rang, Biển Hồ, núi Hàm Rồng (Gia Lai). Tây Nguyên là điểm đến được đánh giá cao trong loại hình du lịch trekking.
Có thể khẳng định rằng những điều kiện tự nhiên và nhân văn của những điểm trekking tiêu biểu của Việt Nam nói trên là những điển hình đáp ứng đòi hỏi của loại hình. Đặc biệt chú ý hơn cả là Tây Nguyên và các các tỉnh phía Tây Bắc có hấp dẫn riêng khi triển khai loại hình này nhờ tài nguyên thiên nhiên phong phú và đời sống sinh hoạt của bà con vùng cao còn giữ nét riêng. Đây là các tuyến điểm mà du khách có thể tham gia với tour dài ngày.
Tiểu kết chương 1
Du lịch trekking là một loại hình với đặc trưng đi bộ – khám phá/mạo hiểm – hài hòa với thiên nhiên và cuộc sống bản địa đã du nhập vào Việt Nam khoảng hơn 20 năm. Hướng tiếp cận cho việc xem xét du lịch trekking trong hệ thống phân loại loại hình du lịch rất đa dạng, từ đó thấy được vai trò của loại hình này. Đồng thời nhận thấy những yếu tố thuận lợi của Việt Nam khi tiếp cận loại hình du lịch trekking. Khóa luận: Phát triển loại hình du lịch trekking tại Cát Bà.
Như vậy chương 1 của đề tài đã làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn của loại hình du lịch trekking, từ lịch sử hình thành đến khái niệm, vai trò, đặc trưng, các điều kiện hình thành và phát triển đến tình hình phát triển trên thế giới và tại Việt Nam. Đây chính là cơ sở khoa học cho các nghiên cứu của tác giả được thực hiện trong chương 2 và chương 3.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng phát triển loại hình du lịch Trekking

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Giải pháp phát triển loại hình du lịch Trekking