Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Thực trạng phát triển các dịch vụ ngân hàng tại Agribank Hà Tây trong thời kì hội nhập này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
2.1. TỔNG QUAN VỀ AGRIBANK HÀ TÂY
2.1.1. Đặc điểm hoạt động kinh doanh của AGRIBANK Hà Tây
Một là, AGRIBANK Hà Tây là một chi nhánh có quy mô hoạt động vào loại lớn nhất của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam.
Với đặc điểm này, hoạt động của AGRIBANK Hà Tây sẽ chịu sự chi phối bởi quy định của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, sự đầu tư cơ sở vật chất và công nghệ để phát triển các sản phẩm dịch vụ, phụ thuộc vào NHNo&PTNT Việt Nam về phân phối thu nhập và tất cả các cơ chế quản lý, cơ chế nghiệp vụ. Tính đến cuối năm 2026, dựa trên các chỉ tiêu : số lượng cán bộ và nhân viên, nguồn vốn huy động tại chỗ, dư nợ cho vay,…thì Ngân hàng nhà nước o&PTNT Hà Tây đứng vào hàng chi nhánh có quy mô lớn nhất.
Hai là, Chi nhánh AGRIBANK Hà Tây hoạt động kinh doanh trên địa bàn rộng, sự phát triển kinh tế của khu vực còn nhiều khó khăn, … Đặc điểm này sẽ chi phối rất lớn đến hoạt động quản lý kinh doanh dịch vụ của chi nhánh NHNo &PTNT Hà Tây.
Ba là, thị trường chủ yếu để hoạt động kinh doanh dịch vụ còn chưa phát triển. Thị trường chính mà AGRIBANK Hà Tây là phục vụ nông nghiệp và nông thôn còn đang lạc hậu. Đặc điểm này vừa là cửa mở cho Ngân hàng nhà nước ở Hà Tây khai thác phục vụ, mở rộng thị trường vừa phải chống đỡ các rủi ro.
Bốn là, thị trường chính của AGRIBANK Hà Tây hoạt động kinh doanh có rủi ro cao. NH hoạt động chủ yếu trong khu vực kinh tế nông nghiệp, nông thôn. Thị trường này chịu ảnh hưởng bởi các yếu tố thiên nhiên môi trường.
Thiên tai luôn túc trực ảnh hưởng trực tiếp đến thị trường, từ đó ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh dịch vụ của ngân hàng.
2.1.2. Khách hàng của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn trên địa bàn tỉnh Hà Tây Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
- Khu vực doanh nghiệp:
Hiện nay Đảng và Nhà nước đã ban hành nhiều chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế phát triển như: chính sách đất đai, chính sách ưu tiên về thuế với các doanh nghiệp mới thành lập, thu thuế đầu tư, …Năm 2026 số doanh nghiệp vừa và nhỏ tăng 413 doanh nghiệp, đưa tổng số doanh nghiệp lên 4.164 đơn vị ; Trong đó có 245 doanh nghiệp Nhà nước trung ương và địa phương, số doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với AGRIBANK Hà Tây 37 đơn vị. Có 815 công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần trong đó có 462 công ty có quan hệ tín dụng. Có 885 doanh nghiệp tư nhân, trong đó có 248 doanh nghiệp có quan hệ tín dụng với AGRIBANK Hà Tây.
- Khu vực kinh tế hợp tác xã:
Sau khi chuyển đổi theo luật, đến nay toàn tỉnh có 533 hợp tác xã, trong đó hợp tác xã nông nghiệp có 494, hợp tác xã công nghiệp, vận tải có 39. Qua khảo sát cho thấy các hợp tác xã đã chuyển đổi theo luật từ các HTX cũ, hoạt động kinh doanh yếu kém, năng lực tài chính khó khăn, không đủ sức cạnh tranh trên thương trường, khả năng sử dụng các dịch vụ ngân hàng thấp và hầu như không có.
- Khu vực kinh tế hộ tư nhân, cá thể:
Toàn tỉnh có 56 vạn hộ dân cư, trong đó hộ giàu chiếm khoảng 9%, hộ khá chiếm khoảng 26%, hộ trung bình chiếm khoảng 54,5%, hộ nghèo chiếm khoảng 10,5%. Khu vực kinh tế này trong những năm gần đây hoạt động phát triển tốt, đã từng bước phát triển từ sản xuất tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hoá, gắn được việc sản xuất kinh doanh với thị trường đặc biệt nơi có làng nghề.
Đây là khu vực có nhiều tiềm năng phát triển các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng.
2.1.3. Tổng quan hoạt động kinh doanh của Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây
Ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn Hà Tây được thành lập từ tháng 10 năm 1991 trên cơ sở sát nhập 8 ngân hàng huyện, thị xã thuộc tỉnh Hà Sơn Bình cũ và 6 ngân hàng huyện, thị xã của Hà Nội chuyển giao.
Trong thời gian mới thành lập, toàn tỉnh Hà Tây có 14 chi nhánh Ngân hàng huyện, thị xã, với 28 phòng giao dịch và bàn tiết kiệm, với tổng số 1181 cán bộ công nhân viên. Tổng nguồn vốn huy động 77 tỷ đồng, dư nợ 46 tỷ đồng chủ yếu cho vay doanh nghiệp quốc doanh và hợp tác xã (chiếm 90%). Chất lượng cho vay thấp, nợ quá hạn chiếm 17% tổng dư nợ. Kết quả kinh doanh thua lỗ. Đó là những thách thức không nhỏ về thực trạng hoạt động kinh doanh, trình độ cán bộ, mạng lưới hoạt động. Tổng số 68 điểm giao dịch bao gồm 01 hội sở, 16 huyện, thị xã, chi nhánh cấp II; 44 ngân hàng cấp 3 và 7 phòng giao dịch. 100% các điểm giao dịch trực tiếp trên máy vi tính với tổng số máy trang bị 436 bộ.
Trình độ cán bộ tăng lên rõ rệt, với 851 cán bộ, giảm so buổi đầu thành lập là 330 cán bộ, trình độ đại học, trên đại học chiếm tỷ lệ 75%. Số cán bộ cao đảng, trung cấp chuyên môn nghiệp vụ chiếm tỷ lệ 25%, trình độ tin học chiếm tỷ lệ 82,2%, trình độ ngoại ngữ chiếm 46%. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Qua gần 20 năm thực hiện đổi mới, hoạt động AGRIBANK Hà Tây đã thu được những kết quả đáng khích lệ, nếu tính hết năm 2026:
- Tổng nguồn vốn huy động đạt 974 tỷ đồng, tăng hơn 103 lần so với buổi ban đầu mới thành lập.
- Dư nợ cho vay đạt 7.409 tỷ đồng, tăng hơn 161 lần so với buổi ban đầu mới thành lập.
2.2. CÁC NHÂN TỐ ẢNH HƯỞNG ĐẾN SỰ PHÁT TRIỂN DỊCH VỤ NGÂN HÀNG TẠI AGRIBANK HÀ TÂY GIAI ĐOẠN 2023-2026
2.2.1. Các nhân tố khách quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây
- Môi trường chính trị.
Việt Nam là một nước theo thể chế cộng hòa xã hội chủ nghĩa, với một nền chính trị ổn định, Đảng và Nhà nước luôn quan tâm đến việc phát triển kinh tế để đưa đất nước trở thành một quốc gia phát triển, từng bước nâng cao chất lượng sống cho nhân dân. Trong những năm qua, AGRIBANK Hà Tây luôn nhận được sự quan tâm của Đảng và Nhà nước trong công cuộc đổi mới. Điều này đã tạo thuận lợi cho AGRIBANK Hà Tây trong việc phát triển các dịch vụ ngân hàng của chi nhánh.
- Môi trường kinh tế.
Môi trường kinh tế có ảnh hưởng sâu sắc tới chiến lược phát triển của doanh nghiệp. Những yếu tố như tốc độ tăng trưởng GDP, thu nhập bình quân đầu người, tỷ trọng xuất nhập khẩu cho thấy nhu cầu của khách hàng để từ đó doanh nghiệp sẽ có phương hướng phát triển phù hợp nhất trong từng giai đoạn.
Năm 2025 nền kinh tế Việt Nam biến động mạnh mẽ, cuộc khủng hoảng tài chính toàn cầu đã kéo theo sự suy giảm kinh tế của nhiều quốc gia trên thế giới. Nhiều thị trường xuất khẩu của Việt Nam như Mỹ, Châu Âu và Nhật Bản đã thu hẹp đáng kể do những biến động xấu của kinh tế thế giới và sự cắt giảm chi tiêu của người dân trong khu vực. Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GDP) ước tăng 6,23%, và lạm phát lên đến 22,3%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2024, kim ngạch xuất khẩu của khu vực doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đạt 34,87 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 55,4%, tăng 25,5% so với năm 2024; của khu vực doanh nghiệp 100% vốn trong nước đạt 28,02 tỷ USD, chiếm tỷ trọng 44,6%, tăng 34,9%, so với năm 2024, nhập siêu giảm ước đạt 17 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là 27%, giảm so với năm 2024 (năm 2024 là 29,1%). Theo số liệu thống kê của bộ công thương năm 2025 có tới hơn 20% doanh nghiệp rơi vào rủi ro phá sản hàng loạt doanh nghiệp có lợi nhuận âm trong năm 2025 chủ yếu là các doanh nghiệp vừa và nhỏ số vốn ít và quy mô sản xuất nhỏ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Năm 2026 đạt mức tăng trưởng 5,32%, đứng vào hàng các nền kinh tế có tốc độ tăng trưởng cao trong khu vực và trên thế giới.Mặc dù tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2026 thấp hơn tốc độ tăng 6,18% năm 2025 nhưng đã vượt mục tiêu tăng 5% của kế hoạch. Ðáng chú ý là, GDP của quý III-2026 tăng 6,04% và quý IV-2026 tăng 6,9%, cao hơn so với cùng kỳ năm 2025, cho thấy nền kinh tế nước ta đã vượt qua thời kỳ suy giảm tăng trưởng, chứng tỏ các chính sách, giải pháp ngăn chặn suy giảm kinh tế triển khai trong năm vừa qua phù hợp tình hình thực tế.
- Môi trường pháp lý.
Hệ thống ngân hàng Việt Nam mới phát triển vì vậy hành lang pháp lý về hoạt động của các ngân hàng vẫn còn rất nhiều thiếu sót. Điều này đã tạo ra không ít khó khăn cho các ngân hàng Việt Nam khi tham gia vào các hoạt động mang tính chất quốc tế.
Năm 1988 sự ra đời của 2 pháp lệnh ngân hàng mới đã chuyển hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung bao cấp sang cơ chế thị trường. Tiếp đó là việc thực thi lại luật ngân hàng và các tổ chức tín dụng từ 01/10/1998 đã mở ra thời kì phát triển mới cho các ngân hàng và tổ chức tín dụng.
2.2.2. Các nhân tố chủ quan ảnh hưởng đến sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây
- Tiềm lực tài chính.
Tiềm lực tài chính của một doanh nghiệp nói chung và ngân hàng nói riêng có ảnh hưởng rất lớn đến kế hoạch phát triển, phương hướng hoạt động cũng như chiến lược của doanh nghiệp. Đối với các ngân hàng thương mại thì nó lại càng quan trọng hơn nữa. Một nguồn lực tài chính mạnh và an toàn là yếu tố tạo nên ưu thế cho ngân hàng trên thị trường. Để đánh giá được tiềm lực tài chính có tác động mạnh mẽ thế nào đối vói sự phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây ta xem xét một số chỉ tiêu sau:
Thứ nhất là tiểm lực vốn của chi nhánh. Tổng nguồn vốn tính đến 31/12/2025 của AGRIBANK Hà Tây là hơn 7.974 tỷ vnd, trong đó vốn nội tệ là 7.236 tỷ chiếm 91% tổng nguồn vốn, ngoại tệ quy đổi là 738 tỷ vnd chiếm 9% tổng nguồn vốn. Với nguồn vốn này chi nhánh có đủ điều kiện để phát triển các sản phẩm dịch vụ mới, nâng cao sức cạnh tranh của mình trên thị trường. Tuy nhiên, để có thể hoàn thành mục tiêu phát triển dịch vụ, thì chi nhánh cần có nguồn vốn dồi dào hơn nữa tạo thuận lợi cho việc phát triển dịch vụ.
Thứ hai là khả năng thanh khoản.Khả năng thanh khoản phản ánh chất lượng kinh doanh của ngân hàng. Qua đó có thể thấy được ngân hàng có tiềm lực tài chính mạnh hay yếu. Một ngân hàng có khả năng thanh khoản cao sẽ tạo thuận lợi trong quá trình phát triển dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
- Nguồn nhân lực.
Tính đến 31/12/2026 tổng số cán bộ nhân viên chi nhánh là 851 người trong đó nam chiếm 39%, cán bộ nữ chiếm 61%, tuổi đời bình quân là 42.Trình độ đại học trên đại hoc chiếm tỉ lệ cao ( xem hình 2.1) Chi nhánh luôn quan tâm chú trọng phát triển nguồn nhân lực, nâng cao năng lực chuyên môn nghiệp vụ để có thể thực hiện tốt nhất các hoạt động kinh doanh dịch vụ của chi nhánh, góp phần tăng thu nhập, tăng khả năng cạnh tranh và uy tín của chi nhánh trên thị trường.
Hình 2.1 Cơ cấu lao động của AGRIBANK Hà Tây
- Năng lực công nghệ.
Tin học hóa ngân hàng đang là xu hướng phát triển cấp thiết của tất cả các ngân hàng. Để có được những dịch vụ có chất lượng tốt và chi phí thấp thì đòi hỏi các ngân hàng phải có nền tảng công nghệ hiện đại để đáp ứng nhu cầu của khách hàng. Nhận thức được tầm quan trọng của vấn đề này, chi nhánh luôn chú trọng đầu tư đổi mới và ứng dụng công nghệ ngân hàng phục vụ đắc lực cho công tác quản trị kinh doanh và phát triển mạng lưới dịch vụ ngân hàng tiên tiến. Dự án Hiện đại hóa hệ thống thanh toán và kế toán khách hàng (IPCAS) do Ngân hàng Thế giới tài trợ đã và đang được triển khai. Mô hình công nghệ mới IPCAS đã đưa hệ thống trong ngân hàng chuyển từ xử lý phân tán sang xử lý tập trung, tăng khả năng kiểm soát từ trung ương, tạo điều kiện thuận lợi hơn cho khách hàng trong việc giao dịch và lập tài khoản tại tất cả các chi nhánh của ngân hàng.
Hiện AGRIBANK Hà Tây đã vi tính hoá hoạt động kinh doanh và một hệ thống các dịch vụ ngân hàng gồm dịch vụ chuyển tiền điện tử, dịch vụ thanh toán thẻ tín dụng quốc tế, dịch vụ ATM, dịch vụ thanh toán quốc tế qua mạng SWIFT. Đến nay, AGRIBANK Hà Tây hoàn toàn có đủ năng lực cung ứng các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiên tiến, tiện ích cho mọi đối tượng khách hàng trong và ngoài nước.
- Hoạt động
Marketing ngân hàng là một hoạt động quan trọng trong quá trình phát triển sản phẩm dịch vụ ngân hàng. Bằng các chiến lược đẩy và chiến lược kéo các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng sẽ đến được với người tiêu dùng nhanh nhất và ngắn nhất. Hiện nay, AGRIBANK Hà Tây đã thực hiện một số chính sách marketing như: quảng bá, giới thiệu sản phẩm thông qua truyền thông, báo, tạp chí ngân hàng thương mại, interner.
2.3 Thực trạng hoạt động dịch vụ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Hà Tây Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
2.3.1 Dịch vụ huy động vốn
Đối với các ngân hàng thương mại, huy động vốn là hoạt động quyết định đến sự tồn tại và phát triển của ngân hàng đó. Đó là nguồn cung cấp vốn cho mọi hoạt động kinh danh của ngân hàng. Và đó cũng là chức năng cơ bản nhất của ngân hàng thương mại. Với nhiều phương thức huy động vốn AGRIBANK Hà Tây đã và đang củng cố nguồn vốn của mình tạo điều kiện thuận lợi cho việc phát triển các dịch vụ khác của chi nhánh. Bằng các biện pháp xúc tiến, quảng bá cùng với vị trí thuận lợi ngân hàng đã thu hút được lượng tiền gửi lớn trong dân cư, các tổ chức kinh tế.
Hiện nay, AGRIBANK Hà Tây đã và đang thực hiện nhiều biện pháp hữu hiệu trong công tác huy động vốn bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với nhiều hình thức như:
- Nhận tiền gửi của khách hàng (tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn và các loại tiền gửi khác).
- Tiền gửi tiết kiệm: Không kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn; tiền gửi tiết kiệm bậc thang; tiền gửi tiết kiệm gửi góp; Tiền gửi tiết kiệm có thưởng; Tiền gửi tiết kiệm bằng VNĐ bảo đảm giá trị theo vàng; Tiền gửi tiết kiệm bằng vàng; Tiền gửi tiết kiệm có tặng quà bằng vàng 3 chữ A (4 số 9) và có dự thưởng.
- Giấy tờ có giá ngắn hạn: kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi và tín phiếu;
- Giấy tờ có giá dài hạn: trái phiếu, chứng chỉ tiền gửi dài hạn.
- Chiết khấu các loại chứng từ có giá.
- Vay vốn của Ngân hàng nhà nước và các Tổ chức tín dụng khác; …
Kết quả huy động vốn những năm qua đạt kết quả khả quan. Tổng nguồn vốn huy động đến 31/12/2026 là 7.974 tỷ đồng, chiếm trên 35% thị phần nguồn vốn trên địa bàn, tăng 354 tỷ đồng so với năm 2025, tốc độ tăng trưởng 4,6% ( năm 2025 tốc độ tăng trưởng là 22,2%). Trong đó cơ cấu theo thời hạn như sau:
- Bảng 2.1: Tốc độ tăng trưởng nguồn vốn các năm 2021 – 2026
Như vậy, về cơ cấu nguồn vốn có sự chuyển dịch tích cực theo hướng ổn định và có lợi cho kinh doanh, nguồn vốn có lãi suất thấp năm 2026 đạt 1112 tỷ đồng, tăng 557 tỷ đồng so với năm 2021, Nguồn vốn của chi nhánh chủ yếu là nguồn vốn có kỳ hạn trung và dài, tạo sự ổn định cao. nguồn vốn trung và dài hạn năm 2026 đạt 4.873 tỷ đồng, tăng 2.300 tỷ đồng so với năm 2021. Về tốc độ tăng trưởng nhìn chung năm sau cao hơn năm trước về số tuyệt đối, nhưng số tương đối có xu hướng giảm, báo động tình hình về nguồn vốn trong những năm tới sẽ rất khó khăn, ảnh hưởng đến công tác đầu tư mở rộng tín dụng. Một yêu cầu đặt ra, AGRIBANK Hà Tây cần phải đa dạng hoá sản phẩm dịch vụ về huy động vốn, nhất là phát triển các sản phẩm dịch vụ mới hấp dẫn với khách hàng. Có như vậy mới đảm bảo sự phát triển bền vững của ngân hàng, góp phần phục vụ cho phát triển của nền kinh tế.
2.3.2. Dịch vụ tín dụng Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
AGRIBANK Hà Tây đã mở rộng đầu tư vốn tín dụng bằng đồng Việt Nam và ngoại tệ với các hình thức: Cho vay ngắn hạn, cho vay trung hạn, cho vay dài hạn, cho vay chiết khấu các loại giấy tờ có giá; cho vay tài trợ theo chương trình, dự án, hợp vốn đồng tài trợ các dự án lớn, cho vay tài trợ xuất nhập khẩu, cho vay dài hạn các dự án lớn, cho vay khép kín chu trình sản xuất – lưu thông, cho vay các chương trình chỉ định của Chính phủ; ngân hàng còn triển khai nhiều hoạt động đầu tư khác có hiệu quả.
Những năm qua, ngân hàng đã có nhiều cải tiến trong công tác tín dụng như đơn giản hoá thủ tục vay vốn, điều kiện vay vốn được nới rộng, đối tượng vay vốn được mở rộng đã tạo thuận lợi cho nhiều hộ nông dân được vay vốn ngân hàng, hạn chế việc cho vay nặng lãi. Đã mở rộng hợp tác với các tổ chức như Hội nông dân, Hội Phụ nữ,…để phát triển khách hàng,tạo thuận lợi cho khách hàng vay vốn và góp phần giảm quá tải đối với ngân hàng, tăng thêm độ an toàn vốn. Hoạt động tín dụng cần phải cải tiến nhằm nâng cao hiệu quả cạnh tranh. Các khách hàng là doanh nghiệp đã tổ chức nhiều hội nghị khách hàng nhằm tiếp thu ý kiến đóng góp của khách hàng. AGRIBANK Hà Tây đã thực hiện theo đúng Sổ tay tín dụng do AGRIBANK VN ban hành, triển khai tập huấn trong toàn hệ thống vào cuối tháng 07/2025.
Do vậy, tính đến ngày 31/12/2026, AGRIBANK Hà Tây đã đầu tư cho vay đạt 7.409 tỷ đồng, chiếm 35% thị phần cho vay của các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh, tốc độ tăng trưởng 12,6%/năm, dư nợ bình quân 01 cán bộ là 8.706 triệu đồng. Tỷ lệ nợ quá hạn là 3,5% trên tổng dư nợ(cao hơn mức NHNo&PTNT Việt nam qui định là 3%). Trong đó cơ cấu tiền vay phân theo thời hạn thì dư nợ cho vay ngắn hạn 6.091 tỷ đồng chiếm 82%; Dư nợ cho vay trung dài hạn 1.318 tỷ đồng = 18%. Nếu phân chia dư nợ theo thành phần kinh tế thì cho vay doanh nghiệp 2.561 tỷ đồng chiếm 34,6%; Cho vay Hộ sản xuất và cá thể 4.848 tỷ đồng = 65,4%
- Bảng 2.2: Tốc độ tăng trưởng đầu tư tín dụng qua các năm 2021 – 2026
Như vậy, xét về tỷ lệ vốn đầu tư cho hộ sản xuất và các doanh nghiệp cho thấy, NHNo&PTNT Hà Tây đã thực hiện tốt cho vay các doanh nghiệp, đầu tư thoả đáng vốn vào lĩnh vực nông nghiệp nông thôn, từng bước làm chuyển dịch cơ cấu tự cung, tự cấp sang sản xuất hàng hóa, tiến tới hiện đại hoá nông nghiệp và nông thôn.
Xét về mặt tỷ trọng giữa cho vay trung, dài hạn và ngắn hạn. AGRIBANK Hà Tây từng bước điều chỉnh sao cho tỷ lệ cho vay cân đối phù hợp với nguồn vốn huy động nhằm đạt hiệu quả trong quá trình kinh doanh về tín dụng cũng như nguồn vốn.
Sản phẩm tín dụng tập trung đầu tư cho các doanh nghiệp và cá nhân bổ sung vốn lưu động thiếu hụt trong quá trình sản xuất kinh doanh, dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
- Cho vay thực hiện thanh toán vật tư, nguyên liệu, hàng hoá, chi phí dịch vụ và các chi phí cần thiết khác cấu thành giá mua hoặc giá thành sản phẩm, hàng hoá…
- Cho vay mua máy móc, trang thiết bị, dây chuyền công nghệ, phương tiện vận chuyển, nâng cấp mở rộng trụ sở làm việc, nhà xưởng kho bãi…
- Cho vay sản xuất và thu mua hàng xuất khẩu.
- Cho vay phát triển đời sống như mua nhà, mua sắm phương tiện đi lại, mua sắm các trang thiết bị phục vụ cuộc sống.
2.2.3 Kết quả kinh doanh dịch vụ phi tín dụng
Cơ cấu nguồn thu từ một số hoạt động kinh doanh dịch vụ chủ yếu của AGRIBANK Hà Tây giai đoạn 2021 – 2026 được thể hiện trong bảng 2.3 dưới đây:
Bảng 2.3: Kết quả kinh doanh dịch vụ phi tín dụng các năm 2022 – 2026
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế.
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế của chi nhánh AGRIBANK Hà Tây trong những năm qua đã thu được kết quả đáng khích lệ, tuy nhiên nguồn vốn huy động bằng ngoại tệ mới đạt trên 14% tổng nguồn, dư nợ cho vay chiếm 1,7% tổng dư nợ, thu dịch vụ phí còn nhỏ, tuy nhiên loại hình kinh doanh này mới được triển khai áp dụng nhưng báo hiệu một sự khởi đầu đầy tiềm năng Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và thanh toán quốc tế đã và đang được triển khai tại chi nhánh AGRIBANK Hà Tây.
- Bảng 2.4: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ các năm 2023-2026
Hoạt động kinh doanh ngoại tệ ngày càng được mở rộng, với xu hướng năm sau cao hơn năm trước.
Các chỉ tiêu năm 2026 giảm so với cùng kỳ năm 2025 do một số nguyên nhân sau:
- Do suy giảm kinh tế toàn cầu đã ảnh hưởng đến nền kinh tế Việt Nam, hoạt động kinh doanh xuất nhập khẩu giảm nên thanh toán giảm, thu dịch vụ về thanh toán cũng giảm theo.
- Rủi ro về chính sách: tỷ giá, lãi suất, phí điều vốn,…
- Người đi lao động hợp tác có thời hạn tại nước ngoài bị mất việc làm, thu nhập giảm
Hoạt động dịch vụ nội địa trong những năm qua Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Dịch vụ chuyển tiền nội, ngoại tỉnh: Đây là hình thức chuyển tiền nhanh trong nước, đối tượng áp dụng là mọi thành phần kinh tế trong nước, dịch vụ chuyển tiền trên hiện đang đóng vai trò chủ đạo trong công tác thanh toán của hệ thống NHNo&PTNT.
- Bảng 2.5: Dịch vụ chuyển tiền các năm 2023 – 2026
Dịch vụ ATM: AGRIBANK Hà Tây trong năm qua được NHNo&PTNT Việt Nam trang bị 24 máy rút tiền tự động ATM trên toàn chi nhánh. Đến nay đã mở được trên 72.300 tài khoản cá nhân có nhu cầu sử dụng thẻ ATM, với số dư bình quân tài khoản trên 84 tỷ đồng. Trong tương lai nhu cầu sử dụng thẻ ATM là rất lớn, cần phải mở rộng.
Dịch vụ thanh toán song phương, đây là một hình thức thanh toán được triển khai tại trung khu vực, hình thành thanh toán song phương với NH Công Thương, NH Đầu tư và Phát triển tỉnh Hà Tây, hình thức thanh toán trên đã làm tăng tốc độ thanh toán giữa các ngân hàng mang lại lợi ích cho khách hàng, vốn thanh toán được tập trung tại NHNo&PTNT Việt Nam từ đó đã mang lại ưu thế mạnh cho ngành, giảm thanh toán thủ công qua thanh toán liên ngân hàng…Trong tương lai hình thức thanh toán trên được mở rộng đến các điểm giao dịch của toàn chi nhánh…
Dịch vụ bảo lãnh : Hiện tại NHNo&PTNT tỉnh Hà tây đang thực hiện các dịch vụ bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thực hiện hợp đồng, bảo lãnh phát sinh trong hoạt động thanh toán quốc tế …
2.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG DỊCH VỤ TẠI NHNo & PTNT TỈNH HÀ TÂY Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
2.4.1. Ưu điểm
- Đối với nền kinh tế khu vực(địa phận tỉnh Hà Tây cũ) :
AGRIBANK Hà Tây là chi nhánh Ngân hàng thương mại có màng lưới rộng nhất và thị phần hoạt động lớn nhất, do đó, việc mở rộng và phát triển dịch vụ như nói ở phần trên đã bước đầu đáp ứng được nhu cầu về dịch vụ ngân hàng của các thành phần kinh tế trên địa bàn. Thông qua đó, hoạt động dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây góp phần thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trên địa bàn, thu hút vốn đầu tư, hoạt động du lịch, các hoạt động dịch vụ khác…. Các dịch vụ đa dạng, đặc biệt là thanh toán và chuyển tiền trong nước, chuyển tiền kiều hối,… góp phần hạn chế việc thanh toán bằng tiền mặt, đáp ứng nhu cầu vốn và thanh toán của các doanh nghiệp, hộ gia đình. Đồng thời góp phần thúc đẩy môi trường dịch vụ ngân hàng trên địa bàn tỉnh phát triển. Các doanh nghiệp, hộ gia đình và cá nhân làm quen với các dịch vụ ngân hàng hiện đại, tiện ích.
- Đối với khách hàng của NHNo&PTNT Hà Tây
Việc mở rộng và phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây góp phần nâng cao hiệu quả sử dụng vốn, nâng cao khả năng cạnh tranh, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp, hộ kinh doanh, hộ gia đình. Các hộ gia đình có nguồn thu nhập kịp thời và vững chắc; giảm thiểu rủi ro cho các doanh nghiệp. Các hộ gia đình ở các vùng nông thôn, ngay cả vùng núi và bán sơn địa ở huyện Ba Vì, Mỹ Đức,… đều có thể nhanh chóng nhận được tiền kiều hối do con, em, người thân của mình gửi về tại chi nhánh Ngân hàng nông nghiệp & phát triển nông thôn cấp 3 ngay gần địa phương mình. Ngược lại, các hộ sản xuất có con em đi học tại các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề, đi làm việc xa gia đình,… đều có thể chuyển tiền cho con em ngay tại chi nhánh nói trên hay nhận tiền chuyển từ người thân trong nước. Dịch vụ ngân hàng tiên ích cũng cung cấp kịp thời cho các doanh nghiệp ngay tại các huyện mà không phải về tận các thị xã, hay ra tận Hà Nội để giao dịch.
- Đối với NHNo&PTNT Việt Nam
Là một chi nhánh, một đơn vị trực thuộc hoạt động trên một địa bàn gần sát thủ đô Hà Nội đang trong quá trình đô thị hoá nhanh, chuyển dịch cơ cấu kinh tế mạnh mẽ và hoạt động du lịch phát triển, việc mở rộng và phát triển dịch vụ của AGRIBANK Hà Tây góp phần thực hiện chiến lược phát triển dịch vụ trên địa bàn. Bên cạnh đó cũng góp phần quảng bá thương hiệu của NHNo&PTNT Việt Nam trên địa bàn, nhất là việc đáp ứng các nhu cầu dịch vụ đối với các hộ nông dân, hộ sản xuất kinh doanh, hộ làm kinh tế trang trại, doanh nghiệp vừa và nhỏ nông nghiệp – nông thôn. Kinh doanh dịch vụ tại AGRIBANK Hà Tây qua số liệu cho thấy, hàng năm phát triển bền vững, có bước chuyển biến mới, đã đáp ứng đựơc yêu cầu của NHNo&PTNT Việt Nam .
- Đối với AGRIBANK Hà Tây : Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Nâng cao nhận thức của toàn thể các bộ, nhân viên trong toàn chi nhánh về mở rộng và phát triển dịch vụ trong xu thế hội nhập. Từ nhận thức này, bản thân mỗi cán bộ, nhân viên cũng không ngừng tự mình học tập, trau dồi kinh nghiệm, đổi mới phong cách giao dịch, chủ động trong khâu tiếp thị,… để đáp ứng yêu cầu về dịch vụ của khách hàng và xu thế cạnh tranh ngày càng gia tăng. Các chi nhánh Ngân hàng cơ sở cũng chủ động hơn trong tổ chức thực hiện dịch vụ, trong chiến lược khách hàng, mạnh dạn đầu tư cho dịch vụ,…
Nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ trong toàn chi nhánh. Để triển khai được nghiệp vụ mới, dịch vụ mới, công nghệ mới, cán bộ được tập huấn, đào tạo… Trong quá trình vận hành, thực thi công việc, trình độ cán bộ tiếp tục được nâng lên và hoàn thiện.
Nâng cao khả năng cạnh tranh về hoạt động kinh doanh nói chung và hoạt động dịch vụ của toàn bộ chi nhánh trong toàn tỉnh, thu hút khách hàng và giữ chân khách hàng, nhất là khách hàng truyền thống.
Nâng cao trình độ công nghệ của toàn bộ chi nhánh. Hệ thống máy vi tính, mạng giao dịch, phần mềm và trụ sở giao dịch từ hội sở chính đến các phòng giao dịch đều được trang bị hiện đại, tương đối đồng bộ, khang trang, thuận tiên giao dịch, an toàn và kịp thời.
Mở ra được nhiều dịch vụ mới, như : chuyển tiền kiều hối và chuyển tiền nhanh toàn cầu Western Union, phát hành và thanh toán thẻ, dịch vụ ngân hàng tự động ATM, IPCAS….
Không ngừng mở rộng quy mô thu nhập từ dịch vụ, năm 2026 tăng gấp 2 lần năm 2023. Tất cả các hoạt động thanh toán xuất nhập khẩu, mua bán ngoại tệ, chuyển tiền kiều hối đều có doanh số tăng nhanh qua các năm. Doanh số chi trả kiều hối và chuyển tiền Western Union năm 2026 đã đạt gần 19 triệu USD. Doanh số chuyển tiền năm 2026 tăng gấp gần 2 lần năm 2023. Mặc dù bị cạnh tranh mạnh mẽ bởi các Ngân hàng thương mại trên địa bàn Hà Nội, nhưng doanh số mở L/C hàng nhập và L/C hàng xuất của chi nhánh AGRIBANK Hà Tây nhìn chung đều tăng trưởng qua các năm.
Tuy cơ cấu thu từ dịch vụ trong tổng thu nhập của chi nhánh NHNO&PTNT tỉnh Hà Tây chưa ổn định do nhiều nguyên nhân, nhưng tỷ trọng có xu hướng tăng lên, đó là dấu hiệu tích cực trong chiến lược phát triển dịch vụ của đơn vị.
2.4.2. Nhược điểm Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Hiện nay, AGRIBANK Hà Tây đang tích cực hiện đại hoá các nghiệp vụ ngân hàng với sự trợ giúp của công nghệ thông tin nhằm cung cấp nhiều dịch vụ tiện lợi cho khách hàng. Tuy nhiên so với cả nước thì vẫn ở trình độ trung bình.
Sự đa dạng trong dịch vụ tài chính đã trở nên rất phổ biến trong các ngân hàng hiện đại trên thế giới đến mức người ta gọi là những “bách hoá tài chính” có khả năng cung cấp tất cả các dịch vụ mà khách hàng yêu cầu với số lượng lên đến hàng ngàn sản phẩm cho đủ mọi đối tượng khách hàng. Từ ngày được đổi mới đến nay, tuy đã có nhiều cố gắng để đa dạng nghiệp vụ,đưa ra một số sản phẩm mới,nhưng nhìn chung NHNo Hà Tây mới chỉ đạt được các thành tựu bước đầu rất khiêm tốn so với một Ngân hàng thương mại đa năng trong nền KTTT, nơi mà nhu cầu sử dụng dịch vụ tài chính của dân cư ngày càng đa dạng. Danh mục sản phẩm của NHNo Hà Tây vẫn kiên định với một số nhóm sản phẩm truyền thống cơ bản như nhận tiền gửi, cho vay, chuyển tiền chưa phải là tất cả các dịch vụ tài chính của một tập đoàn đa năng như tư vấn, hỗ trợ đầu tư chứng khoán, bảo hiểm, quản lý tiền mặt, môi giới, bảo quản vật có giá…Đối với sản phẩm truyền thống, NHNo Hà Tây mới đưa ra được những sản phẩm có sự khác biệt riêng cho mỗi nhóm khách hàng lựa chọn. Tài khoản cá nhân chỉ có duy nhất một hình thức với mức lãi suất áp dụng cho tất cả các đối tượng khách hàng. So với các sản phẩm huy động vốn, các sản phẩm tín dụng càng đơn điệu hơn nữa khi chỉ có cho vay cầm cố sổ tiết kiệm, thế chấp sổ đỏ, cho vay tín chấp đối với cán bộ công nhân viên…Thời hạn cho vay và phương thức trả gốc và lãi không đa dạng. Đặc biệt NHNo Hà Tây chưa có một chính sách bán chéo các sản phẩm tài chính, nghĩa là sử dụng nhu cầu của sản phẩm này để tạo ra nhu cầu đối với các sản phẩm khác liên quan, kết hợp sản phẩm ngân hàng với sản phẩm của các tổ chức cung ứng dịch vụ khác.
- Về cơ sở vật chất và trang thiết bị còn hạn chế, nên ảnh hưởng đến mở rộng thị phần kinh doanh.
Hệ thống ATM quá ít về số lượng máy mới chủ yếu được đặt tại trụ sở của chi nhánh ngân hàng. Các chi nhánh ở các huyện có chưa đáng kể.
Hệ thống máy chủ chưa đủ mạnh để mở rộng và phát tiển rộng rãi các sản phẩm phẩm dịch vụ.
Quy trình thủ tục là yếu tố rất quan trọng để thu hút khách hàng vì nó liên quan đến thời gian giao dịch và cảm nhận của khách hàng về chất lượng phục vụ của ngân hàng. NHNo Hà Tây đã có cố gắng rất nhiều để cải tiến quy trình, đưa ra dịch vụ giao dịch một cửa, đơn giản hoá thủ tục tiết kiệm…nhưng quy trình và thủ tục vẫn còn chưa được chuẩn hoá và có sự thay đổi giữa các chi nhánh. Quy trình hiện nay được thiết kế theo sự tiện lợi của ngân hàng hơn là của khách hàng. Một số quy trình được sự hỗ trợ của công nghệ cho phép rút ngắn giảm thiểu thủ tục không cần thiết nhưng lại vướng mắc phải văn bản, chế độ không được phép làm giao dịch khác chi nhánh, thay đổi thông tin khách hàng…Đặc biệt, thủ tục cho vay cá nhân hiện quá rườm rà trong khi số lượng các món vay nhỏ lẻ rất nhiều. Vì lý do trên, nhiều khách hàng có tâm lý ngại khi vay tiền của NHNo Hà Tây mà chuyển sang các Ngân hàng thương mại CP cho thủ tục đơn giản hơn. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Chưa có sự phân đoạn thị trường để có những sản phẩm riêng cho từng nhóm khách hàng riêng biệt. Thị trường Hà Tây là một thị trường rộng lớn với số lượng khách hàng đông đảo thuộc mọi lứa tuổi, mức thu nhập, trình độ học vấn, tâm lý tiêu dùng và tích luỹ. Một chính sách Marketing tốt phải đưa ra chiến lược quản lý khách hàng trong đó việc thực hiện phân đoạn thị trường theo các tiêu chí như vùng địa lý, các yếu tố nhân khẩu học, các yếu tố tâm lý, các yếu tố thuộc thói quen hành vi…Không phải mọi khách hàng đều có nhu cầu như nhau đối với các dịch vụ ngân hàng và mang lại lợi nhuận như nhau cho ngân hàng nên cần có sự phân đoạn để có những chính sách chăm sóc khách hàng phù hợp. Các sản phẩm hiện nay NHNo Hà Tây cung cấp ra thị trường mang tính chất đại trà cho tất cả các khách hàng, không có sự phân biệt tới từng nhóm đối tượng.
Dịch vụ ngân hàng còn đơn điệu, chưa hấp dẫn, chưa tạo thuận lợi và cơ hội bình đẳng cho các khách hàng thuộc các thành phần kinh tế tiếp cận và sử dụng dịch vụ ngân hàng; Hệ thống nghiệp vụ chưa định hướng theo khách hàng, còn nặng về các nghiệp vụ, các dịch vụ truyền thống, các dịch vụ ngân hàng hiện đại mới được đưa vào sử dụng chưa được ngân hàng thực sự quan tâm. Số lượng máy ATM còn ít, các dịch vụ và chính sách hỗ trợ, quảng cáo còn hạn chế, tập quán người dân sử dụng phương tiện chủ yếu là tiền mặt, nên đối tượng chủ yếu chỉ là cán bộ công nhân viên chức và một số khách hàng truyền thống của NHNo&PTNT tỉnh và huyện thị xã.
Chi phí đầu tư phát triển các dịch vụ mới là rất lớn. Ví dụ như dịch vụ ATM, mỗi máy trị giá khoảng 000 USD, tuy nhiên hiệu quả sử dụng lại chưa cao. Hơn nữa các ngân hàng thiếu sự hợp tác với nhau, mỗi ngân hàng theo đuổi một chiến lược riêng đối với cùng loại sản phẩm dịch vụ có nhiều điểm tương đồng, dẫn tới lãng phí trong đầu tư và làm tăng chi phí vận hành cũng như quản lý hệ thống.
- Hệ thống thông tin chưa thực sự có hiệu quả, bao gồm cả thu thập và xử lý thông tin
- Các dịch vụ mới đưa ra chỉ có thể cung cấp cho một số đối tượng khách hàng, ở một vài địa bàn nhất định chứ không thể phát triển rộng khắp và đồng đều trong thời gian ngắn do sự phát triển không đồng đều giữa các địa phương
- Thị phần của NHNo Hà Tây còn thấp và chưa xứng với tiềm năng. Với danh tiếng sẵn có và ưu thế mới do công nghệ hiện đại mang lại, NHNo Hà Tây đã chiếm được một số thị phần nhất định nhưng NHNo Hà Tây vẫn còn bỏ ngỏ sân chơi của mình ở nhiều lĩnh vực như: cho vay ngoại tệ, kiều hối…
- Tỷ lệ thu dịch vụ phi tín dụng vẫn là quá nhỏ so với thu từ các nghiệp vụ khác và so với tiềm năng phát triển của chi nhánh.
Hoạt động quản trị và điều hành chưa theo hướng ngân hàng kinh doanh hiện đại. Hoạt động quản trị và điều hành của chi nhánh Ngân hàng Nông nghiêp và Phát triển nông thôn Hà Tây mặc dù đã có những cải tiến đáng kể, nhưng vẫn chưa phải là mô hình quản lý hướng vào khách hàng. Việc quản lý được thực hiện theo từng nghiệp vụ kinh doanh, chưa theo nhóm khách hàng nên việc nắm bắt nhu cầu khách hàng để phát triển sản phẩm, dịch vụ cũng như phát triển ra thị trường mới còn hạn chế. Sự phối hợp giữa các bộ phận quản lý, các phòng nghiệp vụ còn chưa đồng bộ, nhịp nhàng, gây phiền hà, mất thời gian cho khách hàng. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
2.4.3. Nguyên nhân của tồn tại
2.4.3.1. Nguyên nhân khách quan
- Môi trường kinh tế – công nghệ:
Nhìn nhận một cách toàn diện, sự ổn định và phát triển nền kinh tế-xã hội là điều kiện tiên quyết và quan trọng nhất đối với mọi tăng trưởng nói chung và đối với việc phát triển các đơn vị ngân hàng nói riêng.
Trên thế giới tình hình kinh tế có nhiều biến động phức tạp. Những tháng đầu năm 2026 giá dầu thô và nhiều loại vật tư, lương thực đột biến tăng cao; sự suy yếu của thị trường tài chính, đồng đô la Mỹ mất giá, kinh tế của Mỹ giảm sút đã ảnh hưởng lan rộng đến các nền kinh tế khác. Trong những tháng gần đây, cuộc khủng hoảng tài chính thế giới ngày càng lan rộng, diễn biến phức tạp, chưa có dấu hiệu ổn định. Mức độ trầm trọng của khủng hoảng tài chính toàn cầu và chiều hướng suy thoái của kinh tế thế giới tác động nhiều mặt đặc biệt về xuất khẩu, đầu tư trực tiếp và gián tiếp, du lịch… Điều đó gây xáo trộn lớn trong đời sống kinh tế xã hội các nước, nhất là các nước đang và kém phát triển phụ thuộc nhiều vào nhập khẩu nguyên, nhiên vật liệu.
Trong nước nền kinh tế còn nhiều khó khăn thách thức. Cuối năm 2024, khi cả nước đang say sưa với những thắng lợi kinh tế được cho là cao nhất trong 10 năm lại đây và đưa ra những mực tiêu rất cao cho năm 2025 là tăng trưởng GDP 8,5 – 9%, lạm phát ở mức 11 – 12%. Tuy nhiên, những mục tiêu tăng trưởng đó đã không thực hiện được khi nền kinh tế thế giới có biến động xấu. Ảnh hưởng lạm phát kéo dài đối với các doanh nghiệp, đời sống người lao động còn nhiều khó khăn. Tình hình rét đậm, rét hại kéo dài ở các tỉnh phía Bắc, ngập lụt gây ảnh hưởng đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm sức mua của nông dân… Khủng hoảng tài chính thế giới đang tác động tiêu cực vào kinh tế Việt Nam, nhất là trong những tháng cuối năm 2025, thể hiện rõ nét nhất là suy giảm tốc độ tăng trưởng sản xuất công nghiệp, suy giảm tốc độ tăng trưởng xuất khẩu từ tháng 9/2025. Tăng trưởng kinh tế (GDP) 2025 tăng 6,23%. Kim ngạch xuất khẩu hàng hoá cả nước ước đạt xấp xỉ 63 tỷ USD, tăng trên 29,5% so với năm 2024, nhập siêu giảm ước đạt 17 tỷ USD với tỷ lệ nhập siêu/xuất khẩu là 27%, giảm so với năm 2024 (năm 2024 là 29,1%).
Ngay từ cuối năm 2025, tác động của cuộc khủng hoảng tài chính tại Mỹ đã lan rộng ra khắp thế giới. Với các quốc gia mà tăng trưởng kinh tế phụ thuộc nhiều vào vòng quay của nguồn vốn trên thị trường tài chính như Mỹ, EU, Nhật Bản…đã nhanh chóng chuyển thành suy thoái kinh tế. Bước sang năm 2026, nỗ lực của các quốc gia nói trên chủ yếu là tập trung vào việc ngăn chặn đà suy thoái và từng bước phục hồi kinh tế.Điểm nổi bật trong năm 2026 là các nền kinh tế lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Trung Quốc, Hàn Quốc… đã tung ra những gói kích thích kinh tế rất lớn để có thể nhanh chóng phục hồi kinh tế. Thực tế cho thấy những biện pháp cấp bách và thiết thực này đã khắc phục được những khó khăn trước mắt và đưa nền kinh tế thế giới thoát khỏi suy thoái. Nhưng mặt trái của các chính sách này – chính sách tiền tệ nới lỏng – đã tạo ra nguy cơ lạm phát trong tương lai cũng như quan ngại đồng đô la tiếp tục mất giá đã ảnh hưởng đến yếu tố bền vững trong quá trình phục hồi.
Môi trường xã hội Việt Nam những năm gần đây khá ổn định là do người dân hoàn toàn tin tưởng vào Chính phủ, vào các ngân hàng. Tuy nhiên, dư âm của cuộc khủng hoảng tài chính thế giới vẫn còn dai dẳng, nguy cơ lạm phát vẫn tiềm ẩn nên người dân không muốn gửi tiền dài hạn vào ngân hàng, làm cho nguồn vốn huy động từ dân trở nên mất cân đối khi tỷ trọng vốn trung-dài hạn rất thấp. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Việc trao đổi hàng hoá vẫn phổ biến ở mức nhỏ, lẻ, chi tiêu hàng ngày của người dân diễn ra ở chợ, ngoài đường. Người ta không thể sử dụng thẻ ATM để thanh toán cho một mớ rau hay lạng thịt. Vì thế, chưa có công cụ thanh toán không dùng tiền mặt nào có thể xâm nhập thực sự vào đời sống dân cư.
Công nghệ là yếu tố tiên quyết nhưng công nghệ ngân hàng chưa đồng bộ, hiện đại để cung cấp sản phẩm, dịch vụ tiện ích Ngân hàng có chất lượng cao cho khách hàng.
Việc tiếp nhận công nghệ mới, sản phẩm mới của cán bộ cấp cơ sở còn nhiều hạn chế, nhận thức kinh doanh trong hoạt động Ngân hàng chỉ đơn thuần là kinh doanh nguồn vốn và tín dụng, chưa thấy được sự hỗ trợ to lớn của các dịch vụ đối với công tác kinh doanh nguồn vốn và tín dụng. Đội ngũ cán bộ chưa được đào tạo bài bản các kiến thức về sản phẩm dịch vụ.
- Môi trường pháp lý:
Hiện nay chính phủ vẫn đang tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp lý, nhằm mục tiêu tạo hành lang hoạt động tốt nhất cho các doanh nghiệp. Tuy nhiên vì mới xây dựng nên hệ thống pháp lý của nước ta còn nhiều thiếu sót, nhiều điểm chưa đầy đủ theo thông lệ quốc tế. Để gia nhập WTO Việt Nam cần phê chuẩn một công ước quốc tế, xây dựng và sửa đổi hơn 20 điều luật, pháp lệnh cho phù hợp với 16 hiệp định chính của WTO. Hệ thống luật pháp Việt Nam chưa đầy đủ là một hạn chế lớn đối với tất cả các doanh nghiệp. Các thủ tục hành chính còn rườm rà gây cản trở cho kế hoạch phát triển của doanh nghiệp, luật pháp về lĩnh vực ngân hàng tài chính còn chưa đầy đủ khiến các ngân hàng thương mại trong nước thu thiệt khi cạnh tranh với các ngân hàng quốc tế. Những vướng mắc trong thủ tục đăng ký giao dịch bảo đảm và việc xử lý tài sản bảo đảm nợ vay…đã và đang ảnh hưởng tiêu cực đến kế hoạch phát triển dịch vụ ngân hàng. Việc xây dựng hệ thống pháp lý phù hợp với môi trường và cam kết với tổ chức thương mại thế giới WTO không chỉ đơn thuần là hội nhập kinh tế quốc tế, mà nó còn là điều kiện tối quan trọng để phá triển nền kinh tế một cách an toàn, bền vững mạnh mẽ mà vẫn dữ được bản sắc dân tộc. Hơn nữa ngân hàng tài chính là một ngành đặc thù, có ảnh hưởng đến nhiều ngành nghề khác của nền kinh tế, vì vậy hoàn thiện hệ thống luật pháp về ngân hàng là yêu cầu cấp thiết cần được xem xét thấu đáo.
Môi trường ứng dụng Công nghệ thông tin vào các hoạt động nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng còn nhiều bất cập: Một trong những nguyên nhân quan trọng dẫn đến hạn chế là nền kinh tế của chúng ta đang trong thời kỳ chuyển đổi và đi liền với nó là sự hoàn thiện dần các qui định của luật pháp trong đó có sự hoàn thiện luật pháp về ngân hàng, các luật liên quan. Sự chuyển đổi nền kinh tế sang cơ chế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa là vấn đề mới, kinh nghiệm của chúng ta chưa có nhiều. Do đó, để sự chuyển đổi này đảm bảo được yêu cầu ổn định và phát triển bền vững chúng ta phải thận trọng vừa làm, vừa học, vừa rút kinh nghiệm. Vì vậy, những qui định cho việc ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại vào hoạt động thanh toán chưa thay đổi kịp, phải nghiên cứu, từng bước áp dụng phù hợp với điều kiện của Việt Nam như các vấn đề về in ấn, lưu trữ chứng từ điện tử, giao dịch điện tử, chữ ký điện tử, giao dịch một cửa, Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
- Từ phía khách hàng:
Khách hàng của NHNo Hà Tây số đông là nông dân. Cùng với việc môi trường kinh tế-xã hội của Việt Nam còn lạc hậu hơn so với các nước trên thế giới, những thói quen, điều kiện thu nhập của người dân ở đây cũng là một nhược điểm lớn ngăn cản sự phát triển của dịch vụ ngân hàng.
Nhiều người dân chỉ biết đến ngân hàng đơn thuần như một nơi nhận tiền và cho vay mà chưa biết đến các chức năng khác. Thói quen tiêu dùng tiền mặt vẫn là phổ biến. Tiền mặt ngoài hệ thống ngân hàng còn rất lớn, thủ tục gửi, rút tiền chưa thực sự hấp dẫn. Thói quen giữ tiền tại nhà cho tiện việc sử dụng còn xuất phát từ nền kinh tế nông nghiệp lâu đời, hạn chế giao lưu sản phẩm, hàng hoá, giao lưu thương mại. Người dân muốn bất cứ cái gì cũng có sẵn trong nhà, khi cần sử dụng là có ngay. Trình độ dân trí thấp làm cho người dân luôn thấy rằng thủ tục gửi rút tiền ở ngân hàng là quá rườm rà, phức tạp, tốn thời gian. Hơn nữa để tiền tại nhà có nhiều thuận lợi cho tiêu dùng hàng ngày, lại có thể nhanh chóng chuyển tiền mặt thành các tài sản khác khi đồng tiền có nguy cơ mất giá.
Một số người dân có tiền nhàn rỗi nhưng vẫn không gửi vào ngân hàng để lấy lãi do tâm lý sợ trượt giá của đồng tiền. Đặc biệt là trong mấy năm vừa qua, đồng Việt Nam mất giá nhiều so với dollar Mỹ, với hàng hoá, kim loại quý. Vì vậy nhiều người dân đổi tiền ra vàng hoặc bất động sản để cất giữ.
Tâm lý chỉ thích dùng tiền của mình, ngại vay mượn, nợ nần của người dân còn làm hạn chế sản phẩm tín dụng tiêu dùng, sản phẩm thẻ tín dụng.
- Sự cạnh tranh gay gắt của các tổ chức tín dụng khác:
Vài năm gần đây, các Ngân hàng thương mại VN đang tăng tốc cạnh tranh với việc tổng hợp hàng loạt các phương thức khác nhau nhằm thu hút khách hàng, không chỉ bằng lãi suất, khuyến mại, mở rộng mạng lưới mà còn cạnh tranh đầu tư cho công nghệ, hiện đại hoá giao dịch đến marketing, thái độ phục vụ.Như vậy, cạnh tranh là xu hướng tất yếu và ảnh hưởng không nhỏ đến hoạt động của AGRIBANK Hà Tây.
Phát triển dịch vụ từ lâu đã là hướng đi của các Ngân hàng thương mại CP. Thời kỳ khó khăn của hầu hết các Ngân hàng thương mại CP đã qua đi, giờ đây họ đã có những chiến lược rõ ràng và có những bước đi khá bài bản.
2.4.3.2. Nguyên nhân chủ quan
- Chất lượng nguồn nhân lực: Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Con người là nhân tố vô cùng quan trọng giữ vai trò chủ đạo trong việc thành công hay thất bại của bất cứ hoạt động gì. Hiện nay AGRIBANK Hà Tây có biên chế có 851 cán bộ, trong đó nam chiếm 39%, cán bộ nữ chiếm 61%, tuổi đời bình quân là 42, nhưng tỷ lệ tốt nghiệp đại học thấp so với các ngân hàng khác trong khu vực. Tuy nhiên, vấn đề bất cập còn thể hiện ở hai hướng: một bộ phận cán bộ có thâm niên và kinh nghiệm công tác nhưng có phong cách làm việc cũ từ thời bao cấp để lại, có tâm lý ngại tiếp cận với cái mới, ngại thay đổi; một bộ phận cán bộ trẻ mới tuyển thì năng động và chịu khó học hỏi, dễ thích nghi và nắm bắt những công nghệ mới nhưng lại thiếu kinh nghiệm thực tế và chưa qua đào tạo nghiệp vụ quản lý. Trình độ cán bộ chưa đồng đều, chưa thực hiện hiệu quả cao khi triển khai các dịch vụ, tiện ích Ngân hàng hiện đại. Nhận thức của một bộ phận cán bộ nhân viên về tầm quan trọng của việc phát triển dịch vụ chưa đầy đủ, từ đó dẫn đến tâm lý chung là ngại tiếp xúc với những khách hàng ít sử dụng dịch vụ ngân hàng, những cá nhân trình độ không cao.
Đối với những nhân viên giao dịch quầy trực tiếp với khách hàng thì vẫn chưa được qua đào tạo để trở thành những người bán hàng chuyên nghiệp. Việc “bán hàng” ở AGRIBANK Hà Tây mới chỉ dừng lại ở chỗ ngồi chờ khách hàng đến một cách thụ động, cung cấp những sản phẩm mình có sẵn và chỉ tập trung đúng quy chế một cách cứng nhắc, đủ để đảm bảo an toàn cho ngân hàng. Như vậy, người bán hàng chưa ý thức được tầm quan trọng của khách hàng-những “thượng đế” trong cơ chế thị trường, chưa được đào tạo về kỹ năng giao tiếp, nghệ thuật giữ chân khách hàng và bán chéo sản phẩm.
- Phong cách phục vụ khách hàng:
Phong cách phục vụ khách hàng chưa kịp đổi mới:”một nguyên nhân quan trọng hạn chế đến phát triển các sản phẩm dịch vụ, trực tiếp ảnh hưởng là các dịch vụ huy động vốn hiện nay đó là phong cách phục vụ chưa chuyên nghiệp của cán bộ giao dịch huy động vốn, có thể thấy rất rõ sự chênh lệch này so với các ngân hàng cổ phần hoặc thậm chí chi nhánh ngân hàng thương mại nhà nước, đồng thời cũng chưa có chính sách đồng bộ về tiếp thị khách hàng, đặc biệt là “khách hàng chiến lược”. Ngân hàng chuyển sang kinh doanh theo cơ chế thị trường cần thay đổi phong cách giao dịch, phục vụ khách hàng để thu hút khách hàng nhằm duy trì thị trường và mở rộng thị trường. Tại Chi nhánh vấn đề phong cách phục vụ khách hàng chưa thay đổi kịp do cần sự thống nhất trong toàn bộ chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây. Hiện tại đề án xây dựng văn hoá doanh nghiệp tại chi nhánh mới được tổ chức ở trụ sở chính và chưa có điều kiện thực hiện phổ biến,đào tạo,tập huấn tại các chi nhánh huyện, thị.
- Nguồn lực tài chính của ngân hàng: Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
Để phát triển tốt dịch vụ ngân hàng, AGRIBANKVN phải có những thay đổi về cấu trúc tổng thể,phải có đầu tư mạnh tay cho công nghệ. Là một trong 4 Ngân hàng thương mại NN lớn nhất Việt Nam, được sự hỗ trợ nhiều từ phía Nhà nước nhưng mức vốn điều lệ vẫn còn rất thấp so với các ngân hàng khu vực và quốc tế. Với nguồn lực tài chính hạn hẹp, AGRIBANKVN – Chi nhánh Hà Tây không thể mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ một cách đồng loạt trong khi các chi nhánh ngân hàng nước ngoài ở Việt nam đang có một thế lực mạnh hậu thuẫn cho mình, đó chính là những ngân hàng mẹ với công nghệ tiên tiến và nguồn vốn dồi dào.
Cho đến nay, so với các Ngân hàng thương mại ở Việt nam thì AGRIBANK nói chung và AGRIBANK Hà Tây nói riêng là ngân hàng có tốc độ đổi mới khoa học công nghệ tương đối chậm. Nguồn lực về vốn còn gây sức ép lên hoạt động dịch vụ ngân hàng khi có một số sản phẩm mới đã có kế hoạch xây dựng xong, nhưng chưa đủ cơ sở hạ tầng và khả năng tài chính nên việc triển khai sản phẩm còn kéo dài hàng năm trời.
- Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng:
- Chưa đa dạng hoá sản phẩm, dịch vụ để thu hút khách hàng.
- Môi trường tín dụng, thanh toán chưa phát triển cản trở sự phát triển dịch vụ ngân hàng.
Công tác tiếp thị, quảng bá thương hiệu và sản phẩm của AGRIBANK còn nhiều hạn chế, những thông tin về sản phẩm dịch vụ ngân hàng còn ít, khách hàng chưa nắm được, chưa tiếp cận được. Chưa giới thiệu được cho đại bộ phận dân chúng thấy những tiện ích khi sử dụng dịch vụ Ngân hàng từ đó đi đến thói quen sử dụng các dịch vụ Ngân hàng như một nhu cầu của cuộc sống.
- Mạng lưới hoạt động tuy rộng nhưng chưa đủ mạnh, do vậy khả năng cạnh tranh là chưa cao.
- Việc phân đoạn, phân loại thị trường và khách hàng chưa được quan tâm. Công tác điều tra và đánh giá khách hàng chưa được chú trọng.
Chi nhánh Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Hà Tây chưa thực sự tập trung đầu tư cho việc phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại; chưa thực sự tập trung đầu tư cho chiến lược phát triển các sản phẩm công nghệ thông tin đúng mức, chưa có sự chỉ đạo thống nhất xuyên suốt, quan tâm đúng mức trong hệ thống.
Sự phát triển ứng dụng công nghệ thông tin chưa thực sự dựa trên những định hướng kinh doanh cụ thể hoặc nếu có thì cũng chỉ coi là những công việc mang tính chất trước mắt, phát sinh rồi mới đưa ra yêu cầu. Đây cũng là nguyên nhân dẫn đến hệ thống thanh toán điện tử hoạt động chưa có tính chuẩn tắc, tích hợp và tự động cao và chưa mở rộng được phát triển các sản phẩm dịch vụ. Khóa luận: Thực trạng phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp phát triển dịch vụ NH tại Agribank Hà Tây


Pingback: Khóa luận: Phát triển dịch vụ ngân hàng tại Agribank Hà Tây