Chia sẻ chuyên mục Đề Tài Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên hay nhất năm 2023 cho các bạn học viên ngành đang làm Khóa luận tốt nghiệp tham khảo nhé. Với những bạn chuẩn bị làm bài luận văn tốt nghiệp thì rất khó để có thể tìm hiểu được một đề tài hay, đặc biệt là các bạn học viên đang chuẩn bị bước vào thời gian lựa chọn đề tài làm luận văn thì với đề tài: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở huyện Thủy Nguyên dưới đây chắc chắn sẽ giúp cho các bạn học viên có cái nhìn tổng quan hơn về đề tài sắp đến.
2.1- KHÁI QUÁT VỀ HUYỆN THUỶ NGUYÊN
2.1.1- Điều kiện tự nhiên
2.1.1.1- Vị trí địa lý
Thủy Nguyên là một huyện nằm ở phía Bắc của thành phố Hải Phòng, trong giới hạn tọa độ 20°55’- 21o02’ vĩ độ Bắc và 106o33’- 106°45’ kinh độ Đông, diện tích 242,8km²(2004). Trên Bản đồ hành chính Hải Phòng, huyện Thủy Nguyên giống như một quả tim lớn, phía Bắc giáp tỉnh Quảng Ninh, phía Tây giáp tỉnh Hải Dương, phía Nam giáp quận Hải An và nội thành Hải Phòng. Chiều dài của huyện từ Trại Sơn (An Sơn) đến bến Rừng (Tam Hưng ) là 23km, chiều rộng từ bến Bính đến cầu Đá Bạc 15 km. Quốc lộ số 10 chạy dọc huyện nối liền Hải Phòng với thị xã Quảng Yên và thị xã Uông Bí (Quảng Ninh). Trên con đường này có nhiều cây cầu lớn như cầu Bính dài 1.280m, cầu Kiền dài 1.186m, cầu Đá Bạc dài 700m và cầu Giá dài 300m.
Hiện nay, huyện Thủy Nguyên có 37 đơn vị hành chính gồm : 2 thị trấn Minh Đức, Núi Đèo và 35 xã : Gia Minh, Gia Đức, Minh Tân, Trung Hà, Ngũ Lão, Hoà Bình, Thuỷ Đường, Thiên Hương, Hoa Động, Lâm Động, Hoàng Động, Tam Hưng, Phục Lễ, Phà Lễ, Lập Lễ, Thuỷ Triều, Thuỷ Sơn, An Lư, Tân Dương, Dương Quan, Liên Khê, Lưu Kỳ, Kỳ Sơn, Lưu Kiếm, Chính Mỹ, Quảng Thanh, Kênh Giang, Đông Sơn, Mỹ Đồng, Lại Xuân, An Sơn, Phù Ninh, Hợp Thành, Cao Nhân, Kiền Bái.
2.1.1.2- Khí hậu Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Khí hậu Thủy Nguyên mang tính nhiệt đới, nóng ẩm và gió mùa do sự chi phối của hoàn lưu gió mùa Đông Nam Á, đặc biệt là không khí cực đới nên khí hậu ở đây chia làm hai mùa rõ rệt. Mùa hạ nóng ẩm mưa nhiều kéo dài từ tháng 5 đến tháng 9. Mùa đông lạnh gần trùng vào mùa ít mưa từ tháng 11 đến tháng 3. Hai tháng 4 và 10 là hai tháng giao mùa. Sự phân chia mùa của khí hậu đẫn đến sự phân chia mùa trong hoạt động du lịch. Mùa đông giá rét hạn chế đến việc thu hút khách du lịch. Khí hậu Thủy Nguyên bị chi phối sâu sắc bởi khí hậu của biển, làm giảm bớt nhiệt độ và độ ẩm, nhất là khu vực ven biển.
Bức xạ nhiệt :
- Lượng bức xạ tại Thủy Nguyên đạt 220 đến 230 Kcal/cm², cực đại là 13-15h hàng ngày.
- Tổng lượng bức xạ trung bình hàng ngày đạt 600Kcal/cm².
- Cân bằng bức xạ hàng năm chỉ đạt số dương 65 -70 Kcal/cm².
Điều đó tạo điều kiện thuận lợi để phát triển loại hành du lịch nghỉ dưỡng và tắm chữa bệnh.
Nhiệt độ không khí:
- Tại Thủy Nguyên tổng lượng nhiệt bình quân cả năm đạt 8500°C. Nhiệt độ trung bình hàng năm từ 23°C -24°C,cao nhất à 38°C và thấp nhất là 5°C.
- Chế độ nhiệt phân thành hai mùa rõ rệt, mùa đông lạnh từ tháng 11 đến tháng 3, mùa hạ từ tháng 5 đến tháng 9, nhiệt độ trung bình trên 25°C.
Đây là điều kiện thuận lợi cho việc phát triển du lịch.
Gió:
- Từ tháng 12 đến tháng 4 là gió Đông Nam chiếm ưu thế, tốc độ gió trung bình đạt từ 5,4 – 5,9m/s.
- Từ tháng 9 đến tháng 10 là gió Bắc và Đông Bắc thổi mạnh, tốc độ trung bình từ 5,6 đến 6,3m/s. Sự có mặt của gió mùa Đông Bắc đã gây cản trở cho việc kéo dài thời gian hoạt động du lịch.
Mưa và độ ẩm:
- Lượng mưa trung bình năm là 162mm, năm cao nhất đạt 1700mm.
- Độ ẩm không khí bình quân đo được là khoảng 82 -85%.
2.1.1.3- Địa hình
Địa hình Thủy Nguyên chia làm 3 vùng: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Vùng núi đá vôi – đá silic ở phía bắc huyện, được ngăn cách với các vùng khác bởi con sông Giá, chạy liên tiếp từ Trại Sơn – Doãn Lại đến Minh Tân – Minh Đức, chiếm diện tích 950 ha.
Vùng núi đá sa thạch trải dài từ An Sơn – Phù Ninh qua Kỳ Sơn – Chính Mỹ tới Thủy Đường – Ngũ Lão,tiếp cận với bến Rừng, xen kẽ nhiều gò bãi, cánh đồng cát pha và thịt nhẹ, chiếm diện tích 1714 ha.
Vùng đồng bằng phía đông nam màu mỡ trải dài từ Hợp Thành – Cao Nhân tới Lâm Động – Tân Dương, Tam Hưng – Lập Lễ.Ngoài đất thịt (nặng và trung bình) phù hợp với việc trồng cây lương thực,cây ăn quả, rau màu,còn có loại đất mặn ven các triền sông Cấm, sông Bạch Đằng thích hợp với các loại cây cói, sú,vẹt và nhiều loại hải sản khác.
2.1.1.4- Thuỷ văn
Thủy Nguyên như một hòn đảo nằm trong vòng ôm của những dòng sông. Phía Bắc và Đông là sông Đá Bạc và Bạch Đằng. Phía Tây là sông Kinh Thầy và sông Hàn Mấu. Phía Nam là sông Cấm. Nằm ngang huyện là sông Giá, nay đã trở thành hồ, với trữ lượng nước trên 3 triệu km³ chạy dài từ Đông sang Tây. Trong nội địa vùng đất còn có một hệ thống kênh mương chạy chằng chịt. Các dòng sông chính chảy qua phần đất Thuỷ Nguyên đều là phần hạ lưu và chi lưu cuối cùng của hệ thống sông Thái Bình, gồm: sông Bạch Đằng (30km), sông Kinh Thầy (27km), sông Hàn (8km), sông Ruột Lợn (5km) và sông Gía. Đặc biệt, sông Bạch Đằng là nơi ghi dấu những chiến công lừng lẫy trong lịch sử đấu tranh của dân tộc (năm 939 Ngô Quyền đánh quân Nam Hán, năm 1288 chiến thắng Nguyên – Mông).
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2.1.2- Lịch sử
Thuỷ Nguyên là vùng đất cổ, ban đầu được gọi là Nam Triệu Giang, nằm trong vùng An Biên do nữ tướng Lê Chân cai quản. Từ thế kỷ XV được gọi là huyện Thủy Đường thuộc phủ Tân An, châu Đông Triều. Đến triều vua Đồng Khánh(1886) do kiêng tên huý đã đổi tên thành Thuỷ Nguyên. Đến đời vua Duy Tân (1908) đưa về thuộc tỉnh Kiến An, sau đó được sát nhập vào Hải Phòng. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Từ lịch sử xa xưa, Thủy Nguyên là nơi trung gian quá cảnh đi nhiều vùng miền khác nhau bằng cả đường bộ và lẫn đường thủy. Qua các di chỉ khảo cổ cho thấy nơi đây nằm trên đường đi lại của buôn bán giao lưu giữa khu vực chợ Vân Đồn và các thương nhân vùng Đông Á và Đông Nam Á. Lịch sử Trung Quốc ghi lại các tổng Yên Khoái, Vạn Ninh huyện Nghiêu Phong (Cát Hải) dùng thuyền đi lại thông thương với các miền Mỹ Giang ( hồ Sông Giá ), tỉnh Hải Dương và Khâm Châu (tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc). Thưở ấy, Thủy Nguyên đã hình thành một hệ thống chợ khá sầm uất, đặc điểm khác biệt lớn nhất là các chợ này đều gần sông rất thuận tiện cho việc giao lưu trao đổi hàng hóa như : chợ Giá, chợ Tổng, chợ Phục, chợ Chiều (Mỹ Sơn)…
Đời vua Hùng thứ VI, Nhà nước Văn Lang bị giặc Ân xâm phạm. Hai anh em Vũ Hồng, Vũ Lê Thị Hoa đã cùng nhân dân Thanh Lãng (Quảng Thanh)tham gia đánh đuổi quân thù. Đến đời Hùng Duệ Vương, nhân dân Thủy Nguyên dưới sự chỉ huy của Phạm Hoằng, Cao Thế, cũng đóng góp nhiều công lao to lớn.Năm 40, cuộc khởi nghĩa Mê Linh do Trưng Trắc-Trưng Nhị lãnh đạo, cả ba anh em họ Trương (Liên Khê) tham dự. Viên quan lang họ Đỗ với sự hỗ trợ của Sĩ Quyền và nhân dân Đông Lý, Thái Lai đã tham dự vào sự nghiệp cứu nước oai hùng ngày ấy…
Trong kỷ nguyên đầu của đất nước, chính trên dòng sông Bạch Đằng đã diễn ra 3 trận chiến đánh đuổi quan xâm lược, trong đó phải kể đến trận đánh của Ngô Quyền (năm 938).
Từ sau ngày thành lập Đảng Cộng sản Việt Nam, Thủy Nguyên trở thành một cơ sở hoạt động của cách mạng. Nhiều tài liệu sách báo bí mật được thủy thủ đưa từ nước ngoài về qua Cảng, và Thủy Nguyên đã trở thành cầu nối hai trung tâm cách mạng Hải Phòng – Hòn Gai. Năm 1940, Chi bộ Đảng cộng sản được thành lập ở Dưỡng Động, khi Việt Minh phát triển mạnh Thủy Nguyên thì phong trào cách mạng ở đây trở nên sâu rộng. Ngày 16/8/1945, trên 1000 quần chúng cách mạng đã chiếm huyện lỵ ở Trịnh Xá giành chính quyền.
Trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, nhân dân Thủy Nguyên đã lập nhiều chiến công mới. Ngày 25/10/1948, với chiến dịch phá tề trừ gian, tấn công đồn giặc, phát động chiến tranh du kích đã đưa toàn bộ huyện Thủy Nguyên đứng lên đánh giặc, dân chúng vác cờ đi diễu phố, đàn bà cầm đòn gánh đi đánh Tây”(Cứu quốc 6/12/1948) là một sự kiện lịch sử đáng ghi nhớ. Trong vòng gần 3 năm (1948 – 1951), Thủy Nguyên đã phá hàng trăm cuộc càn quét của giặc, bẻ gãy nhiều cuộc tấn công có quy mô lớn của chúng. Trong thời gian 300 ngày tập kết đảng bộ và nhân dân Thủy Nguyên lại tiếp tục đấu tranh với địch trên nhiều lĩnh vực, bảo vệ thành quả của 9 năm khánh chiến anh dũng.
Sau hơn 10 năm xây dựng hòa bình, ngày 23/8/1965, bom đạn giặc Mỹ lại trút xuống Thủy Nguyên. Cũng từ đó quy mô cuả cuộc chiến tranh phá hoại ngày càng trở nên ác liệt. Từ Lâm Động, Hoàng Động, Tân Dương đến cầu Đá Bạc, cầu Giá, bến Kiền, bến Bính …trở thành mục tiêu của kẻ thù. Dưới sự lãnh đạo của các cấp Đảng,quân và dân Thủy Nguyên đã anh dũng chiến đấu hạ 5 máy bay địch, cùng với bộ đội hạ 58 chiếc khác, bắt sống 3 giặc lái, phá hàng trăm bom nổ chậm, bảo đảm giao thông thông suốt. Xã Phục Lễ – đơn vị anh hùng và các anh hùng quân đội Nguyễn Huy Hồng, Đinh Văn Rí, Lương Văn Mượt …là những tấm gương sáng của Thủy Nguyên [1]. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
2.1.3- Điều kiện kinh tế – xã hội
2.1.3.1- Dân cư
Vùng đất Thủy Nguyên được hình thành từ rất sớm, dân cư sống tại mảnh đất này có mặt từ xa xưa. Những di chỉ khảo cổ học tìm thấy mộ cổ Việt Khê (Phù Ninh) được khai quật vào năm 1962 có niên đại khoảng 2500 năm.
Di chỉ khảo cổ học Tràng Kiên (thị trấn Minh Đức) có niên đại khoảng 3000+/-100 năm. Đây là di chỉ cư trú và công xưởng chế tác đồ đá của những người cổ xưa, di vật còn lại gồm: đồ gốm, công cụ đá, đồ trang sức bằng đá quý, đồ đồng phản ánh sự tiến bộ về kỹ thuật của người Việt cổ. Từ đó đến nay cùng với lịch sử, cộng đồng dân cư Thủy Nguyên không ngừng phát triển.
Theo điều tra dân số của huyện Thủy Nguyên năm 2004 có 284.400 người, mật độ dân số là 1171 người/km². Như vậy huyện Thủy Nguyên là huyện có mật độ dân số cao của Hải Phòng.
Từ xa xưa, con người Thủy Nguyên đã là những trai tài, gái đẹp, duyên dáng thông minh nổi tiếng khắp vùng. Sự phong phú đa dạng về địa hình đã tạo cho con người Thủy Nguyên có khả năng phát triển về mọi mặt, dễ dàng khắc phục những khó khăn của cuộc sống cũng như nhanh chóng thích nghi với môi trường sống hiện đại.
Điều kiện đất đai khí hậu đã giúp cho con người Thủy Nguyên không chỉ giỏi về làm nông nghiệp, nghề làm rừng, làm vườn, nghề chài lưới mà còn thông thạo các nghề thủ công, thương mại, máy móc công nghiệp hiện đại.
Con người Thủy Nguyên với truyền thống yêu quê hương đất nước nồng nàn gắn với tình cảm xóm làng sâu nặng, người dân nơi đây luôn gắn bó đoàn kết lại để vượt qua khó khăn trở ngại trong cuộc sống. Hơn nữa với lòng hiếu khách cộng với bản tính lương thiện thật thà của người dân đất Việt nói chung và người dân Thủy Nguyên nói riêng luôn làm cho du khách cảm thấy gần gũi thân quen khi đến tham quan du lịch nơi đây.
2.1.3.2- Kinh tế – xã hội Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Ngày nay,Thủy Nguyên đã có nhiều sự thay đổi đáng kể. Nhiều công trình công nghiệp, dân dụng mọc lên san sát, đường sá được nâng cấp, mở rộng, đời sống nhân dân ngày một cải thiện. Một chiếc áo với những gam màu mới đang khoác lên mình huyện Thuỷ Nguyên, mở ra một hướng phát triển mới, một diện mạo mới với vị thế của một trong những trung tâm đô thị hành chính của thành phố Cảng trong tương lai không xa theo quy hoạch điều chỉnh của thành phố Hải Phòng đến năm 2020.
Tận dụng tối đa các thế mạnh của một vùng đất giàu tiềm năng kinh tế, đa dạng về ngành nghề, Thuỷ Nguyên đã nắm bắt thời cơ, khai thác tối đa những tiềm năng sẵn có. Trên cơ sở đó, nhanh chóng xác định các ngành kinh tế mũi nhọn để đầu tư phát triển, tích cực chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy tiến trình công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông thôn. Chủ trương chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá bước đầu đã thu được những kết quả tốt đẹp. Trong giai đoạn 1998 – 2002, tỷ trọng ngành nông nghiệp giảm từ 58% xuống 47,9%; công nghiệp – xây dựng tăng từ 11,9% lên 26,4%; ngành dịch vụ cũng được điều chỉnh hợp lý hơn. Nhờ đó, năm 2002, tổng giá trị các ngành sản xuất và dịch vụ đạt 688,7 tỷ đồng, tăng 16,5% so với năm 2001, trong đó ngành nông nghiệp tăng 5,1%, ngành công nghiệp – xây dựng tăng 26,4%, ngành dịch vụ tăng 22,8%.
Trong nông nghiệp, diện tích cấy lúa năng suất thấp giảm dần, một phần chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản; thay đổi cơ cấu trà lúa theo hướng tăng diện tích cấy lúa xuân muộn, mùa trung từ 28% lên 33%; đạt năng suất lúa 45,5 tạ/ha/vụ, đảm bảo diện tích trên 2.000 ha rau màu, trong đó diện tích rau đạt 1.320 ha với sản lượng 22.586 tấn. Công tác chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp bước đầu có những kết quả đáng ghi nhận. Mặc dù, diện tích sản xuất nông nghiệp giảm dần, nhưng do tích cực đưa giống cây trồng, vật nuôi có năng suất, chất lượng cao vào sản xuất, giá trị sản xuất ngành trồng trọt năm 2002 tăng 24% so với năm 1998.
Chăn nuôi gia súc, gia cầm được chú trọng, đàn lợn, gia cầm tăng theo hướng sản xuất hàng hoá, phát triển mạnh về số lượng và quy mô. Trong năm 2002, huyện đã đưa vào sử dụng 16 trang trại gà, quy mô 3.000 con/trang trại; trang trại nuôi lợn nái ngoại, quy mô 25 – 30 con/trang trại. Các trang trại tập trung chủ yếu ở một số xã Lưu Kiếm, Lại Xuân và Minh Tân.
Bên cạnh chăn nuôi, huyện đã tiến hành quy hoạch các vùng nuôi trồng thuỷ sản, lập các dự án nuôi tập trung theo phương pháp bán thâm canh và công nghiệp. Diện tích nuôi trồng duy trì ở mức 2.450 ha, đối tượng nuôi chủ yếu là tôm sú, cua bể, cá chim trắng với sản lượng đạt 4.800 tấn/năm. Hoạt động khai thác thuỷ sản phát triển, năm 2002, huyện Thủy Nguyên đóng mới gần 100 tàu đánh cá, nâng tổng số phương tiện đánh bắt lên 1.400 chiếc, trong đó có 450 phương tiện đánh bắt xa bờ, sản lượng khai thác thuỷ sản đạt 5.800 tấn. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Trong lĩnh vực công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp – xây dựng và dịch vụ, tổng giá trị sản xuất đạt 287 tỷ đồng. Hiện nay, trên địa bàn huyện có hơn 20 xí nghiệp, nhà máy, hàng trăm cơ sở sản xuất – kinh doanh, công ty trách nhiệm hữu hạn hoạt động đã tạo lập môi trường sản xuất – kinh doanh sôi động, cạnh tranh lành mạnh, góp phần giải quyết việc làm cho hàng nghìn lao động, tăng nhanh giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng trên địa bàn huyện. Trong đó, nếu năm 1998, giá trị sản xuất công nghiệp – xây dựng chỉ đạt 54,1 tỷ đồng thì sang năm 2002, con số này đã tăng lên 182 tỷ đồng, gấp gần 3,4 lần so với năm 1998. Sản lượng một số sản phẩm truyền thống của ngành công nghiệp đều tăng, trong đó đá các loại đạt 450.000 m3, tăng 9%; đúc kim loại đạt 10.500 tấn, tăng 25,7%; vôi củ đạt 44.000 tấn, tăng 10% so với năm 2001. Cùng với những thành tựu đạt được, Thuỷ Nguyên còn đón nhận nhiều dự án lớn đang được đầu tư trên địa bàn như: tuyến Quốc lộ 10 từ Bến Kiền, Đá Bạc sang Quảng Ninh; nhà máy nhiệt điện 600 MW (xã Tam Hưng); Nhà máy Xi măng Hải Phòng (thị trấn Minh Đức); mở rộng Công ty Công nghiệp Tàu thuỷ Nam Triệu…. Đây sẽ là những nền tảng cơ bản cho sự phát triển của Thuỷ Nguyên trong tương lai.
Bên cạnh đó, phát huy lợi thế của vùng ven đô giáp hải cảng, Thuỷ Nguyên có điều kiện phát triển du lịch, thương mại và dịch vụ với nhiều thắng cảnh đẹp như: hồ Sông Giá, hang Lương, hang Vua, khu vực núi Tràng Kênh… và nhiều công trình kiến trúc độc đáo, đền thờ, miếu mạo đã được Nhà nước công nhận và xếp hạng cùng với những lễ hội truyền thống độc đáo, đậm đà bản sắc dân tộc.
Có thể nói, bức tranh kinh tế Thuỷ Nguyên trong giai đoạn gần đây đã có những gam màu sáng, hoạt động kinh tế sôi động hơn đã mang lại hơi thở mới trong cuộc sống của người dân nơi đây. Đời sống vật chất cũng như tinh thần của người dân Thuỷ Nguyên được cải thiện rõ rệt nhờ các biện pháp chăm lo đầu tư cơ sở hạ tầng, phát triển văn hoá giáo dục.
Trong đó, lĩnh vực văn hoá – xã hội của huyện đã có nhiều chuyển biến tích cực. Thực hiện phương châm ”Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, hàng năm, tỷ lệ học sinh đến lớp ở các bậc học đạt cao. Năm 2001, huyện đã được Bộ Giáo dục – Đào tạo công nhận phổ cập giáo dục trung học cơ sở. Năm 2001 – 2002, toàn huyện có 245 học sinh đoạt giải trong kỳ thi học sinh giỏi thành phố, trong đó có 13 giải nhất, 54 giải nhì, 71 giải ba. Để đạt được những kết quả trên, đội ngũ giáo viên các cấp trong huyện luôn được nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ. Tính đến nay, toàn huyện có 95% giáo viên có trình độ cao đẳng sư phạm trở lên, tỷ lệ giáo viên giỏi đạt trên 30%. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Công tác y tế, dân số và chăm sóc sức khoẻ cộng đồng được quan tâm, đặc biệt là các xã vùng sâu, vùng xa. Đến nay, huyện đã hoàn thành chương trình đưa bác sỹ về cơ sở, sửa chữa các trạm y tế xã, đầu tư hệ thống trang thiết bị hiện đại, phục vụ tốt công tác khám, chữa bệnh. Đặc biệt, công tác giáo dục, chăm sóc, bảo vệ trẻ em được quan tâm thường xuyên bằng hành động thiết thực như duy trì tốt hoạt động giảng dạy ở các lớp học tình thương, giúp đỡ trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt hoà nhập cộng đồng.
Các hoạt động văn hóa, thể thao quần chúng phát triển mạnh mẽ. Công tác xã hội hoá thể thao được đẩy mạnh từ cấp huyện đến cơ sở, góp phần rèn luyện sức khoẻ nhân dân. Các môn bơi lặn, bóng đá thiếu niên nhi đồng, điền kinh trong sân đều đạt thành tích cao. Trong giai đoạn (1998 – 2002), Thuỷ Nguyên luôn được công nhận là đơn vị lá cờ đầu về phong trào thể dục – thể thao của thành phố.
Về xây dựng cơ bản, huyện chỉ đạo các ban ngành thực hiện xong quy hoạch chi tiết thị trấn Núi Đèo, thị trấn Minh Đức, khu đô thị Bắc Sông Cấm và lập dự án khai thác tài nguyên hồ Sông Giá. Ngoài ra, huyện còn tiến hành xây dựng 2 nhà máy nước loại nhỏ ở xã Tân Dương, Lập Lễ, hệ thống cấp nước ở Lại Xuân, xây dựng 60 bể xử lý chất thải chăn nuôi đảm bảo vệ sinh môi trường. Tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2002 đạt 50,5 tỷ đồng.
Hệ thống giao thông vận tải phát triển khá mạnh về số lượng và chất lượng, đáp ứng một phần nhu cầu vận chuyển hàng hoá và phục vụ nhu cầu đi lại của nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý phương tiện, giải toả hành lang an toàn giao thông được tăng cường, thường xuyên thực hiện chế độ duy tu, sửa chữa hệ thống đường sá. Năm 2002, huyện đã tiến hành cải tạo, nâng cấp 30 km đường, trong đó có 4,6 km đường huyện quản lý và 25,4 km đường liên thôn, xóm, xã.
Đến nay, huyện Thuỷ Nguyên đã cơ bản hoàn thành việc bàn giao lưới điện trung áp ở các xã, thị trấn, đưa vào sử dụng 5 công trình bằng nguồn vốn phụ thu và một phần đóng góp của nhân dân trị giá 644 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành Bưu điện Thuỷ Nguyên cũng đạt được nhiều bước tiến vượt bậc. Trang thiết bị được đầu tư mới khá hiện đại, số lượng máy mới được lắp đặt tăng nhanh, đạt 2,86 máy/100 dân.
2.2- TÀI NGUYÊN DU LỊCH NHÂN VĂN HUYỆN THỦY NGUYÊN
2.2.1- Di tích lịch sử văn hóa Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Theo thống kê chưa đầy đủ thì hiện nay ở Thủy Nguyên có khoảng 130 di tích lịch sử văn hóa, phân bố khá đều ở các làng xã với mật độ trung bình 1 di tích/1km². Do vậy Thủy Nguyên là một trong những huyện có mật độ di tích lịch sử văn hóa cao nhất cả nước. Trong đó đã có 17 di tích được xếp hạng thành phố và 23 di tích được xếp hạng quốc gia cũng thuộc mật độ cao nhất trong cả nước.
Sau đây tôi xin được giới thiệu về một số di tích lịch sử văn hoá tiêu biểu có khả năng hấp dẫn khách du lịch:
- Đền An Lư (xã An Lư)
Đền An Lư thuộc xã An Lư, huyện Thủy Nguyên, thờ danh y Tuệ Tĩnh. Đền nằm trên dải sa bồi của hệ thống Sông Cấm, chảy qua thềm đất cổ Thủy Nguyên, nơi có sự khai phá đất đai, tạo dựng xóm làng của cư dân làm nông nghiệp làm lúa nước và chài lưới từ rất sớm. Đền thờ thiền sư Tuệ Tĩnh, nguyên là một trong hai vị thánh thuốc nam của nước Việt, quê ở Cẩm Giàng, Hải Dương.
Trước đây, tại mảnh đất An Lư còn nhiều công trình di tích khác như: Miếu Hổ,bến Bút, đình Chung được dân làng nhiều lần tổ chức nghi lễ liên quan đến việc tuyên truyền, phổ biến phương pháp chữa bệnh bằng cỏ cây, thảo dược, lưu truyền những bài thuốc hay của đại danh y Tuệ Tĩnh. Trải qua thời gian, chiến tranh, thiên nhiên khắc nghiệt đã hủy hoại hoàn toàn những di tích ban đầu của dân làng tôn thờ danh y Tuệ Tĩnh. Đầu năm 1948, dân làng An Lư đã rước thành hoàng đại danh y Tuệ Tĩnh về phối thờ tại ngôi đền An Bạch, là nơi dân làng thờ vị anh hùng dân tộc Trần quốc Tuấn và các con trai tại vị trí di tích hiện nay. Pho tượng đại danh y Tuệ Tĩnh được các nghệ nhân dân gian tạo tác bởi bàn tay điệu nghệ, giàu tính nghệ thuật truyền thống Việt Nam. Tượng tạo gần bằng người thật theo lối tượng tròn, trang trọng trong sắc phục quan văn cuối thế kỉ XIX.
Lễ hội làng An Lư diễn ra từ ngày 11/11 am lịch hàng năm. Tùy theo điều kiện mà lễ hội kéo dài từ 3 đến 5 ngày. Điều đặc biệt cho huyện Thủy Nguyên và riêng làng An Lư là ngoài lễ hội tưởng niệm vị đại danh y diễn ra tại ngôi đền thờ ông, còn bảo lưu truyền thống văn hóa mang đậm bản sắc địa phương như: Họp phiên chợ Xưa vàng sáng mùng một tết nguyên đán, có đầy đủ các sản vật địa phương và nhiều miền quê trù phú khác như. Tại đây, nhân mùa xuân mới người ta gặp gỡ, chúc tụng nhau những điều tốt lành, hy vọng một năm mới gặp nhiều may mắn, thuận lợi trong xuốt cả năm. Đền An Lư được xếp hạng di tích lịch sử văn hóa năm 1990. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
- Đền thờ Trần Quốc Bảo
Đền thờ Trần Quốc Bảo là công trình tưởng niệm về vị tướng của Vương triều Trần – người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên Mông của dân tộc ta ở thế kỷ XIII. Di tích nằm ở phía Nam chân núi Hoàng Tôn, thôn Tràng Kênh, thị trấn Minh Đức, huyện Thủy Nguyên, Hải Phòng.
Kiến trúc đền thờ Trần Quốc Bảo tiêu biểu cho mô hình của một trung tâm sinh hoạt văn hóa – tín ngưỡng, gồm có hai phần :
Phần trong còn gọi là hậu cung (hay nội điện) nơi thờ tự đức thánh Trần Quốc Bảo. Hậu cung thường giữ vẻ thâm nghiêm, ít người được ra vào cửa hậu cung chỉ được mở vào những ngày lễ hội. Điều đó, biểu thị lòng tôn kính, niềm tự hào đối với người được thờ.
Phần ngoài, tiền đường có kiến trúc độc đáo gồm hai tầng, tám mái đao cong, đắp môtip “Rồng chầu, phượng mớm”, xung quanh bái đường không xây tường, làm cửa mà để ngỏ 4 mặt, tạo ra sự thông thoáng mát mẻ. Chính giữa là “Trung đình”, nơi đặt hương án đồ thờ. Hai bên tả hữu của đại bái là nơi hội họp của các quan viên làng xã xưa kia.
Do đền Trần Quốc Bảo đã trải qua nhiều lần tu sửa do đổ nát, xuống cấp nên các vết tích cổ có niên đại sớm từ thời kỳ Trần – Lê hầu như không còn. Lần tu sửa mới đây (1994) chỉ giữ lại được các cột vì xà trong hậu cung mang phong cách nghệ thuật thời Nguyễn (thế kỷ XIX).
Những nét độc đáo của quần thể kiến trúc kiểu chữ “nhị “rất tiêu biểu thường thấy ở các di tích thuộc huyện Thủy Nguyên (như miếu Thủy Tú, đình Trung, đình Thượng ở Thủy Đường, đền Đồng Môn ở Hòa Bình…). Tòa đại bái thường có một khoảng cách với tòa hậu cung, không có tòa “ống muỗng”, nhưng môtíp kiến trúc tòa đại bái với kiểu hai tầng tám mái thì chỉ thấy có đền Trần Quốc Bảo – Tràng Kênh mà thôi. Phải chăng sự tách bạch giữa bái đường đã mách bảo chúng ta về một chức năng quan trọng nữa của công trình tín ngưỡng văn hóa này : tổ chức lễ hội.
Lễ hội Trần Quốc Bảo (hay lễ hội Tràng Kênh) bắt đầu vào mùng 6 tháng giêng âm lịch và kéo dài sau đó khoảng 5 ngày. Đây là một lễ hội có quy mô lớn nhất huyện Thủy Nguyên được duy trì và tổ chức đều đặn hàng năm, có sự lôi cuốn và tham gia của đông đảo nhân dân (Hải Phòng – Quảng Ninh). Lễ hội ở đây đã kết tinh tình cảm cao quý đối với một vị tướng của vương triều Trần. Đó cũng là nét bản sắc của lễ hội dân gian truyền thống tiêu biểu mang sắc thái của một làng cư dân ven biển Hải Phòng.
- Trạng Nguyên Lê Ích Mộc và những di sản văn hóa lưu niệm về ông
Lê Ích Mộc người làng Thanh Lãng (tên Nôm là Ráng), nay thuộc xã Quảng Thanh. Ông sinh năm 1460, không rõ năm mất.
Là một người có nhiều công lao đối với dân làng nên sau khi ông mất, dân làng cảm công đức, tạc tượng ông, xây đền trên nền trường học cũ do ông mở để thờ. Triều đình truy ân phong là phúc thần. Mộ Lê Ích Mộc được xây bằng gạch trên sườn núi Lăng, vốn là khu rừng lim xưa kia ông vận động dân trồng. Mộ đặt hướng Tây nam, nhìn ra sông Việt. Trên mộ gắn tâm bia khắc dòng chữ Trạng nguyên Lê Ích Mộc (1960 – ?). Mất ngày 15 tháng 2 năm Giáp Ngọ. Đỗ Trạng Nguyên khoa Nhâm Tuất, niên hiệu Cảnh Thống năm thứ 5 (1502), đời Lê Thánh Tông, làm quan tới chức Tả Thị lang. Trước bia đặt bát hương đá tròn, 2 nấc. Tương truyền bát hương đá này được mang từ đền Quan Trạng xưa kia.
Năm 1992, nhân dân địa phương dựng một ngôi nhà nhỏ để thờ Lê Ích Mộc gọi là Từ Đường Quan Trạng trên nền của ngôi đền cũ. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Từ đường Lê Ích Mộc còn lưu giữ được 2 di vật có niên đại Tây Sơn, đó là quả chuông đồng cao 90cm, đường kính miệng 45cm, bên cạnh bài minh còn có 4 chữ hán Diên phúc tự chung, khẳng định di vật của chùa Diên Phúc, chuông được đúc năm Cảnh Thịnh thứ 3(1795).
Hiện vật thứ hai là bia được khắc dọc theo giữa thân 7 chữ Hán trong khuyên tròn Lê Ích Mộc Trạng nguyên phục miếu (Miếu thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc). Hai bên dòng chữ này ghi tên những người trong vùng bỏ tiền của cúng tiến, bia chỉ có chữ ở một mặt, tạc năm Cảnh Thịnh thứ 1 (1793).
Những di vật của thời đại Tây Sơn trong lịch sử dân tộc có ý nghĩa rất lớn trong việc nghiên cứu lịch sử Hải Phòng về nhiều lĩnh vực nghệ thuật, tôn giáo, địa danh. Lăng mộ, từ đường Trạng nguyên Lê Ích Mộc được Nhà Nước xếp hạng năm 1993.
- Đình Kiền Bái
Đình Kiền Bái nằm ở xã Kiền Bái. Xưa kia Kiền Bái còn có tên là Hổ Bái Trang gồm 12 xóm, dân cư tập trung đông hơn cả là xóm Đông. Do đó, đình Kiền Bái nằm ở ngay xóm Đông. Các vị thần được thờ ở đình là:
- Trung Quốc Cảm ứng thượng đẳng thần.
- Lôi Công Uy Diệu thượng đẳng thần.
Đình Kiền Bái được xây dựng vào cuối thế kỷ XVII. Đình có cấu trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian tiền đường, 2 gian hậu cung. Tiền đường, trừ gian giữa (khoang thuyền ), 4 gian đều bưng gỗ, lát ván sàn. Trên cột cái, vì xà chính ghi năm tạo dựng (1681) và tên những người đóng góp công đức. Đây là công trình kiến trúc điêu khắc tiêu biểu của nghệ thuật kiến trúc thời Lê hiện còn lại ở Hải Phòng. Điểm nổi bật của đề tài trang trí trên công trình kiến trúc nghệ thuật này là bên cạnh hình ảnh rồng, phượng, hoa lá cách điệu, tia lửa, lưỡi mác… còn thấy rất nhiều cảnh sinh hoạt dân gian rất tự nhiên, sinh động. Đó là hình ảnh rồng nối đuôi nhau, trước mặt rồng có nhiều con thú 4 chân leo trèo trong đám vây rồng; có hình ảnh rồng đan xen với thú 4 chân như thằn lằn, voi ngựa, lơn ăn lá dáy; có mảng là cảnh sinh hoạt hình em bé chăn trâu ngồi vắt vẻo trên mình trâu…
Hội làng Kiền tổ chức từ ngày 10 đến ngày 13 tháng giêng âm lịch hàng năm. Vào những ngày này dân làng ra đình tế lễ và nô nức vào hội: hội hát đúm, hội nấu bánh chưng… nổi bật là trò chơi dân gian: cướp cây bông.
Đình Kiền bái là di tích lịch sử văn hóa có giá trị nghệ thuật cao, được nhà nước xếp hạng di tích quốc gia năm 1986.
- Chùa Mỹ Cụ Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Chùa Mỹ Cụ tên chữ là Linh Sơn tự dựng trên núi Phượng Hoàng thuộc thôn Mỹ Cụ, xã Chính Mỹ. Đây được coi là một trong những ngôi chùa lâu đời nhất của huyện Thủy Nguyên cũng như của thành phố Hải Phòng. Về lai lịch ngôi chùa, theo bút ký của cố Đại lão hòa thượng Kim Cương Tử, song thân vua Lê Đại Hành (Lê Hoàn) đã đến cầu tự tại chùa sau sinh ra quý tử, sớm có dáng khôi ngô, như báo trước một thiên tướng oai hùng, vị Thập đạo tướng quân sau này. Như vậy, ít nhất chùa Mỹ Cụ đã được xây cách đây trên 1000 năm.
Văn tự cổ nhất ở chùa là cây Thạch trụ đài niên hiệu Chính Hòa (1680 – 1705) đời vua Lê Huy Tông, ghi lại việc trùng tu xây dựng chùa.
Đến đời Lê Trung Hưng, vào năm Vĩnh Thịnh thứ 13 chùa được tu tạo lại với quy mô lớn với 12 gian to rộng cùng nhà tổ, nhà tăng và tạc được 19 pho tượng, các đồ tế khí được sơn son thiếp vàng. Hiện chùa còn giữ một bia đá ghi lại sự kiện này.
Năm Minh Mạng thứ 9 (1838) ngài Vô cấu luật sư kiêm Thiền sư họ Phạm trụ trì chùa. Chùa lại được tu bổ, tôn tạo thêm nhiều tượng mới, đồ tế mới.
Năm Nhâm Ngọ (1942) chùa lại được tu sửa, nhưng lần này đã làm mất đi màu sắc cũ của chùa. Ngôi chùa hiện nay được làm mới vào năm 1979 trên nền đất cũ và cơ bản vẫn dựa vào nét kiến trúc chính của lần trùng tu năm Nhâm Ngọ (1942).
Theo cách nhìn và cách gọi của các nhà phong thủy thì chùa nằm ở thế đất Ngũ linh: Phụng, Long, Quy, Hổ, Tượng. Phía trước chùa cách khoảng 500 – 600m bên phải là núi Con Hổ, bên trái là núi Con Rùa, phía sau lưng một dải núi đá xanh ôm lấy lưng chùa gọi là núi Rồng Xanh, phía trước mặt xa xa theo đường chim bay ước trên 10km là núi Voi Phục huyện An Lão chầu về chính giữa chùa.
Có thể nói riêng về mặt thiên nhiên, so với các chùa khác, trong phạm vi thành phố Hải Phòng khó tìm thấy một ngôi chùa nào có vị thế tuyệt đẹp như chùa Mỹ Cụ. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Ở vị trí cao nhất là chùa Cao. Tượng chính được thờ trong chùa là Tiểu Kính Tâm, tượng tạc khã đẹp trong tư thế ngồi tay bồng con. Bên trong là tượng Tiết Xương –Di Lặc. Họa tiết trang trí ở đây nhẹ nhàng đơn giản.
Ở tầng thứ hai là chùa chính, chùa thiết kế theo hình chữ đinh với 5 gian tiền đường, 3 gian hậu cung. Giữa tiền đường đặt ban thờ trên đề 3 chữ
“Linh Sơn tự”.Gian bên phải thờ Đức ông, gian bên trái thờ Mẫu. Hai bên đặt tượng hai ông Hộ pháp, kích thước khá lớn được sơn son thiếp vàng.
Hậu cung là nơi đặt các tượng thờ, số lượng khá phong phú. Trong cùng cao nhất là ba pho tượng Tam thế biểu đạt quá khứ – hiện tại – tương lai. Phía trước là đức A Di Đà kích thước lớn nhất được tạc bằng thân gỗ lim. Một cây gỗ mọc tại chỗ vì thế không thể di chuyển đi nơi khác được, trừ phi xây lại một ngôi chùa mới. Thân tượng cao 2m30, đường kính tòa sen là 1m40. Hai bên có Kim Đồng – Ngọc Nữ theo hầu. Tiếp theo là tượng Thích Ca Mâu Ni và Phật tổ Huyền Quang. Ở vị trí thấp nhất là tượng Nam Tào – Bắc Đẩu với tòa Cửu Long (chạm khắc 9 con rồng nặng trên 60kg quấn vào nhau uốn lượn bao quanh tượng Thích Ca ở giữa ), đây là công trình nghệ thuật dặc sắc của chùa chứa đựng trong nó nhiều yếu tố tâm linh và nghệ thuật.
Phía sau chùa chính là nhà Tổ, nhà Tăng nơi thờ các vị sư trụ trì trong chùa. Tầng thấp nhất của chùa là tượng tháp cổ gồm có hai tháp bằng đá và 8 tháp xây bằng gạch. Trong đó có một số ít đã bị hư hại được bao phủ bởi rất nhiều cây cổ thụ, trong đó chủ yếu là nhãn, vải. Từ vườn tháp lên chùa chính có nhiều bậc đá xanh được đẽo gọt cẩn thận chắc chắn.
Hiện tại Tam quan chùa được xây dựng lại với quy mô khá lớn : từ chân đế tới đỉnh tháp cao 24m, rộng 10m, dài 16m có nhiều tầng khác nhau.
Hàng năm chùa mở hội vào ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch. Đây là hội làng có truyền thống từ rất lâu thu hút đông đảo nhân dân trong vùng tham gia.
- Miếu và chùa Phương Mỹ Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Miếu và chùa Phương Mỹ thuộc thôn Phương Mỹ, xã Mỹ Đồng, cách trung tâm thành phố khoảng 10km về phía Bắc. Miếu Phương Mỹ xưa kia còn có tên là miếu Đông. Vào thời Hùng Vương, thôn Phương Mỹ có tên là Hoa Kiều trang, có 3 ngôi miếu là miếu Đông, miếu Tây và miếu Bắc. Sau này do thời gian huỷ hoại, miếu Tây và miếu Bắc không còn nữa, tượng và đồ thờ tự được rước về thờ chung tại miếu Đông. Đến thời nhà Lý, Hoa Kiều trang đổi thành Hoa Chương trang, đến thời Đồng Khánh đổi thành thôn Phương Mỹ và miếu Đông được mang tên Phương Mỹ từ đó.
Miếu Phương Mỹ thờ 3 nhân vật lịch sử là Phạm Quảng, Phạm Tử Nghi và Quí Minh đại vương. Quí Minh đại vương là dũng tướng tài ba của vua Hùng Duệ Vương có công trong cuộc chiến tranh Hùng – Thục (Văn Lang – Âu Lạc).
Miếu Phương Mỹ nằm trên một cù lao nhỏ, hướng về phía Đông, phía trước là một nhánh sông (nay đã bị bồi lấp). Miếu có cấu trúc kiểu chữ đinh gồm 5 gian tiền đường và 3 gian hậu cung. Do thời gian và chiến tranh tàn phá, miếu không còn giữ được nguyên trạng ban đầu mà phần lớn kiến trúc nghệ thuật còn mang đậm phong cách văn hoá triều Nguyễn. Kể từ khi ngôi đình của làng không còn nữa, miếu Phương Mỹ được coi như là ngôi đình làng. Nơi đây thường diễn ra các hoạt động văn hoá của cả làng trong các dịp tết. Miếu Phương Mỹ đã được Bộ Văn hoá thông tin quyết định công nhận là di tích lịch sử ngày 21/1/1992.
Chùa Phương Mỹ có tên chữ là là Ngọc Hoa tự – đây là địa chỉ đỏ của cao trào đấu tranh chuẩn bị tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 ở huyện Thuỷ Nguyên.
Chùa được dựng trên ngọn đồi thấp về phía tây bắc của thôn, nhân dân địa phương thường gọi là núi Chùa. Cuối năm 1939, đồng chí Hoàng Ngọc Lương đóng vai trò nhà sư đã gây dựng cơ sở cách mạng tại đây. Đầu năm 1945, chùa Phương Mỹ trở thành địa điểm liên lạc, hội họp và cất giấu tài liệu cách mạng. Nhà sư Lương Ngọc Trụ có công nuôi giấu đảm bảo an toàn cho cán bộ, giúp đỡ cách mạng. Ông được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng nhất.
Những sự kiện lịch sử trên chứng tỏ chùa Phương Mỹ và nhân dân ở đây đã có những đóng góp quan trọng vào thắng lợi của Cách mạng tháng Tám ở huyện Thuỷ Nguyên và thành phố Hải Phòng.
- Những di tích lịch sử văn hóa gắn với sông Bạch Đằng lịch sử:
Nói đến Thủy Nguyên trước hết phải nói đến sông Bạch Đằng, một tuyến đầu chống giặc ngoại xâm từ phía biển của đất nước. Nơi đây, Ngô Quyền năm 938 đã tiêu diệt quân Nam Hán, Lê Hoàn năm 981 diệt quân Tống. Năm 1228, cũng trên dòng sông này, Trần Hưng Đạo đã có chiến thắng oanh liệt trước giặc Nguyên – Mông. Hiện nay, Thủy Nguyên có nhiều địa danh gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng lịch sử như : Lưu Kỳ, Lưu Kiếm,…Các di tích lịch sử gắn liền với chiến thắng Bạch Đằng là một kho tài nguyên du lịch nhân văn lớn. Việc xây dựng, phục chế lại các sự kiện lịch sử thời Trần là rất cần thiết, điều đó sẽ tạo cơ hội giới thiệu với khách du lịch bốn phương về những chiến công hiển hách của ông cha ta.
- Những di tích lịch sử ở Tràng Kênh: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Khu Tràng Kênh nằm ở phía Đông Bắc huyện Thủy Nguyên là một quần thể núi đá vôi với nhiều hang động, áng hồ, cảnh trí thiên nhiên giống như vịnh Hạ Long nên được mệnh danh là “Hạ Long cạn”. Tại Tràng Kênh có núi U Bò đứng sừng sững bên dòng sông Bạch Đằng lịch sử, tương truyền nơi đây xưa kia Trần Hưng Đạo dùng làm căn cứ chỉ huy trận thủy chiến chống quân xâm lược thế kỉ XIII. Xung quanh Tràng Kênh có nhiều hang động nổi tiếng ,đặc biệt là Hang Vua ở xã Minh Tân, tương truyền rằng nơi đây vua Hùng thứ 18 đã lập ly cung để chống Thục Phán nên có tên là Hang Vua. Ngày nay ở chính giữa hang vẫn còn đền thờ, tượng vua được tạc bằng đá rất sinh động. Trần hang có hình nóc gác chuông nhà thờ.
- Di tích văn hóa khảo cổ:
Thủy Nguyên là miền đất có chiều sâu lịch sử nay vẫn còn lưu giữ nhiều di tích văn hóa độc đáo rất đáng tìm hiểu, nghiên cứu. Di chỉ Tràng Kênh – một công xưởng chế tác đồ đá có quy mô lớn và đạt trình độ kỹ thuật tinh xảo bậc nhất thời Phùng Nguyên, cách ngày nay trên 3400 năm. Mộ cổ Việt Khê thuộc văn hoá Đông Sơn với những đồ đồng đẹp và tinh xảo chắc chắn sẽ làm thỏa mãn lòng hiếu kỳ của những du khách khó tính.
- Những “quân cờ tiên” và công xưởng làm đá:
Cách thành phố Hải Phòng ngót 20km về phía Bắc có một thị trấn mới ra đời – thị trấn Minh Đức. Ngày nay thị trấn này là trung tâm của khu di tích lịch sử văn hóa và danh lam thắng cảnh Tràng Kênh – Bạch Đằng.
Trong những năm 1969 – 1970 cán bộ nghiên cứu của Viện Khảo cổ học đã phối hợp với Sở Văn hóa Thông tin Hải Phòng (nay là Sở Văn hóa-Thể thao và Du lịch Hải Phòng) tiến hành khai quật tại địa điểm Tràng Kênh, phát hiện ở nơi đây là một công xưởng làm đồ trang sức bằng đá quý. Những “quân cờ tiên” đã được giải đáp. Đó là các lõi vòng trang sức mà người thợ đá Tràng Kênh xưa đã để lại. Trên 100m² khai quật, người ta đã tìm thấy hàng ngàn hòn cuội sông dùng làm nguyên liệu. Hàng ngàn hiện vật bằng đá quý bị sứt mẻ, gẫy, vỡ. Hàng trăm lõi vòng bằng đá quý có màu sắc đẹp khác nhau, có đường kính to nhỏ không giống nhau. Hàng trăm đồ trang sức như vòng tay, vòng tai, nhẫn hột chuỗi bằng đá quý. Còn có các dụng cụ dùng để chế tác đồ đá của người thợ Tràng Kênh xưa, có loại kể đến hàng trăm như riù, đục, cưa, mũi khoan bằng đá…Những điều nói trên đã khẳng định: Tràng Kênh là một công xưởng chế tác đồ trang sức bằng đá quý của người xưa.
- Những ngôi mộ trong nơi ở: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Tại địa điểm Tràng Kênh ở lớp đất cuối cùng có hố đào khảo cổ, người ta phát hiện ra 3 ngôi mộ người Tràng Kênh xưa. Trong 3 ngôi mộ kể trên thì hai mộ là người lớn và 1 ngội mộ là trẻ em. Việc chôn cất khá đơn giản: người chết nằm ngửa, chân duỗi thẳng, tay đặt xuôi theo thân người hoặc tay phải đặt lên hang. Đáy mộ được rải một lớp đá cuội nhỏ. Xung quanh xác chết thường được chèn bằng những tảng đá vôi ở đầu, hai vai, mông, háng và hai chi dưới. Các ngôi mộ này đều được chon cất ở chỗ đất cao. Mộ đặt theo hướng Bắc Nam. Những hiện vật chôn theo người chết có rất ít. Một mộ có 1 rìu đá hình thang cân đặt trên bụng người chết. Mộ khác, có một bàn mài đá để ở hông bên phải.
Các hiện vật trong ngô mộ với hiện vật ở nơi cư trú là hoàn toàn giống nhau về hình dáng và cách thức chế tác đã chứng minh cho mối quan hệ thân thuộc giữa người sống và người chết ở Tràng Kênh xưa.
- Những nấm mồ không im lặng:
Trên đất Thủy Nguyên đã phát hiện được một số ngôi mộ cổ, đặc biệt là ngôi mộ cổ hình thuyền ở Việt Khê.
Trước hết đó là một nhóm mộ đặc biệt gồm 5 ngôi mộ, nằm cùng hướng trên dải ruộng hẹp bên bờ sông Hàn. Nói đặc biệt vì áo quan là một phần của thân cây lớn được khoét rỗng bên trong theo hình lòng máng, đầu to, đầu nhỏ. Nhìn toàn bộ cỗ áo quan như hình một chiếc thuyền.
Cỗ áo quan lớn dài 4,6m trong lòng sâu từ 0,24 – 0,39m. Chiều rộng của đầu to là 0,76m, của đầu nhỏ là 0,57m. Nắp áo quan cũng có hình lòng máng nhưng nông hơn. Chiều cao (kể cả nắp) tới 0,6m.Cỗ áo quan nhỏ về hình dáng và cách chế tạo căn bản giống cỗ lớn, nhưng cấu trúc đơn giản và dài 4,54m.
Có rất nhiều hiện vật còn lại trong các cỗ áo quan. Trong đó các hiện vật đồ đồng thau chiếm nhiều nhất, ngoài ra còn có một ít đồ sơn và đồ gỗ, hoàn toàn vắng mặt đồ gốm.Với phương pháp tính toán bằng Cácbon phóng xạ (C14) đã cho biết những ngôi mộ thuyền Việt Khê có niên đại thế kỉ VI dến thế kỉ IV T.C.N
Với những phát hiện trên, chứng tỏ tiềm năng du lịch nhân văn của Thủy Nguyên là rất lớn. Nếu biêt kết hợp với các tài nguyên khác thì Thủy Nguyên sẽ là điểm đến hấp dẫn của du khách trong tương lai không xa [12].
2.2.2- Các lễ hội Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Hầu hết các làng xã ở Thủy Nguyên đều có các ngày lễ hội riêng của mình. Ở xã Minh Đức có ngày lễ mùng 6 tháng giêng thờ Trần Quốc Bảo; Kiền Bái có lễ hội vào mùng 10 tháng 11 âm lịch thờ cúng Thành hoàng làng; Lâm Động có hội chùa 17 tháng giêng; Phù Ninh có hội chùa vào 26 tháng Giêng…Các ngày lễ hội trên nhân dân trong xã thường làm cỗ mang lên đình, chùa, miếu để cúng.
Đáng chú ý nhất là một số ngày hội mang tính tiêu biểu và có nhiều chất sinh hoạt văn hóa là hội Mở mặt, hội Hát Đúm ở Phục Lễ; hội Hát ca trù ở Đông Môn, hội chùa Chính Mỹ, hội Đu xuân.
- Hội đu xuân
Hàng năm, vào dịp Tết, nhiều nơi ở huyện Thủy Nguyên như: Thiên Hương, Thủy Sơn, Thủy Đường, An Lư, Hòa Bình, Thủy Triều, Tam Hưng… thường tổ chức vui xuân bằng cách trồng cây đu quen thuộc.
Theo truyền ngôn của các già làng địa phương huyện Thuỷ Nguyên thì đu xuân ở đây đã có từ lâu. Đây là một trong những trò chơi của ngày hội xuân khá hấp dẫn, là trò chơi thể thao dân tộc và được tuổi trẻ rất thích, là dịp để trai, gái gặp gỡ nhau.
Trước ngày hội, khoảng 28 đến 29 tháng Chạp âm lịch tại các bãi đất khô ráo, rộng rãi mỗi địa phương đều trồng từ một đến nhiều cây đu trên nhiều địa điểm khác nhau. Họ chọn cây tre to, dài, để trồng đu. Một cây đu có thể được trồng bởi 4-6 cây tre to. Cần đu cũng là những cây tre dài nhưng thon nhỏ, thường phải là tre đực để lúc người đu nắm vào cho gọn và chắc tránh xảy ra trượt hay tuột tay lúc đu nhanh, mạnh.
Chơi đu cũng giống như một cuộc đua tài đòi hỏi ở bạn sự nhanh nhẹn, tháo vát, dẻo dai và cả sự dũng cảm. Khi một người lên cần đu có thể nhờ một người khác đẩy cho mình có đà. Sau đó là tự người đu nhún tùy ý. Muốn đu được cao, đu đẹp, đu lâu phải có sức khỏe dồi dào và luyện tập công phu. Bắt đu cũng cần phải biết cách và có sức khỏe, nếu không đu văng sẽ bị ngã, người nào mà bắt được đu thì không ai tranh nữa. Đó là quy định chung của hội, khi đu lúc muốn xuống phải báo hiệu cho mọi người biết bằng cách khép tay đu lại vòng qua ngực.
Tùy theo sở thích, bạn có thể chọn đu một người, hoặc đu đôi nam nữ, một trai một gái. Nhưng đẹp nhất vẫn là đu đôi, các đôi trai gái ưng ý lựa chọn nhau lên đu, người nhún người đẩy. Tài năng và lòng dũng cảm của các chàng trai cô gái được phô bày ở đây như dịp tự thể hiện bản thân. Hồ Xuân Hương đã miêu tả trò chơi đu rằng:
“Bốn mảnh quần hồng bay phấp phới
Đôi hàng chân ngọc duỗi song song.” Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Chơi đu xuân là một trò chơi thể thao dân tộc có từ lâu đời được tuổi trẻ rất thích, là dịp trai gái gặp gỡ nhau thi tài tìm hiểu và cũng là một nét văn hóa đậm sắc dân gian của người dân nơi đây[6].
2.2.3- Nghề và làng nghề thủ công
Nghề thủ công truyền thống cũng là loại hình tài nguyên du lịch du lịch nhân văn quan trọng và có sức hấp dẫn đối với khách du lịch. Nghề thủ công với những sản phẩm độc đáo không chỉ thể hiện tài năng khéo léo của người lao động mà còn thể hiện tư duy và những tâm tư tình cảm của con người.
Thủy Nguyên có một số nghề thủ công truyền thống như : đúc đồng, đúc gang, mây tre đan, nghề cói, thêu ren…Mỗi nghề đều có lịch sử phát triển lâu dài và khá độc đáo.
- Nghề đúc
Những người thợ đúc huyện Thủy Nguyên ngày nay đang làm rạng rỡ cho ngành đúc của Hải Phòng. Các sản phẩm đúc của làng Mỹ Đồng, của hai HTX Phương Thành, Quyết Thắng đang phục vụ cho cơ sở kinh tế của Nhà nước và các ngành xây dựng, GTVT, nông nghiệp, công nghiệp và tiêu dùng.
Lần về cội nguồn của nghề đúc, các cụ già còn sống kể lại nghề đúc Mỹ Đồng đã có cách đây gần 200năm, nghề đúc đã bắt đầu xuất hiện ở thôn Phương Mỹ. Một số cụ trong làng đã mời thợ đúc từ làng Yên Trì (Quảng Yên ) về đúc lưỡi cày phục vụ cho nghề nông. Từ đó dân làng đã học và mở thử lò đúc nhưng rất nhiều người không thành công, người làm thử đầu tiên là ông Hậu Khì. Lúc bấy giờ việc đúc gang rất thô sơ: nồi nấu nhỏ liền đáy, nhiên liệu là than hoa ,nguyên liệu là gạch vụn. Khi đổ vào khuôn bê cả lò để đổ, sau ông Hậu Khì đến ông Thiết nhưng việc đúc cũng không thành công. Nguyên nhân là do chưa nắm được công thức phối liệu và kết cấu bố trí của lò nấu. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Đến đời ông Nguyễn Văn Cáu cũng đã chuyên tâm nghiên cứu rồi làm thử không thành công, nhưng ông và một số người khác không nản chí. Lúc đầu đúc các ống xe ba gác, xe tay và các vật nhỏ có chiều dài lớn…dần chuyển sang đúc lưỡi cày, nồi gang. Từ lúc thành công nghề đúc Phương mỹ bắt đầu có tiếng sang cả những vùng lân cận. Nhiều người đến làm thuê và đã học”lỏm” được chút ít kinh nghiệm.Cứ như vậy nghề đúc Phương Mỹ lan rộng đến nhiều gia đình.
Vào năm 1918 – 1920, ở thôn Phương Mỹ đã có tới hơn 20 lò đúc, lúc này có tiến bộ mới là nhiên liệu than đá bắt đàu đưa vào nấu thử thay than hoa.Sau một thời gian dài lò nấu đã được cải tiến với dung tích chứa lớn hơn. Từ những tiến bộ kỹ thuật đó sản phẩm của Phương Mỹ càng nổi tiếng các vùng gần xa. Những năm sau đó nghề đúc Phương Mỹ lan sang thôn Đồng Lý. Nghe theo tiếng gọi của Đảng đã bí mật đúc rèn vũ khí, các chi tiết máy in cho cách mạng.
Triển vọng nghề đúc truyền thống Thủy Nguyên đang phát huy thế mạnh của mình.Dưới sự chỉ đạo và quan tâm chặt chẽ của Nhà nước, nghề đúc truyền thống Thủy Nguyên đang bùng nổ hết tài hoa của mình.
- Nghề gốm sứ
Đây là nghề cổ ở Thủy Nguyên tập trung tại xã Minh Tân. Qua các di chỉ khảo cổ Tràng Kênh người ta đã thu lượm hàng vạn mảnh gốm với nhiều hình thức trang trí, chứng tỏ đây là một công xưởng chế tác nhiều loại gốm với chất lượng cao.
Để tạo được sản phẩm người làm gốm phải nghiên cứu chất liệu đất sét để pha chế cho phù hợp. Các sản phẩm được tạo ra đều cân đối hài hòa. Ngoài các sản phẩm chủ yếu như nồi, bình, bát, ấm chén…thì người dân nơi đây còn làm cả gạch ngói, phù điêu…
Quá trình tạo sản phẩm gốm gồm hai giai đoạn : gốm mộc và đuổi lửa. Trải qua nhiều năm những sản phẩm gốm Minh Tân vẫn được nhiều người ưa thích.
- Nghề mây tre đan
Đây là một nghề cổ truyền của xã Chính Mỹ. Theo các cụ trong làng kể lại xưa đây là một vùng rừng núi, tre vầu…mọc rất nhiều. Để phục vụ cho công việc nhà nông người dân trong làng đã tận dụng nguồn nguyên liệu này làm ra các sản phẩm như thúng, nong, nia theo các mẫu đan hình thoi, hình chữ nhật, xương cá. Ngày nay nghề này vẫn được duy trì, có tới 80 % dân làng tham gia sản xuất.
Có thể nói những làng nghề truyền thống này là vốn quý ở Thủy Nguyên, là tài nguyên quan trọng đẻ phát triển du lịch sau này. Vấn đề ở đây là phải biết đầu tư quy hoạch để tận dụng và khai thác tài nguyên đó hợp lý.
2.2.4- Văn hoá nghệ thuật cổ truyền Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
- Hát đúm ở Thủy Nguyên:
Hát Đúm được sản sinh ra và tập trung chủ yếu ở vùng nông nghiệp. Gia đình nào cũng có vài ba nong tằm, một vài đám ruộng trồng bông và đặc biệt là khung cửi. Nghề dệt vải trở thành một nghề riêng của người phụ nữ. Tiếng xa quay, tiếng thoi đưa đều đều tạo nên âm hưởng gợi cảm khiến những cô thợ dệt, những bà mẹ quay xa cảm hứng bật lên tiếng hát. Tiếng hát ban đầu chỉ là những bài hát ru, những câu ca dao tự cất lên, tự mình hát, tự mình nghe để cho không khí làm việc vui hơn. Tiếng hát trong trẻo của các cô thiếu nữ đã lay động tâm hồn của mỗi người, đặc biệt là các chàng thanh niên. Họ cũng muón hát, muốn đối đáp họ cũng tìm cách học câu hát, học cách hát. Tiếng hát của phụ nữ lúc này không còn là tiếng hát đơn lẻ nữa, mà đã có sự đối đáp của các chàng trai. Những buổi hát ví von, đối đáp nhau như vậy dần dần được gọi là “hát Ví”. Hát Ví phát triển theo hình thức ấy cho đến khi Phục Lễ được xây dựng, ngày hội và những cuộc hát ấy mới được gọi là “hát Đúm”.
Và cũng như lao động trên bãi biển, phơi mình dưới nắng gió biển khô giòn, buộc họ phải chống đỡ với xém bỏng sùi da cháy má, nảy sinh tục che mặt bằng khăn bịt má.Chỉ sau Tết xuân, vào hội hát Đúm các cô gái mới mở mặt chơi hội tạo thành hội “Mở mặt”:
“Tháng Giêng hội Phục, Thủy Nguyên
Mùa xuân hát Ví cho nên hẹn hò.”
Cũng từ đây hội Mở mặt cùng với hát Đúm giúp giải tỏa tâm tư trĩu nặng âm thầm lao động cực nhọc, đã một năm chơi có một mùa…được thả hồn giao tình kết bạn và tự do gửi gắm những khao khát có cuộc sống trần gian tựa cảnh thiên đường.
Việc tổ chức hát Đúm thường được diễn ra tại các quán hàng, ngoài đường, trong các ngõ xóm nam nữ chia làm hai bên, con gái cầm nón che mặt quay thành vòng tròn, giấu kín mặt, con trai cầm ô hát đối với nhau.
Lời hát thường là câu thơ hoặc văn vần do người hát nghĩ ra hoặc vận ở các sách đã học thuộc. Làn điệu của hát Đúm khá đơn giản, con trai hát giọng thổ theo làn điệu na ná hát Trống quân, con gái hát giọng kim.
Trình tự của cuộc hát Đúm thường là hát gặp gỡ, hát chào, hát mừng, hát hỏi, hát mời trầu, hát cưới, kết thúc là hát tiễn, hát ra về. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Nội dung của câu hát thường bắt đầu bằng câu hát chào, thăm hỏi quê quán, nghề nghiệp, gia đình…ví dụ người con trai có thể hát hỏi :
“Lạ lùng anh hỏi dò la
Đào Nguyên lạc lối đâu mà tới đây?”
Hay người con gái có thể hát hỏi :
“Ở nhà em mới tới đây
Lạ thông, lạ thổ, em nay lạ nhà.
Ba anh em lạ cả ba
Bốn anh là bốn, em biết là quen ai?”
Sau khi hát giao tiếp, thăm hỏi lẫn nhau thì chuyển lời hát thách đó nhau về các vấn đề của cuộc sống, của lịch sử, cuộc hát chỉ kết thúc khi nào một bên không thể giải đáp, trả lời được bên kia.
Nếu bên trai thua thì bên gái lấy khăn xếp, ô che. Nếu bên gái thua thì bên trai có quyền lấy khăn bịt mặt của các cô gái:
“Em thua thì nón em đây
Anh thua thì mất cả giày lẫn ô”
Rõ ràng hát Đúm ở đây là một loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian, một bản sắc dân tộc Việt. Trải qua bao đời đã kết tinh và sáng tạo đễn cao điểm chân, thiện, mỹ thành những bữa tiệc tinh thần, thi tài khoe sắc, vừa phong phú vừa đa dạng, đầy ắp quyến rũ. Nó còn nói lên loại hình nghệ thuật dân gian này là món ăn bình dân của người lao động chân tay, luôn đầy sức sống và được duy trì phát triển [6]. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
2.2.5-Công trình đương đại
Đó là quần thể khu nghỉ dưỡng cao cấp Sông Giá Complex Resort tại xã Lưu Kiếm, huyện Thủy Nguyên,Hải Phòng. Sau khi dự án này hoàn thành thì nơi đây sẽ là khu vui chơi giải trí, là những căn hộ cao cấp hay văn phòng cho thuê, là khu nghỉ dưỡng của Hải Phòng…Trong đó phải kể đến sân golf lỗ, có tổng diện tích mặt bằng khoảng 323.871 m2, nằm trong quần thể khu du lịch này sẽ chính thức khánh thành vào tháng 7 năm 2010. Đây được xem là sân golf đẹp nhất vùng Đông Bắc Bộ hiện nay. Đây cũng được coi là một tài nguyên du lịch đặc biệt của Thủy Nguyên vì khác với các tài nguyên du lịch nhân văn nói trên mang tính chất dân gian truyền thống thì tài nguyên du lịch này lại mang tính chất hiện đại.
Trong tương lai khi tổ hợp này đưa vào khai thác thì đó sẽ là một nơi thu hút khách du lịch của huyện Thủy Nguyên nói riêng và Hải Phòng nói chung.
2.2.6- Đánh giá tài nguyên nhân văn ở huyện Thuỷ Nguyên
- Về độ hấp dẫn của tài nguyên:
Huyện Thuỷ Nguyên là một huyện lớn của thành phố Hải Phòng nơi tập trung nhiều di tích lịch sử – văn hoá như: đình Kiền Bái, đền Lê Ích Mộc, chùa Hoàng Pha, đình và chùa Trịnh Xá, miếu Phương Mỹ, đền Quảng Cư, miếu Thuỷ Tú, đình An Lư, hang Lương, hang Vua, cụm di tích khu vực Bạch Đằng – Tràng Kênh… Trong đó có nhiều di tích đã được công nhận là di tích lịch sử văn hoá cấp quốc gia. Các di tích lịch sử nơi đây thường toạ lạc ở nhưng vị trí có thiên nhiên kì thú tạo nên các danh thắng đẹp nổi tiếng bậc nhất của Hải Phòng. Vì vậy rất thích hợp cho việc phát triển du lịch văn hoá, hoặc kết hợp du lịch văn hoá với du lịch cuối tuần, du lịch tự nhiên, du lịch kết hợp học tập nghiên cứu…
Về các điểm có mức độ rất hấp dẫn phải kể tới: đền thờ Trạng nguyên Lê Ích Mộc, đền thờ Trần Quốc Bảo, đình Kiền Bái, lễ hội Hát Đúm, lễ hội Đu xuân, di chỉ Việt Khê, di chỉ Tràng Kênh, làng nghề đúc Mỹ Đồng, làng nghề vận tải biển An Lư, mây tre đan Chính Mỹ, làng cau Cao Nhân. Ở mức độ trung bình gồm có: chùa Câu Tử Ngoại, chùa Lâm Động, chùa Lôi Động, cụm di tích Liên Khê, hệ thống điểm du lịch ở xã Minh Tân. Ở mức độ kém hấp dẫn gồm có hệ thống các di tích ở các xã: Hoà Bình, Lưu Kiếm, Kênh Giang, Tân Dương…
- Về thời gian hoạt động du lịch: Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Đối với loại hình du lịch văn hoá, do đặc điểm của tài nguyên nhân văn là không bị ảnh hưởng bởi tính mùa vụ cho nên hoạt động du lịch của loại tài nguyên này là không giới hạn, nhất là loại hình du lịch tham quan các di tích lịch sử văn hoá. Đối với loại hình du lịch lễ hội thì lại phụ thuộc vào thời gian diễn ra lễ hội, thường được tổ chức vào những tháng đầu năm. Vì vậy mà ta có thể tổ chức hoạt động du lịch bất kì lúc nào trong năm tại các di tích. Tuy nhiên các lễ hội như hát Đúm, Đu xuân, hội chùa phải tổ chức vào đầu năm.
- Về hiệu quả kinh tế:
Theo nghiên cứu thì nhìn chung hoạt động du lịch hiện nay tại huyên Thuỷ Nguyên đem lại hiệu quả kinh tế chưa cao so với tiềm năng sẵn có của nó. Chỉ có một vài điểm thu hút đông khách du lịch đó là: đền thờ trạng nguyên Lê Ích Mộc, đền thờ Trần Quốc Bảo, đình Kiền Bái, lễ hội hát Đúm, lễ hội đu xuân, di chỉ Việt Khê, di chỉ Tràng Kênh, làng nghề đúc đồng ở Mỹ Đồng. Còn lại nhìn chung là rất kém, nhưng trong tương lai có thể đổi khác, nếu chúng ta tập trung phát triển đúng hướng.
- Cở sở hạ tầng và cở sở vật chất kỹ thuật phục vụ du lịch:
Những năm gần đây, cơ sở hạ tầng của Thuỷ Nguyên có nhiều tiến bộ. Huyện đã chỉ đạo các ban ngành thực hiện xong quy hoạch chi tiết thị trấn Núi Đèo, thị trấn Minh Đức, khu đô thị Bắc Sông Cấm và lập dự án khai thác tài nguyên hồ Sông Giá. Ngoài ra, huyện còn tiến hành xây dựng 2 nhà máy nước loại nhỏ ở xã Tân Dương, Lập Lễ, xây dựng hệ thống cấp nước ở Lại Xuân, xây dựng 60 bể xử lý chất thải chăn nuôi góp phần cải thiện môi sinh. Tổng mức vốn đầu tư xây dựng cơ bản năm 2002 đạt 50,5 tỷ đồng.
Hệ thống giao thông vận tải phát triển khá mạnh về số lượng và chất lượng, cải thiện 1 bước nhu cầu vận chuyển hàng hoá và đi lại của nhân dân. Bên cạnh đó, công tác quản lý phương tiện, giải toả hành lang an toàn giao thông được tăng cường, thường xuyên thực hiện chế độ duy tu, sửa chữa hệ thống đường sá. Năm 2002, huyện đã tiến hành cải tạo, nâng cấp 30 km đường, trong đó có 4,6 km đường huyện quản lý và 25,4 km đường liên thôn, xóm, xã.
Đến nay, huyện Thuỷ Nguyên đã cơ bản hoàn thành việc bàn giao lưới điện trung áp ở các xã, thị trấn, đưa vào sử dụng 5 công trình bằng nguồn vốn phụ thu và một phần đóng góp của nhân dân trị giá 644 triệu đồng. Bên cạnh đó, ngành Bưu điện Thuỷ Nguyên cũng đạt được nhiều bước tiến vượt bậc. Trang thiết bị được đầu tư mới khá hiện đại, số lượng máy mới được lắp đặt tăng nhanh, đạt 2,86 máy/100 dân. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
Vì vậy, phần lớn các điểm du lịch văn hoá đều được đánh giá có cơ sở hạ tầng ở cấp độ tương đối tốt. Nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của các hãng lữ hành, vì đường vào di tích vẫn bị hẹp, chưa thuận tiện cho các đoàn khách lớn.
Về cơ sở vật chất phục vụ du lịch, hiện nay ở Thuỷ Nguyên có ba khách sạn tư nhân, trong đó có hai khách sạn với mức độ tiện nghi trung bình, một khách sạn 2 sao. Đó là khách sạn Cty View (Tân Dương), Toàn Minh ( Núi Đèo), My Sơn (Minh Đức). Số lượng như vậy là quá ít, chất lượng chưa đạt yêu cầu. Về phân bố, chúng nằm khá xa những điểm du lịch văn hoá, nên chưa thuận lợi cho phát triển du lịch.
- Về sức chứa khách du lịch:
Khu vực Bắc sông Cấm và khu vực sông Bạch Đằng có sức chứa khá lớn. Khu vực phía Bắc huyện có sức chứa trung bình. Khu vực trung tâm huyện có sức chứa kém.
- Vị trí và khả năng tiếp cận của điểm du lịch:
Vị trí và khả năng tiếp cận được đánh giá qua các chỉ tiêu về khoảng cách thời gian đi đường, chất lượng các loại phương tiện có thể sử dụng. Các di tích lịch sử văn hoá của huyện Thuỷ Nguyên nằm tương đối gần nhau và ta có thể dễ dàng di chuyển, hệ thống đường nhựa đảm bảo tốt cho quá trình vận chuyển. Bên cạnh đó hầu hết những di tích đều nằm ven sông vì vậy ta có thể dễ dàng vận chuyển bằng đường thuỷ.
Tiểu kết Chương 2: Nhìn một cách tổng quát thì các tài nguyên du lịch văn hoá của huyện khá thuận tiện cho việc đưa vào khai thác phục vụ phát triển du lịch. Nếu biết cách khai thác thì việc phát triển du lịch văn hóa của huyện sẽ trở nên dễ dàng hơn rất nhiều. Khóa luận: Tiềm năng phát triển du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Khai thác tài nguyên du lịch nhân văn ở Thủy Nguyên

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Phát triển du lịch văn hoá ở huyện Thủy Nguyên