Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh đặt ra nhiệm vụ khảo sát các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong các tác phẩm văn chính luận của Hồ Chí Minh, thấy được giá trị và hiệu quả biểu đạt của các phép tu từ; góp phần tìm hiểu phong cách ngôn ngữ Hồ Chí Minh trong văn chính luận. Từ đó, rút ra bài học thực tiễn trong dạy học tác phẩm của Hồ Chí Minh và bài học về sử dụng ngôn ngữ nói chung. Những lí do trên là cơ sở để tác giả chọn đề tài “Biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh”.
3.1. Các biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh
Trong chương này, luận văn tập trung khảo sát về biện pháp tu từ cú pháp của tác phẩm văn chính luận Hồ Chí Minh trên cơ sở những nội dung mà ở phần cơ sở lí thuyết đã định hướng. Để phân loại những biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng trong tác phẩm chính luận của Người, chúng tôi đã dựa vào những tiêu chí như:
- Các biện pháp tu từ được sử dụng phổ biến, có tần số xuất hiện
- Tạo ra nét đặc trưng cho phong cách chính luận Hồ Chí
- Biện pháp tu từ tạo ra giá trị thẩm mĩ, góp phần hình thành nội dung ngữ nghĩa của tác phẩm.
3.1.1. Biện pháp lặp
Qua khảo sát, chúng tôi nhận thấy, biện pháp lặp trong văn chính luận Hồ Chí Minh rất đa dạng, ở đây chúng tôi chia biện pháp này làm hai loại: biện pháp lặp xét về vị trí và biện pháp lặp xét về cấu tạo.
3.1.1.1. Lặp về vị trí
Biện pháp lặp về vị trí có thể kể đến như: lặp đầu, lặp giữa và lặp cuối. Theo số liệu thống kê, biện pháp lặp về vị trí có thể được khái quát như sau:
◈ Vị trí đầu: Ở vị trí đầu, những từ và cụm từ thường được lặp là:
– Tôi (xuất hiện 25 lần)
Ví dụ: Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam – Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ, và chiến sĩ; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.
Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thăm hỏi và cảm ơn các nước anh em xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp năm châu… [25, 509]
- Cuộc chống Mĩ (xuất hiện 14 lần)
Ví dụ: Cuộc chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắn lợi hoàn toàn… Cuộc kháng chiến chống Mĩ có thể còn kéo dài. Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người… [25, 509]
– Đoàn kết (xuất hiện 11 lần)
Ví dụ: Nhờ đoàn kết chặt chẽ, một lòng một dạ phục vụ giai cấp, phụ vụ nhân dân, phục vụ tổ quốc, cho nên từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. Đoàn kết là một truyền thống cực kì quý báu của nhân dân ta. Các đồng chí từ trung ương đến địa phương phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn con ngươi của mắt mình. [25, 510]
- Cuối cùng (xuất hiện 4 lần)
Ví dụ: Cuối cùng, tôi để lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng… Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: toàn Đảng, toàn dân đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh, góp phần xứng đáng vào sự nghiệp cách mạng thế giới. [25, 512]
- Dân tộc (xuất hiện 28 lần), dân tộc đó phải được (3 lần)
Ví dụ: Một dân tộc đã gan góc chống lại ách nô lệ của Pháp hơn 80 năm nay, một dân tộc đã gan góc đứng về phe Đồng minh chống phát xít mấy năm nay, dân tộc đó phải được tự do! Dân tộc đó phải được độc lập! [17, 3] ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
- Sự thật là ( xuất hiên 2 lần)
Ví dụ: Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật, chứ không phải thuộc địa của Pháp nữa… Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật, chứ không phải từ tay Pháp. [17, 3]
- Nhân dân ta (xuất hiện 19 lần)
Ví dụ: Từ đó nhân dân ta chịu hai tầng xiềng xích: Pháp và Nhật. Từ đó nhân dân ta càng cực khổ, nghèo nàn. [17, 2]
- Chúng tôi (xuất hiện 31 lần)
Ví dụ: Bởi thế cho nên, chúng tôi, Lâm thời Chính phủ của nước Việt Nam mới, đại biểu cho toàn dân Việt Nam, tuyên bố thoát li hẳn quan hệ với thực dân Pháp… Chúng tôi tin rằng các nước Đồng minh đã công nhận những nguyên tắc dân tộc bình đẳng… Vì những lẽ trên, chúng tôi, Chính phủ lâm thời của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà, trịnh trọng tuyên bố với thế giới rằng… [17, 3]
- Chúng (xuất hiện 45 lần)
Ví dụ: Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khỏi nghĩa của ta trong bể máu… [17, 1]
- Chúng ta (xuất hiện 24 lần)
Ví dụ: Chúng ta muốn hoà bình, chúng ta phải nhân nhượng, nhưng chúng ta càng nhân nhượng, thực dân Pháp càng lấn tới, vì chúng quyết tâm cướp nước ta lần nữa! [17, 480]
- Ai (xuất hiện 9 lần)
Ví dụ: Ai có súng dùng súng. Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy, gộc. Ai cũng ra sức chống thực dân Pháp cứu nước. [17, 480]
◈ Vị trí giữa: vị trí giữa thường xuất hiện những từ và cụm từ lặp như:
- Quyền (xuất hiện 11 lần)
Ví dụ: Tất cả mọi người sinh ra có quyền bình đẳng. Tạo hoá cho họ những quyền không ai có thể xâm phạm được; trong những quyền ấy, có quyền được sống, quyền tự do và quyền mưu cầu hạnh phúc. [17, 1]
- Bình đẳng (xuất hiện 17 lần), ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Người ta sinh ra tự do và bình đẳng về quyền lợi; và phải luôn luôn được tự do và bình đẳng về quyền lợi. [17, 1]
- Nhân dân ta (xuất hiện 16 lần)
Ví dụ: Tuy vậy, nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. [25, 511]
- Nhất định (xuất hiện 9 lần)
Ví dụ: Không! Chúng ta thà hi sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ. [17, 480]
- Tự do (xuất hiện 13 lần)
Ví dụ: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành nước tự do và độc lập. [17, 3]
◈ Vị trí cuối: Ở vị trí cuối, thường xuất hiện những từ và cụm từ lặp như:
- Thắng lợi (xuất hiện 27 lần)
Ví dụ: Cuộc chống Mĩ, cứu nước của nhân dân ta dù phải kinh qua nhiều gian khổ, hi sinh nhiều hơn nữa, song nhất định thắng lợi hoàn toàn… Đồng bào ta có thể phải hi sinh nhiều của, nhiều người. Dù sao chúng ta phải quyết tâm đánh giặc Mĩ đến thắng lợi hoàn toàn. [25, 509]
- Đảng (xuất hiện 21 lần)
Ví dụ: Trong Đảng thực hành dân chủ rộng rãi, thường xuyên và nghiêm chỉnh tự phê bình và phê bình là cách tốt nhất để củng cố và phát triển sự đoàn kết và thống nhất của Đảng… Nhân dân ta rất anh hùng, dũng cảm, hăng hái, cần cù. Từ ngày có Đảng, nhân dân ta luôn đi theo Đảng, rất trung thành với Đảng. [25, 510]
- Tự do (xuất hiện 23 lần), Độc lập (xuất hiện 18 lần
Ví dụ: Nước Việt Nam có quyền hưởng tự do và độc lập, và sự thật đã trở thành nước tự do và độc lập. Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mạng và của cải để giữ vững quyền tự do, độc lập ấy. [17, 4]
- Dân chủ cộng hoà (xuất hiện 9 lần)
Ví dụ: Khi Nhật đầu hàng Đồng minh thì nhân dân cả nước ta đã nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước Việt Nam Dân chủ Cộng hoà… Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỉ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hoà. [17, 3]
- Thanh niên, nhi đồng (xuất hiện 16 lần) ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Cuối cùng, tôi đểt lại muôn vàn tình thân yêu cho toàn dân, toàn Đảng, cho toàn thể bộ đội, cho các cháu thanh niên và nhi đồng. Tôi cũng gửi lời chào thân ái đến các đồng chí, các bầu bạn và các cháu thanh niên, nhi đồng quốc tế. [25, 512]
- Muôn năm (xuất hiện 12 lần)
Ví dụ: Việt Nam độc lập thống nhất muôn năm! Kháng chiến thắng lợi muôn năm! [17, 480]
Nhận xét:
Từ sự trình bày ở trên, chúng ta có thể rút ra những nhận xét sau:
Thứ nhất, vị trí giữa diễn ra số lần lặp nhiều nhất, trong tổng số 807 lần lặp thì vị trí này có tới 380 lần, chiếm 47 %. Xếp thứ hai là vị trí đầu, có số lần lặp 260 lần, chiếm 33 %. Sau cùng là vị trí cuối, có 161 lần lặp, chiếm 20 %. Các vị trí lặp này đều thể hiện những dụng ý nghệ thuật nhất định: thể hiện tính biểu cảm hay nhấn mạnh nội dung, nhấn mạnh một sắc thái ý nghĩa nào đó, làm nổi bật những từ ngữ quan trọng hay tạo sự chú ý của người đọc, tạo sức thuyết phục, tạo sự hài hoà, nhịp nhàng cho lời văn.
Thứ hai, trong các từ và cụm từ được lặp, các từ và cụm từ sau xuất hiện với tần số cao nhất:
Từ và cụm từ được lặp lại chủ yếu là lớp đại từ hoặc danh từ dùng để xưng hô hoặc gọi tên đối tượng. Sở dĩ như vậy là vì văn chính luận luôn hướng tới người nghe cụ thể, với những đối tượng và sự việc cụ thể, chân thực; do vậy, cần có những đại từ và danh từ để hô gọi giữa các bên và những mối quan hệ giao tiếp trong văn bản. Nhóm số từ (một, những, tất cả,..) xuất hiện tương đối nhiều dùng để liệt kê những sự việc xảy ra hoặc những từ thể hiện tính chất, trạng thái của sự vật, sự việc cũng có tần số xuất hiện cao (tự do, bình đẳng, thắng lợi, …).
Thứ ba, số lần lặp từ xuất hiện nhiều hơn số lần lặp cụm từ. Việc lặp lại từ và cụm từ có khi là hệ quả của việc lặp lại cấu trúc câu, có nghĩa rằng lặp cấu trúc câu thường kéo theo việc lặp lại từ và cụm từ. Đây cũng chính là biện pháp lặp mà chúng tôi xem xét trên phương diện cấu tạo.
3.1.1.2. Lặp về cấu tạo
Lặp về cấu tạo trong văn chính luận Hồ Chí Minh được thể hiện như sau:
Nhận xét:
◈ Lặp từ và cụm từ
Biện pháp lặp về từ và cụm từ diễn ra ở hấu hết các tác phẩm mà chúng tôi khảo sát. Thông thường, việc lặp lại cấu trúc câu thường kéo theo việc lặp từ và cụm từ, do vậy, chúng tôi khảo sát biện pháp lặp về phương diện này để có cái nhìn cụ thể hơn về nội dung được trình bày. Trong 1157 lần lặp thì có 528 lần lặp từ, chiếm 46 % và 278 lần lặp cụm từ, chiếm 24 %. Số liệu khảo sát cho thấy, việc lặp từ và cụm từ trong tác phẩm văn chính luận của Người diễn ra thường xuyên và có chức năng nhất định trong việc nhấn mạnh ý nghĩa của lời văn, tạo ra sự đặc sắc trong cách diễn đạt. Những từ và cụm từ được lặp được phân bố ở nhiều vị trí. Có khi, hiện tượng lặp xảy ra ở vị trí đầu các câu, lúc này sắc thái biểu cảm được thể hiện nổi bật ở những từ quan trọng, thu hút được sự chú ý của người đọc. Có khi, việc lặp được phân bố ở vị trí giữa, tạo được sự nhịp nhàng và cân bằng về cảm xúc. Những từ và cụm từ được lặp lại ở vị trí cuối thường mang ý nghĩa chung của cả đoạn tạo ra sự nhịp nhàng, hài hoà.
◈ Lặp cấu trúc câu
Ngoài việc lặp lại từ và cụm từ, tác phẩm văn chính luận của Người còn có nhiều cấu trúc câu được lặp. Việc lặp lại cấu trúc câu có nhiều mục đích khác nhau, nhưng chủ yếu nhằm nhấn mạnh nội dung mà người nói muốn phản ánh, tạo ra những điệp khúc hùng tráng, tạo ra những thông điệp mang âm hưởng mạnh mẽ, có tác động sâu sắc tới cảm xúc của người đọc.
Theo thống kê, có 350 lần lặp cấu trúc, chiếm 30 %. Tỉ lệ này cho thấy, hiện tượng lặp cấu trúc câu trong văn chính luận của Người là hiện tượng phổ biến, tạo nên đặc trưng về giá trị nghệ thuật. Những tác phẩm chính luận của Người thường không dài, chỉ khoảng 1 đến 2 trang (cũng có tác phẩm chỉ non nửa trang) với số câu không nhiều, nhưng tác phẩm nào cũng xuất hiện biện pháp lặp cấu trúc câu. Sự tổ chức các câu như vậy rõ ràng là có dụng ý trong việc thể hiện ý tưởng, người viết dễ dàng đạt được mục đích: dùng ngôn ngữ như một phương tiện giao tiếp đắc lực nhất để tác động tới đối tượng tiếp nhận văn bản. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
⚫ Biện pháp lặp cấu trúc câu dựa vào cấu tạo
Nếu dựa vào cấu tạo để phân loại, chúng ta có thể chia biện pháp lặp cấu trúc câu làm những loại như: lặp hoàn toàn, lặp không hoàn toàn và lặp bộ phận. Cụ thể:
Như vậy, biện pháp lặp cú pháp trong văn chính luận Hồ Chí Minh có hình thức đa dạng. Xét về cấu tạo, có thể chia làm 3 dạng: lặp hoàn toàn, lặp không hoàn toàn và lặp bộ phận; trong đó, dạng lặp bộ phận có số lượng nhiều nhất, với 215 lần chiếm 61%, đây là dạng lặp để thể hiện sự nối tiếp của các sự việc, đồng thời các thành phần được lặp lại thường có vai trò bình đẳng nhau, bổ sung cho nhau về ý nghĩa. Dạng lặp không hoàn toàn có số lượng tương đối, với 104 lần, chiếm 30 %, dạng này thường hướng sự chú ý của người đọc (người nghe) vào một số thành phần nhất định trong câu. Xếp sau cùng là dạng lặp hoàn toàn, dạng này tạo ra ấn tượng đặc sắc nhất khi thể hiện một nội dung nào đó.
– Lặp hoàn toàn
Lặp hoàn toàn (còn gọi là lặp đủ): là biện pháp mà các câu có chung một kiểu cấu tạo cú pháp.
Ví dụ: Dân ta đã đánh đổ các xiềng xích thực dân gần 100 năm nay để gây dựng nên nước Việt Nam độc lập. Dân ta lại đánh đổ chế độ quân chủ mấy mươi thế kỷ mà lập nên chế độ Dân chủ Cộng hòa. [17, 3]
Cả hai câu đều có chung cấu trúc cú pháp: Chủ ngữ + V1 + trạng ngữ chỉ mục đích. Điệp hoàn toàn đem lại ý khẳng định, rõ ràng và dứt khoát.
– Lặp không hoàn toàn
Lặp không hoàn toàn (lặp thừa hoặc lặp thiếu): là biện pháp mà ở những câu sau có thể bổ sung hoặc tỉnh lược một vài yếu tố so với cấu trúc cơ sở ban đầu.
Ví dụ 1: Đế quốc Mĩ nhất định phải cút khỏi nước ta.(1) Tổ quốc ta nhất định sẽ thống nhất.(2) Đồng bào Nam Bắc nhất định sẽ sum họp một nhà.(3) [17, 480]
Cả 3 câu đều có kiểu cấu tạo chủ ngữ – vị ngữ, chỉ khác nhau ở chỗ: câu 1 và 3 đều có bổ ngữ (C nhất định phải/sẽ V – B), còn câu 2 không có bổ ngữ (C nhất định sẽ V). Kiểu lặp này được gọi là lặp thiếu.
Ví dụ 2: Ai có súng dùng súng. (1) Ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc. (2) [17, 480]
Ở ví dụ này, câu 1 và câu 2 đều có chung cấu trúc cú pháp: chủ ngữ – vị ngữ (là một câu phức có thành phần chủ ngữ là cụm c- v); tuy nhiên, ở câu (2), V được bổ sung vào một cụm c-v dưới dạng tỉnh lược chủ ngữ. Kiểu lặp này được gọi là lặp thừa.
– Lặp bộ phận
Lặp bộ phận là sự lặp lại một vài đơn vị cú pháp tiếp theo nhau trong giới hạn của một câu.
Ví dụ: Chúng ta thà hy sinh tất cả chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ . [17, 480]
Lặp bộ phận (nhất định không chịu) tạo ra sự nhấn mạnh về nội dung, tạo ra sự khẳng định mạnh mẽ, thể hiện ý chí quyết tâm cao.
⚫ Biện pháp lặp cấu trúc câu dựa vào ý nghĩa từ vựng ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Biện pháp lặp về cấu trúc thường kéo theo lặp về từ vựng, do vậy, có thể dựa vào ý nghĩa từ vựng để phân loại biện pháp này thành: lặp đối chiếu và lặp đối chọi.
– Lặp đối chiếu
Ví dụ: Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rộng lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ cả thế giới. Chúng ta nhất định thắng! [25, 109]
Với những từ, cụm từ có ý nghĩa đối chiếu nhau trong cấu trúc điệp, nội dung miêu tả trở nên cụ thể và giàu cảm xúc hơn.
– Lặp đối chọi
Ví dụ: Tôi càng tự hào với sự lớn mạnh của phong trào cộng sản và công nhân quốc tế bao nhiêu, thì tôi càng đau lòng bấy nhiêu vì sự bất hoà hiện nay giữa các đảng anh em! [25, 511]
Ở ví dụ trên, sự xuất hiện của những cụm từ phản nghĩa: càng tự hào/càng đau lòng, sự lớn mạnh/sự bất hoà đã làm cho sự đối lập giữa các sự kiện, trạng thái được thêm rõ ràng.
3.1.2. Biện pháp liệt kê
Với lượng thông tin lớn, luôn thể hiện rõ tư tưởng, lập trường của người viết, văn chính luận đòi hỏi phải có tính bình giá công khai, có lập luận chặt chẽ, có căn cứ vững chắc và thuyết phục,… Vì thế, thể loại này ưa dùng biện pháp liệt kê, với mục đích đưa ra những thống kê cụ thể, những con số đáng nhớ, những sự kiện, thông tin chính xác… Văn chính luận Hồ Chí Minh đã phát huy tối đa ưu thế của biện pháp này. Biện pháp liệt kê trong văn chính luận của Người xuất hiện với tần số cao, mật độ dày, tạo nên những ấn tượng bất ngờ. Chúng tôi đã tiến hành khảo sát, thống kê, phân loại biện pháp tu từ liệt kê trong tác phẩm của Người về đặc điểm hình thức cấu tạo.
Cơ sở để chúng tôi phân loại là: biện pháp liệt kê phải có ít nhất hai thành tố trở lên, các thành tố này phải cùng loại, có cùng tư cách cú pháp và có chung liên hệ cú pháp với đơn vị cú pháp được bổ sung trong cấu trúc câu. Theo đó, các thành tố được liệt kê trong văn chính luận của Người có thể là: một từ, một cụm từ, một nòng cốt c//v hoặc một câu.
Biện pháp liệt kê trong văn chính luận Hồ Chí Minh được thể hiện trên bảng thống kê sau:
Qua bảng khảo sát, chúng ta thấy biện pháp liệt kê trong văn chính luận của Người có cấu tạo đa dạng: một từ, một cụm từ, một cụm c-v hay một câu. Trong đó, biện pháp liệt kê dưới dạng một cụm từ có số lượng nhiều nhất: gồm 895 lần xuất hiện (chiếm 64 %); kế đến là biện pháp liệt kê có thành tố liệt kê là một câu: gồm 302 lần xuất hiện (chiếm 21 %); biện pháp liệt kê có cấu tạo thành tố là một từ có số lượng ít nhất, với 211 lần, chiếm 15 %.
3.1.2.1. Biện pháp liệt kê có cấu tạo là một từ ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Theo bảng thống kê, biện pháp liệt kê có cấu tạo thành tố là một từ bao gồm: danh từ, động từ và tính từ. Chiếm đa số là danh từ (48 %), sau đó là động từ (36
%), có số lượng ít nhất là tính từ (16 %).
🟍 Danh từ
Biện pháp liệt kê có cấu tạo thành tố là một danh từ trong văn chính luận Hồ Chí Minh được thể hiện rất phong phú, bao gồm cả danh từ riêng và danh từ chung. Có khi thành tố liệt kê là những danh từ địa danh, có khi thành tố ấy lại là những sự vật đơn thể hay danh từ tổng hợp hoặc danh từ trừu tượng.
⚫ Danh từ riêng:
– Danh từ chỉ địa danh
Ví dụ:
Biên giới Liên Xô tiếp giáp với 12 biển, 3 đại dương và 12 nước. Những biên giới ấy là Na Uy, Ba Lan, Phần Lan, Tiệp Khắc, Hunggari, Rumani, Thổ Nhĩ Kỳ, Iran, Ápgannixtan, Mông Cổ, Triều Tiên và Trung Quốc... Liên Xô hiện gồm có 15 nước cộng hoà là:
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Liêng bang Xô viết Nga
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Ucren
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Nga trắng
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Udơbêkixtan
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Cadakhi
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Ghêóogi
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Adécbaigian
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Lituani
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Mônđavi
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Kiếcghidi
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Tátgiki
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Ácmêni
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Tuốcmên
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Éttôni
- Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Xô viết Léttôni
– Danh từ chỉ người ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Thanh niên bộ đội: Trần Văn Vạn 20 tuổi, Nguyễn Văn Tài 21 tuổi, Nguyễn Văn Chu 27 tuổi, Nguyễn Thế Toán 20 tuổi, Nguyễn Văn Rôi 22 tuổi, Nguyễn Văn Ngôn 22 tuổi, Lê Thành Kỷ 22 tuổi, Đàm Hùng Bình 23 tuổi, Tô Hữu Vi 23 tuổi, Đàm Văn Kháo 24 tuổi, Trần Hoàn 25 tuổi, Hoàng Văn Cẩn 26 tuổi, Lương Hoàn Dốc 29 tuổi, Hoàng Văn Hạc 29 tuổi, Nguyễn Văn Đào 30 tuổi.
Thành niên dân công: Nguyễn Thị Thanh 17 tuổi, Ngọc Thị Tỷ 19 tuổi, Nguyễn Thị Ngường 20 tuổi, Nguyễn Thị Lơ 20 tuổi, Trần Thị An 20 tuổi, Nguyễn Thị Mui 21 tuổi, Trần Thị Lý 22 tuổi, Đỗ Thị Khoa 22 tuổi, Vũ Thị Trước 23 tuổi, Đỗ Thị Lan 26 tuổi, Trần Thị Thơ 21 tuổi, Nguyễn Thị Vi, Trần Thị Nội, Nguyễn Thị Châu, Hà Sơn Hải 16 tuổi, Nguyễn Thành Ly 17 tuổi, Nguyễn Văn Phúc 18 tuổi, Bùi Đình Hoà 19 tuổi, Nguyễn Văn Hồ 23 tuổi,Tạ Văn Nghiệp 25 tuổi, Vũ Đình Vệ, Lăng Quang Minh 26 tuổi, Nguyễn Văn Thuỷ 28 tuổi, Nguyễn Tiến Nhân, Đặng Văn Diện, Lê Văn Bi, Đinh Văn Hoàn, Nguyễn Văn Bái, Đào Văn Đính, Phạm Hữu Vệ, Phạm Văn Nghiêm, Kiều Thế Khang, Nguyễn Văn Cạn, Lê Văn Nhất, Lê Văn Hân, Nguyễn Văn Hinh, Kiều Thế Ninh, Nguyễn Văn Dần. [19, 418]
⚫ Danh từ chung
- Danh từ chỉ sự vật đơn thể
+ Danh từ đơn thể là người
Ví dụ: Toàn thể cán bộ, đảng viên, đoàn viên, công nhân, viên chức phải hăng hái tham gia cuộc vận động với tinh thần phấn khởi và chí khí quyết thắng. [24, 112]
+ Danh từ đơn thể là động vật
Ví dụ: Nhà kho làm không cẩn thận; chim, chuột, sâu, mọt có thể phá thóc. [20, 549]
+ Danh từ đơn thể là vật thể
Ví dụ: Những người làm việc ở các sở giây thép, kho bạc, xưởng máy, đồn điền, kho tàng, v.v của Pháp và bù nhìn, phải giữ gìn máy móc, dụng cụ, của cải, sổ sách để giao lại cho chính quyền nhân dân. Ai muốn tiếp tục làm việc, sẽ được Chính phủ dùng theo tài năng của mình. [19, 565]
– Danh từ đơn vị
Ví dụ: Các cấp xã, huyện, tỉnh, khu cũng có đại đội của cấp mình; do đại hội cử ra chi uỷ, huyện uỷ, tỉnh uỷ, khu uỷ. [20, 242]
– Danh từ chỉ chất liệu
Ví dụ: Việc chuyên chở: xe và thuyền không khô ráo, sạch sẽ, để ghét rác lẫn vào thóc, gạo… Việc xay giã: để sót nhiều gạo trong trấu, tấm, cám. [20, 549]
– Danh từ tổng hợp ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Chúng đang tàn sát cha mẹ, vợ con, anh em ta, đốt phá mùa màng ta, triệt hạ làng mạc ta. Chúng đang gây biết bao tang tóc, khốn khổ cho nhân dân ta. [19, 280]
– Danh từ trừu tượng
Ví dụ: Về mặt lãnh đạo, đường lối, công tác, tư tưởng, chính trị, tổ chức, có thể nói Đảng đã có tính toàn quốc, tính quần chúng. [20, 233]
🟍 Động từ
So với danh từ, biện pháp liệt kê dưới dạng động từ xuất hiện ít hơn, tuy nhiên, những lần liệt kê với các thành tố là động từ thực sự để lại những ấn tượng sâu sắc trong việc tạo ra giá trị nội dung cho văn bản chính luận.
Biện pháp liệt kê với các thành tố là động từ xuất hiện với những nhóm như: động từ nội động, động từ tác động, động từ tổng hợp.
⚫ Động từ nội động
Ví dụ: Muốn được dân tin, dân phục, dân yêu, cán bộ phải tự mình làm đúng đời sống mới. Nghĩa là phải siêng năng, tiết kiệm, trong sạch, chính đáng. [18, 208]
⚫ Động từ ngoại động
- Động từ tác động
Ví dụ: Đảng ta nay đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân ta hăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác. [25, 510]
– Động từ cảm nghĩ
Ví dụ: Muốn có tài liệu thì phải tìm, tức là nghe (…), hỏi (…), thấy (…), xem
(…), … [20, 118]
⚫ Động từ tổng hợp ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Tiết kiệm: Việc này tuy dễ, song cũng phải có kế hoạch chu đáo. Phải tuyên truyền, giải thích, cổ động, thi đua. Phải có kế hoạch: ai phụ trách thu góp, thu góp, cất trữ, sử dụng thế nào, v.v.. [19, 129]
🟍 Tính từ
Theo khảo sát, hầu hết các biện pháp liệt kê này đều có thành tố là tính từ chỉ tính chất (có loại chỉ tính chất có mức độ, có loại không có mức độ).
⚫ Tính chất có thang độ
Ví dụ: Trước kia người ta cho lao động là việc nặng nề, xấu hổ. Nay lao động là sự nghiệp quang vinh, vẻ vang, vui thú và anh dũng. [19, 503]
⚫ Tính chất không có thang độ
Ví dụ: Điều mong muốn cuối cùng của tôi là: Toàn Đảng, toàn dân ta đoàn kết phấn đấu, xây dựng một nước Việt Nam hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ và giàu mạnh… [25, 512]
3.1.2.2. Biện pháp liệt kê có cấu tạo là một cụm từ
Theo số liệu thống kê, biện pháp liệt kê dưới dạng một cụm từ chiếm số lượng lớn nhất (với 895 biện pháp, chiếm 64 %). Sử dụng một lượng lớn các cụm từ như vậy chứng tỏ nội dung thông báo của câu trong văn bản không dừng lại ở mức chung chung, giản đơn mà còn còn được triển khai với những chi tiết có hình ảnh, mang tính cụ thể, tạo nên những ấn tượng cho người đọc.
🟍 Cụm danh từ
Cụm danh từ là cụm từ chính phụ có danh từ làm thành tố chính. Cụm danh từ cũng biểu thị ý nghĩa “sự vật” như danh từ, nhưng ở dạng hiện thực hoá, cụ thể và chi tiết, có ý nghĩa đầy đủ và có cấu tạo phức tạp hơn một danh từ.
Biện pháp liệt kê có thành tố là cụm danh từ được cấu tạo như sau:
⚫ Phụ trước + danh từ
Biện pháp liệt kê với thành tố liệt kê là cụm danh từ có cấu tạo phổ biến nhất là Phụ trước + danh từ. Dạng này bao gồm nhiều tiểu loại khác nhau, điều này cho thấy sự đa dạng về đối tượng, sự vật được gọi tên.
– Từ chỉ số lượng + danh từ
+ Từ chỉ số lượng chính xác + danh từ
Ví dụ: Chỉ trong vòng một tuần lễ, ở thành Nữu Ước có 99 vụ giết người, 7 vụ cướp nhà băng, 3 vụ bắt cóc trẻ con, 14 vụ trộm đào ngạch, 2 vụ đốt nhà, 2 vụ tự tử, một vụ tống tiền. [19, 331]
+ Từ chỉ số lượng phỏng định + danh từ ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Nhân dân miền Nam Việt Nam đã đánh thắng cuộc “chiến tranh đặc biệt” của đế quốc Mĩ và đang đánh thắng cuộc chiến tranh cục bộ của chúng, một cuộc chiến tranh vô cùng tàn bạo, với hơn một triệu quân gồm có gần năm mươi vạn quân viễn chinh Mĩ và hơn nửa triệu quân nguỵ và chư hầu, với hàng nghìn máy bay, hàng trăm tàu chiến, hàng triệu tấn vũ khí hiện đại và những phương tiện chiến tranh dã man nhất: những chất độc hoá học, hơi độc, những bom na-pan, bom bi, … [25, 307]
+ Lượng từ + danh từ
Ví dụ: Chúng dùng báo chí và phát thanh hằng ngày, tranh ảnh và sách vở in rất đẹp, các nhà hát, các trường học, các lễ cúng bái ở nhà thờ và chùa chiền, các cuộc hội họp, v.v. để tuyên truyền. [20, 283]
– Từ chỉ tổng lượng + danh từ
Ví dụ: Toàn thể dân tộc Việt Nam quyết đem tất cả tinh thần và lực lượng, tính mệnh và của cải để giữ vưng nền tự do và độc lập ấy. [17, 4]
– Yếu tố hạn định + danh từ
Thành phần phụ đi trước danh từ trong cụm danh từ (được dùng làm thành tố liệt kê) còn là những yếu tố hạn định có chức năng hạn định về ý nghĩa (sự sở hữu, sự tồn tại, sự phủ định, … ) cho danh từ đi sau nó.
+ Từ chỉ hạn định sở hữu + danh từ
Ví dụ: Để xứng đáng với lòng tin cậy của Đảng, của Chính phủ, của bộ đội
và của nhân dân, cán bộ phải có quyết tâm thi đua làm tròn nhiệm vụ… [20, 85].
+ Từ chỉ hạn định tồn tại + danh từ
Ví dụ: Chúng ta có chính nghĩa, có sức mạnh đoàn kết của toàn dân từ Bắc đến Nam, có truyền thống đấu tranh bất khuất, lại có sự đồng tình ủng hộ rông lớn của các nước xã hội chủ nghĩa anh em và nhân dân tiến bộ cả thế giới. Chúng ta nhất định thắng. [25, 109].
+ Từ hạn định phủ định + danh từ
Ví dụ: Những người nghèo, không tiền, không của, thì làm đời sống mới thế nào? [18, 95]
⚫ Danh từ + Phụ sau
Thành phần phụ sau của danh từ thường có hai loại: thành tố phụ chỉ định (này, kia, ấy, nọ) và thành tố phụ hạn định hay miêu tả sự vật. Theo khảo sát, thành phần phụ sau của danh từ trong cụm danh từ làm thành tố liệt kê ở văn chính luận của Người thường là loại dùng để hạn định hay miêu tả sự vật.
Thành phần phần miêu tả đi sau danh từ có chức năng “nêu lên đặc điểm của sự vật mà danh từ trung tâm biểu hiện để miêu tả cụ thể về nó” [52, 78]; về cấu tạo, nó có thể là một từ (danh từ, động từ, tính từ, đại từ, số từ) hoặc cụm từ (cụm từ đẳng lập, cụm từ chính phụ hoặc cụm từ chủ vị).
Ví dụ 1: Nhân dân Việt Nam rất yêu chuộng hoà bình, hoà bình thật sự, hoà bình trong độc lập, chứ không phải là thứ hoà bình giả hiệu, “hoà bình” kiểu Mỹ. [25, 109]
Ví dụ 2: Những tư tưởng, tác phong mới mà Đảng ta yêu cầu mỗi cán bộ, mỗi đảng viên và mỗi người lao động cần phải bồi dưỡng cho mình, tóm lại là: ý thức làm chủ và tinh thần tập thể xã hội chủ nghĩa, quan điểm “tất cả phục vụ sản xuất”, ý thức cần kiệm xây dựng nước nhà, tinh thần tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội. [23, 315] ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
⚫ Phụ trước + danh từ + phụ sau
Kiểu liệt kê với các thành tố liệt kê có cấu tạo: Phụ trước + danh từ + phụ sau là kiểu có tính cụ thể nhất về đối tượng được liệt kê.
Ví dụ: Với thắng lợi ấy, chúng ta đã có thể đưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, làm cho nước ta có một nền công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiện đại, có một nền văn hoá và khoa học tiên tiến. [23, 309].
🟍 Cụm động từ
Cụm động từ là một cụm từ có quan hệ chính phụ trong đó có động từ làm trung tâm, còn các thành tố khác quây quần xung quanh để bổ sung ý nghĩa cho từ trung tâm đó.
Biện pháp liệt kê có thành tố là cụm động từ trong văn chính luận của Người được cấu tạo như sau:
⚫ Phụ trước + động từ
Ví dụ: Tôi mong đồng bào ta mỗi người có một quyển “Đời sống mới” để xem, để hiểu, để thực hành đời sống mới. [18, 93]
⚫ Động từ + phụ sau
Ví dụ: Quân đội và các lực lượng vũ trang nhân dân đang phấn khởi tiến lên chính quy và hiện đại, rèn luyện tinh thần cách mạng, nâng cao giác ngộ xã hội chủ nghĩa, trình độ chiến thuật và kĩ thuật, luôn luôn sẵn sàng chiến đấu, bảo vệ tổ quốc, giữ gìn trật tự trị an, kiên quyết đập tan mọi hành động phá hoại của đế quốc Mĩ và tay sai của chúng. [24, 226]
⚫ Phụ trước + động từ + phụ sau
Ví dụ: Đây là đơn thuốc chữa bệnh máy móc: bất kỳ việc to việc nhỏ: phải xem xét kĩ lưỡng, phải bàn bạc kĩ lưỡng, phải hỏi dân kĩ lưỡng, phải giải thích kĩ lưỡng cho dân… [19, 5]
🟍 Cụm tính từ
Một cụm từ có tímh từ làm trung tâm thì gọi là cụm tính từ. Cụm tính từ cũng biểu thị ý nghĩa tính chất, đặc trưng của sự vật, hành động như tính từ đơn lẻ, nhưng được hiện thực hoá và cụ thể hoá, có tính tình thái hơn.
Ngoài biện pháp liệt kê với các thành tố là cụm danh từ và cụm động từ, văn chính luận Hồ Chí Minh còn xuất hiện biện pháp liệt kê với thành tố là cụm tính từ. Tuy số lần xuất hiện không nhiều như cụm danh từ và động từ (87 lần xuất hiện, chiếm 10 %) nhưng nó cũng góp phần miêu tả rõ tính chất, trạng thái của đối tượng được phản ánh. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
⚫ Phụ trước + tính từ
Ví dụ: Càng gần thất bại, địch càng cố gắng, càng hung dữ, càng liều mạng.
⚫ Tính từ + phụ sau
Ví dụ: Nay phải từ biệt thế giới này, tôi không có điều gì phải hối hận, chỉ tiếc là tiếc rằng không được phục vụ lâu hơn nữa, nhiều hơn nữa. [25, 512]
⚫ Phụ trước + tính từ + Phụ sau
Ví dụ: Phải gần gũi dân, hiểu biết dân, học hỏi dân; phải thật thà thực hành phê bình và tự phê bình… [19, 90]
⚫ Cụm C-V
Biện pháp liệt kê với các thành tố là cụm c-v cũng là nét đặc trưng trong văn phong chính luận của Người. Với 270 lần xuất hiện (chiếm 30 %), biện pháp này đã tạo ra những giá trị tu từ nhất định.
Ví dụ: ruộng đất bị bỏ hoang, ruộng đất không có nước tưới để cày cấy, các công trình thuỷ lợi đều bị phá huỷ, số trâu bò bị giặc bắn chết… Số nhà máy đã ít ỏi lại đều bị giặc tàn phá, máy móc bị tháo dỡ mang đi, sản xuất bị bế tắc… [24, 159]
- Có khi, trong một ngữ đoạn lớn, tác giả sử dụng biện pháp liệt kê với nhiều
thành tố liệt kê: từ, cụm từ, câu kết hợp đan xen, tạo cho đoạn văn có sự diễn đạt đặc biệt, nội dung được nhấn mạnh sâu sắc.
Ví dụ: Ham chuộng hình thức: Việc gì không xét đến cái kết quả thiết thực, cần kíp, chỉ chăm về hình thức bên ngoài, chỉ muốn phô trương cho oai. Thí dụ: ngày nay tập quân sự, cốt nhất là biết bắn súng, dùng dao, ném lựu đạn, dùng địa thế, khéo mò đêm, khéo do thám; nói tóm lại, cốt tập cho mọi người biết đánh du kích. Thế mà, có nhiều nơi chỉ để thời giờ tập “một, hai”. Thế thì khác gì tập lễ nhạc để đi chữa cháy. Lại như chào cờ thì bắt người ta dừng hết xe lại, bắt mặc áo dài, v.v.. Làm hình thức như thế kết quả chỉ làm cho dân oán. [18, 77]
Có thể bạn quan tâm:
3.1.2.3. Biện pháp liệt kê có thành tố là một câu ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ngoài việc sử dụng các từ và cụm từ làm các thành tố liệt kể để diễn đạt nội dung và tạo nhịp điệu đặc biệt cho câu văn, văn chính luận Hồ Chí Minh còn xuất hiện biện pháp liệt kê với các thành tố cấu tạo ở bậc câu.
Biện pháp liệt kê có thành tố liệt kê là một câu trong văn chính luận Hồ Chí Minh chiếm số lượng tương đối nhiều, với 105 lần xuất hiện (chiếm 25 %) biện pháp này đã tạo ra giá trị đặc biệt cho tác phẩm.
Biện pháp này thường xuất hiện song song với biện pháp lặp cấu trúc. Qua khảo sát ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy rằng, mỗi lần lặp cấu trúc cũng là một lấn tác giả thực hiện biện pháp liệt kê. Sự phối hợp hai biện pháp này đã đem lại cho tác phẩm chất giọng đặc biệt, góp phần làm nổi bật nội dung giao tiếp.
Biện pháp liệt kê ở cấp độ câu trong văn chính luận của Người chủ yếu theo lối tiệm tiến, tức là các câu sau có nội dung ở mức độ tăng cấp hơn các câu trước nó (theo kiểu: tt1<tt2<tt3<…<ttn), đây cũng là điều dễ hiểu, bởi văn chính luận của Người chủ yếu viết về đề tài chính trị trong thời đại cách mạng, do vậy các sự việc thường xuất hiện liên tục với một mức độ khác nhau, đồng thời cần nhấn mạnh nội dung theo mức độ tăng cấp để tạo sự đanh thép cho lời văn cũng như tạo ra sự nhấn mạnh đặc biệt về nội dung sự việc, nhằm tạo sức thuyết phục lớn trong lời nói.
Ví dụ: Các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa đều tiến bộ nhảy vọt. Thí dụ: Liên Xô sẽ căn bản hoàn thành kế hoạch 7 năm xây dựng chủ nghĩa cộng sản trước thời hạn từ 1 đến 3 năm, Chỉ trong 2 năm, Trung Quốc đã căn bản hoàn thành kế hoạch 5 năm lần thứ hai. Triều Tiên anh em căn bản hoàn thành kế hoạch 5 năm trong 2 năm rưỡi, v.v… [12, 222].
Căn cứ vào cấu tạo của các thành phần liệt kê, chúng tôi chia biện pháp liệt kê có thành tố liệt kê ở bậc câu trong văn chính luận của Người làm 2 loại: loại câu có vị tố là động từ và loại câu có vị tố là danh từ. Trong hai loại này, câu có vị tố là động từ chiếm số lượng nhiều hơn cả ( 213 lần, chiếm 71 %), câu có vị tố là danh từ chiếm số lượng ít hơn (89 lần, chiếm 29 %).
◈ Câu có vị tố là động từ
Các động từ (cụm động từ) trong kiểu câu có vị tố là động từ (hay cụm động từ) đã làm rõ mọi hành động, suy nghĩ, tình cảm của con người. Do vậy, đây là kiểu liệt kê thường được dùng để biểu thị các sự việc, hành động dồn dập, liên tiếp, nhằm tăng cường tính biểu cảm cho văn bản.
Ví dụ: Khẩu hiệu thi đua ái quốc, hiện nay là: Tất cả để chiến thắng. Chiến thắng giặc thực dân. Chiến thắng giặc dốt. Chiến thắng giặc đói. Chiến thắng mọi tính xấu trong mình ta. [18, 660]
◈ Câu có vị tố là danh từ
Ví dụ: “Nghìn lực sĩ” có nghĩa là những kẻ địch mạnh, thí dụ: lũ thực dẫn Pháp, bọn can thiệp Mĩ. Cũng có nghĩa là những sự khó khăn gian khổ. “Các nhi đồng” nghĩa là quần chúng nhân dân hiền lành đông đảo. Cũng có nghĩa là những công việc ích quốc, lợi dân. [19, 184]
3.1.3. Biện pháp nhấn mạnh các thành phần câu ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Như đã trình bày ở chương 1, một trong những biện pháp tu từ cú pháp có giá trị nhấn mạnh nội dung biểu đạt là biện pháp nhấn mạnh thành phần câu với 2 cách: dùng các tiểu từ “thì”, “mà”, “là” hoặc nhấn mạnh thành phần câu bằng cách đảo ngữ.
Trong tác phẩm văn chính luận, Hồ Chí Minh ưa dùng lối đảo ngữ để làm thay đổi tiết tấu của câu nhằm tạo nên những ấn tượng mạnh. Trong những trường hợp cần thiết, Người lại dùng các tiểu từ có chức năng tu từ để gia tăng ngữ điệu, nhấn mạnh một nét nghĩa “bắt buộc” hay “tương phản”,…
Có thể khẳng định rằng, đây là hai biện pháp được dùng khá phổ biến trong tác phẩm chính luận của Người. Với số lượng lớn, tần suất xuất hiện tương đối cao, hai biện pháp này đã tạo ra nét đặc sắc cho phong cách văn chính luận Hồ Chí Minh. Có những trường hợp hai biện pháp này được dùng đan xen nhau tạo nên tiếng nói rất riêng trong cách biểu hiện nội dung tác phẩm.
3.1.3.1. Biện pháp dùng các tiểu từ
Biện pháp này còn được gọi với thuật ngữ biến thể xen thêm tiểu từ của kết cấu C-V. Tiểu từ xen thêm có thể có quan hệ với toàn bộ kết cấu C-V, có thể chỉ có quan hệ với chủ ngữ hoặc vị ngữ. [40, 102]
Kết quả khảo sát biện pháp dùng các tiểu từ trong văn chính luận của Người như sau:
⚫ Dùng tiểu từ thì
Ví dụ: Nơi thì đặt kế hoạch to quá, rồi làm không nổi. Nơi thì ban đầu làm quá ồ ạt, đến nỗi ít lâu thì đuối sức đi, không tiếp tục thi đua được. Nơi thì mỗi một đoàn thể, mỗi một ngành đều có một kế hoạch riêng mà các kế hoạch thì không ăn khớp với nhau… Nhân dân thì bù đầu… Nơi thì các ban vận động thi đua chỉ biết làm theo chỉ thị cấp trên…
… Về văn hoá, những nơi đã diệt xong nạn mù chữ thì phải thi đua học thêm nữa. Những nơi khác thì phải thi đua diệt xong nạn mù chữ. Các nhà văn nghệ thì thi đua sáng tác. Các nhà chuyên môn thì thi đua phát minh.
Về kinh tế, thì thi đua làm cho dân đủ ăn, đủ mặc, đủ dùng, để đánh giặc.
Về quân sự, Vệ quốc quân và dân quân du kích thì thi đua rèn luyện cán bộ chấn chỉnh quân đội. Các công xưởng thì thi đua chế tạo vũ khí cho nhiều, cho mau, cho tốt. [18, 659]
⚫ Dùng tiểu từ mà ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Ruộng đất mà địa chủ đã phân tán từ ngày có sắc lệnh giảm tô (ngày 14 tháng 7 năm 1949) đều là không chính đáng. [20, 180]
⚫ Dùng tiểu từ là
Ví dụ: Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật… Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay nhật… [17, 3]
Nhận xét:
- Các tiểu từ được sử dụng không những thể hiện khả năng phân tách hay liên kết các thành phần của một câu mà những lần góp mặt trong văn chính luận Hồ Chí Minh chúng còn thể hiện màu sắc tu từ rất rõ nét.
- So với tiểu từ “mà”, “là” thì tiểu từ “thì” trong văn chính luận của Người được dùng với số lượng nhiều nhất. Hầu như tất cả các trường hợp xuất hiện của “thì” có thể thay thế bằng “là” nhưng nếu thế thì mức độ nhấn mạnh sẽ bị giảm đi nhiều. “Thì” xuất hiện với vai trò nhấn mạnh nét nghĩa tất yếu (Khi người ta đã ngoài 70, thì tuổi tác càng cao, sức khoẻ càng thấp [25, 509] ), hoặc tương phản (Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng [17, 2]), hoặc để liệt kê sự vật (Các đoàn thể và cá nhân thì thi đua đỡ đầu bộ đội và dân quân… Các cụ, các bà thì thi đua tham gia Hội mẹ chiến sĩ. Nhân dân thì thi đua mua công phiếu kháng chiến… Các cụ phụ lão và chị em phụ nữ thì thi đua tổ chức đội du kích. Các cháu thanh niên thì thi đua tòng quân. Cán bộ trong các cơ quan thì thi đua sửa đổi cách làm việc cho hợp lí hơn… [18, 657]), mức độ tất yếu hay tương phản ở đây được thể hiện ở bậc cao nhất (hơn là).
– Tiểu từ là có sắc thái nhẹ hơn thì, khi cần nhấn mạnh ý tưởng, người viết có thể thay thế nó bằng thì.
So sánh: Toàn thể đồng bào ta đã hiểu rằng có cách mạng thì sống, không cách mạng thì sẽ chết dần, chết mòn [16, 9]
Và: Toàn thể đồng bào ta đã hiểu rằng có cách mạng là sống, không cách mạng là sẽ chết dần, chết mòn.
- Từ mà trong tác phẩm chính luận được nhắc tới thường tạo cho câu văn ý khẳng định cao (Chính vì thế mà phong trào cách mạng mỗi ngày một lớn mạnh… [16, 9]) hay thể hiện ý nghĩa ngược lại với tình trạng (Than ôi! Mĩ mà không đẹp.) [19, 263]
3.1.3.2. Biện pháp đảo ngữ ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Văn chính luận của Hồ Chí Minh không chỉ xuất hiện hiện tượng đảo vị trí, trật tự các thành phần câu một cách đơn thuần mà điều đáng nói là Bác đã sử dụng chúng một cách thường xuyên, vận dụng tối đa ưu thế của biện pháp này để tạo sự chú ý cho người tiếp nhận về trung tâm nghĩa được thông báo.
Biện pháp đảo ngữ có thể chia làm nhiều loại khác nhau, theo khảo sát, văn chính luận Hồ Chí Minh được chia làm những nhóm sau:
- Đảo vị ngữ lên trước chủ ngữ
- Đảo bổ ngữ của động từ ra trước
- Đảo bổ ngữ của câu lên trước
🟍 Đảo V lên trước C
Ví dụ: Thấm nhuần chủ nghĩa Mác – Lênin, tuyệt đối trung thành với lợi ích của giai cấp vô sản và của dân tộc; giữ gìn sự đoàn kết nhất trí trong Đảng và sự đoàn kết nhất trí giữa các đảng cộng sản, giữa các nước trong đại gia đình xã hội chủ nghĩa, đó là cái bảo đảm chắc chắn nhất cho cách mạng thắng lợi. [23, 197]
🟍 Đảo bổ ngữ của động từ ra trước
Ví dụ: Cái sự hi sinh khó nhọc thì mình làm trước người ta, còn sự sung sướng thanh nhàn thì mình nhường người ta hưởng trước. [18, 185]
🟍 Đảo bổ ngữ của câu lên trước
Ví dụ: Khéo tổ chức, khéo lãnh đạo, thì lực lượng ấy sẽ làm xoay trời chuyển đất, bao nhiêu thực dân và phong kiến cũng bị lực lượng to lớn ấy đánh tan. [20, 185]
Nhận xét:
Trên cơ sở so sánh với trật tự thông thường, chúng tôi nhận thấy, ở những trường hợp xuất hiện hiện tượng đảo ngữ, nội dung thông báo được nổi bật hơn hẳn, ý tưởng của người viết thể hiện rõ ràng, đồng thời tạo nên những âm hưởng giàu cảm xúc.
Trong các nhóm đảo ngữ thì nhóm đảo bổ ngữ lên đầu câu chiếm số lượng nhiều nhất (108 lần, chiếm 49 %), kế đến là dạng đảo ngữ đảo bổ ngữ của động từ ra trước (64 lần, chiếm 29 %), sau cùng là dạng đảo vị ngữ ra trước chủ ngữ (47 lần, chiếm 22 %).
3.1.4. Biện pháp dùng câu hỏi tu từ ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Bên cạnh những biện pháp tu từ cú pháp đã khảo sát ở trên, biện pháp dùng câu hỏi tu từ cũng được tác giả sử dụng thường xuyên để tăng cường tính diễn cảm của phát ngôn. Dựa vào các kiểu chuyển đổi ý nghĩa của cấu trúc cú pháp, chúng tôi chia câu hỏi tu từ trong văn bản chính luận của Hồ Chí Minh ra làm 3 dạng:
- Câu hỏi tu từ nghi vấn – khẳng định
- Câu hỏi tu từ nghi vấn – phủ định
- Câu hỏi tu từ nghi vấn – sai khiến
3.1.4.1. Câu hỏi tu từ nghi vấn – khẳng định
Ví dụ: Hiện nay tỉnh ta mới vỏn vẹn có 33 đội. Vì sao mà tỉnh ta chậm chạp như vậy? Vì sao thấy kinh nghiệm tốt mà không học, thấy việc có lợi mà không làm? (…) Gây rừng và bảo vệ rừng là rất cần thiết. Hiện nay tỉnh ta còn có cái tệ phá rừng, thế thì khác nào đem vàng đổ xuống biển? [24, 149]
3.1.4.2. Câu hỏi tu từ nghi vấn – phủ định
Ví dụ: Viết làm gì dài dòng và rống tuếch như thế? Chỉ có một cách trả lời là quyết không muốn cho quần chúng xem. Vì đã dài lại rỗng, quần chúng trông thấy đã lắc đầu, ai còn muốn xem nữa? [18, 299]
3.1.4.3. Câu hỏi tu từ nghi vấn – sai khiến
Ví dụ: Dân ta có tội tình gì mà phải kiếp trầm luân dường ấy? Sống trong tình trạng đau thương thảm khốc đó, dân ta há lại chịu bó tay chờ chết hay sao? [12, 129]
Nhận xét:
Câu hỏi tu từ trong văn chính luận của Hồ Chí Minh thường tạo cho độc giả ấn tượng về cách lập luận chặt chẽ. Có khi, câu hỏi ấy tác động vào đối phương, có khi là sự bày tỏ nỗi niềm, thái độ của người viết, có khi tác động trực tiếp tới người đọc mà không cần bất cứ một đáp án, một câu trả lời nào, vì đằng sau những câu hỏi ấy, tác giả đã trả lời tất cả, trả lời một cách thông minh, chắc chắn và sâu sắc.
Dạng câu hỏi tu từ mang tính chất nghi vấn – khẳng định có số lượng nhiều nhất (48 lần, chiếm 53 %), dạng câu hỏi này đã đem lại sức nặng và sự nhấn mạnh tuyệt đối cho lời văn. Dạng nghi vấn – phủ định đã đem lại cho lời văn sự phủ định ở mức cao nhất, đây là dạng tạo nên giá trị tu từ ấn tượng nhất, đặc biệt là khi nó thể hiện sắc thái phủ định mỉa mai hay phê phán. Các dạng câu hỏi tu từ chính là sử dụng câu hỏi theo lối gián tiếp, thể hiện một hàm ý nào đó.
3.2. Đặc trưng ngữ nghĩa được tạo ra từ các biện pháp tu từ cú pháp
3.2.1. Biện pháp tu từ cú pháp góp phần tạo ra âm hưởng, tiết tấu cho văn bản chính luận ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Người ta thường xem việc tạo ra âm hưởng, tiết tấu là chức năng của các biện pháp tu từ ngữ âm, tuy nhiên, trong quá trình khảo sát ngữ liệu, chúng tôi nhận thấy, các biện pháp tu từ cú pháp đã trình bày ở trên có vai trò quan trọng trong việc góp phần tạo ra nhạc điệu phù hợp với nội dung biểu đạt.
Ví dụ: Giôn-xơn và bè lũ phải biết rằng: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam.(1) Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc.
- Nhưng, chúng quyết không lay chuyển được chí khí sắt đá, quyết tâm chống Mĩ, cứu nước của nhân dân Việt Nam anh hùng.(3) Chúng càng hung hăng thì tội của chúng càng thêm nặng. (4) Chiến tranh có thể kéo dài 5 năm, 10 năm, 20 năm hoặc lâu hơn nữa.(5) Hà Nội, Hải Phòng và một số xí nghiệp có thể bị tàn phá, song nhân dân Việt Nam quyết không sợ! (6) Không có gì quý hơn độc lập, tự do.(7) Đến ngày thắng lợi, nhân dân ta sẽ xây dựng lại đất nước ta đàng hoàng hơn, to đẹp hơn! (8) [25, 108]
Trong đoạn văn trên, biện pháp liệt kê xuất hiện song trùng cùng biện pháp lặp cấu trúc (kèm theo lặp từ vựng) tạo nên sự nhịp nhàng, uyển chuyển cho lời văn. Biện pháp lặp cấu trúc được thể hiện trong nội bộ từng câu (lặp bộ phận: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam..) và giữa các câu (lặp hoàn toàn: chúng có thể đưa 50 vạn quân, 1 triệu quân hoặc nhiều hơn nữa để đẩy mạnh chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam. Chúng có thể dùng hàng nghìn máy bay, tăng cường đánh phá miền Bắc…). Sự đối chiếu và đối chọi về từ vựng trong mỗi câu còn tạo ra hiện tượng lặp đối chiếu và đối chọi giữa các câu: lặp đối chiếu giữa các câu:(1) – (2) – (4) và (5) – (6) –(8); lặp đối chọi giữa các câu: (1) – (2) với (3) – (5) – (6). Biện pháp lặp trên được kết hợp với biện pháp liệt kê theo hướng tiệm tiến, thể hiện được sự đối lập về ý nghĩa: giữa sức mạnh được trang bị bằng vũ khí hiện đại của quân đội Mĩ và sức mạnh bằng ý chí quyết tâm của dân tộc Việt Nam; qua đó, tác giả khẳng định rằng: chiến thắng tất yếu thuộc về chính nghĩa! Sự kết hợp ấy góp phần tạo nên không khí hùng tráng, thiêng liêng của lời kêu gọi chống Mĩ, cứu nước; giọng văn khoẻ khoắn, đanh thép. Đó là lời hiệu triệu vang vọng, lan toả, có sức truyền cảm tới mọi thế hệ độc giả.
Nhờ sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp có hiệu quả, Người cũng tạo ra một bản Tuyên ngôn độc lập mang âm hưởng đặc biệt, vừa rắn rỏi, hùng tráng vừa dứt khoát, mạnh mẽ.
Ví dụ:
Về chính trị, chúng tuyệt đối không cho nhân dân ta một chút tự do dân chủ nào.
Chúng thi hành những luật pháp dã man. Chúng lập ba chế độ khác nhau ở Trung, Nam, Bắc để ngăn cản việc thống nhất nước nhà của ta, để ngăn cản dân tộc ta đoàn kết.
Chúng lập ra nhà tù nhiều hơn trường học. Chúng thẳng tay chém giết những người yêu nước thương nòi của ta. Chúng tắm các cuộc khỏi nghĩa của ta trong bể máu.
Chúng ràng buộc dư luận, thi hành chính sách ngu dân.
Chúng dùng thuốc phiện, rượu cồn để làm cho nòi giống ta suy nhược. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Biện pháp lặp cú pháp với sự liệt kê các sự việc đã tạo ra hệ thống luận cứ vững chắc để lời buộc tội thêm sức thuyết phục. Âm hưởng của lời buộc tội trở nên rắn chắc, dứt khoát nhờ cấu trúc sóng đôi xuất hiện liên tục; sự việc được tái hiện rõ ràng và sinh động; câu văn trở nên rất ấn tượng, dễ đọc, dễ thuộc nhờ vào sự nhịp nhàng cân đối của các vế, sự đối lập của các âm tiết cuối câu: nhóm âm tiết bằng cuối câu: nào – man – ta – dân được đan xen với nhóm âm tiết trắc cuối câu: kết – học – máu – nhược,… tạo sự linh hoạt trong diễn đạt. Từ chúng xuất hiện 13 lần với hàng loạt hành động được miêu tả bằng các động từ ngoại động có tính chất mạnh: dã man, thẳng tay, tắm, ràng buộc, cướp, bóc lột, nhẫn tâm,… làm cho lời buộc tội thêm phần đanh thép. Tất cả hợp thành một điệp khúc với âm hưởng chính luận hùng biện.
Cùng với biện pháp lặp cú pháp, lặp từ vựng và liệt kê, biện pháp dùng câu hỏi tu từ cũng tạo nên âm hưởng đặc biệt cho tác phẩm chính luận Hồ Chí Minh
Ví dụ: Mỹ giúp bù nhìn Lý Thừa Vãn cũng thất bại. Thế chẳng phải vô duyên ư? Mỹ giúp thực dân Pháp và bù nhìn Việt, rồi cũng thất bại. Thế chẳng phải vô duyên ư? Mỹ khoe khoang có bom nguyên tử, nay không sợ ai nữa. Thế chẳng phải vô duyên ư? Cả đời đế quốc Mĩ là: Mất tiền mua cái vô duyên/Để thiên hạ mắng: rồ điên, điên rồ. [19, 381]
Sự xuất hiện liên tiếp những câu hỏi mang tính tu từ có chung một cấu trúc cú pháp: Thế chẳng phải… ư?, cùng với sự liệt kê cụ thể, những việc làm vô nghĩa, thất bại của bọn Mĩ hiện lên thật rõ ràng. Bằng cách dùng từ phủ định để khẳng định (chẳng phải … chẳng phải … chẳng phải) cùng với những hư từ “ư” ở cuối các câu hỏi thể thiện rõ thái độ mỉa mai của người viết đối với đối tượng. Lời văn nhẹ nhàng nhưng thâm thuý, bản chất đế quốc Mĩ bộc lộ sinh động qua lời kết luận cuối cùng: Cả đời đế quốc Mĩ là: Mất tiền mua cái vô duyên/Để thiên hạ mắng: rồ điên, điên rồ.
3.2.2. Biện pháp tu từ cú pháp tạo ra sự liên kết, mạch lạc cả về nội dung và hình thức của tác phẩm
Các biện pháp tu từ được xét đến có vai trò quan trọng trong việc triển khai nội dung tác phẩm, tạo ra sự liên kết chặt chẽ, sự mạch lạc, khúc chiết giữa các câu, các đoạn và các phần trong văn bản.
Biện pháp lặp cú pháp (kèm theo lặp từ vựng) cùng với những biện pháp khác như liệt kê, nhấn mạnh thành phần câu đã trở thành phương tiện liên kết các đơn vị với nhau (từ, cụm từ, câu) tạo thành những mảng nội dung có cùng chủ đề, mối quan hệ về nghĩa giữa các đơn vị này được gia tăng, sự gắn kết giữa câu, từ, đoạn văn và toàn văn bản được thể hiện rõ ràng.
Ví dụ: Nhưng vẫn có một số ít Đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần mà trở nên tự cao, tự đại. Họ phê bình người khác mà không muốn người khác phê bình họ; không tự phê bình hoặc phê bình một cách không thật thà, nghiêm chỉnh. Họ sợ tự phê bình thì sẽ mất thể diện, mất uy tín. Họ không lắng nghe ý kiến của quần chúng. Họ xem khinh những cán bộ ngoài Đảng. Họ không biết rằng: có hoạt động thì chúng ta khó mà tránh khỏi sai lầm… [12, 191]
Câu chủ đề đứng ở đầu đoạn nêu lên tình trạng một số ít Đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc mà trở nên kiêu ngạo, công thần mà trở nên tự cao, tự đại, Các câu sau là các câu triển khai rõ ý cho câu chủ đề: mỗi câu nêu lên một biểu hiện của việc đảng viên bị chủ nghĩa cá nhân trói buộc. Bằng việc lặp lại cấu trúc cú pháp kèm theo lặp từ vựng, nội dung biểu đạt giữa các câu trở nên rõ ràng, cụ thể, mạch lạc và có sự liên kết chặt chẽ (dù không dùng bất cứ phương tiện liên kết hình thức nào giữa các câu trong đoạn), nhờ vậy, chủ đề của đoạn văn được nổi bật.
Ngoài việc liên kết các câu trong đoạn thành khối để tập trung biểu hiện nội dung, các biện pháp tu từ cú pháp kể trên còn góp phần gắn kết các đoạn thành những mảng nội dung với bộn bề sự việc. Sử dụng các biện pháp tu từ cú pháp hợp lí cũng là cách để làm nổi bật cách lập luận theo hướng quy nạp hay diễn dịch. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Ví dụ: Trong Tuyên ngôn độc lập, đoạn văn thứ 8 đến đoạn 12 tạo thành một mảng nội dung về tội ác thực dân Pháp gây ra cho người dân Việt Nam trên lĩnh vực kinh tế, hay đoạn văn từ 13 – 16 liên kết với nhau để tạo ra mảng nội dung về tội ác của thực dân Pháp gây ra cho người dân Việt Nam về chính trị; giữa các đoạn từ 8 – 16 đã tạo thành một khối thống nhất biểu hiện những hành động trái đạo lí và chính nghĩa của thực dân Pháp với nhân dân Việt Nam.
Có khi, các câu, các đoạn đứng xa nhau nhưng vẫn tạo ra sự liên kết, mạch lạc nhờ vào việc sử dụng biện pháp tu từ cú pháp sóng đôi hay liệt kê.
Ví dụ:
Trong Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến mỗi đoạn đều có một câu mở đầu hướng tới những đối tượng khác nhau, các câu này giống nhau về cấu trúc, dù đứng xa nhau nhưng vẫn tạo thành một thể thống nhất, tập trung biểu hiện chủ đề.
Đoạn 1, tác giả sử dụng lời hô gọi: Hỡi đồng bào toàn quốc! Lời văn thể hiện sự kêu gọi chung cho cả đồng bào.
Đoạn 2, lời kêu gọi ngắn gọn hơn nhưng cụ thể hơn: Hỡi đồng bào! Ở đây, đối tượng kêu gọi là toàn dân đứng lên kháng chiến cứu nước, mọi tầng lớp xã hội cùng đoàn kết chống giặc ngoại xâm (điều này còn được triển khai ở những câu tiếp theo (Bất kì đàn ông, đàn bà, bất kì người già, người trẻ…).
Đoạn 3, lời kêu gọi mang tính định danh cụ thể: Hỡi anh em binh sĩ, tự vệ, dân quân! Đây là lực lượng chính, lực lượng tinh nhuệ trong công cuộc cứu quốc. Câu văn ngắn, giọng điệu trở nên khoẻ khoắn, nhanh, mạnh, dồn dập thể hiện sự cần thiết của sức dân và sự khẩn trương về thời gian trong giờ cứu nước.
Tác giả có cách hô gọi cụ thể cho từng trường hợp, điều này tác động trực tiếp tới tinh thần cách mạng của từng người, từng tầng lớp. Vì thế, sức nặng của ngôn từ phát huy được hiệu quả cao trong việc giao tiếp.
Việc lặp lại cấu trúc cùng với biện pháp liệt kê còn giúp người đọc dễ dàng hình dung ra những sự kiện đã xảy ra trong một thời đại có nhiều biến cố phức tạp.
Ví dụ: Mĩ dùng Tưởng giới Thạch làm bù nhìn. Trong thời gian chống Nhật (1937-1945), Mĩ giúp Tưởng 1.101 triệu đô la. Sau chiến tranh chống Nhật, Mĩ lại giúp Tưởng 2.007 triệu để chống cộng. Mĩ bán rẻ cho Tưởng những quân nhu, quân dụng. Mĩ lại cho không Tưởng rất nhiều đạn dược do lính Mĩ để lại. Bộ đội Mĩ giúp Tưởng chiếm giữ những địa phương và những đường giao thông quan trọng để chuẩn bị đánh cộng sản. Hơn 1000 cố vấn quân sự Mĩ, do tướng Barr chỉ huy, huấn luyện cho 39 sư đoàn quân Tưởng, trong đó có 20 sư đoàn cơ giới do Mĩ vũ trang. Ngoài ra, Mĩ lại giúp Tưởng một đội máy bay 1000 chiếc và 271 chiếc tàu chiến. Mĩ dùng máy bay và tàu thuỷ chở 50 vạn quân Tưởng đến các vùng Đông và Bắc để chiếm đóng các thành phố to như Bắc Kinh, Nam Kinh, Thượng Hải, v.v.. Trong lúc đó, 10 vạn lính Mĩ đến giữ các cửa bề, các đường xe lửa, các mỏ than. [19, 275].
3.2.3. Biện pháp tu từ cú pháp tăng cường tính biểu cảm ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Tính biểu cảm là một trong những phẩm chất cần có không những của một tác phẩm nghệ thuật mà cả những tác phẩm chính luận. Có thể khẳng định rằng, mục đích cuối cùng của việc sáng tạo nghệ thuật cũng như của tác phẩm chính luận là tác động tới tâm tư, tình cảm của người tiếp nhận. Muốn đạt được mục đích đó, tác giả cần phải tạo ra những sản phẩm tinh thần có tính biểu cảm, thể hiện được xúc cảm mãnh liệt của họ trong những sản phẩm ấy, truyền tới độc giả những nhiệt huyết, cảm xúc của chính mình.
Nhận thức rõ điều đó, Hồ Chí Minh đã tạo ra những áng văn nổi tiếng, viết về đề tài chính trị, xã hội, chiến tranh nhưng lời văn không hề khô khan, đơn điệu mà có tính biểu cảm rất cao. Người ta vẫn thường nhắc đến một Tuyên ngôn độc lập “áng chính luận mang tính mẫu mực”, nhắc đến một Lời kêu gọi toàn quốc đầy sức thuyết phục, nhắc đến một Bản án chế độ thực dân Pháp đanh thép viết bằng máu và nước mắt, và nhắc đến những tác phẩm chính luận khác như Di chúc, Thư kêu gọi tổng khởi nghĩa hay Đường kách mệnh,… Tất cả tạo thành một bản hùng ca mang tư tưởng của một con người có “ tầm vóc thời đại”.
Tính biểu cảm trong những tác phẩm chính luận của Hồ Chí Minh được tạo ra từ nhiều yếu tố: nội dung, người nói, người nghe, cách lập luận, các hình thức biểu đạt, cách sử dụng các phương tiện tu từ,… Nói về cách sử dụng các phương tiện tu từ, ở đây chúng tôi chỉ khảo sát đến những biện pháp tu từ cú pháp đã được trình bày ở trên, những biện pháp này góp phần quan trọng trong việc tạo ra và tăng cường tính biểu cảm cho lời văn.
Biện pháp lặp cú pháp kèm theo lặp từ vựng và ngữ nghĩa góp phần làm sáng rõ, cụ thể hoá các ý tưởng, tăng cường tính diễn cảm của lời nói.
Ví dụ:
Tôi có ý định đến ngày đó, tôi sẽ đi khắp hai miền Nam – Bắc, để chúc mừng đồng bào, cán bộ và chiến sĩ anh hùng; thăm hỏi các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng yêu quý của chúng ta.
Kế theo đó, tôi sẽ thay mặt nhân dân ta đi thǎm và cảm ơn các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, và các nước bầu bạn khắp nǎm châu đã tận tình ủng hộ và giúp đỡ cuộc chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta. [25, 509]
Tình cảm, cảm xúc chân thành của tác giả được thể hiện qua rõ ràng qua sự khẳng định: Tôi sẽ … Tôi sẽ… Điệp khúc vang lên như một lời hứa từ sâu thẳm đáy lòng, sự láy lại của cảm xúc được nhấn mạnh qua cấu trúc lặp, các đối tượng được bác dành tình cảm lần lượt được theo thứ tự qua sự liệt kê: đồng bào, cán bộ và chiễn sĩ anh hùng, các cụ phụ lão, các cháu thanh niên và nhi đồng; các nước anh em trong phe xã hội chủ nghĩa, các nước bầu bạn khắp năm châu,… Biện pháp liệt kê làm cho các thành phần mang tính đẳng lập không bị rời rạc mà còn bổ sung cho nhau để gia tăng giá trị biểu nghĩa.
Dùng câu hỏi tu từ để tăng tính biểu cảm cũng là một trong những biện pháp thường thấy trong những tác phẩm văn chính luận, những câu hỏi tu từ trong văn chính luận của chủ tịch Hồ Chí Minh thường thể hiện những tình thái đa dạng, phong phú.
Ví dụ: Những món tiền tiêu xài hoang phí ấy ở đâu ra? Có phải mồ hôi nước mắt của đồng bào không?
Trong lúc chiến sĩ ta đang ăn gió nằm sương, đồng bào tản cư đang chịu mọi nỗi thiếu thốn, toàn thể nhân dân đang ra sức tiết kiệm để giúp kháng chiến – các vị cán bộ kia ăn tiêu như thế không thẹn với lương tâm hay sao? ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Phải chăng đó là cách thực hành khẩu hiệu Cần, Kiệm, Liêm, Chính mà Hồ Chủ Tịch đã nêu ra và đòi hỏi mỗi cán bộ phải làm gương mẫu? [18, 585]
Ở ví dụ trên, tác giả đã sử dụng liên tiếp những câu hỏi tu từ để bộ lộ thái độ của mình đối với việc tiêu xài hoang phí, không biết Kiệm của một số cơ quan, đoàn thể ở Hà Nam, Kim Bảng, ở B.Đ,… Ba câu đầu là lời khẳng định thẳng thắn về sự việc. Ở câu cuối, tác giả đã dùng cấu trúc khẳng định “phải chăng” để phủ định lại lập luận: đó là cách thực hành khẩu hiệu Cần, Kiệm, Liêm, Chính. Cách nói ấy có tác động sâu sắc tới đối tượng tiếp nhận, đặc biệt là những người trong cuộc, khiến họ phải tự suy nghĩ để có cái nhìn đúng đắn về việc làm của mình, về tư cách của một người cán bộ.
Trong những trường hợp khác, dùng câu hỏi tu từ kết hợp với lặp cú pháp hay liệt kê,… đã tạo ra sự truyền cảm mạnh mẽ.
Ví dụ: Nếu ăn mặc bảnh, mà được oai tín thể diện, thì mấy chàng Sở Khanh chẳng nhiều thể diện oai tín lắm ư?
Mà Hồ Chủ Tịch quanh năm bốn mùa, chỉ mặc một bộ kaki cũ, mỗi ngày chỉ có rau ăn rau, có mắm ăn mắm. Như thế, Người chẳng mất oai tín thể diện đi sao? [18, 209]
Người viết đã khéo léo trình bày nội dung một cách ấn tượng bằng cách đưa ra các luận cứ thuyết phục, để người đọc tự suy ngẫm và đưa ra kết luận cho chính họ.
3.2.4. Biện pháp tu từ cú pháp góp phần nhấn mạnh nội dung biểu đạt, tập trung sự chú ý của người đọc (người nghe)
Viết những tác phẩm chính luận, Hồ Chí Minh chủ yếu nhằm mục đích phục vụ chính trị, khi viết Người luôn đặt rõ vấn đề: Viết cho ai? Viết vì mục đích gì? Viết cái gì và viết như thế nào? Như vậy, Bác đặt đối tượng tác động và mục đích chính trị lên hàng đầu. Khi đã xác định được đối tượng và mục đích sáng tác Bác mới lựa chọn hình thức viết, bởi hình thức viết quyết định không nhỏ tới thành công của tác phẩm. Mỗi đối tượng tiếp nhận Bác lựa chọn một cách viết khác nhau, dù lựa chọn cách viết nào thì cũng luôn thể hiện được sự giản dị, ngắn gọn, cô đúc.
Có thể thấy rằng, trong quá trình sáng tạo nghệ thuật cũng như trong tạo lập văn bản nói chung, Người (cũng như bao tác giả khác) không bao giờ đặt ra tiêu chí rằng mình sẽ sử dụng các kiểu câu ra sao, diễn đạt thế nào hay sử dụng những biện pháp tu từ nào để thể hiện nội dung. Việc sử dụng và sắp xếp ngôn từ trong văn bản còn tuỳ thuộc vào yêu cầu biểu đạt nội dung gắn với từng ngữ cảnh cụ thể. Thế nhưng, khi biện pháp tu từ nào đó xuất hiện nhiều với tần số cao thì đó lại là một dấu hiệu cần quan tâm khai thác, bởi nó bộc lộ lối tư duy, kiểu nhận thức và phản ánh hiện thực bằng ngôn ngữ, nó góp phần tạo nên phong cách tác giả.
Văn chính luận luôn hướng tới số đông quần chúng, nhất là chính luận về những vấn đề luận chiến mang tính tuyên truyền, kêu gọi. Vì đặc điểm đó, văn chính luận cần phải làm sao để tập trung được sự chú ý của người nghe, tác động trực tiếp tới tinh thần cách mạng, nhận thức, tình cảm của người tiếp nhận. Nhấn mạnh nội dung biểu đạt cũng là một cách để thu hút sự chú ý của người nghe (người đọc). Tuỳ thuộc và tài năng và thói quen trong quá trình sáng tác mà các tác giả có thể sử dụng nhiều cách khác nhau để nhấn mạnh nội dung biểu đạt và tập trung sự chú ý của người tiếp nhận, một trong những cách ấy là sử dụng có hiệu quả các biện pháp tu từ. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Trong tác phẩm Tuyên ngôn độc lập, để tạo ấn tượng về những hành động trái nhân đạo và chính nghĩa của thực dân Pháp với dân tộc Việt Nam, Người đã sử dụng biện pháp lặp cấu trúc (kết hợp lặp từ và cụm từ) cùng với biện pháp liệt kê: chẳng hạn, đoạn văn thứ 8 đến đoạn văn 16 tạo ra một sự trùng điệp về hình thức và nội dung: chúng tuyệt đối không cho… chúng thi hành… chúng lập… chúng thẳng tay… chúng tắm… chúng ràng buộc… chúng dùng… chúng bóc lột… chúng cướp… chúng giữ độc quyền… chúng đặt ra…. chúng không cho… chúng bóc lột… tạo nên một kết cấu liên hoàn, tạo nên hệ thống luận điểm, luận chứng có cơ sở khoa học, là bằng chứng đích thực như những thước phim quay chậm về tội ác của bọn thực dân Pháp gây ra cho nhân dân Việt Nam. Sự tổ chức ngôn từ như thế tạo cho người nghe ấn tượng về đối tượng – chủ thể gấy ra hành động phi nhân đạo – thực dân Pháp: ấn tượng về số lượng rất nhiều những tội ác mà “nước Mẹ” dành cho dân An Nam.
Có khi, những sự việc nối đuôi nhau xuất hiện dưới cấu trúc câu rất ngắn (được lặp lại), làm cho sự tường thuật thêm phần sinh động, nêu bật được vấn đề cốt lõi: Pháp chạy. Nhật hàng. Vua Bảo Đại thoái vị. Các thành phần liệt kê không phải là những cụm c-v nằm trong một câu ghép (không phải là: Pháp chạy, Nhật hàng, Vua Bảo Đại thoái vị.) mà nó tồn tại ở đơn vị câu, các câu riêng biệt được tách ra để làm rõ hơn diễn biến của lịch sử. Một sự miêu tả rất hình tượng. Người đọc hình dung cụ thể và sắc nét hơn cảnh tượng của kẻ thù: tan tác, điêu tàn, thảm hại.
Không chỉ dừng lại ở đó, với hàng loạt cấu trúc lặp, sự liệt kê tỉ mỉ nhưng gọn gàng, tác giả đã làm nổi bật được sự đối lập giữa hai thái cực: nhân đạo và phi nhân đạo, chính nghĩa và phi nghĩa, cao thượng và thấp hèn.
Qua sự tổ chức lời nói bằng những cấu trúc sóng đôi, bằng sự liệt kê giàu hình ảnh, biện pháp đảo ngữ độc đáo, người viết đã làm cho các sự kiện hiện lên sinh động, giàu cảm xúc, thể hiện rõ thái độ của toàn dân tộc đối với quân xâm lược. Đồng thời, người đọc bị thu hút vào những lời lẽ sắc bén và đầy thuyết phục, người đọc dễ dàng hình dung ra tội ác mà bọn thực dân Pháp đã gây ra cho dân tộc Việt Nam, tinh thần cách mạng của người dân Việt Nam cũng được nhấn mạnh cao độ, từ đó người phát ngôn nhận được sự đồng cảm và ủng hộ của số đông quần chúng, sự ủng hộ của thế giới. Nội dung biểu đạt càng được tô đậm thì sự đối lập càng được đẩy lên cao, thể hiện sự đối lập ấy nhằm mục đích cuối cùng là nhấn mạnh đến bản chất của từng đối tượng.
Như vậy, người đọc dễ dàng nhận ra bản chất của từng đối tượng qua sự sắp xếp logic của tác giả về từng sự việc, từng hành động. Đồng thời, người tiếp nhận có sự phân biệt rõ ràng hơn về chân lí của sự thật và ủng hộ cho cuộc đấu tranh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc, vì chính nghĩa.
Biện pháp đảo ngữ cũng đóng vai trò như một yếu tố kiến thiết quan trọng, góp phần yểm trợ cho những yếu tố khác để tạo nên sự đặc biệt về nội dung. Với cách đặt các bổ ngữ của câu ở vị trí đầu, biện pháp này không những tránh được sự đơn điệu trong kết cấu mà còn tạo ra sự nhấn mạnh đặc biệt trong lời nói (Về chính trị, chúng …; Về kinh tế, chúng…; Đối với người Pháp, chúng ta vẫn giữ một thái độ khoan hồng…; Sau cuốc biến động ngay 9 tháng 3, Việt Minh đã giúp cho…; Vì những lẽ trên, chúng tôi…). ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Trong những trường hợp cần thiết, Người sử dụng khéo léo các tiểu từ nhằm nhấn mạnh nội dung có ý nghĩa quan trọng (Mùa thu năm 1940, phát xít Nhật đến xâm lăng Đông Dương để mở thêm căn cứ đánh đồng minh, thì bọn thực dân Pháp quỳ gối đầu hàng…; Sự thật là từ mùa thu năm 1940, nước ta đã thành thuộc địa của Nhật…; Sự thật là dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay nhật…). Tiểu từ thì ở ví dụ trên không chỉ xuất hiện như một dấu hiệu của lối liệt kê, kể chuyện mà còn góp phần nhấn mạnh hành động đê hèn của đối tượng (quỳ gối đầu hàng). Tiểu từ là cũng đem lại sắc thái đặc biệt cho câu văn: nhấn mạnh thông tin được nêu ở vị ngữ, sức nặng của lời khẳng định về một sự thật tất yếu càng được tăng lên gấp bội (Nước ta thành thuộc địa của Nhật, Dân ta đã lấy lại nước Việt Nam từ tay Nhật).
Biện pháp lặp và biện pháp liệt kê cũng tạo ra hiệu quả tu từ trong tác phẩm Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến. Trong trường hợp này, phép lặp cùng với việc phối hợp từ ngữ (nhất định không chịu… nhất định không chịu… chúng ta muốn… chúng ta phải… chúng ta càng… chúng quyết tâm…) đóng vai trò như một yếu tố biểu cảm để vừa tác động vào lí trí của người nghe vừa thổi bùng ngọn lửa yêu nước của người dân Việt Nam. Đồng thời, nó còn tạo ra ấn tượng mạnh về thái độ quyết tâm của người nói trong cuộc đấu tranh cam go ấy.
3.2.5. Biện pháp tu từ cú pháp góp phần tái hiện suy tư và thể hiện giọng điệu của người phát ngôn
Ngoài việc tạo sự logic, mạch lạc cho tác phẩm, các biện pháp tu từ cú pháp được sử dụng trong văn chính luận của Người còn có tác dụng tái hiện suy tư hay thể hiện giọng điệu của người phát ngôn.
Nếu biện pháp lặp, biện pháp đảo ngữ và liệt kê có ưu thế trong việc nhấn mạnh nội dung biểu đạt thì biện pháp dùng câu hỏi tu từ phát huy được khả năng của nó trong việc tạo ra sự diễn cảm cũng như nêu bật được suy nghĩ và giọng điệu của người nói trong từng hoàn cảnh phát ngôn. Trong tác phẩm chính luận, dạng câu hỏi tu từ thường bộc lộ chính thái độ và suy nghĩ của người phát ngôn, góp phần định hướng cho người đọc về cách nhìn nhận vấn đề cũng như đánh giá sự việc một cách khách quan nhất.
Câu hỏi tu từ trong tác phẩm chính luận của Hồ Chí Minh thường xuất hiện để thể hiện thái độ khẳng định hay phủ định của tác giả đối với sự việc được nói đến.
Ví dụ: Các bạn cũng tự hiểu cái chủ nghĩa thực dân này đã lạm dụng cái danh tiếng tốt của nước Pháp để bắt chúng tôi chịu những tai hoạ lớn như thế nào: phu sai, tạp dịch, thuế muối, cưỡng bách mua thuốc phiện và rượu (…) Hãy thử hỏi chúng tôi khổ sở như thế, ai được hưởng lợi? Có phải nước Pháp và dân chúng Pháp không? Có phải nông gia, thương gia, kĩ nghệ gia Pháp ở Đông Dương được lợi không? Trước khi trả lời tôi muốn các bạn hãy tự đặt vào địa vị chúng tôi một chốc lát. Các bạn sẽ đối phó như thế nào nếu có người ngoại quốc đến bắt các bạn phải chịu một chuỗi dài những tai hoạ và đau đớn ấy? (…) Có người nói nước Pháp muốn giữ thể diện nên cố níu lấy Đông Dương? Lầm biết bao! Các nước Đồng minh đã công nhận sự độc lập của Cao Ly. Nước Mĩ đã tự ý trả độc lập cho Phi Luật Tân. Các nước này có vì vậy mà mất thể diện không? [17, 65] ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Những câu hỏi tu từ xuất hiện trong ngữ cảnh trên chính là lời tâm tình của Hồ Chủ Tịch với những người Pháp ở Đông Dương, với tư cách “một người bạn của những người Pháp lương thiện”. Cấu trúc hỏi: có … không? được lặp lại liên tục tạo ra những vòng xoáy cảm xúc, chất chứa nỗi niềm của một người dân mất nước. Tác giả đã khéo léo bày tỏ suy nghĩ của mình bằng cách đặt câu hỏi để đối tượng tự cảm nhận về sự thật, tự rút ra chân lí cho chính họ. Tất cả nhằm nhấn mạnh một quy luật: nước Pháp không trở nên giàu có hơn bởi sự bóc lột thuộc địa, và cũng chẳng vì thiếu sự bóc lột ấy mà nghèo khó hơn. Công nhận nền độc lập của Việt Nam không những không làm giảm uy tín của nước Pháp, mà còn làm cho nó tăng cao trước thế giới và lịch sử. [17, 66]
Câu hỏi tu từ có khi được xuất hiện liên tiếp tạo nên cấu trúc đối thoại hay độc thoại nội tâm, thể hiện suy nghĩ trong tâm tưởng của tác giả. Trong trường hợp này, nó tồn tại dưới dạng lời tường thuật hay lời nửa trực tiếp của tác giả.
Ví dụ: Việt Nam cách xa Hoa Kì hàng vạn dặm. Nhân dân Việt Nam và nhân dân Hoa Kì không thù oán gì nhau. Ông có lí do gì mà gây nên cuộc chiến tranh xâm lược ở miền Nam Việt Nam, hoang phí hàng tỉ đô-la của nhân dân Hoa Kỳ để ủng hộ một chính quyền thối nát độc tài, đã bị nhân dân miền Nam Việt Nam phỉ nhổ? Ông có quyền gì mà bắt buộc hàng vạn thanh niên con em người Hoa Kỳ sang giết hại người miền Nam Việt Nam vô tội, rồi họ cũng chết trong cuộc chiến tranh phi nghĩa, bẩn thỉu ấy? [24, 62]
Những câu hỏi tu từ xuất hiện liến tiếp tạo ấn tượng sâu sắc, xoáy sâu vào tâm trí độc giả. Đó chính là lời đối thoại một chiều của tác giả với kẻ thù, những luận điểm được đưa ra dựa trên những sự việc có thật, điều đó buộc đối tượng không thể nào chối tội được mà phải trả lời dư luận bằng một hành động cụ thể. Hàng loạt câu hỏi tu từ sóng đôi nhau, vừa tái hiện sinh động tội ác của tổng thống Ken-nơ-đi, vừa bộc lộ tâm trạng dồn nén, chất chứa sự căm phẫn của người trong cuộc. Sự đối thoại một chiều ấy còn thể hiện một mong muốn giản dị: chiến tranh phải được chấm dứt, cuộc sống bình yên phải trở lại với người dân vô tội. Sự trùng điệp về cấu trúc câu hỏi đã tạo ra sự hài hoà về âm điệu, cảm xúc được bộc lộ rõ ràng, giọng điệu dứt khoát, gay gắt.
Có khi câu hỏi tu từ đòi hỏi một câu trả lời làm phương tiện hấp dẫn sự chú ý và gợi trí tưởng tượng của người nghe.
Ví dụ: Mĩ tuyên truyền rằng dân Mĩ rất sung sướng. Sung sướng thế nào? Tờ báo Mỹ Vệ quốc (National Guardian) viết: “… Đêm khuya, tôi thấy một người đàn bà moi móc trong những thùng rác. Mỗi người một tay xách cái bị, một tay móc thùng rác. Trời ơi phải chăng đây là nước Mĩ có thừa dân chủ để bán cho cả thế giới…”. [19, 263]
Tác giả nêu vấn đề: Mĩ rất sung sướng và sau đó đặt câu hỏi: Sung sướng thế nào? Đó là một cách nêu vấn đề kích thích được sự tò mò của người đọc, người đọc sẽ có hứng thú đọc tiếp văn bản để hiểu rõ vấn đề tác giả đưa ra.
Tiểu kết chương 3 ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Văn chính luận Hồ Chí Minh thể hiện một tư tưởng lớn lao. Đó là những áng chính luận mang tính thời sự về một gian đoạn bão tố của cách mạng Việt Nam, những tác phẩm này thật sự có ý nghĩa cả về lí luận và thực tiễn. Tác phẩm chính luận của Người có tính truyền cảm mạnh mẽ với những luận cứ vững chắc, dù phản ánh những vấn đề mang tính thời đại nhưng vẫn rất gần gũi với nhiều tầng lớp xã hội, bởi sự giản dị trong cách nói đã tạo ra sự dễ hiểu, dễ nghe, dễ thuộc. Góp phần tạo nên ưu điểm ấy có sự đóng góp không nhỏ của các biện pháp tu từ cú pháp.
Ở chương này, chúng tôi đã khảo sát cụ thể các biện pháp tu từ cú pháp xuất hiện trong văn chính luận Hồ Chí Minh như: biện pháp lặp, biện pháp liệt kê, biện pháp nhấn mạnh thành phần câu bằng các tiểu từ và đảo ngữ, biện pháp dùng câu hỏi tu từ. Từ biểu hiện của các biện pháp tu từ cú pháp đã được thống kê và tìm hiểu, chúng tôi tiến hành phân tích một số đặc trưng ngữ nghĩa của văn bản do các biện pháp tu từ ấy mang lại.
Tổng số lần xuất hiện các biện pháp nêu trên là 3780 lần, trong đó biện pháp lặp (bao gồm lặp vị trí và lặp cấu tạo) chiếm số lượng nhiều nhất với 1964 lần, đứng thứ 2 là biện pháp liệt kê với 1408 lần, kế đến là biện pháp nhấn mạnh thành phần câu bằng các tiểu từ và đảo ngữ (315 lần), cuối cùng là biện pháp dùng câu hỏi tu từ (93 lần).
Ngoài những biện pháp chúng tôi khảo sát, tác phẩm chính luận Hồ Chí Minh còn dùng nhiều biện pháp tu từ cú pháp khác như: tách biệt; dùng giải ngữ, phụ ngữ tình thái, dùng kết từ trong câu ghép hay biện pháp tỉnh lược cú pháp. Điều này cho thấy, Hồ Chí Minh là một cây bút tài hoa trong cả lĩnh vực văn chính luận, cho thấy khả năng sử dụng ngôn ngữ của tác giả. Các biện pháp tu từ góp phần làm sáng rõ phong cách tác giả: cách viết chặt chẽ, khoa học, có hệ thống, thể hiện một trí tuệ lớn, một nhân cách lớn.
KẾT LUẬN
Cho đến nay, đã có nhiều công trình nghiên cứu về những tác phẩm của Chủ tịch Hồ Chí Minh trên nhiều phương diện khác nhau. Một trong những cách tiếp cận tác phẩm của Người được chúng tôi lựa chọn là tìm hiểu biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong tác phẩm chính luận. Bởi, việc sử dụng các biện pháp tu từ ấy trong văn bản phần nào thể hiện được phong cách nghệ thuật của tác giả. Đó là một phong cách chính luận chặt chẽ, giàu tính luận chiến, khoa học và ấn tượng, ấn tượng không chỉ ở nội dung trình bày mà còn ở cả hình thức thể hiện.
Dựa trên những tiêu chí nhất định, chúng tôi đã tiến hành khảo sát và phân loại các biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong tác phẩm văn chính luận của Người.
Về biện pháp tu từ ngữ âm, chúng tôi đã khảo sát và phân loại các yếu tố: nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu được sử dụng và trở thành nét đặc trưng trong cách viết của Người. Các yếu tố ngữ âm ấy được biểu hiện đa dạng, phong phú và giàu tính biểu cảm. Chúng góp phần không nhỏ vào việc biểu đạt nội dung ý nghĩa văn bản. Một mặt, sự ngắt nhịp đều đặn, ổn định hay đột biến, khác lạ; việc gieo vần vào những điểm nhấn của câu văn; việc phối thanh dựa trên sự đồng nhất và đối lập về bản chất ngữ âm của các yếu tố siêu đoạn tính tiếng Việt, … đem lại sự hài hòa về mặt ngữ âm cho tác phẩm. Mặt khác, sự hòa phối về âm thanh ấy còn là yếu tố tăng thêm sức thuyết phục cho lời nói chính luận do nó tạo được tính thuận tai, thuận miệng mà trở nên dễ đọc, dễ hiểu; nhờ vậy, nó nhanh chóng đến được với đông đảo quần chúng. Chính sự tổ chức sắp xếp ngôn từ theo những cấu trúc nhất định ấy là yếu tố tác động mạnh mẽ tới nhận thức và tình cảm của mọi người. Chúng góp phần đưa ngôn ngữ chính luận về gần gũi với ngôn ngữ đời thường, hòa nhịp cũng ngôn ngữ quần chúng, đi vào quần chúng một cách tự nhiên và sâu lắng nhất. ( Luận văn: Biện pháp tu từ cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh )
Nhịp điệu, vần điệu và thanh điệu có vai trò quan trọng trong việc biểu thị tâm tư, tình cảm của người viết. Do vậy, tác phẩm chính luận của Người tạo được ấn tượng nhờ có sự hòa âm cao giữa các yếu tố kể trên, sự hòa âm ấy đạt tới mức cao nhất – khi nó thể hiện được tính nhạc cho lời văn. Như vậy, văn xuôi có tính nhạc – thì – tâm hồn người sáng tạo phải tràn đầy cảm xúc.
Về biện pháp tu từ cú pháp, chúng tôi đã khảo sát và tìm ra các biện pháp như: biện pháp lặp, biện pháp liệt kê, biện pháp nhấn mạnh thành phần câu và biện pháp dùng các tiểu từ. Việc sử dụng các biện pháp ấy đã góp phần nhấn mạnh nội dung thông báo, thể hiện được âm hưởng, tái hiện được suy tư của người viết, đồng thời, chúng cũng là những yếu tố giúp liên kết văn bản một cách chặt chẽ, mạch lạc cả về nội dung và hình thức.
Như vậy, biện pháp tu từ ngữ âm và biện pháp tu từ cú pháp trong văn chính luận của Chủ tịch Hồ Chí Minh có thể được xem là những yếu tố góp phần cộng hưởng về nội dung ý nghĩa, tạo ra mạch cảm xúc thống nhất cao cho văn bản, đồng thời nó cũng là yếu tố thẩm mĩ giúp hài hòa cấu trúc âm thanh và cấu trúc ngữ nghĩa, tạo ra sự đa thanh trong cách biểu hiện của một phong cách chính luận điển hình. Những biện pháp tu tư ấy có hơi thở giản dị, mang điệu hồn dân tộc, do vậy nó dễ hiểu, dễ nhớ và khơi gợi được cảm xúc đồng điệu trong tâm hồn độc giả.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Tu từ ngữ âm và cú pháp văn chính luận Hồ Chí Minh

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
