Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp là một bài luận văn Thạc sĩ của tác giả giấu tên được giáo viên chấm điểm cao trong quá trình làm bài luận. Trong quá trình hội nhập, trên những khía cạnh và góc độ khác nhau, đã có rất nhiều tài liệu nghiên cứu về năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp, thể hiện ở các nội dung như hệ thống hoá được các khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường. Từ đó phân tích và đưa ra giải pháp trong Đề tài: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế, và tất cả đều được tác giả triển khai với bố cục khoa học, rành mạch.
3.1. Xu hướng phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn xây dựng tại Việt Nam.
3.1.1. Một số vấn đề còn bất cập về hoạt động tư vấn xây dựng Việt Nam trong thời kỳ hội nhập kinh tế quốc tế.
Trước đây, ở nước ta chỉ tồn tại các tổ chức, đơn vị khảo sát, thiết kế làm theo kế hoạch, đơn đặt hàng của các bộ, ngành có liên quan của Nhà nước. Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thỡ hàng loạt cỏc đơn vị tư vấn ra đời tạo ra một ngành kinh doanh mới được Nhà nước và cộng đồng xó hội chớnh thức thừa nhận: đó là ngành dịch vụ tư vấn Xây dựng. Trong thời kỳ hiện nay, hoạt động tư vấn xây dựng cũn nhiều vấn đề bất cập:
Thứ nhất, Bộ Xây dựng và Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam đang cùng các cơ quan chức năng khẩn trương tiến hành công việc xây dựng được chiến lược, lộ trình hội nhập cho lĩnh vực tư vấn xây dựng. Lộ trình sẽ là “kim chỉ nam” để các đơn vị tư vấn trong Hiệp hội xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với đơn vị mình”. Nếu biết nắm bắt những cơ hội, các đơn vị tư vấn sẽ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên thách thức đặt ra cũng không nhỏ. Cần phải vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm.
Đặc biệt qua các công trình có quy mô lớn, đòi hỏi kỹ thuật cao do tư vấn nước ngoài đảm nhận, đội ngũ tư vấn trong nước có cơ hội và điều kiện tiếp cận và học hỏi tiến bộ khoa học tiên tiến trên thế giới. Đó cũng là ưu điểm nổi trội của đội ngũ tư vấn Việt Nam. Có thể khẳng định, đội ngũ tư vấn Việt Nam đã trưởng thành lên rất nhiều.
Thứ 2, hầu hết các công ty tư vấn xây dựng ở Việt Nam đều chuyển đổi tên gọi từ các Viện khảo sát thiết kế (thuộc các Bộ) hoặc các xí nghiệp khảo sát thiết kế ở cấp tỉnh thành… Tại thời điểm đầu tiên mang tên công ty tư vấn, phần lớn cán bộ, nhân viên công ty cũng chưa hiểu tư vấn là thế nào và trong thời gian dài công ty vẫn làm việc như là một công ty khảo sát và thiết kế. Lẽ tất nhiên công tác thiết kế cũng là một dịch vụ tư vấn nhưng bản thân tư duy của kỹ sư và các nhà quản lý vẫn cũn bị giới hạn phạm vi, nội dung công tác tư vấn. Đây là đặc điểm rất quan trọng của các công ty tư vấn Việt Nam, nó cũng là một trong những nguyên nhân của chậm phát triển, chậm hội nhập. Khi thị trường tư vấn mở cửa cho các công ty tư vấn nước ngoài, các dự án ODA với các nguyên tắc của nhà cho vay quốc tế, sự tụt hậu về tư duy của tư vấn trong nước cũng bộc lộ từ hơn. Trong khi kỹ năng (tính toán hay thiết kế) của kỹ sư tư vấn Việt Nam đủ đáp ứng yêu cầu của công việc thỡ khả năng tư duy tổng quát, khả năng làm việc độc lập, đặc biệt là khả năng làm việc theo tổ, nhóm của họ có nhiều bất cập. Tư vấn Việt Nam thường khá giỏi trong khi giải các bài tóan cụ thể nhưng khi giải quyết một vấn đề có tính phức tạp thỡ lỳng tỳng, đặc biệt là từ phương pháp luận, phương pháp tiếp cận. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Thứ ba, một điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam nói chung là sự kém hiểu biết về luật lệ, thông lệ quốc tế chưa nắm vững, thiếu mối quan hệ… Thậm chí sự hiểu biết, nhận thức và pháp luật, chủ trương chính sách trong nước còn chưa rõ ràng. Đó còn chưa kể đến những điểm yếu về năng lực trình bày, thuyết phục; trình độ kinh tế, văn hóa xã hội – những yêu cầu căn bản của những người làm tư vấn. Đây cũng là điểm yếu của đội ngũ tư vấn thiết kế Việt Nam.
Thứ tư, trong điều kiện nước ta hiện nay, để các doanh nghiệp tư vấn phát huy hết năng lực và thể hiện được vai trò thực sự trong mỗi công trình, cần có cái nhìn mới về lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng. Vì việc định giá tư vấn – giá chất xám là vấn đề nhạy cảm tác động trực tiếp, toàn diện và sâu sắc đến chất lượng, tiến độ, giá thành của bất kỳ dự án đầu tư xây dựng công trình nào. Hiện nay giá tư vấn trong nhiều trường hợp còn bất hợp lý, điều này không những ảnh hưởng bất lợi cho bản thân doanh nghiệp tư vấn, mà rộng hơn là hiệu quả đầu tư, chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật của công trình.
Hiện nay, chi phí thiết kế và một số chi phí tư vấn khác được xác định bằng tỉ lệ % của giá trị dự toán xây lắp. Cách tính này đã làm cho chi phí tư vấn giảm so với trước đây, chưa kể đến tỉ lệ % cho tư vấn còn quá thấp so với thực tế đang áp dụng ở các nước trong khu vực và trên thế giới, một số trường hợp chi phí tư vấn có thể lên đến 10% tổng giá trị công trình.
Thứ năm, theo thống kê, hiện nay nước ta có khoảng trên 1.000 công ty tư vấn lớn nhỏ. Trong số này doanh nghiệp hạng I và hạng II (hoặc tương đương) chiếm gần 50%, số còn lại là doanh nghiệp hạng III và IV của các địa phương, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bao gồm: Đầu tư, công nghiệp, giao thông, xây dựng (chỉ tính tư vấn liên quan đến lĩnh vực kinh tế). Số lượng các doanh nghiệp tư vấn xây dựng đã tăng lên gấp 2 lần so với số đã có tính năm 1995 và chất lượng được nâng cao rõ rệt, số lượng các công ty tư vấn ngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu sơ bộ điều tra: Lập dự án chiếm 10-15% doanh thu; Khảo sát 10-15% doanh thu; Thiết kế 50-60%; Thẩm định 5%. Theo thời gian, số lượng và cơ cấu giữa các loại doanh nghiệp có nhiều biến đổi, tính cạnh tranh trong thị trường này ngày càng mạnh.
Thứ sáu, trên cơ sở sự so sánh với các công ty tư vấn nước ngoài đang hoạt động tại Việt Nam, thì bản thân tư vấn đầu tư xây dựng của Việt Nam vẫn còn thua kém và chưa tương xứng với vai trò là “nghề cung cấp tri thức để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của xã hội” như định nghĩa của Hiệp hội Tư vấn quốc tế. Bằng chứng là, rất nhiều công trình mang tầm cỡ quốc gia thuộc những ngành, lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế (công nghiệp khai thác dầu khí, điện, hoá chất, xi măng)…đều phải thuê tư vấn nước ngoài. Cho dù, thời gian gần đây đã có một vài công ty (trực thuộc chủ đầu tư) đã “dám” đứng ra nhận tổng thầu (từ ý tưởng đến lập báo cáo đầu tư, lập dự án, thiết kế và giám sát thi công…), nhưng thực ra, sau đó lại đi thuê chuyên gia tư vấn nước ngoài vào làm việc. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Thứ bảy, thực tế hiện nay, trong những dự án có sử dụng vốn vay hoặc viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế, người ta thường đưa ra yêu cầu chỉ được phép dùng các công ty tư vấn độc lập (không phải của Nhà nước). Trong khi đó, cũng giống như Trung Quốc, ở Việt Nam hiện có đến 85% công ty tư vấn thuộc các doanh nghiệp nhà nước (nghĩa là bị ràng buộc hành chính bởi các cơ quan chủ quản cả về mặt nhân sự lẫn tài chính), làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của những công ty này.
Để công tác tư vấn mang lại hiệu quả cao, trong những năm tới một trong những biện pháp khắc phục được các nhà chuyên môn đưa ra là phải tách tư vấn thành một hệ thống hoạt động độc lập (dưới dạng công ty cổ phần hoặc trách nhiệm hữu hạn) theo quy luật của kinh tế thị trường, nhằm mang lại hiệu quả kinh tế cao Thứ tám, các cấp ngành, địa phương cũng phải độc lập trong vai trò quản lý nhà nước của mình (không can thiệp bằng bàn tay vô hình vào công tác tư vấn). Vì, chỉ mình tư vấn độc lập, mà lãnh đạo các cấp ngành không độc lập thì cũng chưa giải quyết được tận gốc mọi vấn đề.
Thứ chín, trong tương lai, để “những dự án và công trình của Việt Nam sử dụng tư vấn Việt Nam”, phải gấp rút tiến hành đào tạo những chuyên gia có tính chuyên nghiệp cao, giỏi về chuyên môn, phải hiểu biết xã hội và am tường pháp luật. Ngoài ra, phải tiến hành đầu tư đổi mới, thiết bị công nghệ cũng như phương thức quản lý…sao cho ngoài những chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng và môi trường (ISO 9000 và ISO14.000), các công ty tư vấn Việt Nam cũng phải có chứng chỉ “trong sạch” như một vài nước tiên tiến trên thế giới đang áp dụng. Cương quyết không cấp phép và thu hồi giấy phép đối với những công ty tư vấn không đạt chất lượng.
Có thể bạn quan tâm:
3.1.2. Xu hướng phát triển của thị trường dịch vụ tư vấn xây dựng tại Việt Nam. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Theo thống kê, hiện nay nước ta có khoảng trên 1.000 công ty tư vấn lớn nhỏ. Trong số này doanh nghiệp hạng I và hạng II (hoặc tương đương) chiếm gần 50%, số còn lại là doanh nghiệp hạng III và IV của các địa phương, hoạt động trong tất cả các lĩnh vực bao gồm: Đầu tư, công nghiệp, giao thông, xây dựng (chỉ tính tư vấn liên quan đến lĩnh vực kinh tế). Số lượng các doanh nghiệp tư vấn xây dựng đã tăng lên gấp 2 lần so với số đã có tính năm 1995 và chất lượng được nâng cao rõ rệt, số lượng các công ty tư vấn ngoài quốc doanh đã tăng lên đáng kể. Theo số liệu sơ bộ điều tra: Lập dự án chiếm 10-15% doanh thu; Khảo sát 10-15% doanh thu; Thiết kế 50-60%; Thẩm định 5%. Theo thời gian, số lượng và cơ cấu giữa các loại doanh nghiệp có nhiều biến đổi. Có thể tóm tắt như sau:
- Sau khi có quyết định 158/BXD – QLXD ngày 22/6/1993: Có khoảng 20 công ty tư vấn xây dựng ra đời từ Viện (hoặc bộ phận thiết kế) chuyển đổi.
- Năm 1995 có 250 doanh nghiệp tư vấn xây dựng đại bộ phận là doanh nghiệp Nhà nước. 1996-1997: có 419 doanh nghiệp. Trong đó:
- Quốc doanh chiếm 89% (101). Trong đó Trung ương chiếm 48% Thuộc các Tổng công ty, Công ty: 27% (38) Thuộc các cơ quan sự nghiệp 14% (29)
- Ở địa phương 30% (doanh nghiệp hạng III,IV) là ngoài quốc doanh 1998: Có khoảng 600 doanh nghiệp 2006 có hơn 1000 doanh nghiệp (chưa kể cá doanh nghiệp thuộc Quân đội, công an).
Qua số liệu thống kê có thể thấy:
Trong quãng thời gian trên 10 năm, các doanh nghiệp tư vấn đã phát triển nhanh chóng từ con số 20 ban đầu lên hơn 1000 doanh nghiệp bao gồm đủ các loại hình.
Thành phần các doanh nghiệp Nhà nước chiếm đại bộ phận trong thời gian ban đầu, nay chỉ còn khoảng 24%, loại hình doanh nghiệp ngoài quốc doanh đã chiếm trên 50% và có xu hướng ngày càng phát triển do chủ trương đẩy mạnh cổ phần hoá.
Các Tổng công ty 90, 91, Công ty loại 1 đều thành lập các doanh nghiệp tư vấn trực thuộc, các trường Đại học, Cao đẳng (có nơi cả Trung học chuyên nghiệp), các Viện nghiên cứu, các Hội đều thành lập các doanh nghiệp tư vấn sự nghiệp có thu, có nơi ở dạng công ty ngoài quốc doanh, có nơi thuộc công ty trách nhiệm hữu hạn.
Trừ khoảng 20 công ty thuộc loại lớn ra tổng làm trụ cột trong các Bộ như Bộ Xây dựng, Bộ Giao thông vận tải, Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn, Bộ Công nghiệp, Bộ Bưu chính Viễn thông, đại bộ phận các doanh nghiệp thuộc loại vừa và nhỏ. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Một loại hình doanh nghiệp mới: Công ty cổ phần được chuyển đổi từ công ty nhà nước, số doanh nghiệp này ngày càng tăng theo chủ trương đẩy mạnh việc chuyển đổi tổ chức các doanh nghiệp Nhà nước của Chính phủ.
Về chất luợng thì ngoài một số công ty hoạt động tương đối chất lượng và uy tín như các công ty: Tư vấn thiết kế Điện trong lĩnh vực năng lượng, thuỷ lợi, hoá chất, xây dựng, môi trường đô thị… còn lại, vẫn trong tình trạng yếu kém về nhiều mặt.
Nếu đánh giá chung, dựa trên sự so sánh với các công ty tư vấn nước ngoài cũng như sự phát triển của nền kinh tế, thì bản thân tư vấn Việt Nam vẫn còn thua kém và chưa tương xứng với vai trò là “nghề cung cấp tri thức để đảm bảo sự sinh tồn và phát triển của xã hội” như định nghĩa của Hiệp hội Tư vấn quốc tế. Bằng chứng là, rất nhiều công trình mang tầm cỡ quốc gia thuộc những ngành, lĩnh vực trọng yếu trong nền kinh tế (công nghiệp khai thác dầu khí, điện, hoá chất, xi măng)…đều phải thuê tư vấn nước ngoài. Cho dù, thời gian gần đây đã có một vài công ty (trực thuộc chủ đầu tư) đã “dám” đứng ra nhận tổng thầu (từ ý tưởng đến dự án tiền khả thi, khả thi và sau đó là lập dự án, thiết kế và giám sát thi công…), nhưng thực ra, sau đó lại đi thuê tư vấn nước ngoài vào làm việc.
Nguyên nhân dẫn đến tình trạng này là do trình độ chuyên môn của các công ty tư vấn nói chung và đội ngũ các nhà tư vấn Việt Nam nói riêng còn yếu, chưa đáp ứng được những đòi hỏi của thực tiễn. Bên cạnh đó, không ít chủ đầu tư còn e ngại và hay có thói quen “sính” ngoại, mà đáng ra, có những công trình nằm trong tầm tay (xét về trình độ chuyên môn) của tư vấn Việt Nam, thì lại đi thuê tư vấn nước ngoài.
Bên cạnh các công ty tư vấn góp phần đem lại những công trình mang tầm vóc quốc gia, đem lại niềm tự hào của Việt Nam trước con mắt của bạn bè thế giới, vẫn còn có những công ty tư vấn thiếu năng lực, chưa hoàn thành đầy đủ trách nhiệm và nghĩa vụ của mình, để lại những hậu quả nặng nề không thể tính bằng tiền. Nguyên nhân của thực trạng trên, trước hết phải kể đến việc các tổ chức tư vấn thiếu nguồn tài chính để đầu tư chiều sâu về trang thiết bị, về tài liệu, về đào tạo, làm ảnh hưởng đến chất lượng đồ án thiết kế; Tài liệu khảo sát điều tra cơ bản có trường hợp không đảm bảo chất lượng, đã gây nhiều sai sót trong thiết kế xây dựng; Trình độ và năng lực chuyên môn của một số cán bộ tư vấn chưa cao, thiếu kinh nghiệm thực tế. Cũng như trách nhiệm tư vấn chưa cao… ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Đặc biệt, trong thời gian qua, khi một số công trình xây dựng có vấn đề về chất lượng hay một số dự án thuộc các lĩnh vực như mía đường, xi măng… không mang lại hiệu quả kinh tế cao, ngoài trách nhiệm chính thuộc về chủ đầu tư, các cơ quan chuyên môn còn có trách nhiệm của cơ quan tư vấn.
Chắc chắn một điều không thể phủ nhận được, trong công cuộc đổi mới và hội nhập kinh tế quốc tế, cùng với sự đi lên của đất nước, lĩnh vực tư vấn đóng góp một phần quan trọng. Tuy nhiên, do nhiều nguyên nhân khác nhau như trình độ chuyên môn thấp, thì thực tế đã xuất hiện “tiêu cực” xung quanh công tác này. Lĩnh vực giao thông- xây dựng là một ví dụ điển hình. Đáng lẽ có nhiều công trình, ngay từ khi thi công, nếu khâu “Tư vấn giám sát” không móc ngoặc với chủ đầu tư, làm đúng bổn phận, thì chắc chắn sẽ không để xảy ra những đường Liên Cảng A5 hay Thuỷ điện Trị An… Và, để biện minh cho những thiếu sót trên, các công ty tư vấn thường đổ lỗi cho việc “họ” không được độc lập về mặt hành chính, mà phải phụ thuộc vào chủ đầu tư, nên đã để xảy ra tình trạng này. Nói như vậy cũng có phần đúng, nhưng cần trả lời câu hỏi tại sao có những công trình cho dù chủ đầu tư bị lỗ hoặc hòa vốn, song nhờ giám sát chặt chẽ của tư vấn, nên chất lượng vẫn tốt và thời gian thi công vẫn đảm bảo? Chẳng hạn, như Dự án xây dựng cầu Bãi Cháy ở Quảng Ninh là minh chứng điển hình. Rõ ràng, trong những trường hợp trên, khâu tư vấn đóng vai trò hết sức quan trọng và nếu những người làm công tác tư vấn không có cái “tâm “ trong sáng, thì chắc chắc sẽ dẫn đến những hậu quả khôn lường.
“Không riêng gì chương trình mía đường, hiện nay ở một số địa phương đang xảy ra tình trạng chạy đua để đầu tư xây dựng các dự án, bất chấp dự án đó có mang lại hiệu quả kinh tế hay không? điển hình là các dự án về bia, nước giải khát, lắp ráp và sản xuất ô tô -xe máy… Tất nhiên, dưới góc độ tư vấn, nhiều khi người ta thừa hiểu rằng, có những dự án chắc chắn khi đi vào hoạt động sẽ không mang hiệu quả kinh tế cao hoặc thậm chí là không thể hoạt động) song vẫn phải “nhắm mắt” lập dự án và thiết kế “bừa”, cốt sao vừa lòng lãnh đạo tỉnh nhà. Vì nếu không làm theo cái gọi là luật bất thành văn của lãnh đạo, thì sau này đừng có hy vọng trở lại địa phương tham gia tư vấn. Rõ ràng, để xảy ra hiện tượng hiệu quả dự án thấp, chưa hẳn trách nhiệm đã thuộc về công tác tư vấn, mà phần chính thuộc về chủ đầu tư.
Thực tế hiện nay, trong những dự án có sử dụng vốn vay hoặc viện trợ của các tổ chức tài chính quốc tế, người ta thường đưa ra yêu cầu chỉ được phép dùng các công ty tư vấn độc lập (không phải của Nhà nước). Trong khi đó, cũng giống như Trung Quốc, ở Việt Nam hiện có đến 85% công ty tư vấn thuộc các doanh nghiệp nhà nước (nghĩa là bị ràng buộc hành chính bởi các cơ quan chủ quản cả về mặt nhân sự lẫn tài chính), làm ảnh hưởng đến công tác chuyên môn của những công ty này.
Nhìn tổng thể các dịch vụ tư vấn ngày càng đa dạng và có xu hướng tiệm cận đối với bối cảnh quốc tế. Tuy nhiên, đó là chỉ xét trên khía cạnh hình thức, danh mục công việc, về nội dung và chất lượng của các dịch vụ này còn có nhiều điều đáng quan tâm.
Các dịch vụ tư vấn khác nhau sẽ có những yêu cầu chuyên môn tương đối khác. Trong khi công tác tư vấn thiết kế, thẩm tra rất cần đến kiến thức chuyên môn sâu thì các công việc khác như giám sát, quản lý dự án, v.v… lại đòi hỏi rất nhiều đến kiến thức về quản lý, khả năng nhanh nhạy và nắm bắt các văn bản pháp quy.
Hiện tại ở Việt Nam, các chuyên gia tư vấn ít được đào tạo về kỹ năng quản lý nhưng thường không được chú trọng và chưa thực hiện tốt.
3.1.3. Xu hướng hội nhập quốc tế của thị trường xây dựng nói chung và tư vấn xây dựng Việt Nam nói riêng trong thời gian tới : ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
“Bộ Xây dựng và Hiệp hội tư vấn đang cùng các cơ quan chức năng khẩn trương tiến hành công việc xây dựng được chiến lược, lộ trình hội nhập cho lĩnh vực tư vấn xây dựng. Lộ trình sẽ là “kim chỉ nam” để các đơn vị tư vấn trong Hiệp hội xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với đơn vị mình”. Nếu biết nắm bắt những cơ hội, các đơn vị tư vấn sẽ không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, kinh nghiệm, năng lực cạnh tranh. Tuy nhiên thách thức đặt ra cũng không nhỏ. Cần phải vừa làm vừa học, vừa rút kinh nghiệm.
Đặc biệt qua các công trình có quy mô lớn, đòi hỏi kỹ thuật cao do tư vấn nước ngoài đảm nhận, đội ngũ tư vấn trong nước có cơ hội và điều kiện tiếp cận và học hỏi tiến bộ khoa học tiên tiến trên thế giới. Đó cũng là ưu điểm nổi trội của đội ngũ tư vấn Việt Nam. Có thể khẳng định, đội ngũ tư vấn Việt Nam đã trưởng thành lên rất nhiều.
Một điểm yếu của doanh nghiệp Việt Nam nói chung là sự kém hiểu biết về luật lệ, thông lệ quốc tế chưa nắm vững, thiếu mối quan hệ… Thậm chí sự hiểu biết, nhận thức và pháp luật, chủ trương chính sách trong nước còn chưa rõ ràng.
Chính vì vậy phải thường xuyên tổ chức các lớp hướng dẫn các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về các lĩnh vực liên quan đến hoạt động tư vấn. Đó còn chưa kể đến những điểm yếu về năng lực trình bày, thuyết phục; trình độ kinh tế, văn hóa xã hội – những yêu cầu căn bản của những người làm tư vấn. Đây cũng là điểm yếu của đội ngũ tư vấn thiết kế Việt Nam.
Hiện nay ta vẫn chưa xây dựng được chiến lược, lộ trình hội nhập cho lĩnh vực tư vấn xây dựng. Bộ xây dựng và Hiệp hội đang cùng các cơ quan chức năng khẩn trương tiến hành công việc này. Lộ trình hội nhập sẽ là “kim chỉ nam” để các đơn vị tư vấn trong Hiệp hội xây dựng chiến lược phát triển phù hợp với đơn vị mình, tránh để rơi vào tình trạng bị động.
Trong điều kiện nước ta hiện nay, để các doanh nghiệp tư vấn phát huy hết năng lực và thể hiện được vai trò thực sự trong mỗi công trình, chúng ta cần có cái nhìn mới về lĩnh vực tư vấn thiết kế. Vì việc định giá tư vấn – giá chất xám là vấn đề nhạy cảm tác động trực tiếp, toàn diện và sâu sắc đến chất lượng, tiến độ, giá thành của bất kỳ công trình xây dựng cơ bản nào. Hiện nay giá tư vấn trong nhiều trường hợp còn bất hợp lý, điều này không những ảnh hưởng bất lợi cho bản thân doanh nghiệp tư vấn, mà rộng hơn là hiệu quả đầu tư, chất lượng kỹ thuật, mỹ thuật của công trình. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Trong khi đó, chi phí để thực hiện hoạt động tư vấn tăng lên do các quy định quản lý thắt chặt hơn và đòi hỏi với người tư vấn ngày càng cao. Nếu xét tổng thể, hiệu quả hay sức hấp dẫn của nghề tư vấn cũng bị giảm sút. Chính vì vậy, các doanh nghiệp tư vấn khó có khả năng đầu tư những trang bị hỗ trợ cho công việc hoặc mua những tài liệu tham khảo, cập nhật phần mềm của nước ngoài. Bên cạnh đó, không phải cơ sở sản xuất, tổ chức kinh tế nào cũng có đủ thủ tục hoá đơn, nên khi các doanh nghiệp tư vấn giao dịch với tổ chức này sẽ không có hoá đơn để nhập vào chi phí. Để hợp pháp hoá chứng từ theo quy định tài chính, doanh nghiệp phải mua hoá đơn ở trên thị trường và phải mất từ 5-10% giá trị hóa đơn.
Hiện nay, định mức chi phí thiết kế, chi phí tư vấn được xác định bằng tỉ lệ % của giá trị dự toán xây lắp. Cách tính này đã làm chi giá tư vấn giảm so với trước đây, chưa kể đến tỉ lệ % cho tư vấn còn quá thấp so với thực tế đang áp dụng ở các nước trong khu vực và trên thế giới, một số trường hợp chi phí tư vấn có thể lên đến 10% tổng giá trị công trình.
Điều bất hợp lý của cách định giá này là không khuyến khích sáng tạo, giá chất xám phụ thuộc vào khối lượng công trình xây lắp, chứ không phụ thuộc vào hàm lượng chất xám đã đầu tư cho sản phẩm tư vấn. Do đó, cùng một loại công trình, công trình nào càng đầu tư nhiều công sức để có được sản phẩm tư vấn tốt thì hiệu quả đem lại cho doanh nghiệp hay thu nhập cho nhà tư vấn càng thấp.
Mặt khác, phí tư vấn nói chung đã thấp nhưng phí tư vấn giám sát cũng là vấn đề đáng bàn, bởi phí này đã được cải thiện nhưng vẫn còn thấp so với trọng trách của người làm công tác tư vấn giám sát. Họ phải tham gia từ đầu đến cuối công trình thậm chí ngay cả khi công trình do những nguyên nhân về thiếu vốn, mặt bằng… thời gian bị kéo dài nhưng mức phí vẫn không thay đổi. Hoặc đối với công trình nhỏ, ở những địa bàn xa xôi thì chi phí này không đủ tiền lưu trú cho người đi làm. Đây chính là thiệt thòi rất lớn cho lực lượng làm công tác tư vấn giám sát và cho chính doanh nghiệp tư vấn.
Vì thế, theo các chuyên gia tư vấn, cần đẩy mạnh vai trò của công tác tư vấn trong các công trình xây dựng, tạo điều kiện thuận lợi để các đơn vị tư vấn phát huy được hết năng lực, chất xám góp phần nâng cao hiệu chất lượng của công trình.
3.2. Quan điểm đề xuất giải pháp. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Sản phẩm của ngành Tư vấn xây dựng là sản phẩm “chất xám” được thể hiện trên các bản báo cáo, các bản vẽ thiết kế, quy hoạch của các dự án, do đố việc phát triển nguồn nhân lực trong ngành Tư vấn xây dựng cũng mang một nét đặc thù riêng. Trước đây, ở nước ta chỉ tồn tại các tổ chức, đơn vị khảo sát, thiết kế làm theo kế hoạch, đơn đặt hàng của các bộ, ngành có liên quan của Nhà nước. Sau khi chuyển sang nền kinh tế thị trường thì hàng loạt các đơn vị tư vấn ra đời tạo ra một ngành kinh doanh mới được Nhà nước và cộng đồng xã hội chính thức thừa nhận: đó là ngành Dịch vụ Tư vấn Xây dựng.
Hiện nay các doanh nghiệp Tư vấn đã lớn mạnh cả về chất lẫn về lượng bao gồm: hàng ngàn doanh nghiệp tư vấn lớn nhỏ phân bổ từ Trung ương đến địa phương và cung cấp dịch vụ trong mọi lĩnh vực có hoạt động xây dựng.Trong thời gian qua để phát triển nguồn nhân lực hầu hết các doanh nghiệp đã tập trung vào việc nâng cao năng lực thông qua tuyển chọn cán bộ mới một cách xác đáng, công bằng để thay thế các cán bộ lớn tuổi, không còn đủ tuổi làm việc. Các cán bộ mới trưởng thành dần theo thời gian để có thể độc lập làm việc trong các dự án có sự phức tạp cao. Nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ của các cán bộ thông qua công tác đào tạo, các chương trình hợp tác, chia sẻ kinh nghiệm do các tổ chức trong và ngoài nước tổ chức. Tạo điều kiện về trang thiết bị, công nghệ cho các cán bộ hoạt động và học hỏi, hợp tác với các tổ chức quốc tế để được sự hỗ trợ về khoa học công nghệ trong ngành Tư vấn. Tuy nhiên việc phát triển nguồn nhân lực của nước ta vẫn còn thiếu tính đồng bộ, hiện đại của nền kinh tế do vậy các doanh nghiệp Tư vấn Việt Nam vẫn đang lúng túng trong định hướng phát triển nguồn nhân lực của mình.
Việt Nam đã chính thức trở thành thành viên của tổ chức WTO, các tổ chức Tư vấn nước ngoài sẽ đến tham gia thị trường Việt Nam ngày càng nhiều. Cùng với những thỏa thuận khu vực và quốc tế trong cung cấp dịch vụ kỹ thuật thì chiến lược phát triển nguồn nhân lực sẽ là nhân tố quan trọng mang tính sống còn của các doanh nghiệp Việt Nam khi cạnh tranh. Sức mạnh của doanh nghiệp Tư vấn chính là con người, do vậy nếu không phát triển nguồn nhân lực, với sự đòi hỏi khắt khe của cơ chế thị trường, các doanh nghiệp Tư vấn Việt Nam sẽ thua ngay tại “sân nhà” chứ đừng nói đến việc thâm nhập thị trường nước ngoài như mong mỏi của các doanh nghiệp.
Để phát triển nguồn nhân lực Tư vấn xây dựng: Các doanh nghiệp Việt Nam cần làm tốt các vấn đề sau: Tiếp tục cải tiến phương thức hoạt động của tổ chức phù hợp và đáp ứng theo chuẩn mực của cơ chế thị trường. Đối với các tổ chức Tư vấn hiện do Nhà nước quản lý, trừ các đơn vị đặc biệt chưa thể chuyển đổi ngay về mô hình tổ chức, nên chuyển đổi cơ chế tổ chức để tránh sự phụ thuộc với cơ quan quản lý Nhà nước về tổ chức dẫn đến ảnh hưởng về hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hạn chế khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp. Xây dựng cơ chế hoạt động của doanh nghiệp theo tiêu chuẩn Quốc tế thông qua hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000. Xây dựng “văn hóa doanh nghiệp” với việc nâng cao ý thức về đạo đức hành nghề cho cán bộ, làm sao gắn bó quyền lợi của cán bộ với quyền lợi của doanh nghiệp để doanh nghiệp luôn giữ được người có tài. Mặt khác phải tích cực tham gia các tổ nghiệp để thông qua đó có điều kiện kinh doanh dịch vụ theo phương thức hiện đại. Xây dựng cơ chế tuyển dụng hợp lý để lựa chọn được người có năng lực phục vụ cho doanh nghiệp. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Về phía cán bộ Tư vấn: nâng cao trình độ nghiệp vụ tư vấn của cá nhân mình bằng việc tham gia các khóa đào tạo do các tổ chức cung cấp. Làm quen với phương thức làm việc theo nhóm, tận dụng phương pháp đào tạo tại chỗ với sự tham gia tích cực của các chuyên gia có kinh nghiệm. Trong điều kiện có thể, tích cực tham gia các dự án có yếu tố nước ngoài, đây là môi trường tốt để các cán bộ nâng cao trình độ của mình một cách toàn diện. Ngoài ra phải tích cực nâng cao trình độ ngoại ngữ …
Về phía cơ quan quản lý: Xây dựng hệ quản lý, đăng ký kỹ sư hành nghề trong toàn quốc để hướng việc hành nghề của các kỹ sư theo xu hướng thế chuẩn hóa về tính chuyên nghiệp. Tạo lập hành lang pháp lý trong lĩnh vực Tư vấn xây dựng một cách chặt chẽ, công bằng minh bạch tạo sự bình đẳng cho các doanh nghiệp tham gia và nâng cao khả năng cung cấp dịch vụ một cách độc lập và hiệu quả của cán bộ tư vấn nói riêng và các doanh nghiệp nói chung. Thời gian tới cơ quan quản lý cần có chính sách hỗ trợ các doanh nghiệp và cán bộ tư vấn trong việc nâng cao trình độ. Cụ thể: xem xét lại mức chi phí của các dịch vụ tư vấn như hiện nay là quá thấp cần chỉnh sửa để bảo đảm các doanh nghiệp tư vấn có điều kiện tích lũy cho công tác đào tạo, tham quan học hỏi và ứng dụng công nghệ mới trong cung cấp dịch vụ. Về các tổ chức nghề nghiệp: Cần tích cực tuyên truyền các cán bộ, tổ chức tư vấn hoạt động theo đạo đức hành nghề, nâng cao tính độc lập trong cung cấp dịch vụ của các nhà tư vấn. Thông qua kênh của Chính phủ, phi Chính phủ nhằm xây dựng, tìm kiếm các chương trình đào tạo có liên quan đến nghiệp vụ tư vấn theo phương thức hiện đại cho các tổ chức, cá nhân tư vấn. Phối hợp với các cơ quan quản lý Nhà nước để quản lý các kỹ sư, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng cho các kỹ sư, thông qua đó khuyến khích các k ỹ sư không ngừng tự nâng cao trình độ để cạnh tranh lành mạnh./.
3.3. Một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty cổ phẩn Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
3.3.1. Xác định mục tiêu chiến lược.
Để có thể xây dựng một chiến lược hợp lý với thực tế của Công ty, với những đòi hỏi khắt khe của thị trường, phát huy những mặt mạnh, tận dụng được các cơ hội, khắc phục và giải quyết những điểm còn yếu kém, những thách thức chủ quan cũng như khách quan, có thể lập sơ đồ theo kiểu ma trận SWOT để có một sự nhìn nhận tổng quát về mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, nguy cơ của công ty:
Từ những định hướng cơ bản để nâng cao khả năng cạnh tranh của công ty cổ phần Tư vấn đầu tư xây dựng, xác định mục tiêu chiến lược của công ty như sau:
- Công ty phải trở thành doanh nghiệp tư vấn mạnh nhất về uy tín, chất lượng, hiệu quả trong lĩnh vực tư vấn đầu tư xây dựng các công trình của Tỉnh
- Là một công ty mạnh trong ngành tư vấn xây dựng Việt Nam, từng bước hội nhập thị trường khu vực và thế giới, tập trung chuyên sâu các lĩnh vực truyền thống và mở rộng sang một số lĩnh vực tư vấn đầu tư khác.
- Công ty phải là nơi tập trung trí tuệ, cơ sở dữ liệu và là trung tâm nghiên cứu, phát triển, ứng dụng khoa học kỹ thuật trong lĩnh vực tư vấn xây dựng chuyên ngành.
- Có khả năng cạnh tranh với các nhà thầu trong nước và dần nâng cao khả năng để có thể cạnh tranh với các công ty tư vấn nước ngoài.
- Hợp tác với các công ty xây dựng để có thể có đủ năng lực nhận thầu các công trình theo phương thức hợp tác Từ làm thuê sang làm chủ. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Với quỹ thời gian có hạn, nên chỉ một số lượng hạn chế mục tiêu có thể được theo đuổi. Các nhà lãnh đạo cần chú ý đến việc lựa chọn những mục tiêu quan trọng nhất. Hoạt động với quá nhiều mục tiêu dàn trải, không tập trung nguồn lực cũng được coi là như không có mục tiêu.
3.3.2. Nghiên cứu xác định thị trường mục tiêu
Thông qua việc nghiên cứu thị trường, doanh nghiệp sẽ nắm được những thông tin cần thiết về giá cả, cung cầu hàng hóa và dịch vụ mà doanh nghiệp đang kinh doanh hoặc sẽ kinh doanh để đề ra những phương án chiến lược và biện pháp cụ thể được thực hiện mục tiêu kinh doanh đề ra. Quá trình nghiên cứu thị trường là quá trình thu thập thông tin, số liệu về thị trường kinh doanh, phân tích so sánh số liệu đó và rút ra kết luận, từ đó đề ra các biện pháp thích hợp đối với doanh nghiệp.
Để công tác nghiên cứu thị trường đạt hiệu quả cao, công ty cần kết hợp cả hai phương pháp nghiên cứu tại bàn và phương pháp nghiên cứu tại hiện trường.
Công ty nên tiến hành nghiên cứu thị trường theo trình tự các bước như sau:
- Bước 1: Xác định mục tiêu nghiên cứu thị trường.
- Bước 2: Xây dựng hệ thống các chỉ tiêu nghiên cứu thị trường.
- Bước 3: Xác định và lựa chọn phương pháp nghiên cứu.
- Bước 4: Xây dựng kế hoạch nghiên cứu, thực hiện, điều chỉnh kế hoạch và viết báo cáo.
Bên cạnh việc khai thác tận dụng công nghệ hiện có, tạo và giải quyết việc làm thì công ty nên tập trung nguồn lực để đầu tư công nghệ hiện đại để nhanh chóng có sản phẩm mới và sản phẩm có chất lượng cao. Phát triển cho tương lai để tạo ra sức cạnh tranh mạnh và bền vững của doanh nghiệp. Để thực hiện được định hướng nêu trên trong từng năm, công ty cũng cần xác định trọng điểm mũi nhọn cần phải ưu tiên đầu tư và tập trung các nguồn lực để thực hiện đầu tư dứt điểm. Hạn chế và chấm dứt tình trạng lựa chọn các lĩnh vực đầu tư kém hiệu quả, gây lãng phí thất thoát vốn doanh nghiệp.
Kiến nghị xác định thị trường mục tiêu của công ty trong giai đoạn từ nay đến năm 2015 là các dự án do công ty làm chủ đầu tư. Từ đó, tích luỹ kinh nghiệm, xây dựng thương hiệu mở rộng thị trường trên phạm vi cả nước, tiến tới trong tương lai xa là các dự án quốc tế.
3.3.3. Xây dựng chiến lược cạnh tranh. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Thực hiện chuyên môn hoá kết hợp với đa dạng hoá ngành nghề sản phẩm.
Tập trung hoạt động vào một hoặc vài thị trường chủ yếu đang có sự tăng trưởng cao và duy trì một số ngành nghề để phân tán rủi ro và hỗ trợ sự phát triển chung.
Việc đa doanh, đa dạng hoá ngành nghề sản phẩm là một chiến lược tất yếu trên con đường trở thành một công ty mạnh, có khả năng cạnh tranh trên mọi lĩnh vực thị trường.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình cần tiếp tục thực hiện phương châm đa doanh, đa dạng hoá sản phẩm, từng bước chuyển đổi tỷ trọng cơ cấu hoạt động sản xuất kinh doanh, tiến tới đầu tư, nâng cao giá trị sản xuất, áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật và công nghệ mới. Thúc đẩy hội nhập, tăng cường tiếp cận nền kinh tế tri thức nâng hàm lượng chất xám trong cơ cấu sản phẩm.
Để thực hiện chiến lược chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng hóa sản phầm, Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng đã thành lập các đơn vị sản xuất mà trong đó mỗi đơn vị có một thế mạnh về một loại hình tư vấn, cụ thể như sau:
- Phòng thiết kế, Phòng kiến trúc để phục vụ công tác thiết kế, thẩm tra cho từng bộ môn.
- Phòng Máy xây dựng: Chủ yếu thực hiện công tác tư vấn các công trình công nghiệp như: Nhà máy xi măng, nhà máy giấy, nhà máy thép …
- Trung tâm thiết bị thí nghiệm: Chủ yếu thực hiện các công tác thí nghiệm, kiểm định chất lượng công trình.
- Phòng nghiên cứu và phát triển R&D: Chủ yếu thực hiện công tác nghiên cứu và phát triển công nghệ mới.
- Phòng Dự án trọng điểm: Chủ yếu thực hiện công tác tư vấn của các công trình trọng điểm của Công ty.
- Và còn nhiều các đơn vị khác.
Tuy nhiên, do nguồn cung các công việc tư vấn là không đồng đều nên các đơn vị được phân công nhiệm vụ như trên ngoài thực hiện các công việc chủ yếu của đơn vị còn tham gia thực hiện các công tác tư vấn khác. Do đó, có những đơn vị không thực hiện đúng chuyên môn chính đã được phân công mà chủ yếu thực hiện các công việc tư vấn khác nên chất lượng sản phẩm tư vấn không được cao.
Để khắc phục tình trạng trên và để thực hiện được chiến lược chuyên môn hóa kết hợp với đa dạng hóa sản phẩm, Công ty cần chú trọng và quan tâm đến nguồn việc tư vấn đặc thù của mỗi đơn vị nhằm đảm bảo thu nhập của cán bộ tư vấn và chất lượng sản phẩm tư vấn. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Những công trình xây dựng có tiêu chuẩn kỹ thuật cao hiện đại là mục tiêu đặt ra cho việc phát triển ngành xây dựng của nước ta hiện nay. Một doanh nghiệp tư vấn xây dựng năng động có nhiều nghề sẽ tạo nên lợi thế về năng lực kỹ thuật và cũng bởi nhiều nghề sẽ giảm thiểu được những chi phí.
Song song với việc củng cố và nâng cao năng lực sản xuất ở các sản phẩm truyền thống, mũi nhọn như: tư vấn xây dựng công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông trong những năm tới công ty sẽ đầu tư đúng mức để mở rộng sản xuất, tạo nên cơ cấu sản xuất đa ngành, đa sản phẩm như:
- Tư vấn xây dựng các công trình nhà cao tầng, cầu đường, cảng, thuỷ điện, khu công nghiệp…
- Thi công xây lắp.
- Nghiên cứu các giải pháp thiết kế cho các công trình đặc biệt.
Cùng với những nghề truyền thống, việc mở rộng đầu tư đa dạng hoá ngành nghề, sản phẩm sẽ tạo ra sự tăng trưởng nhảy vọt về giá trị sản lượng cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh, làm cho quá trình tích tụ tập trung nhanh chóng, để tái đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh cho những năm tới.
- Chiến lược cạnh tranh dựa trên các chính sách về sản phẩm
Chiến lược về sản phẩm là tổng thể các định hướng, các nguyên tắc và các biện pháp thực hiện trong việc xác lập một tập hợp sản phẩm bao gồm các dòng sản phẩm và các sản phẩm sao cho phù hợp với từng thị trường và phù hợp với từng giai đoạn khác nhau trong chu kỳ sống của sản phẩm đó.
Đối với sản phẩm tư vấn xây dựng, do hoạt động tư vấn vẫn đáp ứng theo nhu cầu của thị trường và theo các quy định của Nhà nước, do đặc thù sản phẩm là chất xám nên chiến lược sản phẩm của Công ty được chú trọng ở một số nội dung sau:
– Chiến lược thích ứng sản phẩm: Để thực hiện chiến lược này cần nâng cao chất lượng sản phẩm cụ thể như sau:
Cải tiến công nghệ: Xây dựng các quy trình thực hiện công tác tư vấn như: Quy trình giám sát, quy trình kiểm tra chứng nhận sự phù hợp chất lượng, quy trình thẩm tra, …, thường xuyên cập nhật và tổ chức đào tạo các công nghệ mới trong nước và quốc tế. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Nâng cao trình độ cán bộ tư vấn: Đối với công tác tư vấn thì yếu tố con người là rất quan trọng. Vì thế cần đưa ra các mục tiêu nhằm nâng cao trình độ và chất lượng kỹ sư tư vấn như: Nâng cao tiêu chí đầu vào của công ty; tổ chức các lớp đào tạo nội bộ về chuyên môn nhằm trao đổi, cập nhật được những thông tin mới trên thị trường xây dựng; tổ chức các buổi hội thảo về phươg pháp xử lý các sự cố; đẩy mạnh công tác đào tạo nâng cao chuyên môn; đẩy mạnh công tác hợp tác đào tạo quốc tế, đưa các các cán bộ có năng lực tham gia các khóa học ở nước ngoài nhằm cập nhật những tiến bộ khoa học tiên tiến trên thế giới.
Kiểm tra chặt chẽ chất lượng sản phẩm: Do khối lượng công việc quá lớn, đội ngũ kiểm soát chất lượng sản phẩm chưa đủ để đáp ứng nên việc kiểm tra sản phẩm đôi khi chỉ là hình thức, soát xét theo quy trình và biểu mẫu, chưa kiểm soát sâu và chặt chẽ được đến phần kỹ thuật của sản phẩm. Để khắc phục tình trạng này, cần phải bổ sung thêm lực lượng cán bộ quản lý chất lượng, quan tâm đến mức thu nhập của người làm quản lý để họ có thể yên tâm thực hiện công việc của mình với trách nhiệm cao nhất.
- Chiến lược định vị sản phẩm:
Tạo cho sản phẩm một vị trí đặc biệt trong tâm trí người mua và khách hàng tương lai
Làm cho nó được phân biệt rõ ràng với các sản phẩm cạnh tranh: Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng Ninh Bình hiện có sản phẩm tư vấn giám sát thi công và kiểm định chất lượng công trình. Vì thế trong tương lai cần phát huy thế mạnh của các loại hình sản phẩm này để tạo được uy tín và chỗ đứng trên thị trường tư vấn xây dựng.
- Thực hiện liên doanh, liên kết để tăng sức mạnh.
Trong hoạt động tư vấn, việc liên doanh liên kết giữa các doanh nghiệp để khai thác các mặt mạnh của nhau là rất cần thiết, có hiệu quả cao. Tuy nhiên cần hiểu rằng mối quan hệ liên kết chỉ bền vững và hiệu quả khi hai bên cùng có lợi.
Tăng cường liên doanh, liên kết theo nguyên tắc ưu tiên liên doanh giữa các công ty tư vấn, giữa công ty tư vấn với các công ty thi công xây lắp, với các doanh nghiệp nước ngoài.
Thực tế trong những năm qua, việc liên doanh giữa các doanh nghiệp tư vấn đã diễn ra nhưng vẫn còn rất ít, chủ yếu vẫn là sự liên doanh giữa một công ty tư vấn xây dựng của Việt Nam với một hoặc hai doanh nghiệp tư vấn nước ngoài là phổ biến. Thông thường trong những liên doanh này, do lợi thế về mặt tài chính và ở một chừng mực nào đó nên các doanh nghiệp nước ngoài đều là những đơn vị nắm thế chủ động. Việc thiết lập các liên doanh giữa các công ty tư vấn xây dựng công trình Việt Nam là việc cần thiết và cấp bách để nâng cao khả năng cạnh tranh, nó không những mang lại hiệu quả cho các doanh nghiệp trong nước mà còn mang lại lợi ích to lớn cho nền kinh tế nước nhà.
Giải pháp được thực hiện như sau: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Xây dựng hệ thống thông tin, tăng cường mọi khả năng nghiên cứu và nắm bắt thông tin nhanh nhậy về thị trường trong mọi lĩnh vực để đầu tư nhằm có thông tin chính xác để đưa ra quyết định kịp thời.
Tăng cường liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài nước, tạo thêm sức mạnh cạnh tranh bình đẳng, tôn trọng lẫn nhau, cả hai cùng có lợi.
- Chiến lược marketing, thông tin quảng cáo và phát triển vị thế thương hiệu của doanh nghiệp
Chiến lược Marketing là một trong những chiến lược có tầm quan trọng đối với doanh nghiệp xây dựng trong điều kiện hội nhập, trong đó vấn đề nghiên cứu thị trường quốc tế, lựa chọn thị trường nước ngoài để tiếp cận và khai thác, vấn đề xây dựng và phát triển thương hiệu doanh nghiệp, vấn đề tham gia các hiệp hội xây dựng quốc tế được xem là những vấn đề trọng tâm ảnh hưởng không nhỏ tới sự thành công của các doanh nghiệp xây dựng trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay.
Để xây dựng chiến lược Marketting và thông tin quảng cáo thì Công ty Cổ phần tư vấn xây dựng NB cần tiến hành một số hoạt động sau đây:
- Hội thảo quốc tế về xây dựng:
Công ty cần có kế hoạch chủ động tổ chức hoặc tham gia các hội thảo quốc tế về xây dựng. Hiệu ích của hoạt động này là ở chỗ, hội thảo quốc tế là diễn đàn để các doanh nghiệp xây dựng quốc tế và các nhà quản lý về xây dựng quốc tế cùng nhau trao đổi kinh nghiệm học hỏi lẫn nhau, cũng như để chào hàng về công nghệ và năng lực tư vấn xây dựng, giới thiệu thương hiệu.
- Tham gia các hội chợ, triển lãm các thành tựu quốc tế trong lĩnh vực xây dựng: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Hình thức này là một loại hoạt động Marketing trong xây dựng để chào hành và trao đổi thông tin về xây dựng quốc tế rất hữu hiệu. Nhiều hợp đồng xây dựng, cung cấp dịch vụ tư vấn xây dựng… được ký kết tạo các hội chợ quốc tế về xây dựng.
- Tham gia các hiệp hội xây dựng trong nước và quốc tế
Đây là một hoạt động quan trọng để yểm trợ các hoạt động kinh doanh xây dựng của Công ty trên thị trường xây dựng khu vực và quốc tế vì mục đích của các hiệp hội này thường đặt ra là:
- Các thành viên hỗ trợ và giúp đỡ nhau nâng cao trình độ nghề nghiệp.
- Trao đổi thông tin về xây dựng giữa các nước.
- Cùng nhau bảo vệ quyền lợi nghề nghiệp
- Quy định các tiêu chuẩn đạo đức hành nghề.
- Đề xướng các quy chế theo các lĩnh vực chuyên môn xây dựng (như quy chế đấu thầu xây dựng quốc tế, các quy định về tiêu chuẩn và chất lượng xây dựng). Đó là hiệp hội quốc tế các kỹ sư tư vấn FIDIC, Hiệp hội kinh tế xây dựng Châu Âu ….
- Thường xuyên tăng cường quảng cáo, giới thiệu các thành tựu tư vấn đầu tư xây dựng mà Công ty đã và đang thực hiện ở các dự án đầu tư xây dựng công trình nhằm làm nổi bật thành tích và bề dầy kinh nghiệm của công ty với ưu thế về chiến lược ấn tượng sản phẩm tốt.
- Xây dựng hồ sơ tài liệu, hình ảnh giới thiệu quảng cáo về năng lực của Công
- Hoàn thiện bộ phận chuyên trách nghiên cứu thị trường tiếp thị kinh doanh. Có kế hoạch và những hình thức đào tạo thích hợp đội ngũ cán bộ làm công tác nghiên cứu thị trường.
- Có chương trình và kế hoạch đầu tư kinh phí hợp lý cho công tác quảng cáo tiếp thị.
- Phát triển vị thế thương hiệu của doanh nghiệp: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Cần phải phát triển sáng tạo thương hiệu: Công ty cần trao việc hoạch định chiến lược và sáng tạo nhãn hiệu cho các chuyên gia nhằm mục đích là biến mình thành người thẩm định, sử dụng các dịch vụ tư vấn như: tư vấn sáng tạo phát triển nhãn hiệu, tư vấn về pháp lý, tư vấn kinh doanh và hoạch định chiến lược, tư vấn về quảng cáo và truyền thông, giám sát các nhà cung cấp dịch vụ tư vấn. Việc sử dụng dịch vụ này sẽ đưa lại những điều tốt hơn cho Công ty.
Xây dựng thương hiệu phải khơi dậy cảm xúc của khách hàng: Để xây dựng một thương hiệu được khách hàng tin cậy thì doanh nghiệp cần phải hiểu rõ người hách hàng của mình hơn ai hết, và luôn lấy sự hài lòng của khách hàng làm trọng tâm cho mọi hoạt động.
Cần coi thương hiệu là công cụ bảo vệ lợi ích của mình: Để làm được điều này, trước tiên phải mở rộng thương hiệu bằng cách sử dụng thương hiệu đã thành danh của sản phẩm này cho một loại sản phẩm khác có chung kỹ năng, hoặc tạo ra một sản phẩm mới bổ sung cho sản phẩm đã có để làm tăng sự hài lòng và mức độ cảm nhận của khách hàng mục tiêu với sản phẩm đó.
Nâng cao nhận thức về bảo hộ nhãn hiệu hàng hóa: Công ty cũng cần nhận thức rằng mình là chủ thể trong các quan hệ về sở hữu trí tuệ. Các nhãn hiệu, kiểu đáng hàng hóa xuất khẩu là tài sản của Công ty. Do vậy, việc đăng ký sở hữu công nghiệp, đăng ký độc quyền nhãn hiệu hàng hóa, nhằm bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của thương hiệu tại các thị trường mà doanh nghiệp có chiến lược đầu tư kinh doanh là rất cần thiết.
3.4. Đề xuất một số kiến nghị nhằm hỗ trợ cho doanh nghiệp tư vấn xây dựng nâng cao khả năng cạnh tranh trong quá trình hội nhập quốc tế.
3.4.1. Hoàn thiện tổ chức sản xuất. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Để góp phần nâng cao khả năng cạnh tranh cho Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình cần thực hiện các giải pháp sau:
Đẩy mạnh việc tổ chức sắp xếp lại sản xuất.
Hoàn thiện bộ máy, xây dựng quy chế quản lý nội bộ doanh nghiệp. Tăng cường kỷ luật lao động, đẩy mạnh phong trào thi đua tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả cao ở từng bộ phận đến toàn bộ doanh nghiệp. Thực hiện đồng bộ các giải pháp trên sẽ khai thác được “nội lực” nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp, tạo khả năng để doanh nghiệp nhanh chóng thích nghi với sự biến động của thị trường và có sự cạnh tranh gay gắt.
Hiện nay công ty đang áp dụng theo hình thức tổng hợp các phòng ban chuyên môn. Một dự án, tuỳ theo đặc thù từng công trình trong dự án mà giao cho các phòng thiết kế chuyên môn đảm nhiệm, sau đó tập hợp chuyển cho phòng dự toán tính giá.
Ưu điểm:
- Lực lượng thiết kế chuyên ngành được tập trung ở một bộ phận, rất thuận lợi cho việc trao đổi công việc trong quá trình sản xuất, nâng cao chất lượng chuyên môn cho từng cá nhân.
- Hồ sơ thiết kế được kiểm soát tốt ở từng bộ phận.
- Tiết kiệm chi phí hành chính nhờ giảm bớt đầu mối.
- Việc thanh toán lương sản phẩm được quy về từng phòng ban.
Nhược điểm:
- Chủ trì thiết kế rất khó kiểm soát tiến độ, chất lượng công việc vì phải thông qua phụ trách các phòng ban.
- Tiến độ thực hiện dự án bị ảnh hưởng do phụ thuộc tiến độ từng phòng ban.
- Tuy kiểm soát được chất lượng từng bộ phận nhưng chất lượng tổng thể rất khó kiểm soát, không thuận lợi trong quá trình chỉnh sửa.
- Với phương thức thực hiện nói trên, vấn đề bảo đảm chất lượng toàn bộ và tiến độ thực hiện công việc khó có thể khắc phục được khi thực hiện mục tiêu lấy chất lượng và tiến độ làm công cụ cạnh tranh trên thị trường, tạo dựng uy tín của doanh nghiệp, thoả mãn yêu cầu của chủ đầu tư. Vì vậy, xin đề xuất thực hiện theo mô hình: tổ chức thực hiện và kiểm soát sản phẩm làm việc theo nhóm.
- Khi có dự án, chủ trì thiết kế sẽ phối hợp với các phòng ban chuyên môn để lấy người, tập hợp thành nhóm. Mô hình này khắc phục được nhược điểm của mô hình trên đồng thời phát huy hiệu quả làm việc theo nhóm, giúp chủ trì thiết kế kiểm soát được tiến độ, chất lượng từng bộ phận và toàn dự án.
3.4.2. Nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Để nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn, doanh nghiệp cần có chiến lược đầu tư đổi mới trang thiết bị hợp lý. Đồng thời doanh nghiệp phải đưa công cụ quản lý chất lượng hiện đại theo tiêu chuẩn ISO thật sự góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm. Xây dựng thương hiệu, bản quyền sản phẩm để khẳng định vị thế của doanh nghiệp với khách hàng trong nước và quốc tế.
Trên cơ sở phân tích, đánh giá thực trạng một số khiếm khuyết về chất lượng sản phẩm tư vấn của doanh nghiệp thời gian vừa qua trong chương 2 của luận văn, để từng bước giảm thiểu các khiếm khuyết và nâng cao chất lượng sản phẩm tư vấn, xin kiến nghị một số giải pháp sau:
*Các giải pháp trước mắt:
- Kiên quyết chấn chỉnh ngay việc không chấp hành đúng các quy chuẩn, quy trình quản lý chất lượng, quy định thể hiện hồ sơ tư vấn của công ty. Phòng kỹ thuật có trách nhiệm từ chối và chịu trách nhiệm về bất cứ biểu hiện sai phạm nào liên quan đến các khiếm khuyết này.
- Tăng cường trách nhiệm của đơn vị thực hiện công tác tư vấn trên tất cả các khâu, đặc biệt trách nhiệm của chủ nhiệm đồ án từ khâu lấy yếu tố đầu vào đến việc bao quát, phối hợp giữa các bộ môn. Mạnh dạn đề xuất trong trường hợp cần thiết, từ chối các đòi hỏi không chính đáng từ phía một số đơn vị chủ đầu tư.
- Tăng cường tính khoa học và chuyên nghiệp trong việc sắp xếp nội dung hồ sơ.
- Khuyến khích tư duy sáng tạo, đề cao trách nhiệm và tạo điều kiện cho các kiến trúc sư, kỹ sư trẻ có năng lực phát huy vai trò bình đẳng trong mọi công việc.
- Chấm dứt tình trạng sao chép hồ sơ, thiếu động não ở tất cả các bộ môn (có quy định xử phạt nghiêm minh).
- Khuyến khích sử dụng các kỹ thuật và vật liệu mới. Đồng thời chấm dứt tình trạng đối phó, tắc trách dẫn đến lãng phí, làm tăng vốn đầu tư.
- Tăng cường trao đổi, đối thoại trong phạm vi toàn công ty thông qua Hội đồng khoa học với các công trình, dự án có quy mô lớn, phức tạp.
- Tăng cường trao đổi giữa các đơn vị trực tiếp làm tư vấn với Phòng kỹ thuật trên phạm vi tất cả các bộ môn để có giải pháp ngay từ đầu.
- Đẩy mạnh và khuyến khích tìm tòi sáng tác thông qua công tác thi tuyển và thi đấu cả trong và ngoài đơn vị.
- Tăng cường tham quan, tập huấn kỹ thuật, thông tin khoa học theo tất cả các chuyên ngành.
- Các biện pháp trên cần phải có chế tài cụ thể, có chế độ thưởng phạt phân minh và nghiêm khắc thì mới có thể thực hiện được.
*Các giải pháp lâu dài: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Về nhận thức: Trước hết cần nâng cao nhận thức của toàn bộ các thành viên trong đơn vị về nhu cầu cấp thiết phải nâng cao chất lượng Hồ sơ tư vấn. Mỗi thành viên cần hiểu rõ đây là nhu cầu khách quan, mang tính sống còn đối với sự tồn tại và phát triển của đơn vị. Cần thấy rằng, đây là yêu cầu vừa cấp bách, vừa thường xuyên, mang tính lâu dài và chỉ trên cơ sở nâng cao chất lượng chúng ta mới có thể tạo điều kiện để từng bước nâng cao thu nhập, cải thiện đời sống.
- Về hành động: Trên cơ sở nhận thức đầy đủ về nhu cầu nâng cao chất lượng, mỗi thành viên, trên mỗi cương vị, từ lãnh đạo các cấp, chủ nhiệm đồ án, chủ trì bộ môn đến người thiết kế cùng tất cả các Phòng chức năng cần hoàn thành tốt trách nhiệm của mình nhằm tạo chuyển biến mạnh về chất lượng, tạo dựng một thương hiệu uy tín là Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình.
- Về tổ chức: Bằng nhiều biện pháp, một mặt nâng cao trình độ, năng lực đội ngũ cán bộ hiện có bằng công tác tập huấn kỹ thuật, đào tạo nâng cao, khuyến học, sàng lọc kiện toàn, tuyển dụng thu hút nhân tài cả bề rộng lẫn chiều sâu…nhằm tạo dựng một đội ngũ chuyên sâu có tâm huyết, gắn bó với đơn vị. Mặt khác, cần có định hướng nhằm từng bước xây dựng các mũi nhọn có tính chuyên môn hoá và tính chuyên nghiệp cao.
- Bằng cơ chế và chính sách, động viên, tạo điều kiện cho các đơn vị thành viên mạnh dạn đầu tư vào công tác tìm kiếm, mở rộng thị trường, thi tuyển kiến trúc, từng bước tham gia tích cực vào các dự án lớn của nhà nước.
- Vấn đề đầu tiên trong thời gian tới, công ty phải thực hiện đúng, đủ các quy trình kỹ thuật ngành, quy trình quản lý chất lượng và tiến tới đạt chuẩn ISO 9001- 2000.
3.4.3. Tăng cường đầu tư máy móc thiết bị, khoa học công nghệ, ứng dụng các thành tựu của công nghệ thông tin.
Để có thể tham gia và hoàn thành nhiệm vụ, hội nhập kinh tế quốc tế, đòi hỏi Công ty cổ phần Tư vấn xay dung ninh binh phải có hệ thống trang thiết bị đồng bộ, hiện đại, đặc chủng, các phần mềm có bản quyền và tiên tiến thì mới có thể tham gia váo các dự án lớn. Vì vậy, việc đầu tư để tăng năng lực thiết bị và ứng dụng khoa học kỹ thuật, thông tin là rất bức bách.
Máy móc thiết bị, các ứng dụng công nghệ thông tin tiên tiến và công nghệ hiện đại là cơ sở của chất lượng tư vấn, tạo ra phong cách tư vấn xây dựng cho công ty, hơn thế nữa còn tạo ra sự tin cậy từ phía chủ đầu tư và các khách hành tiềm năng.
Các thiết bị và phần mềm mua sắm mới phải là thiết bị và phần mềm có tính chất quan trọng, quyết định phần lớn giá trị của sản phẩm. Tuy nhiên việc đầu tư mua sắm mới các thiết bị, phần mềm này rất tốn kém. Do đó, công ty cần phải xây dựng lộ trình và kế hoạch cụ thể để mua sắm từng loại thiết bị và phần mềm này cho thích hợp. Với phí tư vấn xây dựng như hiện nay việc bỏ tiền ra đầu tư một lúc và trong thời gian ngắn là không thể với khả năng tài chính của mình. Trong điều kiện chưa thể mua sắm cùng một lúc, nhưng cần phải có để đáp ứng các yêu cầu của công trình, công ty có thể tính và tìm các giải pháp sau:
- Hợp tác liên doanh: Đối với các doanh nghiệp tư vấn ở Việt Nam trong giai đoạn hiện nay, việc liên doanh để tăng năng lực thiết bị là một trong những giải pháp quan trọng, có hai hình thức liên doanh trong lĩnh vực này đó là: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Liên doanh giữa công ty với một doanh nghiệp tư vấn xây dựng nước ngoài hoặc một doanh nghiệp tư vấn trong nước.
- Với số máy móc thiết bị còn có thể cải tiến để có thể nâng cao chất lượng, công ty mua sắm các linh kiện về lắp ráp, thay thế nhằm kéo dài thời gian hoạt động, tăng công suất. Phương án này không cần tập trung quá nhiều vốn, không thay đổi máy móc hiện tại một cách đột ngột, thích hợp với những giai đoạn khó khăn về vốn.
- Thuê thiết bị trực tiếp của các doanh nghiệp bạn. Phương pháp này được áp dụng trong trường hợp ngắn hạn, đột xuất có tính thời điểm. Hình thức này phụ thuộc vào công suất thiết bị dư thừa của doanh nghiệp bạn cũng như các nguồn lực khác về tài chính, kinh tế, kỹ thuật…(Thường áp dụng cho các thiết bị khoan khảo sát và khoan thăm dò).
Với các phần mềm có thể tranh thủ tận dụng sự giúp đỡ, ủng hộ của các cơ quan nhà nước bằng các chính sách như: Các đợt nhà nước phối hợp cùng các công ty phần mềm bán hạ giá.
3.4.4. Hoàn thiện văn hoá doanh nghiệp.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình là doanh nghiệp ý thức được ngay từ ngày mới thành lập cần thiết phải hình thành văn hoá doanh nghiệp của bản thân mình, làm nền tảng tinh thần cho sự trưởng thành về mọi mặt của đơn vị. Công ty xây dựng văn hoá doanh nghiệp trên một triết lý rất rõ ràng và có được những thành công nhất định, hoàn thiện văn hoá doanh nghiệp đối với công ty là điều rất cần thiết để nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của mình:
- Kiên trì mục tiêu phát triển liên tục và bền vững.
- Đoàn kết nội bộ, đối ngoại hài hoà, thông thoáng.
- Đề cao tinh thần cộng đồng, coi trọng giá trị nhân văn.
- Mạnh dạn và năng động trong quản lý.
- Coi trọng chữ tín trong mọi hoạt động sản xuất kinh
Có thể khẳng định rằng giá trị văn hoá doanh nghiệp của công ty đã, đang và sẽ tiếp tục đóng góp vào thành tựu của công ty, tạo nên thượng tầng kiến trúc của công ty mạnh có uy tín, có lòng tin của Nhà nước và khách hàng, chiếm ưu thế cạnh tranh trên mọi lĩnh vực.
3.4.5. Nâng cao năng lực con người. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Đối với hệ thống cán bộ quản lý.
Bối cảnh mới của sự phát triển đất nước, nền kinh tế thị trường đã đặt ra những yêu cầu mới đối với các doanh nghiệp muốn thành công trong kinh doanh. Bên cạnh việc thay đổi về kỹ thuật, công nghệ, đào tạo cần phải có những tư duy mới trong công tác lãnh đạo – quản lý. Điều đó có nghĩa là người lãnh đạo – quản lý phải là người hoàn toàn khác với những ông chủ tư bản trước kia điều khiển xí nghiệp bằng roi vọt, ra những quyết định từ chiếc ghế phô tơi, hay những vị giám đốc không dám nghĩ, dám làm chỉ thụ động làm theo những quy định cứng nhắc của cơ chế cũ dưới thời bao cấp. Dưới đây là một số giải pháp cụ thể đối với các cán bộ quản lý:
Một là, tăng cường năng lực quản trị kinh doanh của cán bộ quản lý.
Hai yếu tố thiết yếu hình thành năng lực tổng hợp của một doanh nhân là tố chất nghiệp chủ và năng lực quản lý nhưng ở nước ta, trong nhiều trường hợp, một doanh nhân có được yếu tố thứ nhất lại thiếu yếu tố thứ hai; hoặc phát triển các yếu tố đó không hài hoà, không theo kịp sự phát triển nhanh chóng và sự đòi hỏi khắc nghiệt của hoạt động kinh doanh với mức độ cạnh tranh quốc tế hoá ngày càng cao. Để phát triển các năng lực nói trên, cần có sự nỗ lực của bản thân doanh nghiệp và sự hỗ trợ của các cơ quan, tổ chức hữu quan; nhưng sự chủ động, tích cực phấn đấu của bản thân mỗi giám đốc và nhà kinh doanh phải là nhân tố quyết định. Doanh nhân cần được chú trọng nâng cao những kỹ năng cần thiết và cập nhật những kiến thức hiện đại để đủ sức bước vào nền kinh tế tri thức. Một số kiến thức và kỹ năng có thể đã có nhưng cần được hệ thống hoá và cập nhật, trong đó, cần đặc biệt chú ý những kỹ năng hữu ích như: Kỹ năng quản trị hiệu quả trong môi trường cạnh tranh; kỹ năng lãnh đạo của nghiệp chủ và giám đốc doanh nghiệp; kỹ năng quản lý sự thay đổi; kỹ năng thuyết trình, đàm phán, giao tiếp và quan hệ công chúng; kỹ năng quản lý thời gian. Những kỹ năng này kết hợp với các kiến thức quản trị có hiệu quả sẽ có tác động quyết định đối với các doanh nhân, các nghiệp chủ và các nhà quản lý doanh nghiệp, qua đó làm tăng khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp.
Hai là, phát triển năng lực quản trị chiến lược của cán bộ quản lý.
Sự yếu kém về tầm nhìn chiến lược trong phát triển kinh doanh là một trong những nguyên nhân của sự thất bại trong phát triển dài hạn. Có doanh nghiệp hoạt động rất thành công ở quy mô nhỏ nhưng thất bại ngay khi bước vào giai đoạn mở rộng quy mô. Các doanh nghiệp đều phải xây dựng khả năng phát triển một cách bền vững, nếu không sẽ khó trụ vững trong cuộc cạnh tranh. Những trường hợp doanh nghiệp phát triển rầm rộ trong một vài năm, sau đó suy yếu nhanh, thậm chí tan vỡ là các minh chứng đáng xem xét để từ đó rút ra các bài học kinh nghiệm hữu ích.
Để bồi dưỡng, phát triển năng lực quản lý chiến lược và tư duy chiến lược cho đội n ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )gũ cán bộ quản lý, cần chú trọng đặc biệt những kỹ năng: Phân tích kinh doanh, dự đoán và định hướng chiến lược, lý thuyết và quản trị chiến lược, quản trị rủi ro và tính nhạy cảm trong quản lý.
Về mặt chiến lược cạnh tranh, các doanh nghiệp Việt Nam còn rất yếu về liên kết nhóm, đặc biệt là trên phạm vi quốc gia. Vừa cạnh tranh vừa hợp tác, hợp tác để tăng cường khả năng cạnh tranh; nếu các doanh nghiệp chỉ thuần tuý chú ý đến mặt cạnh tranh mà bỏ qua mặt hợp tác thì rất sai lầm. Phải biết hợp tác đi đôi với cạnh tranh để giảm bớt căng thẳng và tăng cường năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.
Ba là, bồi dưỡng khả năng kinh doanh quốc tế và nâng cao năng lực cạnh tranh quốc tế của doanh nghiệp.
Hiện nay, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng nếu so với trình độ quốc tế thì hầu hết các doanh nghiệp Việt Nam còn tụt hậu một khoảng cách đáng kể. Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thương trường quốc tế thì chính bản thân giám đốc và cán bộ quản lý doanh nghiệp trước hết cần tăng cường khả năng đó. Đây là đòn bẩy nhân tố con người trong các tổ chức kinh doanh. Đối với đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp, để nâng cao khả năng làm việc và giao dịch quốc tế, tiếp cận các tiêu chuẩn, các thông lệ của thế giới thì cần chú trọng phát triển những kiến thức, kỹ năng chủ yếu như:
- Năng lực về ngoại ngữ (mặc dù có thể sử dụng người phiên dịch nhưng cần có ngoại ngữ tối thiểu và nên hạn chế sự phụ thuộc hoàn toàn vào phiên dịch). Đây có lẽ là một trong những điểm đáng chú ý nhất đối với công ty .
- Kiến thức cơ bản về văn hoá, xã hội, lịch sử trong kinh doanh quốc tế.
- Giao tiếp quốc tế và xử lý sự khác biệt về văn hoá trong kinh
- Thông lệ quốc tế trong lĩnh vực /ngành kinh doanh.
3.4.6. Xây dựng và phát triển nguồn nhân lực công ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Cần nhận thức vai trò của công tác xây dựng và phát triển nguồn nhân lực đối với doanh nghiệp.
Bước sang thế kỷ XXI, cuộc cách mạng khoa học công nghệ hiện đại tiếp tục phát triển với nhịp độ ngày càng tăng, tạo những thành tựu mạng tính đột phá, làm thay đổi nhanh chóng, mạnh mẽ toàn bộ các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh và đời sống xã hội. Đó là sự chuyển tiếp từ xã hội công nghiệp sang xã hội tri thức mang tính toàn cầu, một xã hội thực sự tự do, dân chủ, công bằng và văn minh.
Trên con đường hội nhập và phát triển, Việt Nam hiện đang bước vào công cuộc xây dựng công nghiệp hoá, hiện đại hoá. Với bước đi thích hợp, chúng ta đang xây dựng một nền kinh tế nhiều thành phần vận hành theo cơ chế thị trường dưới sự lãnh đạo của Đảng theo định hướng xã hội chủ nghĩa. Trong nền kinh tế ấy, doanh nghiệp muốn giữ vững ổn định và phát triển với tốc độ cao trong sản xuất kinh doanh, vấn đề phát huy nội lực là giải pháp cơ bản, quyết định thành công và là giải pháp chủ yếu nhằm đảm bảo tính hiệu quả, sự phát triển bền vững của doanh nghiệp, xứng đáng với vai trò của doanh nghiệp trong nền kinh tế quốc dân.
Trong điều kiện vừa phải đối mặt với sự cạch tranh hết sức gay gắt với các thành phần kinh tế khác, vừa phải hội nhập để cùng tồn tại, vấn đề cốt lõi là phải có chiến lược đầu tư xây dựng nguồn nhân lực. Vì có xây dựng được nguồn nhân lực mới xác định được quy mô phát triển, đầu tư đổi mới công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng và quyết định đến sự thành bại của doanh nghiệp trong môi trường cạnh tranh.
Trong định hướng xây dựng và phát triển, công ty đã xác định: “Cùng với việc đầu tư cho công nghệ sản xuất, phải bằng mọi cách tạo ra nguồn nhân lực có chất lượng cao, phù hợp với từng lĩnh vực sản xuất và quản lý. Đây là công việc có ý nghĩa quyết định cho sự ổn định, tăng trưởng và phát triển vững chắc của công ty những năm trước mắt và trong tương lai”.
Để có nguồn nhân lực có chất lượng cao, công ty phải có chiến lược phát triển toàn diện, đáp ứng cả cho nhu cầu trước mắt cũng như lâu dài, kế hoạch phải cụ thể và phải có các giải pháp thực hiện mang tính khả thi.
- Kế hoạch đào tạo. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Trước yêu cầu phát triển nguồn nhân lực của Công ty theo số lượng dự báo trên đối với công ty là rất lớn. Để đáp ứng được nhu cầu phát triển ấy, công ty không chỉ trông chờ vào Nhà nước và xã hội mặc dù hiện nay sức ép giải quyết công ăn việc làm đang rất lớn. Lực lượng lao động chưa có việc làm còn nhiều kể cả những người được đào tạo. Song ngay từ bây giờ muốn có nguồn nhân lực có chất lượng cao, thường xuyên bổ sung cho nhu cầu phát triển sản xuất kinh doanh, tạo ra sự đột biến về năng suất lao động thì công ty phải có quyết sách đầu tư đào tạo theo hướng chủ động tích cực. Trước hết phải xem xét đánh giá sơ bộ công tác đào tạo của công ty trong thời gian qua.
- Về đào tạo trình độ trên đại học: công ty chưa có đầu tư nhiều, chưa có kế hoạch đào tạo chủ động, hiện tại có một số cán bộ có trình độ đại học có nhu cầu phát triển tự giác đi học thêm ngoài giờ làm việc, tự nâng cao trình độ cho bản thân và tự chịu các chi phí trong quá trình đào tạo. Các chính sách đãi ngộ với các cán bộ sau khi tốt nghiệp Tiến sỹ, Thạc sỹ cũng chưa có gì (cùng một thang lương với kỹ sư, chuyên viên).
- Về đào tạo đại học, cao đẳng: Công ty chưa đầu tư, chỉ mới dừng ở mức độ hợp tác, tạo điều kiện cho các sinh viên đến thực tập làm đồ án tốt nghiệp. Các cá nhân có nhu cầu đi học thì tự túc kinh phí. Công ty đã có mối quan hệ với một số trường đại học nhưng chưa thật sự có chương trình đầu tư, hợp tác mang tính chiến lược, chiều sâu. Việc tuyển dụng kỹ sư, cử nhân tốt nghiệp ra trường, công ty mới chỉ xem xét tiếp nhận những người có nguyện vọng xin vào làm việc cho nên thiếu tính chủ động và chất lượng nguồn tuyển lao động thuộc đối tượng này không
Phải bố trí một tỷ lệ hợp lý kinh phí hàng năm được đưa vào giá thành sản xuất kinh doanh để phục vụ cho công tác đào tạo phát triển nguồn nhân lực.
Trong đào tạo, cần tập trung đầu tư một tỷ lệ cho đại học, trên đại học để có nguồn nhân lực chất lượng cao, đồng thời cũng phải đầu tư cho công tác đào tạo lại, bồi dưỡng nâng cao cho những đối tượng là người lao động tích cực, yêu nghề, gắn bó với công ty, có trình độ văn hoá, có khả năng học tập, phát triển trình độ đại học, cao đẳng, trung cấp để có đội ngũ cán bộ đáp ứng cho yêu cầu phát triển sản xuất kinh doanh.
- Kế hoạch cụ thể: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Đào tạo trên đại học (Tiến sỹ, Thạc sỹ): Mục tiêu là tạo nguồn cán bộ có trình độ chuyên môn giỏi, có kiến thức quản lý kinh tế vững vàng, có bản lĩnh chính trị và đạo đức lối sống tốt, có kiến thức hiểu biết xã hội rộng, thông thạo các thông lệ quốc tế, hiểu biết pháp luật, có trình độ giao tiếp với các đối tác trong và ngoài nước.
Kinh phí đầu tư: 4.000.000 đồng/người/năm theo mặt bằng chung hiện nay.
Hỗ trợ kinh phí đào tạo nguồn tuyển dụng là kiến trúc sư, kỹ sư, cử nhân chất lượng cao: Mục tiêu tuyển chọn trước các kỹ sư tương lai đang học trong trường đại học đạt trình độ khá, giỏi để sau khi tốt nghiệp về làm tại công ty. Đây là đối tượng tuyển chọn chủ động, thu hút nhân tài từ xa và sẽ là đối tượng được đưa vào quy hoạch bồi dưỡng phát triển nguồn cán bộ kế cận.
Dự kiến đơn vị và số lượng sinh viên được đầu tư hỗ trợ một phần nguồn kinh phí: Đại học Xây dựng, Đại học Bách Khoa, Đại học Giao thông vận tải, Học viện Tài chính kế toán, Đại học kiến trúc Hà Nội.
Đào tạo đại học chuyên ngành kiến trúc, xây dựng công trình, kinh tế xây dựng hệ tại chức. Với mục tiêu là tạo nguồn nhân lực có trình độ đại học được trưởng thành từ thực tiễn sản xuất, sau khi tốt nghiệp trở về đơn vị trực tiếp tham gia làm công tác kỹ thuật. Hợp tác với các trường Đại học và đối tượng đào tạo là các nhân viên của công ty có trình độ cao đẳng, trung cấp có khả năng học tập, có xu hướng phát triển.
Thực hiện việc trao tặng học bổng cho sinh viên có thành tích học tập xuất sắc của một số trường để tạo nguồn cán bộ sau này.
Mặt khác với doanh nghiệp, việc xây dựng nguồn nhân lực luôn gặp nhiều khó khăn do nhân viên liên tục “nhảy việc” làm tổn hao nhiều chi phí, thời gian và tâm sức của doanh nghiệp thì doanh nghiệp phải giải quyết vấn đề trên như thế nào?
Trước hết cần phải trả lời câu hỏi “Vì sao nhân viên nghỉ việc?” ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Có thể nêu một vài lý do chủ yếu khiến cho doanh nghiệp bị “chảy máu” nhân viên. Trước tiên là vì doanh nghiệp không có một chính sách nhân sự bài bản và đúng đắn, nhân viên không thấy được cơ hội phát triển nghề nghiệp. Không có chiến lược dài hạn mà chỉ quản lý theo cảm tính và mang nặng tính tình thế, ngắn hạn. Do đó, nhân viên không làm chủ được công việc của mình, không thấy được tương lai mình sẽ là ai, làm gì. Mặt khác, nếu coi nhân viên là người làm công ăn lương, quan niệm “làm chủ – làm công” khá rõ ràng và quản lý doanh nghiệp theo kiểu gia trưởng, khiến nhân viên dễ cảm thấy bất mãn.
Một nhân viên khi thôi việc luôn luôn phải có một lộ trình dài, bị “ức chế” hoặc bị “lực đẩy” từ nhiều nguyên nhân mới dẫn đến hành động đó. Và một khi người nhân viên đã nộp đơn xin thôi việc thì có nghĩa là họ đã suy nghĩ và quyết định xong. Những biện pháp giải quyết tình thế ngay khi nhận được đơn xin thôi việc, do đó, hầu hết đều không có kết quả.
Xu hướng ngày nay, việc nhân viên trung thành, gắn bó với Công ty suốt đời ngày càng hiếm. Thậm chí, gắn bó trong khoảng 8 – 10 năm cũng đã được coi là “hiện tượng lạ”. Do đó, doanh nghiệp phải chấp nhận một thực trạng là có sự chuyển dịch nhân sự, hơn thế nữa, phải xem đó là một xu hướng tốt, thay vì quan niệm “nhân viên phải gắn bó suốt đời với Công ty”. Nếu xem sự chuyển dịch nhân sự là một xu hướng tốt và tất yếu doanh nghiệp phải có kế hoạch để chủ động hoạch định vòng thời gian chuyển dịch đó sao cho hiệu quả nhất. Chiến lược “vòng thời gian chuyển dịch nhân sự” giúp cho Công ty không rơi vào thế bị động nếu nhân viên giỏi ra đi. Việc nhân viên ra đi phải nằm trong sự hoạch định của Công ty và có sự dự đoán trước.
Doanh nghiệp phải luôn luôn xây dựng đội ngũ kế thừa. Trong trường hợp doanh nghiệp không có điều kiện xây dựng đội ngũ kế thừa, thì phải thay thế bằng cách xây dựng các chuẩn mực, tiêu chuẩn, quy trình rõ ràng trong công việc, làm tăng khả năng thay thế người và không phụ thuộc quá sâu vào một nhân viên nào, cũng như làm giảm thiểu thời gian thích nghi của người mới.
Một yếu tố nhỏ nhưng không kém phần quan trọng là những cuộc phỏng vấn nhân viên. Phỏng vấn khi tuyển dụng, phỏng vấn trong quá trình làm việc khi kết thúc mỗi đợt kế hoạch và đặc biệt là phỏng vấn khi thôi việc giúp ích rất nhiều vào việc cải tiến chính sách nhận sự nói riêng và chính sách phát triển của Công ty nói chung.
- Giữ gìn và phát triển nguồn nhân lực.
Một chiến lược gìn giữ và phát triển nguồn nhân lực phải đi từ gốc, theo một chuỗi liên tục từ khâu tuyển dụng đến đào tạo gìn giữ và phát huy nguồn nhân lực.
Trước tiên, doanh nghiệp phải xây dựng một chính sách nhân sự phù hợp với hoàn cảnh của doanh nghiệp mình. Trong đó, chỉ rõ cơ cấu tổ chức của Công ty và các vị trí tương ứng với cơ cấu đó.
Có bảng mô tả công việc rõ ràng ứng với từng vị trí. Trong bảng mô tả công việc, cần quy định rõ theo thứ tự ưu tiên các yêu cầu bắt buộc phải có, cần có và nên có đối với ứng viên. Những yêu cầu này không chỉ bao gồm năng lực chuyên môn mà quan trọng hơn còn là hành vi, thái độ sống, quan niệm, động lực… của ứng viên. Làm được bước này, doanh nghiệp sẽ chọn lọc được nhân viên phù hợp ngay từ khâu tuyển dụng, thu hút đúng người, tránh tình trạng nhân viên vào thử việc sau vài tháng lại thấy không phù hợp phải nhảy việc. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Khi đã tuyển được đúng người, bước tiếp theo, cần phải có sự hỗ trợ để nhân viên mới hòa nhập được vào môi trường làm việc và văn hóa riêng của Công ty. Có thể có hẳn một quy định đón chào nhân viên mới như thế nào. Nếu không, tối thiểu thì Công ty phải thông tin cho nhân viên mới hiểu và biết rõ Công ty muốn gì ở họ, Công ty có trách nhiệm gì đối với họ, và như thế nào thì gọi là làm tốt công việc. Một bảng mô tả cơ cấu Công ty rõ ràng, quy định trách nhiệm, nghĩa vụ, quyền hạn, sự thăng tiến của từng vị trí sẽ giúp rất nhiều cho người nhân viên mới.
Lương bổng đóng vai trò thế nào đối với sự trung thành, gắn bó, nỗ lực của nhân viên? Thông thường, người nhân viên đi làm luôn muốn được trả công tương xứng với công sức họ bỏ ra. Lưu ý ở đây là mức lương “tương xứng” chứ không phải là mức lương cao. Vậy, làm thế nào để người nhân viên cảm thấy “tương xứng” là một nghệ thuật của người quản lý nhân sự. Đôi lúc “tương xứng” được hiểu là giá trị lao động của họ được tôn trọng, được đánh giá cao, là họ cảm thấy đã đóng góp được rất nhiều vào sự phát triển của Công ty. Quan trọng hơn là người nhân viên thấy chính mình đã đóng vai trò quyết định đối với việc tăng lương cho chính họ nếu chính sách của Công ty tạo được sự gắn kết giữa quyền lợi nhân viên và quyền lợi của Công ty.
Tuy nhiên cũng cần phải xem mức lương tương xứng như thế nào là tối thiểu. Nếu mức lương không đủ sống thì mọi thứ trên cũng trở nên vô nghĩa. Việc nghiên cứu mức sống của nhân viên cũng là điều rất quan trọng. Có thể tổ chức các cuộc thăm dò, điều tra ở các trung tâm để có quyết định thích hợp. Có mức thu nhập, phúc lợi thỏa đáng cho những người có công lớn vì sự phát triển của doanh nghiệp, có thưởng phạt, suy tôn người có cống hiến.
Tạo động lực cho nhân viên, hướng nhân viên vào những yếu tố khác ngoài lương cũng rất quan trọng. Ví dụ, gia tăng tính thử thách trong công việc, giúp nhân viên vượt qua bản thân họ, giúp nhân viên tự tin hơn, yêu bản thân hơn, yêu công việc hơn.
Ngoài ra, văn hóa doanh nghiệp cũng rất quan trọng trong việc gìn giữ và phát huy nguồn nhân lực. Một môi trường làm việc minh bạch, rõ ràng cho hiệu quả làm việc cao. Nhưng để giữ người, cần phải xây dựng mối liên hệ đoàn kết, thân ái, vui vẻ phấn khởi trong Công ty, làm sao để mỗi người đều cảm thấy mình có liên hệ rất mật thiết, có vai trò không thể thiếu trong tập thể. Hơn nữa, các hoạt động ngoại khóa, sinh hoạt tập thể còn giúp nhân viên rèn luyện kỹ năng sống, và giúp phát hiện những yếu tố tài năng còn tiềm ẩn trong bản thân, giúp nhân viên tự tin hơn, yêu công việc hơn, có thái độ sống tốt hơn.
Như vậy, một chiến lược dài hạn không chỉ giúp gìn giữ và phát triển người giỏi cho Công ty, mà còn tăng thêm người giỏi khác. Một khi nhân viên cảm thấy hài lòng, họ sẽ thường xuyên nói điều đó cho gia đình, bạn bè, khách hàng… tức là nói cho cả thị trường lao động tiềm năng về Công ty.
Không như các ngành khác, ngành tư vấn xây dựng không phải mới ra trường đã làm thành thạo được ngay mà cần phải đào tạo từ 3-4 năm hoặc nhiều hơn nữa. Vì vậy, trước hết phải làm cho các kỹ sư tư vấn nhận thức được và có kế hoạch cụ thể để hoàn thiện, nâng cao năng lực của chính mình . Điều này rất quan trọng vì mỗi cá nhân, mỗi lĩnh vực có những “ vấn đề” riêng cần phải giải quyết để có thể hội nhập.
Hiện nay các chương trình giảng dạy ở các trường đại học có nhiều môn học giúp sinh viên ra trường có kỹ năng tính toán tốt nhưng còn thiếu các môn dạy về “kỹ năng tư duy”, phương pháp làm việc, cách thức tiếp cận và giải quyết vấn đề. Công tác đào tạo sau tốt nghiệp tại nước ta còn bị xem nhẹ (ở đây không nói đến đào tạo cao học hoặc tiến sĩ). Nhiều thông tin, tiến bộ công nghệ không được thường xuyên cập nhật dẫn đến các chính các kỹ sư đã tụt hậu rồi còn nói gì tới nâng cao và hội nhập. Công ty và cá nhân phải thừa nhận trong thời gian ngắn tới vấn đề này sẽ chưa thể thay đổi.
“Tự đào tạo” là một đòi hỏi có tính quyết định với nhà tư vấn. Ngoài ra doanh nghiệp cũng cần đẩy mạnh việc đào tạo, đào tạo lại đội ngũ cán bộ kỹ thuật, quản lý doanh nghiệp, để đáp ứng yêu cầu tiếp thu công nghệ mới. Công ty cần tạo điều kiện cho các cán bộ của mình cọ xát, học hỏi phương pháp và giải quyết vấn đề trong từng công việc cụ thể, đặc biệt khi tham gia các dự án có chủ trì bởi tư vấn nước ngoài.
3.4.7. Hoàn thiện kỹ thuật lập hồ sơ dự thầu để nâng cao năng lực trúng thầu. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Khi các yếu tố khác như kinh nghiệm nhà thầu, năng lực tài chính… đã được đảm bảo thì khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp khi tham gia đấu thầu phụ thuộc trực tiếp vào trình độ xây dựng hồ sơ dự thầu.
Việc lập hồ sơ dự thầu đòi hỏi phải qua các bước như nghiên cứu hồ sơ mời quan tâm, hồ sơ mời sơ tuyển, hồ sơ mời thầu, công việc này đòi hỏi phải nghiên cứu kỹ lưỡng tất cả các nội dung và yêu cầu của hồ sơ mời thầu. Điều tra môi trường đấu thầu, điều tra dự án đấu thầu, lập giải pháp tư vấn thiết kế, dự án cho công trình , xây dựng bản báo giá đấu thầu… Kỹ năng lập hồ sơ thầu được thực hiện ở phương pháp, chất lượng, tiến độ thực hiện ở tất cả các khâu trong quá trình xây dựng hồ sơ dự thầu.
Khi xác định môi trường đấu thầu, các doanh nghiệp phải tổ chức được công việc điều tra các điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của dự án, những điều kiện này ảnh hưởng trực tiếp đến các giả pháp tư vấn, giá thành tư vấn và giá thành công trình. Các nội dung điều tra như: đặc điểm, vị trí địa lý của từng công trình, cung cấp điện nước, thông tin liên lạc, điều kiện tự nhiên, điều kiện cung ứng vật tư, năng lực điều phối các loại vật liệu, giá cả, vận chuyển, khả năng khai thác nguyên vật liệu tại chỗ.
Phải nắm được tính chất, quy mô, phạm vi đấu thầu, mức độ phức tạp về kỹ thuật công trình, yêu cầu tiến độ, thời hạn hoàn thành và tổng thể công trình, nguồn vốn, phương thức thanh toán, uy tín, năng lực công tác của tổ chức xét thầu và chủ đầu tư.
Lập giải pháp thiết kế là khâu có ảnh hưởng quyết định đến bản báo giá dự thầu và việc trúng thầu. Muốn thế trước hết phải xây dựng một đội ngũ cán bộ, chuyên gia đánh giá chuyên nghiệp có đủ khả năng đảm đương công tác đấu thầu. Đào tạo và bồi dưỡng kinh tế – tài chính, luật pháp đấu thầu trong nước và quốc tế cho cán bộ làm thầu. Việc có thêm kiến thức này sẽ góp phần nâng cao trình độ chuyên môn cho cán bộ để từ đó có thể xây dựng được chiến lược đầu tư thích hợp, giá dự thầu hợp lý và tuân thủ pháp luật hiện hành.
Công ty cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình cần có chiến lược đào tạo cán bộ trẻ, có trình độ năng lực để tận dụng được sự năng động, sáng tạo của tuổi trẻ, làm tiền đề cho lớp kế cận sau này. Qua đó sẽ nâng cao được chất lượng công tác chuẩn bị trong đấu thầu, lập hồ sơ dự thầu cũng như đảm bảo nguồn nhân lực để đáp ứng theo yêu cầu của chủ đầu tư, tạo lợi thế cho doanh nghiệp nâng cao được khả năng cạnh tranh. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Tổ chức lập hồ sơ dự thầu là một công việc hết sức phức tạp và yêu cầu thực hiện trong một thời gian hạn chế. Chất lượng hồ sơ là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định cho việc doanh nghiệp có trúng thầu hay không, do vậy trình độ tổ chức lập hồ sơ dự thầu là một trong những yếu tố cơ bản để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
Qua thực tế có thể chứng minh rằng quá trình đấu thầu bao giờ cũng phải trải qua bước sơ tuyển, kiểm tra đánh giá và loại bỏ các hồ sơ dự thầu không đảm bảo tiêu chuẩn, các yêu cầu mà chủ đầu tư đã đề ra trong hồ sơ mời thầu. Vì vậy, chất lượng hồ sơ dự thầu đóng vai trò không nhỏ trong việc nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp. Việc đảm bảo và nâng cao chất lượng, nâng cao tính thuyết phục của hồ sơ dự thầu là điều kiện cần thiết mà các doanh nghiệp nên làm:
- Tính thuyết phục của hồ sơ dự thầu là rất quan trọng vì nó không phải đơn thuần chỉ là một tập hồ sơ bao gồm các thông tin, số liệu, khô khan về giải pháp và phương pháp luận hợp lý đối với yêu cầu của gói thầu, của từng công trình mà nên xem nó như một tác phẩm thể hiện “bộ mặt” của nhà thầu cần được gọt dũa, chắt lọc và lựa chọn cẩn thận. trong hồ sơ dự thầu không nên sử dụng lối viết khá rườm ra, hoa mỹ mà nên sử dụng lối viết ngắn gọn, rõ ràng để sao cho người đọc hiểu đúng nội dung và đủ ý.
- Các con số, các thông tin trong hồ sơ dự thầu phải thật tương đối chuẩn xác, dễ kiểm
- Kiểm tra, khắc phục các sai sót về lỗi chính tả, lỗi câu, lỗi số học trong hồ sơ dự thầu. Việc này phải tiến hành kỹ lưỡng từ khâu soạn thảo văn bản, dàn trang, in ấn, xét duyệt, đóng gói và niêm phong hồ sơ dự thầu. Việc kiểm tra liên tục qua các khâu sẽ giảm thiểu được các sai sót không đáng có. Kiểm tra là một công việc không khó nhưng nhiều khi nếu nhà thầu chủ quan sẽ dẫn đến làm giảm chất lượng hồ sơ dự thầu, gây nên sự khó khăn trong quá trình chấm thầu, đôi khi chỉ vì một lỗi nhỏ như lỗi số học, lỗi chính tả hoặc thiếu bảo lãnh dự thầu… lại gây nên những “cái chết bất ngờ”. Vì vậy, việc kiểm tra đầy đủ và khắc phục các lỗi trong hồ sơ dự thầu trước khi hồ sơ dự thầu được đóng gói niêm phong phải được quan tâm đúng mức.
- Bên cạnh sự chú ý về nội dung, cũng cần quan tâm đến hình thức của hồ sơ dự thầu, đây chính là một thủ thuật để gây thiện cảm của người chấm thầu trong quá trình xét thầu. Một hồ sơ thầu có tính thẩm mỹ cao, được trình bầy đẹp và dễ hiểu chắc chắn sẽ gây được thiện cảm, đồng thời giúp người chấm nắm bắt nội dung đúng, đủ, nhanh sẽ là một thuận lợi đáng kể của nhà thầu.
Vấn đề tiết kiệm thời gian hoàn thành hồ sơ một cách sớm nhất cũng là một trong những kỹ năng làm hồ sơ dự thầu. Thường thì các bài thầu có thời gian làm bài không quá dài, đối với các công trình thông thường khoảng từ 15 – 30 ngày, đối với các công trình đặc biệt thì có thể kéo dài hơn, khối lượng công việc lại rất nhiều, xin đề cử một số biện pháp để rút ngắn thời gian làm bài như sau: ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Hồ sơ thầu được lập trực tiếp trên máy vi tính để thuận lợi cho việc soạn thảo, kiểm tra sửa đổi, ứng dụng các bài thầu trước và xuất bản được nhanh gọn và đặc biệt có thể nâng cao tốc độ và độ chính xác tính toán bằng cách áp dụng các phần mềm tin học.
- Thiết lập mối quan hệ phối hợp, trao đổi giữa các bộ phận: kế hoạch, kỹ thuật, hội đồng khoa học và tài chính để thống nhất giữa các biện pháp kinh tế, kỹ thuật, tài chính tránh tính trạng việc ai người ấy làm, thì khi phối hợp ghép bài sẽ dẫn đến tình trạng sai lệch số liệu, sai lệch giải pháp, tốn rất nhiều thời gian để sửa chữa.
- Tận dụng các tài liệu, kinh nghiệm từ các hồ sơ thầu cũ, các tài liệu này có thể giúp chúng ta rút ra những kinh nghiệm quý báu, mặt khác còn giúp tiết kiệm thời gian làm bài thầu mọt cách đáng kể. Tận dụng một cách triệt để có hệ thống các tài liệu từ các hồ sơ dự thầu cũ nên lập thành các ngân hàng dữ liệu: nhân hàng giá cả, ngân hàng cataloge vật liệu, thiết bị, ngân hàng các giải pháp và phương pháp luận, các hồ sơ về tư cách pháp nhân, năng lực tài chính, kinh nghiệm… để áp dụng cho hồ sơ dự thầu mới.
- Tổ chức lập hồ sơ dự thầu là một công việc hết sức phức tạp và yêu cầu thực hiện trong một thời gian hết sức hạn chế. Chất lượng hồ sơ dự thầu là một trong những tiêu chí cơ bản quyết định việc doanh nghiệp có trúng thầu hay không. Do vậy, trình độ tổ chức lập hồ sơ dự thầu là một trong những yếu tố cơ bản để đánh giá khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp.
3.4.8. Hoàn thiện hệ thống thông tin trên thị trường và tham gia xây dựng tổ chức hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
- Hoàn thiện hệ thống thông tin trên thị trường.
Muốn thúc đẩy hoạt động kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xây dựng được hệ thống thông tin như: thông tin về môi trường kinh doanh, thông tin về hệ thống giá cả hiện hành, thông tin về tình hình và viễn cảnh của thị trường,….
Muốn có được hệ thống thông tin trên, đòi hỏi hệ thống thông tin của doanh nghiệp ngày càng được hoàn thiện và có chất lượng cao. Các biện pháp sau đây có thể phần nào đóng góp cho việc xây dựng hệ thống thông tin này:
- Xây dựng các chi nhánh nhằm thu được thông tin chính xác, kịp thời về giá cả, chất lượng, nhu cầu xây dựng…
- Liên kết với các bạn làm ăn truyền thống để họ có thể giúp đỡ về vấn đề thông Xây dựng một đội ngũ cán bộ chuyên trách nhằm nghiên cứu đầy đủ, cung cấp thông tin về thị trường có thể dự báo về các biến động của thị trường.
- Áp dụng biện pháp tin học hóa vào hoạt động kinh doanh thông qua việc hòa mạng với hệ thống thông tin đã có trên thế giới. Các doanh nghiệp cần phải xây dựng một mạng tin học có thể nối mạng với Intemet nhằm thu thập thông tin ở thị trường thế giới.
Dưới tác động của khoa học và công nghệ, mà đặc ‘biệt là công nghệ thông tin đã làm xuất hiện hình thức thương mại tiên tiến – thương mại điện tử. Công ty tuy quy mô còn nhỏ bé và hoạt động trên một thị trường hạn chế, nhưng cũng phải chủ động áp dụng và phát triển thương mại điện tử, nếu không sẽ bị cô lập với thế giới bên ngoài. Việc triển khai áp dụng thương mại điện tử có thể được tiến hành từng bước, từ thấp tới cao. Giai đoạn đầu tư có thể triển khai chủ yếu ở khâu xúc tiến hoạt động kinh doanh, dưới hình thức mở trang web quảng cáo trên mạng, tìm kiếm thông tin về thị trường và bán hàng trên mạng, tiến hành các giao dịch trước khi ký kết hợp đồng và sử dụng cho các mục đích quản – trị bên trong doanh nghiệp. Khi điều kiện cơ sở hạ tầng và cơ sở pháp lý cho phép thì có thể tiến tới ký kết hợp đồng và thực hiện thanh toán trên mạng.
- Tham gia xây dựng tổ chức hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam là một tổ chức phi chính phủ được công nhận, tập hợp rộng rãi các doanh nghiệp tư vấn trong cả nước để có tiếng nói chung. Tham gia Hiệp hội tư vấn xây dựng Việt Nam, công ty có những lợi ích sau:
- Góp phần thúc đẩy kinh doanh một cách lành mạnh
- Nâng cao trình độ quản lý, nghiệp vụ, khoa học kỹ thuật của các thành viên.
- Cầu nối giữa các doanh nghiệp với Chính phủ và các cơ quan Nhà nước có liên
- Mở rộng quan hệ với các Hiệp hội trong và ngoài nước tranh thủ được sự ủng hộ và giúp đỡ.
- Đấu tranh với các hiện tượng kinh doanh không lành mạnh để thực hiện quy tắc đạo đức ngành nghề.
Qua các vụ kiện tụng tranh chấp trên thị trường, vai trò của Hiệp hội rất quan trọng. Muốn phát huy hơn nữa chức năng của mình, hiệp hội cần quan tâm cả ba phía: doanh nghiệp, hiệp hội và các cơ quan nhà nước. Doanh nghiệp cần tích cực tham gia hiệp hội vì lợi ích thiết thân của doanh nghiệp; Hiệp hội cần hướng mạnh hơn nữa về doanh nghiệp, mở ra nhiều hoạt động thiết thực hơn nữa, khắc phục cách làm việc hành chính hóa, công chức hóa, xa thực tế, xa doanh nghiệp. Trước mắt, cần cùng cơ quan nhà nước có liên quan tổ chức giải thích thật cụ thể những cam kết với WTO trong lĩnh vực xây dựng nói riêng và các lĩnh vực, ngành nghề khác có liên quan, lộ trình thực hiện các cam kết, cắt giảm thuế,… và giúp doanh nghiệp kịp thời đề ra các biện pháp ứng phó. Đối với các cơ quan nhà nước, điều quan trọng là nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của các hội, hiệp hội, tôn trọng và lắng nghe ý kiến xây dựng của họ. Luật về Hội cần sớm được ban hành. Các cơ quan chức năng cần tạo thói quen nghe ý kiến của hội, hiệp hội – có thể có những ý kiến “trái tai”, nhưng đó là những ý kiến xuất phát từ thực tiễn cuộc sống, đầy tinh thần xây dựng vì lợi ích chung của nền kinh tế. Các cuộc hội thảo lấy ý kiến đóng góp vào các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật cần được thực hiện có thực chất hơn; những ý kiến chưa nhất trí cần được đối thoại thẳng thắn; những ý kiến đúng đắn cần được tiếp thu nghiêm túc.
KẾT LUẬN ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Qua việc tìm hiểu thực tế hoạt động của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng, cụ thể của Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình và nghiên cứu khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp trên thị trường tư vấn xây dựng công trình, đề tài “Đề xuất một số giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh của Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình” đã đạt được những kết quả sau:
- Đề tài đã hệ thống hóa và làm rõ những vấn đề lý luận cơ bản về cạnh tranh và cạnh tranh của doanh nghiệp trong thời kỳ hiện
- Đề tài khái quát và phân tích những vấn đề chung về thị trường tư vấn xây dựng Việt Nam hiện
- Đề tài đã phân tích được khả năng cạnh tranh của các doanh nghiệp tư vấn xây dựng và những nhân tố ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp tư vấn xây dựng.
- Trên cơ sở lý luận chung đề tài tập trung phân tích, đánh giá khả năng cạnh tranh về thực tiễn trong lĩnh vực tư vấn xây dựng của CT CP TV xây dựng Ninh Bình, nêu ra những vấn đề còn tồn tại trong doanh nghiệp từ đó xây dựng các chiến lược cạnh tranh và những giải pháp cụ thể cần khắc phục những tồn tại đó.
- Đề xuất các giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh trong lĩnh vực hoạt động tư vấn của Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình về các mặt: phát huy và tăng cường thực lực, nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu.
- Kiến nghị các nhóm giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh trong thời kỳ hiện nay của Công ty Cổ phần Tư vấn xây dựng Ninh Bình và là cơ sở để tham khảo đối với các doanh nghiệp tư vấn xây dựng khác.
Với những vấn đề được cập nhật trong thời gian này, tác giả hy vọng góp một phần nào đó trong việc đưa ra những giải pháp nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh của các Doanh nghiệp tư vấn xây dựng. Tác giả đã cố gắng thực hiện đáp ứng mục tiêu đặt ra tuy nhiên luận văn không tránh khỏi những thiếu sót. Tác giả xin chân thành cám ơn những ý kiến đóng góp quý báu của các thầy cô giáo cùng bạn bè và đồng nghiệp để tác giả có thể tiếp tục hoàn thiện luận văn ( Luận văn: Giải pháp nâng cao khả năng cạnh tranh doanh nghiệp )
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp VN

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
