Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc

Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc bởi tác giả hiểu biết rằng Thế kỉ XX ở Việt Nam là thế kỉ đầy biến động. Đây là thế kỉ nảy sinh nhiều cuộc cách mạng dẫn đến sự ra đời của một kỉ nguyên mới; nhiều cuộc canh tân xã hội, văn hóa và văn học. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Văn học có liên quan với những hình thái ý thức xã hội khác, sinh thành từ cuộc sống, nhưng đồng thời cũng có những đặc trưng riêng, vì thế văn học còn tồn tại và phát triển theo những quy luật nội tại của nó và được triển khai trong bài Luận văn đề tài: Tìm hiểu yếu tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn mời các bạn tham khảo!

3.1. Người nông dân, người lao động nghèo khổ :

Chủ nghĩa hiện thực yêu cầu người nghệ sĩ miêu tả thực tại xã hội một cách khách quan. Nhưng nếu chỉ dừng lại ở việc tái hiện thực tại như nó vốn có thì các nhà hiện thực mới thực hiện một phần sứ mệnh của mình. Chủ nghĩa hiện thực luôn đi liền với chủ nghĩa nhân đạo, xây dựng trên tôn chỉ nhân đạo. Nói cách khác, “cảm hứng của nghệ thuật hiện thực, cơ sở tinh thần thống nhất của nó, nền tảng lí tưởng thẩm mĩ của chủ nghĩa hiện thực là tư tưởng vĩ đại của chủ nghĩa nhân đạo, tư tưởng tự do và độc lập của nhân cách con người, sự thừa nhận quyền của con người được hưởng hạnh phúc ở đây, trên trái đất này, chứ không phải ở thế giới khácn[54; 95].

Khi cắm rễ trên những mảnh đất đề tài mà các đồng nghiệp hiện thực phê phán đã “xí phần”, các cây bút Tự lực văn đoàn không chỉ nhằm mục đích tái hiện nó mà còn hướng đến việc bộc lộ tình thương tha thiết đối với những đối tượng đã thu hút cảm hứng của mình. Ngay cả khi bị quy là lãng mạn thì cũng không có nghĩa các cây bút Tự lực văn đoàn không nhân đạo vì như M. Gorki đã nói:”Vấn học là một nghệ thuật nhân văn hơn cả, người ta có thể nói những nhà văn đều là những nhà nhân văn do nghề nghiệp của mình, những người sản sinh ra chủ nghĩa nhân vứAí”[20; 61]. Đằng này, khi đã “cớ lúc đi qua dòng hiện toe”[44; 45] thì Tự lực văn đoàn không thể không thông cảm, xót thương cho những nạn nhân của xã hội đen tối lúc bấy giờ.

Thế kỉ XIX, nhà phê bình Nga ChecnƯsepxki nói : “Cuộc sống và niềm vinh quang của thời đại chúng ta do hai khát vọng có liên quan chặt chẽ với nhau, bổ sung lẫn nhau tạo ra đó là tính nhân đạo và sự quan tâm cải thiện đời sống con người”[P54; 95]. Câu nói này ứng với chế độ nông nô Nga thời ấy về sau, nó dường như trở thành một nguyên lí chủ quan chủ đạo của chủ nghĩa hiện thực Nga thế kỉ XIX.

Làng xã Việt Nam và cuộc sống tù đọng, không lối thoát của người nông dân sau bốn lũy tre làng trước Cách mạng tháng Tám vốn là một đề tài cơ bản của văn học hiện thực phê phán. Ở mảng đề tài này, văn học Việt nam đã ghi tên những nhà văn xuất sắc như Ngô Tất Tố, Nguyễn Công Hoan, Nam Cao, Vũ Trọng Phụng, Nguyên Hồng…Khi viết về đề tài này, bên cạnh việc tái hiện cuộc sống quằn quại của người lao động nghèo với thái độ thương xót, bệnh vực, các nhà văn hiện thực cũng lên án những thế lực đen tối đã đẩy họ vào bước đường cùng. Nhưng nông thôn và nông dân không phải là mảnh đất chỉ có các nhà văn hiện thực độc quyền “canh tác”, ở những mức độ khác nhau, có lúc các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng cày sâu cuốc bẫm trên mảnh đất nghèo này.

Trên Tạp chí Văn học số 2-1998, Lê Thị Đức Hạnh nhận xét:”Trong số các cây bút Tự lực văn đoàn, có thể nói Trần Tiêu là người duy nhất chuyên biệt về đề tài nông thôn”. Chúng tôi cho đây là một nhận xét xác đáng. ít ra nó cũng khắc phục dược cách đánh giá cứng nhắc một thời, chẳng hạn .”Trong thời kì Mặt trận dân chủ, nhiều nhà văn chạy theo đề tài “bình dân”, thường chú ý đến những hủ tục “ngộ nghĩnh” ở nông thôn như Trọng Lang, Trần Tiêu, Văn Thu…Các nhà văn này thường chỉ dừng lại ở chỗ miêu tả hiện tượng bề ngoài của hủ tục, và nói chung, quy nguyên nhân của những tệ nạn đó ở lòng háo danh và sự dốt nát của nông dân nói chung” [44; 210].

Tác phẩm Con trâu tiêu biểu cho phong cách đa dạng nhưng nhất quán trong tư tưởng nghệ thuật của Trần Tiêu: nông thôn Việt Nam. Nội dung chính của tác phẩm đã được các nhà biên soạn tóm tắt như sau

:”Bác Chính – người nông dân làng cầm – chỉ cố một mơ ước: tậu được một con trâu cái. Bác hi vọng nhờ nó mà gia đình sẽ mát mặt hơn. Vì vậy bác và vợ con ăn tiêu rất tằn tiện và tần tảo làm lụng ngày đêm. Gặp vụ mùa bội thu, gia đình bác rất vui. Thế nhưng, sau khi trang trải được gần hết công nợ và mua được chức “xã” để tránh cái nhục của thân phận bạch đinh, nhà bác cũng chẳng còn bao nhiêu thóc. Liên tiếp mấy vụ lại bị thiên tai hạn hán , mùa màng lại bị thất bát nặng nề. Công việc của gia đình bác gặp nhiều khó khăn: dệt vải thì vải rẻ sợi cao, nuôi gà thì gà toi, nuôi lợn thì cám đắt. Bác xã Chính lâm vào cảnh túng quẫn. Mấy sào ruộng nhà phải bán đi trả nợ, bác phải thuê ruộng người về làm. Tuy vây, ước mơ có được một con trâu cái vẫn không nguôi ám ảnh tâm trí bác. Vĩ làm ăn vất vả quá, bác bị cảm thương hàn và chết trong cảnh nghèo hàn, không thực hiện được cái mộng ấy và củng không kịp gả chồng cho Mít – cô con gái đầu lòng” (Văn xuôi lãng mạn Việt Nam 1930-1945, t6, Nxb. Khoa học xã hội, Hà Nội, 1990). ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Thật vậy, lật tác phẩm ra. Chúng ta chứng kiến ngay cảnh gia đình bác Chính ăn cơm ngoài sân để khỏi tốn dầu. “Vợ chồng, con cái, tất cả sáu người ngồi quây quần xung quanh chiếc mâm tróc sơn, trên có một đĩa rau muống luộc, một đĩa vừng rang với một chén nước mắm cày”. Họ hà tiện để tậu một con trâu cái. Nhưng khốn nạn thay, con trâu cái chập chờn như một ảo ảnh suốt cả tác phẩm. Với bác xã Chính, con trâu cái như một lạch nước mát trên sa mạc mà bác là một người bị lạc đường. Sau này, bác làm ruộng, bác gái chăn nuôi, dệt vải, cái Mít chạy chợ, nhưng con trâu vẫn chỉ là một mơ ước hão huyền. Thế thì vì nguyên do nào mà ước mơ chính đáng, bình dị, tội nghiệp của bác xã Chính nói riêng, của bao người lao động khác nói chung, đều trở thành tro bụi cả ? Đọc kĩ tác phẩm, chúng tôi thấy có ba nguyên nhân chính, mà đó cũng làm ba hiện tượng phổ biến ở nông thôn Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Là người gắn bó và hiểu nông thôn từ trong máu thịt, với tài năng và trách nhiệm của một nghệ sĩ đích thực, Trần Tiêu đã tái hiện sinh động thành hình tượng qua tiểu thuyết Con trâu.

Trước hết, đó là nạn địa chủ bóc lột, ức hiếp nông dân khốc liệt đến mức cùng kiệt. Năm đó, bác Chính trúng vụ lúa chiêm. Bác sung sướng đến mức nhìn thằng cu Chốc chạy chơi trên sân, bác nghĩ thầm .”Bao giờ mình có trâu, nó sẽ thành mục đồng”. Nhưng “thóc phơi xong, chưa kịp đổ vựa, bác sẽ phải trả ngay cái nợ của bà khán Thỗn. Vì tháng mười năm ngoái bác có vay của bà ta hai thúng thóc lãi thành ba”. Giao thừa năm ngoái, bà khán Thỗn đã đến lấy cái bát hương trên bàn thờ bỏ vào thúng mang đi vì bác “hẹn đến hăm bảy hăm tám tháng chạp là cùng, mà mãi đến ba mươi tết bác vẫn chưa đào đâu ra được tiền”. Những người ở vào hoàn cảnh như bác Chính phải bỏ làng ra đi tha phương cầu thực không phải ít. Tố Hữu – lá cờ đầu của thơ ca cách mạng – đã có mấy câu thơ thật cảm thương :

“Cha trốn ra Hòn Gai cuốc mỏ Anh chạy vào đất đỏ làm phu Bán thân đổi mấy đồng xu

Thịt xương vùi gốc cao su mấy tầng !” (Ba mươi năm đời ta có Đảng)

Như vậy, vợ chồng bác Chính phải trả cho bà khán Thỗn, khán Bột. Đã hết đâu, bác còn phải trang trải món nợ cho bà chánh Bá nữa “vì năm nay, ngoài bảy sào của bác và hai sào ruộng quan, chồng bác còn thuê thêm được của bà chánh Bá hai mẫu nữa”. Chính bà này đã đẩy gia đình bác Chính vào cảnh khánh kiệt, cùng quẫn. Chả là bà chánh cho bác Chính cấy hai mẫu ruộng, nộp mỗi năm hai mươi bốn phương thóc. Cái năm như vừa nói, bác Chính gái đến xin khất bốn phương với điều kiện mùa sau phải trả sáu phương. Rồi như một cơn ác mộng kéo dài, bác Chính mất mùa ba năm liền, món nợ tăng lên bảy mươi hai phương, quy ra tiền là tám mươi sáu đồng bốn hào. Bí kế, vợ chồng bác Chính gạt nước mắt bán cho mụ ta bảy sào ruộng, với giá một tăm bảy mươi lăm đồng. Lẽ ra, bà chánh phải trả cho bác Chính tám mươi chín đồng. Nhưng lòng tham vô đáy đã khiến mụ ép bác Chính nhận bảy mươi đồng. Từ đấy, bác Chính phải đi thuê ruộng làm. Bị khán Kiệu lừa, bác lại mất toi bốn sào ruộng. Đã khó chó cắn thêm, bác Chính lao vào làm như điên. Hình ảnh con trâu cái vẫn chờn vờn hư ảo. Một cơn mưa giông, căn bệnh thương hàn, cái chết thương tâm. Phút lâm chung, bác Chính nhắc đi nhắc lại mãi “con trâu cái, con trâu cái”.

Làng xóm Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám thường hiện lên bi đát trong tác phẩm hiện thực phê phán. Lực lượng cho vay nặng lãi, thu tô, cầm cố đã bần cùng hóa người nông dân lương thiện, chịu thương chịu khó. Mồ hôi nước mắt của họ đã làm nên tài sản của bọn địa chủ, cường hào. Trần Tiêu cũng bổ sung vào bức tranh ảm đạm ấy với tiểu thuyết Con trầu. Nhà bà chánh Bá được miêu tả .”Cạnh đống thóc, cái phương với cái gạc gác lên thành phương. Sáu, bảy anh nhà quê đứng nài xin, tay chắp ngực hoặc đưa lên gãi tai. Bà chánh tay chống cạnh sườn quát tháo. Nét mặt bà hầm hầm, lộ ra vẻ giận dữ”. Bà có rất nhiều âm mưu để tước đoạt nông dân. Bà thi hành độc chiêu vừa đánh vừa xoa, làm cho họ mất phương hướng, dẫn đến buông xuôi, đầu hàng, chấp nhận cuộc sống cùng đinh.

Khi cần nắn thì “Không thể đủ thì rầy với bà…Chuyện ! Thế khi được mùa thì ai đến lấy thêm của các người…Thiếu một lẻ cũng không xong…Mặc ! Mặc !”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Lúc cần xoa thì ngọt nhạt .”Tôi thấy vợ chồng nhà mụ hiền lành, tôi thương hại. Người làng người nước cả chứ không xa lạ gì”.

Không trực diện viết về đề tài nông thôn như Trần Tiêu, nhưng Khái Hưng với Thừa tự, Nhất Linh với Hai vẻ đẹp cũng xây dựng được những hình ảnh khá sinh động về phương diện này.

Đây là khung cảnh ở nhà bà Ba trong Thừa tự :

“Một người đàn bà sống áo, khăn cùng một màu nâu bẩn bục thích mà người ta không đoán được rằng đã đeo vào cái thân thể gầy gò, già cỗi từ bao giờ. Cái dúm giẻ ấy cúi đặt mâm nhãn xuống sàn gác rồi ngồi phệt theo xuống mà vừa lạy vừa nói :

  • Con cắn rơm cắn rác con xin cụ lớn, cụ lớn sinh phúc cho con, quả thực tình cảnh vợ chồng con chưa lo sao kịp.

Bà Ba thét :

  • Chị xéo ngay, tôi không sinh phức sinh đức gì cả. Tôi thương chị nhiều lắm rồi. Chị xem có bao giờ tôi cho vay chục bốn, chục năm như thế đâu ít nhất là chục sáu. Tôi thấy vợ chồng chị đông con cái, tôi thương (…)
  • Lạy cụ lớn, cụ lớn thương chúng con một chuyến nữa, một chuyến này nữa thôi.
  • Quân láo à! Khất lần mãi à ? Được ! Rồi bà cho mày biết tay.

Bà mỉm cười im lặng nghĩ thầm: “Thế nào mai nó chả đến xin viết gộp vốn lãi. Được rồi, bằng già mẫu ruộng đây. Chứ ngữ ấy cũng khó lòng mà giả được !”

Trong Hai vẻ đẹp, Nhất Linh miêu tả rất thực tâm trạng của một thanh niên tân học có gốc gác dân quê khi chứng kiến cảnh khốn quẫn của những người cùng gốc gác với mình : “Khi vào đến sân, nhìn những bọn người rải rác khắp nơi đợi vay thóc vay tiền, Doãn có cảm tưởng rằng sự nghèo khó đã theo chàng ùa vào trong nhà. Màu quần áo họ, thảm đạm như màu đất, trái ngược hẳn với màu vàng sáng chói của giá lộ bố, của những đại tự trên hoành phi, với màu trắng xanh cửa mấy chiếc thống lớn đặt trước thềm”.

Khoan hãy bình luận đây là cái nhìn bề trên hay là cái nhìn của một nhà nhân đạo lặn xuống đáy xã hội để quan sát. Chỉ thấy ở đây tội ác bần cùng hóa của bọn địa chủ đối với nông dân.

Cái thảm cảnh vay trả nợ y hệt những cảnh trong Con trâu và Thừa tự: “- Ngày mười hai tháng tư năm ngoái lấy bốn thùng thóc với năm đồng bạc, ngày mùng bốn tháng bảy vay bốn đồng nữa, tháng tám trả năm đồng, tháng chạp lại vay một chục về việc làng. Thành tất cả bây giờ phải trả mười bốn đồng bạc với thùng thóc.

Có tiếng vịt kêu. Doãn nhìn xuống thấy dưới chân người nhà quê, bên cạnh mấy thúng thóc, có đặt một cái lồng lớn trong có bốn con vịt. Doãn hỏi :

  • Đem vịt đi đâu thế này ?

Người nhà quê vừa đặt tiền vừa xuýt xoa nói:

  • Bẩm, chúng con lòng thành xỉn cụ lớn và quan nhận cho” ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Tình tiết dưới đây, theo chúng tôi, hiện thực không thua kém bất kì tác phẩm hiện thực chính cống nào .”Ngẫm nghĩ một lát, Doãn mở cuốn sổ xuất, đối chiếu với cuốn sổ nhập. Chàng lặng người ngồi yên, mắt mở to nhìn vào trang giấy…Không phải chàng ngạc nhiên vì sổ lãi nặng, cũng không phải chàng đau lòng thấy mẹ nuôi cho dân vay để lấy lãi tuy nhà đã giàu, tiêu không hết của. Chàng bâng khuâng như vừa ra khỏi giấc mộng, lờ mờ được thấy chút ánh sáng lọt vào buồng tối. Chàng nhận thấy rằng tiền ăn học của chàng trong bao năm là tiền của những người nhà quê đói khổ ngồi kia, hay tiền của những người nhà quê ở những nơi khác, chỗ cha nuôi chàng làm quan”. Trong Bước đường cùng, tên nghị Lại đã lợi dụng quyền thế của mình để lập mưu cướp đoạt ruộng của anh Pha – một nông dân chân chất, khờ khạo. Khi nhận ra mình đã mắc bẫy, anh Pha vật mình than khóc.”Chỉ tại mình không biết chữ, nên không biết ông ấy viết hươu viết vượn gỉ”. Cái nghèo khó cộng với chính sách ngu dân của bọn thống trịđã làm cho người dân u muội có khi “van lạy xin vào để bị bóc lột mà vẫn thản nhiên không biết Hai về đẹp).

Rõ ràng, tuy không thường trực nhưng Tự lực văn đoàn cũng có lúc nhìn thẳng vào bản chất của chế độ thực dân nửa phong kiến. Đó là chế độ dựa trên nền tảng người bóc lột người. Đề cập đến điều này, Tự lực văn đoàn đã đề cập đến mâu thuẫn hàng đầu của xã hội Việt Nam lúc ấy, chứ không phải hoàn toàn né tránh, thoát li.

Nguyên nhân thứ hai của sự khốn cùng nơi nông dân mà Trần Tiêu nêu lên là hủ tục. Viết về đề tài cũng có cây bút nổi tiếng Ngô Tất Tố với Việc làng. Hủ tục – “những tục lệ quái gở, mọi rợ” – đè lên những đôi vai gầy gò, ốm yếu của những người dân nghèo, khiến họ bẹp dí trong kiếp nghèo. Một nhân vật trong Việc làng trăng trối với bạn :

“Mội người chăm chỉ, cần kiệm, lao lực như tôi, chỉ vì gánh tục lệ đè ép, đến nỗi suốt đời không ngóc đầu lên được, bây giờ sắp chết, gánh tục lệ ấy vẫn còn đè ép chưa tha, ông bảo có oan uổng không ?” (Chương Lớp người bị bỏ sót).

Đó là nhân vật Thượng Lão Việt, đã bảy mươi tuổi, đang bị bệnh già. Ấy thế mà theo hủ tục, thiên hạ vẫn “ăn vạ cụ về tội đã dám sống đến bảy mươi tuổi”. Bằng bút pháp trào lộng, Ngô Tất Tố đã kết thúc chương sách theo kiểu cười ra nước mắt: ”Hết câu đó, cụ bỗng trợn ngược hai mắt, đơm ở trong cổ kéo lên khè khè. Ca nhà nhớn nhác xúm lại. Cụ già tắt thở, cái lúc trong nhà im lặng bỏ tiền và gạo vào miệng người chết, thì ở ngoài vườn người ta cũng hò reo để vật con trâu”.

Trong Con trâu, Trần Tiêu miêu tả nhiều về những hội đám (Tết, Hội quan lão, cỗ mừng thôn, Đình đám) nhưng không phải là chiêm ngưỡng những hủ tục “ngộ nghĩnh” hay phục cổ. Mục đích của tác giả là tạo ra hoàn cảnh để đưa nhân vật vào, trên cơ sở đó khắc họa, khái quát số phận, tính cách nhân vật (nhân vật bác Chính). Tết năm ấy, với số tiền dành dụm được, lẽ ra bác Chính đã có thể tậu được con trâu cái. Nhưng bác đã không thể làm được điều đó. “Đó cũng là vạn bất đắc dĩ. Bác năm nay đã hơn bốn chục tuổi đầu mà hễ động có rước là bác đã phải ra cầm tán hay khiêng kiệu với bọn mục đồng; động có quan về là bác đã phải thân ra dọn đường, giãy cỏ dưới con mắt hỗn xược của một anh quản xã chỉ lớn bằng trạc con bác. Động có việc gì nặng nhọc là đến tay bác. Trăm nghìn sự thiệt thòi đổ dồn cả xuống đầu bác, và đầu những kẻ bạch đinh như bác. Lại còn một lẽ nữa: bác đi đâu cũng bị người ta chế giễu, khinh bỉ. Họ cho bác là keo kiệt, coi đồng tiền hơn phẩm giá. Bác động mở mồm là họ đã chặn họng: “Còn danh giá gì cái thằng bạch đỉnh mà cũng ăn với nói !”. Cái khổ tâm của bác là thế, nên bác bắt buộc phải nhắm mắt, vuốt bụng mà chạy cho xong cái xã nhưng. Thực ra bác có thiết gì nắm xôi, miếng thịt trong làng !” Con trâu ra đời cùng năm với Việc làng của Ngô Tất Tố. Trong việc Làng cũng có chuyện tương tự. Ông Lũy đã ngoài năm mươi tuổi, tuy không giàu có nhưng cũng có bát ăn bát để. Ngặt nỗi ông lại sống ở một cái làng không phải vào hàng văn vật “nhưng mà rất có trật tự”, ở làng ấy, bao giờ cũng vậy, ngồi chỗ trong đình “cũng như ngồi chỗ ở cái rạp hát, vẫn chia ra rất nhiều lô: trên nhất là chiếu phẩm hàm, rồi đến các chiếu chức dịch, trai đinh phải ngồi vào chiếu cuối cùng”. Ông Lũy tuy ngoài năm mươi nhưng vẫn ngồi chung với bạn trai vì ông là hạng bạch đinh. Ông bất mãn. Biết thế, bọn kì dịch đã nói bùi tai để ông này mua lấy cái lí cựu:”‘Ông chỉ tốn trăm bạc, không vất vả gì, mà rồi cũng được ngồi ngang với họ, ăn biếu ăn xén như họ. Ấy là một dịp hiếm có, không nên bỏ qua“. Cái chức lí cựu ấy hơn một trăm bạc. Còn phải khao. Ông tính tháng mười, đợi lúa gạo nhà, đỡ phải vay, nhưng mấy ông hương lí không nghe. Ông bà Lũy buộc phải “mua bát họ hơn sáu mươi đồng để lo chuyện”. Cuộc khao thật linh đình. Năm hôm sau, bà Lũy cắp nón sang Hà Nội làm vú già trả món nợ hơn bảy mươi đồng, sau khi đã bán xong gần mẫu ruộng và con trâu. Cái “cựu mới” đắt như thế đấy ! (Góc chiếu giữa đình).

Trở lại với bác xã Chính. Sau khi lên chức xã thì tết năm ấy, bác phải trang trí nhà cửa cho ra nhà ông xã. Mà xã là cái thứ chức “hữu danh vô thực”. Chẳng hạn, làng có đình đám, xã phải đóng góp cho xứng với “làng xã”. Sau tết, trong họ bác Chính lại có ông hội lại ra nhận chức đại bái. Ông hội tổ chức đám hát. Bác Chính không biết hát nhưng cũng bị ép đi nghe nhà tơ hát, góp mất hai đồng. Cầm hai đồng bạc vợ đưa ra đi, bác Chính bụng bảo dạ sau ngày giã đám, quyết ăn nhịn để tậu bằng được con trâu cái.

Bác xã Chính cũng như ông Lũy, bác Hai Thìn (trong Một đám vào ngôi, Việc làng) đều không thoát ra được cái vòng “luẩn quẩn, tối tấm, mê muội của những tục lệ mọi rợ và cả cái tâm lí háo danh mù quáng”[44; 210]. Thủ phạm gây ra những điều ấy “chính là bọn cường hào, địa chủ, đại diện trực tiếp cho chế độ thực dân phong kiến ở nông thôn”[44; 210]. Trong Việc làng, Ngô Tất Tố đã “giữ thái độ bình thản để cho ý nghĩa phê phán tự nó toát ra từ sự Việc”[44; 211]. Trong Con trâu, Trần Tiêu bố trí để cho nhân vật ông Tú cầm nói ra :”Bẩm cụ lớn, mỗi thôn chỉ bán vài ngôi xã nhưng, hay một ngôi hương chính là thừa thãi chán”. Dã man hơn, chúng còn ép người ta mua xã cho cả trẻ con mới lên ba, bốn tuổi, nực cười hơn nữa là cho một đứa trẻ còn ở trong bụng mẹ. Chúng nói lấy được thế này -.”Thế cũng là một cách cầu tự”. Ngô Tất Tố cũng không “chịu lép” với đồng nghiệp Trần Tiêu. Trong Việc làng, ông còn phát hiện ra một thủ đoạn khác nữa -.”Theo lệ làng, cháu con trai đẻ trong một tháng thì phải vào ngôi. Hễ ai cổ ngôi rồi thì làng cứ việc theo sổ mà bán cỗ cho ! Cổ đứa mới có hai tháng mà đã phải mua cỗ rồi…Hết lượt thì lại vắt lại, chẳng bao giờ làng chịu hết người làm cỗ. Đáng lẽ mỗi người một đời chỉ phải gánh cỗ một lượt, nhưng vì có lệ bán cỗ thành ra có người phải mua đến bốn năm lần” (chương Mua cỗ). ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Bị bóc lột, áp bức bởi bọn địa chủ, cường quyền, những người nông dân như bác xã Chính còn bị cưỡng chế bởi thần quyền. Nạn mê tín dị đoan đã dồn bức cuộc sống của những người dân nghèo đã bế tắc càng thêm bế tắc.

Năm sau trời hạn. “Không còn kiếm đâu ra nước mà tát. Cái ao chuôm cạn khô để phơi đáy bùn phần nhiều phủ cỏ và những cây cúc dại, hoa vàng chóe. Chỉ mười hôm không mưa nữa là đi đời cả một cánh đồng hàng nghìn mẫu. Nếu được cái lạch con ăn thông với cái đầm ở đồng cửa (ruộng triều) thì cũng chưa hoàn toàn đến nỗi thất vọng. Khốn nỗi các cụ không dám cho đào, sợ đứt long mạch, động đến làng, đến mồ mả nhà các cụ “.

Năm ngoái, một trí thức đã đề nghị đào ngòi, xây cống đề phòng đại hạn, đã bị các cụ nhiếc móc thậm tệ :

-“Thầy không am hiểu lí số có khác. Người ta không sợ nguy khi nào người ta không biết cái nguy. Thầy vào hạng người ấy đấy, thầy giáo ạ…A sà, cánh Tây học họ biết cái quái gì mà bàn. Họ học Tây chỉ biết bắt chước Tây…Có biết đâu rằng : Tây người ta sang bên mình, người ta cần gì đến long mạch. Động là động nhà mình chứ động gì đến nhà người ta”.

Cuối cùng, đích thân quan huyện Tuy Viễn về làm lễ cầu đảo.

Không một giọt mưa. Dân làng trộm nước, xích mích, xô xát bằng tay chân. Xã Chính “cấy ngót ba mẫu mà góp lại không được ba mươi phương thóc”.

Đây không phải là lần đầu tiên Trần Tiêu nói đến chuyện này. Trong truyện Ai phải (trích tập Truyện quê), anh Khoản tát ao thả cá lấy bùn bón vườn để thay cảnh “nhà gianh tường vách”. Tự dưng, nhà xã cỏn bên kia trong vòng mười hôm cả nhà bị đau mắt. Đi xem bói để tìm nguyên nhân, thầy gieo quẻ phán “có người xẻ rãnh nên động đến mả ông tam đại”. Xã Cỏn bảo anh Khoản lấp, anh Khoản không nghe, thế là đánh nhau. Cậy dòng họ có thế, xã còn đi kiện. Anh Khoản bị phạt -.”Phải gánh bùn đổ xuống ao, đem giầu cau ra đình tạ tội và sửa lễ gà xôi tạ ông thổ cai quản cánh đồng có ngôi mộ tam đại nhà anh xã Cỏn”.

Truyện kết thúc trong ngổn ngang. Lúc anh Khoản “hì hục gánh bùn đổ xuống ao, bồ hôi, bồ kê tuôn ra đầm đìa. Trên gò má những giọt…không biết bồ hôi hay nước mắt” thì vợ Khoản nựng con :”Cu ơi ! Cu nhớn lên, cu đừng có ăn hà ăn hiếp người ta lắm, nên giời làm cho toét mắt, chẳng ma nào nhìn. Rồi thì còn thong manh, còn đui mù nữa đấy cu ạ “. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Qua những trường hợp trên đây, có thể thấy Trần Tiêu không đổ thừa sự mê muội dốt nát của nông dân là do tính mê tín dị đoan của họ. Đa số người dân làng Cầm trong Con trâu, anh Khoản trong Ai phải đều không tin những chuyện nhảm nhí ấy, họ năng động, muốn làm tất cả để cuộc sống khá hơn. Nhưng thế lực cường quyền đã duy trì thần quyền, và nông dân buộc phải hùa theo, không thể khác được.

Ngoài ra, xã Chính kiệt lực còn bởi sưu thuế. Đây là ngón đòn chí mạng mà nhà nước thực dân nửa phong kiến đã giáng vào người dân An Nam, một ngón đòn không chừa một ai. Trong Con trâu, Trần Tiêu không tập trung làm rõ hậu quả của sưu thuế. ở đây, tác giả không né tránh ách nạn này mà chủ ý của ông, theo chúng tôi, là khắc đậm những nhân ách như đã phân tích. Tiểu thuyết Con trâu mở đầu bằng tiếng gọi nghé, ước mơ tậu con trâu cái của bác Chính sinh thành và kết thúc bằng cái chết của bác. Kết cấu đó giúp nhà văn khái quát một quy luật: trong xã hội cũ, mọi mơ ước rốt cuộc chỉ là mộng tưởng. Anh Pha, Chí Phèo…đều không cưỡng lại nổi quy luật nghiệt ngã đó.

Nói ‘Trần Tiêu là người duy nhất chuyên biệt về đề tài nông thôn” không có nghĩa là không có nhà văn Tự lực văn đoàn nào khác viết về tình cảnh u ám, bức ngạt, không lối thoát của nông dân trước Cách mạng.

Ở đề tài bình dân, theo Phạm Văn Phúc, Thạch Lam “có nhiều trang đạt đến trình độ hiện thực mà tôi (Phạm Văn Phúc – ĐNH) gọi là hiện thực nghiêm ngại và cao tay, đủ làm vẻ vang cho bất cứ nhà văn hiện thực nào, đủ sánh với những trang hay nhất của văn chương hiện thực trước và sau 1936-1942” [29; 446].

Trong không khí sôi nổi của thời khí Mặt trận dân chủ, các nhà văn của Tự lực văn đoàn “cũng chuyển hướng từ những sáng tác mang màu sắc lãng mạn sang những sáng tác hiện thực, gần với người lao động hơn “[29; 489]. Thạch Lạm chủ yếu sáng tác vào thời kì này. Theo Hà Văn Đức, Thạch Lam “đã viết về những con người nghèo khổ, những người nhà quê chân đất với lòng cảm thông sâu sắc, chứ không phải là một hành động có tính chất xu thời'”[29;489].

Qua khảo sát, chúng tôi thấy Thạch Lam viết nhiều về người bình dân, người lao động nghèo khổ, tăm tối. Nhưng trong số đó, những truyện sau đây mới đích thực viết về người nông dân: Nhà mẹ Lê, Đứa con. Những tác phẩm còn lại viết về người lao động lầm than nơi thành phố. Hình ảnh người nông dân có hiện lên trong truyện những ngày mới qua cái nhìn của nhân vật Tân. Đó là những người làm việc không ngơi tay, ăn uống kham khổ, “giản dị và mộc mạc”. Tuy vậy, những hình ảnh này rất nhòa nhạt vì đối tượng của sự miêu tả trong truyện ngắn này lại là mỗi niềm của Tân – nhân vật chính của tuyên. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Hiện thực nghiêm ngặt và cao tay, nói theo Phạm Văn Phúc, chỉ có thể là Nhà mẹ Lê. Nếu tiểu thuyết Tắt đèn là tác phẩm ưu tú nhất của chủ nghĩa hiện thực phê phán Việt Nam thì, theo chúng tôi, Nhà mẹ Lê là cũng là một tác phẩm xuất sắc theo yêu cầu của phương pháp hiện thực. Cả hai đều đạt đến tính chất tập trung nhất, điển hình nhất của chủ nghĩa hiện thực. Tắt đèn là bức tranh về nông thôn; Nhà mẹ Lê là bức tranh về người nông dân cùng khổ. Viết Nhà mẹ Lè, Thạch Lam không đưa người đọc vào một vụ thuế náo động, căng thẳng như Tắt đèn của Ngô Tất Tố. Thế mà người đọc vẫn cảm nhận không khí chết chóc khủng khiếp nơi cái phố chợ tồi tàn ngay một huyện lị nhỏ. Cái phố chợ ấy cũng có một cái tên: Đoàn thôn, với những kẻ ngụ cư, vào những năm trời đang làm đói kém.

Tắt đèn hiện thực trong từng nét miêu tả. “Nếp nhà tranh lủn củn nấp dưới rặng tre là ngà, lặng lẽ úp lấy khu đất dề thành và kín đáo náu trong một xóm cuối làng Đông Xá, đứng xa ngó lại, có thể lầm với nơi nhốt lợn hay chứa tro; đó là nhà của Nguyễn Văn Dậu“. Những dòng miêu tả trên là một trong những chứng liệu đưa Ngô Tất Tố lên hàng nhà văn của dân quê và Tắt đèn là tác phẩm hiện thực sâu sắc nhất về nông dân ta trước Cách mạng. Thạch Lam đã dùng đúng bút pháp ấy để giới thiệu hoàn cảnh nhân vật trong Nhà mẹ Lè “Mẹ con bác ta ở một căn nhà cuối phố, một cái nhà cũng lụp xụp như những căn nhà khác. Chừng ấy người chen chúc trong một khoảng rộng độ bằng hai chiếc chiếu, có mỗi một chiếc giường nan đã gãy nát. Mùa rét thì giải Ổ rơm đầy nhà, mẹ con cùng nằm ngủ trên đó trông như một cái ổ chó, chó mẹ và chó con lúc nhúc”.

Mẹ Lê làm quần quật quanh năm để nuôi lũ con đói. Những ngày vất vả ấy còn là những ngày sung sướng vì bác kiếm được mấy bát gạo và mấy đồng xu. Sau đó là những ngày đói lả, những ngày rét, cánh đồng chỉ còn trơ cuống rạ dưới gió bấc lạnh như lưỡi dao sắc khía vào da. Chẳng ai thuê mướn người đàn bà bất hạnh làm gì. Cả nhà nhịn đói. Những đứa con của bác Lê “khóc lả đi mà không có cái ăn. Dưới manh áo rách nát, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết”. Bác Lê ấp lấy con, nhưng hơi ấm không xua được cơn đói. Những đứa lớn quăng mình ra đồng kiếm con cua con ốc, mót được lượm lúa. Cuộc sống cứ thế trôi qua, lặng lẽ như nước đọng, bùn lầy, ngày nó bầu bạn với ngày đói. Và rồi cái ngày định mệnh đã đến. Lại mùa rét, giá lạnh và mưa gió lầy lội. Đói. Bác Lê liều vào nhà ông bá lần thứ hai để xin gạo. Trong ổ rơm, đàn con ngồi nhìn nhau đợi. Tiếng chó sủa trong làng. Những người hàng xóm khốn khổ khiêng bác Lê về nhà. Bác bị chó nhà ông Bá cắn, máu đỏ chảy ròng ròng. Đêm ấy, bác Lê lên cơn sốt, sốt trong mùa đông lạnh lẽo. Hai hôm sau, bác Lê lên cơn mê sảng rồi chết. Cỗ ván mọt, bãi tha ma nhỏ ở đầu làng, căn nhà lạnh lẽo và thâm u, mấy đứa con ngồi khóc ở vỉa hè,…những hình ảnh rùng rộn này vò xé tâm can độc giả, kể cả những kẻ lạnh lùng nhất. Đó là những hình ảnh rất Thạch Lam, nhẹ nhàng nhưng thấm thìa. Cách kết thúc này so với chị Dậu chạy té trong đêm “trời tối như mực” liệu có kém hơn về sự chân thực ? Kể từ khi cuốn sách vấn đề dân cày của Qua Ninh và Vân Đình ra đời, vấn đề nông dân trở thành một đề tài lớn của văn học hiện thực phê phán. Đi tìm nguyên nhân nỗi khổ của nông dân, họ đã phát hiện ra tội ác của kết cấu bộ ba : cường hào – địa chủ – quan lại. Như Phong cho rằng các nhà văn Tự lực văn đoàn, “do bản chất giai cấp, họ đã không nhận ra nguyên nhân nỗi khổ của nông dân” [30; 276]. Cái chết của mẹ Lê là một “vụ án” có bị cáo hẳn hoi đấy chứ. Tiếc rằng, về nghĩa đen và nghĩa hẹp, nó không được xử mà chính vì vậy mà nó có giá trị buộc tội bọn ác bá và cái xã hội lúc bấy giờ. Bị cáo của vụ án thương tâm này chính là cái phần thế giới còn lại trong truyện – thế giới của “sang trọng ấm cúng“, “những chậu sứ, câu đối thếp vàng sáng chói“. Nhưng nói rộng ra bị cáo chính là cái xã hội “vô nghĩa lí” (Vũ Trọng Phụng) : không những bị bóc lột mà người lao động còn bị tước đoạt nhu cầu mưu sinh dù họ rất muốn làm việc, nói như Nguyễn Tuân “muốn lao động mà không có quyền lao động” [30; 441]. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Có thể phác họa tổng thể tình cảnh người dân Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám: bị thực dân bóc lột, bị địa chủ, tư sản bòn vét. Đặc biệt giai đoạn 1930-1945, tình hình còn khủng khiếp hơn nữa bởi sự tác động của hai cuộc khủng hoảng kinh tế 1929-1933, 1935-1937. Bức tranh đời sống thuộc địa An Nam từng được vẽ ra như sau : “Ở nông thôn dân cày bị bằng đủ thứ tai trời, ách đất: lụt lội, hạn hán, tô cao, tức nặng, thực dân, địa chủ cướp ruộng, quan lại, cường hào nhũng nhiễu,v.v…Cảnh đói khát, bán vợ đợ con, tha phương cầu thực diễn ra thê thảm. Ở thành thị, công nhân, viên chức bị sa thải, dân nghèo bị phá sản họp cùng những người nông dân không sống nổi với quê hương kéo ra thành thị, thành đội quân thất nghiệp, sống cầu bơ cầu bất, tìm đến những “chợ bán người” và dễ dàng sa vào cuộc sống lưu manh trụy lạc để kiếm ăn. Những người còn có việc làm thì cũng hết sức điêu đứng vì lương hạ, giá sinh hoạt cao, giờ làm tăng, lại bị đe dọa đủ thứ hình thức cáp phạt vô lí”[44; 4-5].

Cho đến thời điểm này, không ít nhà nghiên cứu vẫn khăng khăng ý kiến cho rằng Tự lực văn đoàn viết về đề tài bình dân chẳng qua là do sức ép của không khí thời đại. Hà Văn Đức trong Văn học Việt Nam 1900-1945 (Nxb. Giáo dục, 1997), ở chương XXI, viết “Thời gian này (thời kì Mặt trận Dân chủ -ĐNH), các nhà văn trong nhóm Tự lực văn đoàn cũng quan tâm đến vấn đề “bình dân” hơn”[12; 87). Viết lời giới thiệu cho Tuyển tập Nguyên Hồng (Nxb. Văn học, 1995), Phan Cự Đệ cũng có ý kiến tương tự -.”Trong thời kì Mặt trận Dân chủ, các báo chí của Đảng và những báo chí tiến bộ đã nói nhiều đến nỗi thống khổ của dân quê và dân nghèo thành thị. Trước yếu cầu của đông đảo bạn đọc, tờ Ngày nay của Tự lực văn đoàn không thể không nói đến bình dân một cách thời thượng”(tr.26).

Thật tình những nhận định kiểu trên đây phản ánh đúng một khía cạnh, một đặc điểm nào đấy trong sự tồn tại và phát triển của văn chương Tự lực văn đoàn. Song nếu xem đấy là tất cả những gì mà Tự lực văn đoàn viết về bình dân thì e có phần không thỏa đáng. Vì lẽ năm 1933, Tự lực văn đoàn ra đời với tôn chỉ đàng hoàng, rành mạch, trong đó có điều 3 là “Theo chủ nghĩa bình dân, soạn những cuốn sách có tính cách bình dân và cổ động cho người khác yêu chủ nghĩa bình dân”. Cũng trong năm này, Khái Hưng và Nhất Linh đã cho ra đời thiên truyện ngắn bất hủ : Anh phải sống. Chúng tôi mạnh dạn đánh giá Anh phải sống là một truyện ngắn hiện thực kiểu mẫu, cho dù nó có bị soi chiếu, kiểm tra ở bất cứ giác độ nào. Khái Hưng và Nhất Linh đã viết truyện ngắn này bằng cái nhìn và trái tim của những nhà nhân đạo.

Trước hết, đó là cái nhìn trực diện vào hiện thực dữ dằn, ghê rơn. Mở đầu tác phẩm là cảnh”Nước sông Nhị Hà mới bắt đần lên to, cuồn cuộn chảy, tưởng muốn lôi phăng cái cù lao ở giữa dòng đi”. Trên bờ sông, một gia đình đang chìm dần vào nỗi tuyệt vọng vì đói. Họ đã ăn hết hạt gạo cuối cùng từ hôm qua. Trên phản gỗ không chiếu, bầy con lúc nhúc khóc lóc, kêu gào đòi ăn. Đứa nhỏ đòi bú. Người mẹ đã lâu không có gì để ăn nên cũng hết cả sữa cho con bú.

Hai vợ chồng người phu hồ lấy nhau trong sự nghèo khó và cuộc sống của họ kéo lê trong sự nghèo khó, trong gian nhà “lụp xụp, ẩm thấp, tối tăm ở chân đê Yên Phụ”. Những đứa con ra đời đúng lúc việc ít, công hạ, đẩy cuộc sống gia đình vào cảnh túng đói. Mùa nước lụt năm ngoái, họ nghĩ ra nghề vớt củi bán kiếm sống.

Chiều nay, người chồng chèo thuyền đi vớt củi. Người vợ đòi đi theo. Người chồng trừng mắt không cho đi. Người vợ khóc, người chồng cảm động cho vợ đi cùng. Gió to, nước réo ầm ầm, da trời một màu đen sẫm. Hai vợ chồng ráng sức đua thuyền quay về phía thượng du. Qua lo lắng cho đôi vợ chồng, tác giả tả họ bằng những câu thắt ruột -.”thuyền vẫn bị trôi phăng xuống phái dưới, khi nhô, khi chìm, khi ẩn, khi hiện trên làn nước phù sa, như chiếc lá tre khi nổi trong vũng máu, như con muỗi mắt chết đuối trong nghiên son”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Vớt củi xong, họ sắp sửa trở vào bờ thì trời đổ mưa. Thuyền đầy nước. Thuyền chìm. Hai vợ chồng bơi vào bờ. Người vợ đuối sức. Người chồng cố xốc vợ. Một lúc sau, hai cánh tay người chồng rã rời. Người vợ run run khẽ nói

.”Thằng Bé ! Thằng Nhớn ! Cái Bé !… Không !…Anh phải sống !”Người chồng bỗng thấy người mình nhẹ hẳn đi. Người vợ đã buông tay ra, để cho chồng mình sống.

Tác phẩm kết thúc hiện thực trong từng câu, từng từ. Tối hôm đó, “Đèn điện sáng rực bờ sông. Gió đã im, sóng đã lặng. Một người đàn ông bế một đưa con trai ngồi khóc. Hai đứa em gái nhỏ đứng bên cạnh. Đó là gia đình bác phó Thức ra bờ sông từ biệt lần cuối linh hồn kẻ đã hi sinh vì lòng thương con”.

Không chút bịa đặt, không hề ảo tưởng, câu chuyện thấm đẫm nước mắt. Tiết tấu, âm hưởng buồn thương của câu chuyện vò xé tâm hồn người đọc. Nếu không có tình yêu thương đồng loại, đồng bào như máu thịt, hai nhà văn Nhất Linh, Khái Hưng chẳng thèm viết nên câu chuyện về hai vợ chồng anh phó nề (họ sẽ chỉ viết về chợ phiên, khiêu vũ, đánh tổ tôm,… cho sướng !). Nếu họ là cải lương chủ nghĩa thì họ đã không để cho người vợ chìm xuống đáy sông. Vì sao ? Vì họ sẽ tạo ra tình huống có một chiếc thuyền buôn giàu có nào đấy ngang qua thấy thế bèn vớt chị vợ lên làm phúc.

Hoàng Đạo có một câu chuyên đau lòng về một gia đình nghèo. Đó là gia đình người hát xẩm trong truyện ngắn một gia đình. Người chồng kéo nhị hay gảy đàn bầu, vợ hát. Đứa con sáu bảy tuổi “nhem nhuốc, cái áo cánh nâu rách ngắn, để hở rốn, ngồi nghịch cái chậu thau đã han rỉ, dùng để đựng tiền”. Để được người nghe cho tiền, chị vợ phải hát đủ giọng, “từ giọng Bắc nhanh nhẹn, lưu loát, sang giọng Nam, chứa đầy nỗi buồn mênh mang”. Cuộc sống lam lũ làm con người ta mau khô héo. Trên nét mặt hai vợ chồng chỉ còn vẻ nhẫn nhục. Lúc nào tiếng đồng xu, đồng trinh ném vào chậu, vẻ mặt họ sáng lên đôi chút.

Cuộc sống ngày càng thêm khó khăn. Thi thoảng mới có người qua đường dừng lại nghe hát. Tiếng xu rơi vào chậu thau ngày một ít. Tiếng đàn, tiếng hát ngày một vội vã, “những buổi mưa phùn lạnh lẽo thì điệu Nam ai hóa ra điệu Bình bán”. Đứa con chỉ có cái áo cánh rách run cầm cập. Trời rét, người vợ ho khan. Thời gian sau, vợ chồng dắt díu nhau đi về đâu không biết.

Giọng kể vẫn được thực hiện bởi cái tôi nhưng không còn khách quan được nữa. Ở phần cuối truyện, tiếng lòng tác giả đã xen vào câu chuyện. Một buổi chiều tối mùa đông rùng rợn, “Về phía mộ làm phúc, tôi chợt thấy một đám ma người nghèo. Ba, bốn người phu đương khiêng một cái quan tài mộc, theo sau một người lớn và một đứa trẻ. Một nỗi buồn thấm thìa đến cắn lấy lòng tôi khi tôi nhận ra cha con anh Tạc. Tôi sực nhớ đến tiếng ho khan của chị Tạc những đêm đông giá lạnh, và tôi chợt hiểu vì lẽ gì tí lâu nay tôi không gặp vợ chồng chị”.

Kết thúc truyện, tác giả tự đánh giá tâm trạng của mình .”Người tôi lúc đó dễ xúc cảm như một cốc pha lê mong manh, sẽ động là có tiếng vang”. Nếu là một tình cảm thời thượng thì ngàn lần không bao giờ có thể “nghe tiếng rút dây rõ ràng trong sự im lặng của buổi chiều” sau khi áo quan được đặt xuống hố. “Cảm hứng không cho phép nhà văn thể hiện cảm xúc một cách bằng phang nhạt nhẽo”[45; 269]. Có điều cảm hứng cũng phải tuân theo quy luật khách quan. Hơn ai hết, “nhà lí luận” Hoàng Đạo đành chấp nhận :Từ hôm ấy, tôi không gặp cha con anh Tạc lần nào nữa. Có lẽ anh lang thang với chiếc đàn lẻ loi, với những nỗi đau khổ ngấm ngầm, cha con không chết đói là anh không còn mong mỏi gì nữa”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Trên báo Văn nghệ số 116, ra ngày 19-4-1956, nhân đọc lại Tắt đèn của Ngô Tất Tố, nhà văn Nguyễn Công Hoan nhấn mạnh -.”Người ta (văn học lãng mạn – ĐNH) lấy văn chương và kĩ thuật ra để tô điểm vẻ đẹp ở nông thôn, nào là tia khói lam ủ ấp trên mái xám trong buổi chiều hồng, nào là cánh đồng như tấm thảm nhung xanh, lúa rập rờn trước gió như gợn sóng. Nhưng người ta không nói dưới mái khói ấy, có ai ở, sống ra làm sao nữa”[30; 210].

Tự lực văn đoàn đâu phải lúc nào cũng tô hồng cuộc sống nói chung và nông thôn nói riêng. Tự lực văn đoàn cũng có những trang viết về những người lao động nghèo với tinh thần nhân văn thấm đẫm. “Đã mươi hôm, mưa tầm tã. Mực nước lên cao dần. Trống hộ đê đánh liên thanh không dứt. Tiếng trống đều đều gợi lên trong linh hồn dân quê những nỗi hãi hùng man mác, nghe buồn thảm như tiếng trống ngũ liên một đêm tối trời. Dân phu từng đám trên đê, đắp cừ, đan tre trong một không khí yên lặng ghê sợ”. Hình như mấy câu văn này trích từ tiểu thuyết Vỡ đê của Vũ Trọng Phụng? Không phải, nó là một đoạn lời mở đầu truyện ngắn Dưới làn sóng của Hoàng Đạo. Câu chuyện này có phần bi rợn hơn cả Anh phải sống của Khái Hưng và Nhất Linh. Cơn lũ khủng khiếp đã cuốn phăng tất cả. Từ nơi hộ đê, Minh trở về làng để cứu vợ con. Đánh vật với con nước dữ như muôn nghìn thác đổ, Minh đưa chiếc thuyền nan về đến ngọn đa. Anh cất tiếng gọi vợ nhưng chỉ có gió trả lời. “Anh đăm đăm nhìn về phía nhà và chỉ trong thấy vũng nước đỏ ngầu lấp lánh dưới ánh đuốc. Mắt mở to, anh trừng trừng nhìn trên mặt sóng bấp bênh chiếc mái nhà lật ngược”. Còn có cảnh nào thảm thiết hơn ! Trong lúc đau đớn tuyệt vọng, Minh không vững chân, ngã ngửa người vật xuống nước…Dưới làn sóng có cái không khí, cái bi hưởng Bắc Ninh cấp cứu của Ngô Tất Tố. Tiếng anh Minh gọi vợ “Mẹ thằng Ốc đâu?” nghe như một lời chiêu hồn cho những thân phận bình dân bèo bọt trên dòng lũ xã hội Việt Nam trước Cách mạng tháng Tám. Tinh thần hiện thực, thái độ đề xuất, phán xét của Hoàng Đạo biểu hiện rõ ràng trong một đoạn văn kết truyện .”Vài giờ sau, vừng thái dương xán lạn mọc lên trong một bầu trời quang đãng, âu yếm nhuộm hồng mấy sợi tơ chăng trên da trời màu bạch nguyệt, dịu dàng mơn trớn cánh đồng nước lặng sóng như mặt hồ. Ánh sáng buổi bình minh tinh khiết như hồi thiên địa mới sơ khai. Nếu không có vài chiếc thuyền thỉnh thoảng lách vào mấy ngọn tre xơ xác, những sự khủng bố hồi hôm có lẽ khách du chỉ lo là một giấc mơ dữ dội”. Đoạn văn trên đây là một đoạn văn miêu tả, nghĩa là nó có tình hình tượng sống động và tính thẩm mĩ. Nhưng nó cũng là một đoạn văn có tính “ý thức về văn học”. Chiếc thuyền và mấy ngọn tre xơ xác là hiện thực, hãy nhìn vào đó mà nhận thức cuộc sống, đừng để “vừng thái dương xán lạn” che khuất, đánh lừa.

Nhìn vào cuộc sống sau bốn lũy tre làng đương nhiên còn có Trần Tiêu vì “về mặt phương pháp sáng tác, những truyện vừa, tiểu thuyết của Trần Tiêu là thuộc về chủ nghĩa hiện thực”[12; 553]. Con trâu, Truyện quê là những tác phẩm chứa chan thương cảm đối với người dân quê. Truyện ngắn Năm hạn buồn thảm, bế nghẹn y như Tắt đèn của Ngô Tất Tố, Bước đường cùng của Nguyễn Công Hoan, Ngoại ô của Nguyễn Đình Lạp. Con trâu là đầu cơ nghiệp (vẫn là chuyện con trâu !). Thế mà cả xóm như xóm Lũy trở nên tẻ lạnh và rầu thảm vì nạn dịch trâu. Để có được cơ nghiệp ấy, họ phải dành dụm, phải nhịn ăn nhịn mặc.Vì thế trâu chết, họ phải “kêu giời”, “nằm vật xuống” ngất đi. Tiếc của, họ quẫn trí, vợ chồng đổ khuấy cho nhau. Không khí làng quê trong Năm hạn thật buồn, trì đọng và mờ mịt.

Đời sống vốn đa dạng, phức tạp, ngổn ngang trăm mối. Trước Cách mạng, nạn nhân của xã hội cũ mỗi người một vẻ, không ai giống ai. Có người điêu đứng vì sưu thuế, có người trắng tay vì bị bóc lột, nợ tô, hạn hán, lũ lụt,…Thôi thì đủ thứ lí do đưa đẩy người nghèo khổ tới bờ vực của sự khốn cùng. Những lúc lặn sâu vào lòng cuộc sống, với cái nhìn hiện thực tỉnh táo, Tự lực văn đoàn còn phát hiện ra những kiểu nạn nhân khác nữa. Chẳng hạn người lính giải ngũ trong Người lính cũ của Thạch Lam. Con người này không có tên, đã từng đi lính sang Tây. Từ khi thôi binh nghiệp, chẳng ai nhớ tới anh nữa. Anh bị bỏ quên, trở thành “một anh nhà quê An Nam nghèo khổ ngồi bó gối hút thuốc lào trong một cái quán vắng giữa chốn đồng không mông quạnh”. Sau bao nhiêu biến cố, anh này bị khánh kiệt, lâm vào cảnh “một thân một mình, không nhà, không cửa”. Đã vậy, anh còn bị bệnh ho ra máu và lóa mắt nữa. Con người đã từng đi Tây, biết tiếng Tây, theo lời của chính nhân vật, giờ đây đi lang thang suốt cả ngày, đêm đến ngủ trong””cái nhà nhỏ xiêu vẹo, sắp đổ nát” của một bà lão bán nước chè. Những người như anh lính cũ đã góp phần “điểm tô” cho cái đêm tối dày dằng dặc thuở trước. Tác giả ái ngại cho người lính cũ bao nhiêu thì câu chuyện lại đượm một tinh thần oán thán bấy nhiêu. Ai phải chịu trách nhiệm về thân phận của người lính cũ ? Chắc phải có chứ ! ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Ở Nhất Linh, tinh thần nhân đạo đã có từ Nho phong, Người quay tơ. Đến Tối tăm (tức Thế rồi một buổi chiều), viết trong phong trào Mặt trận bình dân, tinh thần nhân đạo hiện ra sắc nét hơn, hiện thực hơn, ít luận đề hơn. Theo Trương Chính, khi Nhất Linh viết Tối tăm, ông bị một số người cho là “nịnh hót quần chúng”[29; 635]. Tốt nghiệp ở Pháp về với bằng cử nhân lí hóa, Nhất Linh – Nguyễn Tường Tam có thể trở nên vinh thân phì gia nếu ông đi làm một cái nghề nào khác mà không phải làm báo, làm văn. Người như thế mà đi “nịnh hót quần chúng” kể cũng khó nghĩ. Nhất Linh có theo đuổi chính trị và lạc lối nhưng chưa ai chứng minh ông giành giật quần chúng bằng văn chương cả. Chúng tôi không nghĩ một người đã từng từ bỏ cái nghề “ông phán”, từng cầm chích tờ báo cười cợt Phạm Quỳnh, Nguyễn Tiến Lãng lại đi làm cái chuyện hèn hạ kia. Hồi đó, trên tờ Tin tức, Nhất Linh có lần tuyên bố ‘.”Tôi vẫn tha thiết mong cho đám bình dân thiệt thòi và thấp kém trong xã hội có những quyền sống mà họ thiếu thốn. Tôi đã bị thất vọng nhiều lần, thất vọng như bao nhiêu người khác đã quá mong mỏi ở những nơi thành lập đem lại cho tôi một ùa ánh sáng hi vọng. Lấy trách nhiệm là một nhà văn cùng với những người đồng chí khác, tay cầm tay đứng trong hàng ngũ, tôi xin hết sức giúp một phần nhỏ mọn vào công cuộc đòi quyền sống của hết thảy anh em bị thiệt: Mặt trận bình dân”[12; 539-540]. Sau này vào Sài Gòn, Nhất Linh có nói lại vấn đề này (trên phương diện lí luận về sáng tác) -“Cần tránh nhất là theo thời, thấy có phong trào bình dân cũng viết về chuyện dân thợ, dân quê mặc dù mình không để ý đến họ bao giờ mà cũng không thích viết về họ. Mình đã làm một việc giả dối. Mà nếu mình giả dối, mình không bao giờ có những rung động thật, khó lòng tác phẩm mình hay được”[43;46]. Ngay như một nhà nghiên cứu nọ trong lời giới thiệu Tuyển tập Nguyên Hồng năm 1995 còn gọi thái độ viết về bình dân của Tự lực văn đoàn là “thời thượng” thì đến 1999, trong một cuốn giáo trình đại học, ông đã có sự thay đổi trong suy nghĩ khoa học khi viết -.”Nhưng chúng ta có thể tin vào những phát biểu chân thành của Nhất Linh trên báo chí và cả trong tác phẩm. Sự thời thượng, dối trá không thể tạo nên được hình tượng hấp dẫn, quyến rũ người đọc”[12; 540].

Sở dĩ Nhất Linh bị quy kết là có “lòng yêu chế tạo” [29; 635] là vì “ông bênh vực một hạng người khác khốn nạn mà không hề biết mình khốn nạn, vì ngu dại và thất học, đương chìm đắm trong đêm tối một cách đáng thương”[29; 635]. Đúng là so với Nguyễn Công Hoan, Nhất Linh không có được những phút lóe sáng ý niệm cách mạng (cách mạng vô sản – ĐNH) về quần chúng lao khổ. Trước khi viết Bước đường cùng, Nguyễn Công Hoan đã “tìm đến một số Đảng viên và được họ hết lòng dìu dắt và giác ngộ”[44; 179]. Kết quả của sự tiến bộ thể hiện rõ trong Bước đường cùng. Một nông dân tên Tân trong tác phẩm này đã nhận thức như một người mới được giác ngộ cách mạng “Phải, bao giờ quan lại với nhà tư bản cũng về hùa để bóp hầu bóp cổ bọn ta”. Điều đáng nói ở đây là Nhất Linh không phải là người duy nhất có cái nhìn như thế. Mặt khác, nhìn như thế không phải là không nhân đạo. Chính vì có một trái tim nhân đạo đau đáu mà người nghệ sĩ mới nhìn vào cuộc sống “tối tăm”. Cuộc sống này trở đi trở lại hiện lên trong tác phẩm của Thạch Lam như những ám ảnh :

  • “Tuy cách xa đã lâu mà Trường thấy những dãy nhà đó không có gì thay đổi, có chăng là xiêu vẹo và điêu tàn hơn một chút. Chàng đoán cuộc đời tối tăm và khốn nạn trong đó cũng vẫn như ngày trước khi chàng còn ở đây”. (Ngày mới)
  • “Chợ đã vãn: những người đàn bà gồng gánh sắp ra về, trên mặt đất đầy những rác bẩn, những vỏ dưa, những lá gói: một cái mùi âm ấm bốc lên, cái mùi đặc biệt, hình như lẫn mùi đất, mùi ẩm, và mùi rác đốt. Tâm nhớ lại rõ rệt những ngày còn trẻ “. (Trở về)

Trong Hai vẻ đẹp, Nhất Linh cũng vẽ một cảnh tương tự : “Mỗi lần nhìn những người nhà quê nhem nhuốc ngồi bệt xuống đất, bên những đống rác hôi hám, hàng bán lèo tèo mấy thứ quà vặt bẩn thỉu, đầy cát bụi, và mỗi lần ngửi thấy mùi quần áo, mùi mồ hôi người lẫn với trăm nghìn thức mùi khác ở các hàng xông lên, Doãn có cái cảm tưởng khó chịu về sự bất di bất dịch của những xã hội quê, bao giờ cũng khốn nạn, cũng xơ xác như bây giờ. Chàng thấy cảnh ấy hai mươi năm trước cũng vậy; chàng buồn bã đoán rằng hai mươi năm sau nữa rồi cũng thế này thôi, không có chút hi vọng gì về một sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệt như một trận gió mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rác rơm”.

Mục đích chính của Nhất Linh không phải là đổ hết mọi nguyên nhân cho dân quê (mà đổ hết cũng là một cách tố cáo). Chính Nguyễn Công Hoan đã làm hộ điều này .”Việc mở trường học làng này, tôi nhất định phản đối. Làng nào có trường, trẻ con cũng láo, rồi sinh ra khó bảo, khựng khượng”. Đây là lời của tên Nghị Lại trong Bước đường cùng. Có thể xem lời nói này là một bằng chứng về tội ác ngu dân của bọn thống trị (nghị viên là đại diện của dân cơ mà ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

!). “Mọi sự thay đổi hoàn toàn và kịch liệt như một trận gió mạnh nổi lên thổi sạch hết bụi cát, rác rơm” có thể xảy ra nếu người dân được giác ngộ, được “sáng mắt sáng lòng”. Trong truyện, Doãn”buồn bã đoán rằng” chứ không phải là Doãn khẳng định. Phải hiểu Hai vẻ đẹp là ước mong của nhà văn về sự “dìu dắt dân quê trên đường tiến bộ”. Chủ trương ấy, cách làm ấy có đạt được hay không là một vấn đề cách mạng. Nhưng chỉ bấy nhiêu đó thôi cũng cho thấy tâm hồn trắc ẩn của nhà văn:”mong mỏi cho quê hương trở nên đẹp đẽ”. Cũng như Doãn, Duy (Con đường sáng) của Hoàng Đạo”mong mỏi một sức mạnh huyền bí đẩy một cơn gió lớn thổi tan đám mây đen, phút chốc đem dân quê đến đời tươi đẹp và đầy đủ như đời chàng”; Dũng (Đoạn tuyệt) của Nhất Linh phấn khởi nói : “Tôi vẫn hằng mong ước cho dân quê đỡ phải chịu hà hiếp, bức bách. Ta phải tin rằng sự ao ước ấy có thể thành sự thực và làm cho dân quê cũng ước mong một cách tha thiết như ta”, về hiện tượng này, Xuscov đã có lần nói rằng -.”Lẽ tự nhiên quan niệm chủ quan của người nghệ sĩ về chân lí lịch sử không phải bao giờ cũng trùng hợp với nội dung khách quan của họ”[79; 78]. Tức là, những mong ước nhân đạo chủ nghĩa trên có thể không thành, song dẫu sao cũng là điều đáng quý. Thậm chí, những băn khoăn của những nghệ sĩ có lương tâm như thế về cảnh đời ao tù của nhân dân đã làm “công việc khai phá, dọn đất cho cách mạng gieo hạt sau aty”[29;134].

Cuộc sống ở thôn quê đã vậy, cuộc sống ở thành thị cũng khốn khổ không kém, nhất là đối với người lao động. Nghề kéo xe – một trong những nghề lao lực, nhục nhằn nhất – đã đi vào văn chương quen thuộc đến mức phu xe trở thành một hình tượng tiêu biểu cho một lớp người cùng khổ nhất nơi đô thị.

Nhà văn hiện thực trào phúng Nguyễn Công Hoan khai vỡ đề tài này vào năm 1931 với truyện ngắn Ngựa người và người ngựa. Đàn anh Tản Đà tiên sinh đánh giá truyện ngắn này rất cao “Từ khi quốc văn thịnh hành, một lối đoản thiên tiểu thuyết có phần xuất sắc hơn cả. Trong áng đoản thiên tiểu thuyết, như ba đào kí của ông Nguyễn Công Hoan, theo ý tôi bài Ngựa người và người ngựa có lẽ hay nhất”[23; 261]. Chúng tôi cho rằng Tản Đà đã đánh giá đúng. Bằng nghệ thuật dàn dựng bậc thầy, Nguyễn Công Hoan đã cho người đọc thấy một cảnh đời oái oăm có một không hai, khiến họ cười để rồi tuôn nước mắt.

Năm 1932, Tam Lang Vũ Đình Chí viết tập phóng sự Tôi kéo xe (in năm 1935 trên Trung Bắc tân văn). Những gì mà tập phóng sự phơi bày làm người đọc ngỡ ngàng. Theo tác giả Nhà văn Việt Nam thì “với những lời văn chải chuốt, có khi bóng bẩy quá, Tam Lang cho chúng ta thấy tất cả cuộc đời của người kéo xe, từ cái nguyên nhân đưa đẩy họ vào nghề ấy, qua những “nghệ thuật” kéo xe, những cách kiếm ăn ngoài, những sự trụy lạc của người phu xe, sự hành hạ của bọn cai xe và vì sao người chủ xe lại phải cầu đến bọn này, cho đến một sự cải cách mà tác giả mong chính phủ thực hành”[55; 507]. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Đến với đề tài “ngựa người” phu xe muộn hơn nhưng Tự lực văn đoàn đã góp vào mảng hiện thực này những truyện bi thảm, dữ dội. Một cơn giận của Thạch Lam không có được cái cười ra nước mắt như Ngựa người và người ngựa nhưng bộ mặt cuộc sống được miêu tả lại dữ dằn, nghiệt ngã hơn nhiều. Anh phu xe của Nguyễn Công Hoan cố kiếm thêm tiền trong đêm ba mươi để ăn tết sau một năm sạch sành sanh tiền vì vợ ốm. Nhưng trời đã phụ kẻ nghèo. Anh gặp một gái làng chơi ế ẩm đang có đi tìm khách chơi mà không biết. Khi không giấu được nữa, cô gái ăn sương trả anh “phu-la, áo, đồng hồ”. Anh phu xe thật thà, thực tế không lấy những thứ ấy. Đến một nhà săm, cô gái bỏ trốn. Anh phu xe bị gạt, đành “nghiến răng , càu mặt”, cố nuốt ước mơ ” vợ chồng con cái ăn tết với nhau cho hễ hả” không thành. Anh phu xe của Thạch Lam rủi ro hơn nhiều. Con bị bệnh nặng không tiền chữa trị, anh đành phải liều kéo chiếc xe tồi tàn vượt ngoại ô để kiếm bốn xu trong chiều đông ảm đạm, rét mướt. Vì kéo xe trái tuyến, anh bị phạt một số tiền lớn, bị chủ đánh thê thảm, phải bỏ trốn. Mấy hôm sau, đứa bé con anh chết trong “cải tả rách như xơ mướp”. Câu chuyện được thuật lại qua nhân vật Thanh – một nhà báo. Có lẽ vì thế mà tính hiện thực, cảm hứng nhân đạo của câu chuyện bị giảm sút ? Không thể căn cứ vào đây mà hoài nghi thái độ, động cơ của các cây bút Tự lực văn đoàn. Có nhiều cách để đến “xã hội ba đào” của những người phu xe. Thâm nhập, lăn lộn như Tam Lang là một cách. Trần thuật trên tinh thẫn hiện thực như Nguyễn Công Hoan cũng là một cách. Có điều cách này cũng chỉ là chủ quan. Vũ Trọng Phụng ít đi thực tế nhưng phóng sự của ông vẫn ấn tượng và thuyết phục về độ tin cậy, tính thực tế – thời sự. Tạo ra tình huống một cơn giận như Thạch Lam lại là một cách khác. Khi nhận xét tình cảm của nhà văn này là thật, của nhà văn kia là thời thượng, là thương hại, chúng ta thường dựa vào đâu ? Phải chăng có một loại tín hiệu hình thức giúp nhận biết điều này ? Tín hiệu này rõ mồn một trong tác phẩm hiện thực chủ nghĩa nhưng hoàn toàn vắng bóng trong tác phẩm lãng mạn ? Hình tượng văn học vừa có tính cụ thể, vừa cảm tính. Nhân vật Thanh “lây tờ giấy bạc năm đồng đưa cho người mẹ, rồi vội vàng bước ra cửa, để mặc hai người nhìn theo ngờ vực”. Đây là một tình tiết hiện thực. Thanh là một trí thức, một nhà báo. Anh có cuộc sống của anh. Không ai có quyền bắt Thanh dọn nhà đến ngã tư Khâm Thiên, nơi “sống một đời khốn nạn những người gầy gò, rách rưới nhưng những người trong một cơn mề”. Và đâu phải không làm được điều đấy thì hành động cho năm đồng kia không nhân đạo một cách chân thực. Tinh cảm nhân đạo, tư tưởng nhân đạo biểu hiện trong cách người ta nghĩ về những người nghèo khổ cần chia sẻ và thông cảm. Những dòng trần thuật của Thạch lam không phải lời của người bề trên, hay là lời của người sung sướng đi thương vay khóc mướn để thỏa tính hiếu kì, kiêu ngạo. “Lần ấy là lần đầu tiên tôi bước vào một chỗ nghèo nàn, khổ sở. Các anh có thể tưởng tượng một dãy nhà lụp xụp và thấp lè tè, xiêu vẹo trên bờ một cái đầm mà nước đen và hôi hám tràn cả vào đến thềm nhà”. Rõ ràng nỗi khổ của những người như thế nằm ngoài sự tưởng tượng của Thanh. Thanh càng ngạc nhiên bao nhiêu thì nỗi lòng thương cảm của tác giả càng rõ bấy nhiêu. Hình như tác giả muốn nói lên điều này : làm sao có thể sống được trong hoàn cảnh ấy, tội nghiệp cho những con người ấy.

“- Cháu nó sài đã hơn một tháng nay. Hôm nọ đã đỡ. Mấy hôm nay vì không có tiên mua thuôc lại tăng. Ong lang bảo cháu khó khỏi được.

Người mẹ nói xong nấc lên một tiếng rồi nức nở khóc”.

Nhân vật Thanh gọi đó là “cái cảnh đau thương”. Bất chấp cái tựa đề Một cơn giận như một cách định hướng cảm thụ, từ câu chuyện vang lên một thông điệp :hãy cứu lấy những con người khốn nạn, những người hiện hữu giữa thế giới này như “trong một cơn mê”.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

3.2. Thân phận phụ nữ và trẻ em : ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Trong những thời kì lịch sử đen tối, phụ nữ và trẻ em luôn là những nạn nhân đáng thương nhất. Sở dĩ như vậy là vì họ là những đối tượng có “sức đề kháng” yếu nhất trong xã hội khi phải đương diện với cuộc đời ô trọc, bất lương. Đã thế, những gông cùm tinh thần vốn là những hệ lụy, sản phẩm tàn tích của xã hội phong kiến xa xưa cũng góp phần ngáng trở khả năng chống đỡ của họ.

Hầu hết những nhà văn hiện thực lớn của Việt Nam giai đoạn 1930-1945 đều ít nhiều có tác phẩm về đề tài phụ nữ và trẻ em. Và hầu hết những trang văn ấy đều là những trang viết chân thành,- có sức lay động lòng người. Thông qua những tác phẩm ở đề tài loại này, các nhà văn đã đặt ra những vấn đề xã hội rộng lớn như quyền sống của con người, nỗi khổ của những tâm hồn bị đánh cắp, nhân cách bị chà đạp…Tuy không phải xuất thân từ cần lao nhưng các nhà văn Tự lực văn đoàn cũng không phải là những “ông Tây An Nam”. Họ là những trí thức Tây học bản địa (trừ Nhất Linh) mà lớp trí thức này chào đời và tắm mình trong không khí dân tộc và dân chủ. Bối cảnh xã hội ấy đẩy đưa khiến các nhà văn Tự lực văn đoàn có lúc đi gần tới chủ nghĩa nhân đạo theo tinh thần của chủ nghĩa hiện thực phê phán. Những lúc như thế họ viết một cách rất xúc động về những người bị ức hiếp nhiều nhất, có cuộc đời hẩm hiu, thân phận mong manh nhất là trẻ em và phụ nữ.

Trong các nhà văn Tự lực văn đoàn, Hoàng Đạo là người sính lí luận nhất. Tưởng đâu con người sinh ra để lập thuyết như vậy lại có những truyện về trẻ em đọc rất xúc động. Đó là truyện ngắn Tiếng pháo xuân (trong tập Tiếng đàn).

Truyện kể về em bé tên Minh lang thang trong đêm ba mươi mưa phùn lạnh lẽo. Em là một đưa trẻ bụi đời. Trời lạnh quá, em đành co ro trong chiếc bao tải rách dưới một mái hiên. Nằm ở đấy, đứa trẻ lạc loài nhìn qua tiệm tạp hóa bên phố đối diện, thấy người ta đang tất bật dọn lễ giao thừa. Ngôi nhà mà Minh nhìn thấy có một người đàn bà hãy còn trẻ, một cô bé gái trạc tuổi em và người vú già. Hình ảnh người vú hầu làm Minh nhớ lại khuôn mặt hiền từ của mẹ khi người hấp hối trên chiếc chõng tre xiêu vẹo trong túp nhà tranh lụp xụp ngoài bãi. Trong một thoáng, Minh bỗng thấy vui vẻ, như chính em “đương sửa soạn đón rước năm mới”. Giữa lúc ấy có người ra đóng cửa, làm hỏng mất cảnh đời tưởng tượng của Minh. Em òa lên khóc trong đêm tối vô hạn. Đồng hồ nhà ai thong thả đánh mười một tiếng.

Minh thiếp đi lúc nào chẳng biết. Trong mơ, Minh thấy mình nằm “trên một cái giường nhỏ trải đệm, trên mình đặt một chiếc chăn chiên êm và mềm, trắng tinh và viền đỏ”. Trong mơ, bà chủ hiệu tạp hóa nhận em làm con nuôi, cho em uống sữa, mặc quần áo mới, sạch sẽ, thơm tho. Cô bé gái con bà cũng nhận Minh làm em, dắt Minh đi chơi…

Bỗng có tiếng quát “Có bước ngay không, Pháo nổ vỡ đầu ra bây giờ !”. Trước mắt Minh, người bếp giận dữ đang nhìn chòng chọc vào em. Chưa kịp hoàn hồn, em bị người ấy đạp một cái và mắng rủa thậm tệ. Người đàn bà hiền từ ban nãy bây giờ nhìn em, quát:

-Năm mới của người ta ! Đồ chết dẫm. Muốn sống thì bước ngay, không có bà cho thì rũ tù “.

Minh ôm đầu chạy thẳng vào đêm tối.

Đây là truyện ngắn lãng mạn hay hiện thực ? Dù có thành kiến với Tự lực văn đoàn đến mấy cũng không có ai “nỡ” xếp nó vào “túi” lãng mạn. Nguyên Hồng từng làm người đọc ngậm ngùi với truyện ngắn Hai nhà nghề, tác phẩm kể chuyện những em bé vô gia cư, phải kiếm sống bằng nghề làm xiếc nguy hiểm. Vào những năm đói kém, người xem nhiều hơn người cho tiền. Nhưng so với Tiếng pháo xuân, Hai nhà nghề hiền hòa hơn, không nghiệt ngã bằng. Nhân trong Hai nhà nghề và Minh trong Tiếng pháo xuân đều là những em bé sống cảnh sống không tình thương yêu, không tia hi vọng. Truyện ngắn thường hay ở tình huống, cái mà người ta vẫn gọi là một khúc cưa đời sống. Khúc đời sống trong Tiếng pháo xuân thật phũ phàng, ai oán. Đồng thời, “cưa” được một khúc đời sống như vậy, nhà văn dễ dàng bộc lộ cảm hứng nhân văn. Khi miêu tả em bé Minh chạy đi, Hoàng Đạo biết được em “cố nén tiếng khóc đương nức nở trong lòng, tiếng khóc của sự thất vọng không cùng”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Những dòng văn của Thạch Lam viết về những đứa con của mẹ Lê đậm đà tình thương :” Dưới manh áo rách, thịt chúng nó thâm tím lại vì rét, như thịt con trâu chết. Bác Lê ôm ấp lấy con trong ổ rơm, để mong lấy cái ấm của mình ấp ủ cho nó”. Giọng kể, giọng tả của nhà văn linh hoạt lên, trang văn sáng lên như nắng hửng sau mấy ngày mưa gió sụt sùi khi mấy đứa lớn kiếm được một lượm lúa ‘.”Rồi là một bữa cơm nóng lúc buổi tối giá rét, mẹ con ngồi xúm quanh nồi cơm bốc hơi”. Ngày đưa tang bác Lê, nhìn mấy đứa con nhỏ của bác ngồi ở vỉa hè, những người hàng xóm “thấy một cảm giác đè nén lấy tâm can họ”. Những đứa trẻ trẻ ấy sẽ sống ra sao ? Cái cảm giác ấy cũng chính là tình cảm của nhà văn được hình tượng hóa qua những nhân vật trong truyện.

Thạch Lam là người viết về phụ nữ với một ngòi bút chân cảm, day dứt khôn nguôi. Trong phẫn lớn các tác phẩm viết về đề tài này, nhà văn thường khắc họa thành công một hoàn cảnh bưng bít, tù hãm, vây lấy con người bằng một thứ hàng rào ghê sợ. Không nhân vật nào thoát ra được. sống trong bầu không khí ấy, con người trở nên đờ đẫn, tê mụ đi.

Đó là Tâm trong Cô hàng xén. Có người nhận xét rất tinh rằng Thạch Lam rất sở trường về bóng tối- những mảng tối đầy ám ảnh. Lật trang truyện đầu tiên, đã thấy Tâm bước trong ngõ tối. Người con gái đảm đi bán hàng về, lòng ngập tràn niềm vui vì tưởng đến cái lúc mấy đứa em cô xúm lại đòi quà. về đến nhà, Tâm ăn một bữa cơm ngon lành. Bao nhiêu nhọc mệt sau một ngày tần tảo tiêu tán. Một ý nghĩ “tự kiêu” nhóm lên trong lòng cô gái cả nghĩ. Cả nhà đều trông vào gánh hàng xén chỉ đáng giá hai mươi đồng bạc của cô. Gia cảnh sa sút đã mấy năm nay. Cha cô từ độ mắt kém, không dạy học nữa, chỉ đi chơi quanh quẩn trong làng. Hai đứa em trai đều quá nhỏ. Vì thế mà người con gái đang độ trăng tròn không dám nghĩ đến một điều gì riêng cho bản thân mình. Duy nhất một lần, trong đêm khuya, “Tâm lấy sáp bôi lên môi mình và ngắm trộm bóng trong chiếc gương tròn nhỏ cồ-ba. Cô hơi thẹn thấy bóng mình trong đó, với đôi môi đỏ như sẫm máu…”.

Bán hàng chợ phiên, Tâm nhiều lần cảm nhận “cái nhìn âu yếm của người con trai” làm nghề thầy giáo. Đó là anh giáo Bài, nhà nghèo nhưng có gia thế vì “ông cụ trước cũng có đi dạy học”. Sau vụ gặt, bà mối đến nhà. Tâm mến anh giáo ấy nhưng nghĩ đến mẹ già làm lụng vất vả, những đứa em đang học cần sách vở, nàng ứa nước mắt. Bà Tú mẹ nàng thì thương con gái nên ưng thuận cho cư.

Về nhà chồng được mấy hôm, Tâm lại đi bán hàng. Nhà chồng nghèo quá, rồi còn nào tiền thuế của chồng, chiếc áo lương của chồng đã bắt đầu bạc và rách. Bao nhiêu thứ ấy làm cho “chiếc đòn gánh càng cong xuống và rền rĩ”. Ngoài giang sơn nhà chồng, Tâm còn lén dành dụm cho em đang học trên tỉnh. Nhiều lần, chồng Tâm gắt với nàng vì hết tiền. Mẹ chồng cũng bắt đầu gắt gỏng, đay nghiến và nghi ngờ. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Hai năm sau, Tâm đẻ con trai. Cô hàng xén xinh đẹp nổi tiếng một vùng nay già đi nhiều lắm. Tâm vẫn gánh hàng đi chợ. Một buổi chiều đi thăm mẹ trở về, “Tâm buồn rầu nhìn thấu cả cuộc đời nàng, cuộc đời cô hàng xén từ tuổi trẻ đến tuổi già, toàn khó nhọc và lo sợ, ngày nọ dệt ngày kia như tấm vải thô sơ”. Ngòi bút hiện thực của Thạch Lam sẽ thiếu thuyết phục nếu chỉ nói về Tâm. Cô hàng xén tên Tâm chỉ là một chấm trên cái diện mạo hiện thực được gợi nghĩ trong truyện ‘.”chịu khó, chịu khó, từng tí một, hết bước nọ sang bước kia, cứ thế mà đi không nghĩ ngợi…Có phải đâu chỉ một mình cô : trong những lũy tre xanh kia, bao nhiêu người cũng như cô, cũng phải chịu khó và nhọc nhằn, để kiểm tiền nuôi chồng, nuôi con, nuôi các em”. Sự miêu tả đúng đắn đời sống mới tạo cơ sở cho chủ nghĩa nhân đạo đứng vững. Thạch Lam đã làm được điều này. Cũng như nhiều tác phẩm khác của Thạch lam, bóng tối trong truyện Cô hàng xén gợi người đọc nghĩ ngợi rất nhiều. Tác phẩm mở đầu bằng bóng tối, sương mù, gió bấc vi vút từng cơn, dãy tre nghiêng ngả và kết thúc cũng là trời tối, sương mù, gió lạnh, rặng tre tối tăm và dày đặc. Bóng tối vây giữ con người trong một nhịp điệu mòn mỏi, khó nhọc. Bởi vậy, truyện dù không có biến động kinh hoàng nào, thay đổi tang thương nào nhưng người đọc vẫn rùng mình, vẫn hãi hùng.

Trong cái điệu buồn đều đều, lặng lẽ đến nao người ấy, con người ta có khi phải chết đến hai lần. Dung (trong Hai lần chết) lâm vào bi kịch này. Cái nghèo và cuộc truy tìm mưu sinh đã tác động đến một sinh linh ngay khi nó mới chào đời : Dung ra đời nhưng “không được cha mẹ hoan nghênh”. Rồi Dung lớn lên trong sự bàng quan của người thân. Người mẹ suốt ngày tần tảo buôn bán nuôi cả nhà (chắc cũng là một cô hàng xén). Người cha vô tích sự suốt ngày ra chiều nghĩ ngợi, thỉnh thoảng đánh Dung vài roi “lấy lệ” khi ông thấy Dung mải chơi. Dung như một con vật, không ganh tị và thân thiết với ai, “an phận và nhẫn nại lạ lùng”. Thấm thoát Dung mười bốn tuổi. Một hôm có một bà khách lạ đến chơi, nhìn Dung từ đầu đến chân. Mấy hôm sau, mẹ Dung cho Dung mặc quần áo mới (từ bé đến giờ Dung chỉ mặc toàn quần áo cũ). Cuối tháng tám năm đó, bà khách lại xuống chơi. Và Dung đi lấy chồng. Bà khách to lớn vẫn đến ăn cơm nay là mẹ chồng Dung. Chồng Dung là “một anh học trò lớp nhì, vừa lẩn thẩn vừa ngu đần”. Qua ngày nhị hỉ, Dung phải cởi tháo áo quần mới, đôi vòng trả cho mẹ chồng, trở lại nâu sồng. Bà mẹ chồng keo kiệt bắt Dung làm đầu tắt mặt tối. Chồng Dung suốt ngày thả diều. Hai em chồng thi nhau làm Dung thêm khổ. Quá sức chịu đựng, Dung ăn cắp mấy đồng trinh mua vé tàu trốn về nhà mẹ đẻ (giống nhân vật Hĩm trong tiểu thuyết Chồng con). Mẹ chồng tìm xuống nói mát. Mẹ đẻ mắng chửi không tiếc lời. Dung tức tưởi gieo mình xuống sông. Dung được người ta cứu. Cô bị mẹ chồng bắt về. Nhìn dòng sông, Dung nghĩ đến cái chết của mình. “Lần này về nhà chồng, nàng mới hẳn là chết đuối, chết không bấu víu vào đâu được, chết không còn mong cỏ ai cứu vớt nàng ra nữa”. Câu văn của Thạch Lam thường dài, tách ra nhiều vế đồng đẳng, êm và buồn lặng. Kiểu câu này rất khác với kiểu câu sắc gọn của Nam Cao. Biết vậy, vẫn cứ có cảm giác Hai lần chết cùng một phong cách với Dì Hảo của Nam Cao. Xúc cảm với nỗi buồn đau của con người, hai nhà văn đã thiên vị rõ ràng không giấu điếm, đứng hẳn về phía nhân vật để bình giá sự việc. Suy đến cùng, Hai lần chết nằm ương motif chống hôn nhân cũ, CƯU đỡ con người cá nhân, tức không có gì mới mẻ về tư tưởng…Nhưng lòng thương người đau đáu của người nghệ sĩ thấm vào trang văn, làm cho lời văn vang lên xa xót, từ đó truyền thấm mạnh mẽ một tinh thần nhân đạo, nhân bản đến người đọc. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Cũng là bi kịch chết khi đang sống nhưng truyện ngắn Một đời người có một dư vị khác. ở truyện này, sự kiện ít, nhà văn chủ yếu đào sâu vào những tầng vỉa tâm lí nhân vật. So với những tác phẩm của chính Thạch Lam, Một đời người không có gì mới: vẫn văn phong hồn hậu, vẫn chuyện con người khổ sở vì không có quyền tự lựa chọn hạnh phúc cho chính đời mình. Vậy mà truyện lại có một lực hút lớn đối với độc giả, theo chúng tôi, còn hơn là Cô hàng xén, Hai lần chết. Sở dĩ có điều đó là nhờ khả năng phân tích hiện thực tâm lí nhân vật của Thạch Lam.

Liên lấy chồng năm mười bảy tuổi. Chồng cô là Tích. Liên không yêu Tích nhưng vẫn lấy anh ta để chiều ý bố mẹ. Hồi ấy, Liên yêu Tâm, người mà nàng quý mến từ thuở nhỏ. “Bảy tám năm qua, mà Liên tưởng hình như lâu lắm, hình như đã hết nửa đời người” Đúng thế, vì nhà chồng Liên là “một cái địa ngục”, nơi mà nàng luôn chịu sự đối xử ác nghiệt của chồng và mẹ chồng. Nhưng trận đòn diễn ra thường xuyên và bạn bè Liên không ai được phép lai vãng đến nhà Liên nữa. Tinh cờ Liên gặp lại Tâm. Thấy Liên khổ, Tâm rủ nàng trốn đi Sài Gòn xây dựng đời mới, nhưng Liên không dám.

Cốt truyện Một đời người chỉ có bấy nhiêu biến cố. Không có gì dồn dập, không có gì xê động mạnh bạo, ngoại trừ những trận đòn của tên Tích. Hiện thực được tập trung miêu tả, nghiền ngẫm là tâm hồn Liên.

Liên yêu Tâm nhưng cha mẹ nàng ngỏ ý gả cô cho Tích, nàng không thích mà cũng công từ chối. Vì sao ? Vì Liên “tưởng rằng mình sinh ra chỉ để chịu sai khiến mà thôi, không dám phản kháng bao giờ cả”. Bản thân Liên cũng hình dung nếu nàng lấy Tâm thì đời nàng sẽ dễ chịu hơn. Thế mà Liên vẫn từ chối, cho đó là một việc không bao giờ có thể làm được. “Hình như có những cái lẽ tối tăm làm cho nàng sợ hãi, không dám nhận lời”. Đây rồi, “những cái lẽ tối tăm” đã trói nàng trong nhà ngục chịu đựng. Ngay cả lúc Tích đánh nàng đến ngất đi, nàng căm hờn lắm, nàng tự nhủ phải đi, phải thoát khỏi địa ngục, để hưởng hạnh phúc. Nhưng đến ngày mai, “những cải lẽ tối tăm” lại làm tiêu tán những dự đinh đầy hi vọng.

Miêu tả những điều này, Thạch Lam nêu lên một sự thực: không phải cô gái nào cũng dám tranh đấu như Loan trong Đoạn tuyệt. Thạch Lam yêu thương nhân vật của mình biết mấy nhưng ông cũng tỉnh táo chấp nhận một bộ phận sự thực đời sống. Những cô gái bị đọa đày như Liên thời bấy giờ rất muốn “cớ quyền được hưởng ở đời”. Tiếc thay, không phải ai cũng gặp được hoàn cảnh thuận lợi, cũng tự tin để trỗi dậy bước tới cái đời sung sướng. Tuy nhiên, trên quan điểm trân trọng và bảo vệ con người, nhà văn lại không chấp nhận sự yếu đuôi thụ động. Ông tiên đoán ‘.”Ngày nọ nối tiếp ngày kia, Liên lại vẫn chịu cái đời khổ sở, đau đớn mọi ngày”. Có một điều phải nói thêm : trường hợp của Liên khác với trường hợp của Minh trong tiểu thuyết Cô giáo Minh. Cô giáo Minh của Nguyễn Công Hoan muốn dung hòa với cái cũ để sống, thậm chí tìm thấy niềm vui nữa. Đó là một ý nghĩ ảo tưởng, dẫn tới những hành động phi thực tế. Trong cuốn Phương pháp sáng tác trong văn học nghệ thuật, Hồng Chương phân tích .”Đứng về mặt tư tưởng của chủ đề mà nói cuốn Cô giáo Minh còn kém xa cuốn tiểu thuyết Đoạn tuyệt của nhà văn lãng mạn chủ nghĩa Nhất Linh. Trong Đoạn tuyệt cái mới chiến đấu đến cùng chống cái cũ không thỏa hiệp…Trái lại, trong Cô giáo Minh cá tính bị xóa nhòa trong đại gia đình phong kiến, cá tính bị luân lí và lễ giáo phong kiến nuốt raấí”[23; 84]. Luận điểm mà Hồng Chương nêu lên là.”Trong Cô giáo Minh, ông (Nguyễn Công Hoan – ĐNH) bảo vệ gia đình cũ và ca tụng lòng hiếu thảo đần độn của cô giáo Minh”[23; 84]. Đọc một đời người, ai cũng thấy sự lí giải chủ đề, cảm hứng tư tưởng của Thạch Lam hoàn toàn khác với Nguyễn Công Hoan. Thạch Lam không “giải thoát” được cho nhân vật. Nhưng nhà văn lại không chủ trương thỏa hiệp. Chính vì vậy mà tác phẩm của Thạch Lam có giá trị nhân đạo ít nhiều. Trước sau, Liên vẫn xem gia đình chồng là địa ngục. Không dám đi trốn với Tâm, “Liên thấy bao nhiêu nỗi khổ sở trỗi dậy trong lòng”. Văn chương là một thứ khí giới, Thạch Lam tâm niệm như thế. Thế thì vạch ra”những cái lẽ tối tăm”, Một đời người đã góp phần lí giải một hiện tượng đời sống: áp lực của lối nghĩ cũ kĩ, của luân lí phong kiến còn sống dai dẳng, ngăn không cho con người dấn bước trong cuộc lữ hành truy tìm hạnh phúc cá nhân. Cũng giống như cô hàng xén, cô Liên này rất dễ bị tê dại, ngủ gục trong những định kiến, trong cái xa quay đơn điệu của cuộc đời cũ. Khi Liên từ chối lời cầu xin của Tâm, nhà văn nhận thấy “Hình như từ đây có cái gì gãy nát không phương vớt lại được trong cả cuộc đời nàng”. Câu chuyện, do đó, là một sự rọi chiếu ánh sáng nhân đạo phần nào xua tan “những cái lẽ tối tăm”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Không chỉ quan tâm đến điều kiện sống của con người, nhà văn nhân đạo còn chú ý đến ý nghĩa cuộc sống của họ, trân trọng tất cả những gì mà con người cho là thiêng liêng, tốt đẹp. Trong xã hội cũ, có một đối tượng mà nhà văn nhân đạo, những ngòi bút chân chính đều hướng tới, đó là thân phận những kĩ nữ. Bản thân cuộc đời bi đát của những cô gái dưới đáy xã hội này đã là bản cáo trạng xã hội thực dân phong kiến thối ruỗng. Đối với Họ, các nhà văn nhân đạo luôn luồn yêu thương, nâng đỡ những linh hồn lầm lạc đang bơ vơ giữa cõi người

Viết Tối ba mươi, Thạch Lam không có tham vọng đưa ra những vấn đề vĩ mô: nguyên nhân xô đẩy họ vào con đường cùng ô nhục, những biện pháp giải thoát họ…Điều mà Thạch Lam chủ tâm trình bày là niềm tin của ông về sự bất diệt của nhân tính trong trẻo, trước sự hủy diệt tàn bạo của cuộc đời nhơ nhuốc.

So với Đời mưa gió của Khái Hưng, Làm đĩ của Vũ Trọng Phụng thì Tối ba mươi chỉ là một nhát cắt. Nói theo các nhà lí luận văn học, truyện ngắn tạo ra một mảnh nhỏ để nhìn vào cuộc đời bao la. Bởi thế, truyện ngắn không dễ viết. Truyện ngắn phải gây sự lôi cuốn ngay từ đầu, đây là một thử thách đối với bất cứ ai muốn viết thể tài này. Những yêu cầu nghiêm nhặt nói trên, Thạch Lam đều “tuân thủ” thành công qua Tối ba mươi. Nếu không “cố tình” đặt nhân vật vào thời điểm tối ba mươi, tác giả sẽ không dễ dàng làm toát lên ý vị nhân đạo độc đáo của câu chuyện. Tối ba mươi, nhà săm vắng lặng, Huệ và Liên thấm thìa cảm giác lạc loài. Tối ba mươi là cái thời điểm nhạy cảm trong tâm thức người Việt. Khi nắng vừa tắt, đêm đến rất nhanh, một lời nói không đúng lúc có thể làm chạnh lòng, thương tổn người kĩ nữ. Tết đến, người ta chúc nhau những điều tốt lành. Trong căn phòng chuyên tiếp khách làng chơi bẩn thỉu, người bồi săm, trước lúc về nhà với vợ con, quay lại với hai cô gái :”À, chút nữa quên, tôi xin chức mừng trước hai cô nhé “. Với hai cô gái bán thân, ông ta chúc gì ? Câu nói của người bồi săm đứt quãng :”Chúc hai cô sang năm mới được…được…”. Sự đứt quãng không phải vì lạnh. Sự ấp úng của người bồi, theo chúng tôi, là một bằng chứng về nhân tính. Nhà nhân đạo Thạch Lam hiểu điều này hơn ai hết. Cho nên, thay vào sự lặng im đầy tủi nhục ấy là “tiếng cánh cổng sắt dưới nhà rít lên trong yên lặng lạnh lùng”. Nếu người bồi tốt bụng nhưng vụng về nói lỡ một câu nữa thôi thì thế giới sẽ tan vỡ. Phải chăng hai cô gái đã bị gạt ra khỏi những giá trị người ? Không, nhà văn đã cúi xuống với họ, “xui” họ bày cỗ cúng. Chỉ có hương, không cần vàng. Lòng se lại, hai cô gái nhìn nhau. Trong khói hương, dường như con người ta thánh thiện lên thì phải ? Quả vậy, sau một năm cuồng quay trong nhớp nháp, giờ đây, trong đêm ba mươi, Liên và Huệ sống với phần người thanh sạch nhất. Chả thế mà trong thoáng chốc, Huệ “nhớ đến cuộc đời mình, lúc trẻ thơ, lúc còn con gái, ở nhà quê”. Tuổi thơ luôn là một ẩn ngữ về thiên lương của con người. Nghĩ đến tuổi thơ là nghĩ đến những cảm xúc thần tiên: sự vô tư, trong trắng, tinh khôi…Vì vậy kí vãng tuổi thơ đưa Huệ về một buổi sáng ngày tết, “nàng mặc áo mới đứng trên thềm nhìn mấy bông hoa đào nở ở trước vườn. Tại sao nàng lại chỉ nhớ có cái cảnh ấy ? Huệ không biết; nàng chỉ mang máng cảm giác một sự gì trong mát, tươi non…”. Thế kỉ XVII, ở Nhật Bản, Matsuô Bashô đã viết một bài haiku thâm trầm thiền vị:

Quán bên đường Các du nữ ngủ Trăng và đinh hương. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Một nhà nghiên cứu đã phân tích rất hay rằng các du nữ, “Dưới mắt kẻ khác, họ là hiện thân sa đọa, là một chủng loại đã rơi xuống quá thấp trong thế giới con người. Nhưng Bashô nâng họ dậy, đặt họ giữa những đoa hoa đinh hương và vằng trăng bên trời”[7; 179].

Không có thiền vị, không nhờ đến chất thơ, Thạch Lam đã làm “nhà phục hưng” bằng văn xuôi. Ông đã để hai cô gái sa đọa cúng tổ tiên trong gian buồng ẩm ướt, “cái giường sắt lạnh, đệm và gối hoen bẩn, cái thau rĩ, cái bô, và cái bàn rửa mặt gỗ đã mọt…Đó là khung cảnh của cuộc đời trụy lạc đã từ lâu…”. Rồi giao thừa cũng đến. Liên và Huệ im lặng trong tiếng pháo nổ. Nâng niu tâm hồn những con người trót nhơ bẩn trong thời khắc giao thừa – thời khắc của hi vọng, linh diệu, thế là nhân đạo, không to tát nhưng sâu sắc biết nhường nào. Gia mà chỉ ra được viễn cảnh “Ngày mai gió mới ngàn phương” thì Thạch Lam đã trở thành một nhà hiện thực xã hội chủ nghĩa.

Khi chỉ ra tinh thần, nguyên lí nhân đạo của chủ nghĩa hiện thực, các nhà nghiên cứu thường đề cập đến giải pháp mà nhà văn đưa ra, ít nhất là một gợi ý, niềm tin của đường đi số phận của nhân vật trong tương lai. Kết thúc Vỡ đê, nhân vật Phú của Vũ Trọng Phụng mường tượng “Mai kia, cỏ sẽ mọc tươi tốt ngoài hàng rào, nụ non sẽ hè miệng trên cành khô. Nước sẽ đem hạnh phúc xuống cho đất: ruộng nương, đồng áng xưa kia nưỉ nẻ, bây giờ đã chan chứa hi vọng. Chim muông sẽ chẳng phải sã cánh, thè lưỡi khô, để tìm một giọt nước sau hàng tiếng đồng hồ. Những cảnh vừa vo gạo, vừa giặt quần, giặt váy, vừa tắm, ở những vũng ao tù còn có một ít nước đen ngòm những bùn, hẳn không có nữa”. Kết thúc sống mòn, “Lòng Thứ đột nhiên lại hè ra một tia ánh sáng mong manh. Thứ lại thấy hi vọng một cách vu vơ. sau cuộc chiến tranh này, có lẽ cuộc sống sẽ dễ dàng hơn, công bằng hơn…đẹp đẽ hơn”. Trở lại với Chồng con của Trần Tiêu, Hĩm và người yêu trốn ra cẩm Phả, chưa có gì đảm bảo cho họ tìm thấy hạnh phúc vì phu mỏ chẳng dễ dàng gì. Nhưng dù sao đã có sự phản kháng, đã có một hướng đi. Cuộc bỏ trốn của Hĩm và sự lồng lộn tức tối của phía nhà lão nghị ích được Trần Tiêu mô tả một cách hả hê. Lập trường nhân dân, tâm tình nhân dân được nhà văn trao gửi cả vào nhân vật bà xã Vót. Nếu bà lí Bổng theo cũ cho chuyện Hĩm trốn đi với chàng trai trẻ là nhục, là bôi gio bôi nhọ vào mặt mình thì bà xã Vót nói thẳng -.”Bác này câu nệ và cố chấp quá. Cháu nó bỏ một lão già mà đi lấy một anh trai trẻ bằng vai phải lứa thì việc gì đáng dị nghị, đáng chê cười. Bác chỉ biết giữ danh giá cho bác, còn con nó đau, nó khổ, mặc kệ nó ư ? Tôi thì tôi không thể được”. Lập trường nhân dân ở đây là lập trường nhân đạo vì nó quan tâm đến nỗi “đau”, nỗi “khổ” của con người cá nhân. Những thế lực nào đi ngược lại chân lí này ngay lập tức trở thành đối tượng chế giễu của nhà văn.Tình tiết bà lí Bổng và xã Vót đến nhà lão nghị ích trả tiền cheo, cưới là một tình tiết hay, dù nhà văn tả chưa đến mười dòng truyện. Trả tiền xong, “Lúc hai người vừa trở ra, trong nhà ông nghị đã thấy om sòm. Tiếng bà nghị quát tháo, tiếng ông nghị cãi lại dóng một. Vót đắc chí cười một mình”. Tiếng cười của bà xã Vót là một sự thắng thế của tinh thần nhân đạo – một phương diện của chủ nghĩa hiện thực.

3.3. Hiện thực về tầng lớp địa chủ, phong kiến, tư sản và “kẻ giàu” nói chung : ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Nói về mối quan hệ giữa chủ nghĩa hiện thực và chủ nghĩa nhân đạo, Pêtơrôp đã phát triên luận đê ở mặt bên kia của nó. Ong viêt :”Chủ nghĩa nhân đạo quy định thêm một nét chung nữa của chủ nghĩa hiện thực, tồn tại trong quá trình bốn thế kỉ phát triển của nó. Chúng ta ngụ ý nói tới tinh thần phê phán mạnh mẽ đối với thực tại được phân tích…Vi vậy chủ nghĩa hiện thực thế kỉ XX có đặc quyền được gọi là chủ nghĩa hiện thực phê phán…”[54; 101]. Thế kỉ XIX ở Nga và Tây Âu là thế kỉ chứa đựng mâu thuẫn giữa nông nô và địa chủ, giữa công nhân làm thuê và nhà tư bản. Dù là nhà tư bản hay địa chủ thì đều là những ông chủ ăn trên ngồi trước, bóc lột và áp chế người làm thuê. Nhằm mục đích bảo vệ quyền con người, chủ nghĩa hiện thực cần phê phán và chống lại những thế lực giẫm đạp lên con người. Phê phán, vì thế, trở thành một trong hai khuynh hướng , cảm hứng căn bản của chủ nghĩa hiện thực. Khảo sát những chứng liệu trong văn học hiện thực Nga thế kỉ XIX, Gulaiep đã phát hiện ra một vấn đề mang tính nguyên lí : “Văn học hiện thực đã đóng vai trò to lớn trong việc hạ uy tín những ông chủ của cuộc sống, khêu gợi tính cảm căm thù và ghê tởm đối với chúngn[17; 428].

Xã hội Việt Nam trước 1945 là xã hội thực dân nửa phong kiến. Những ông chủ của xã hội này là bộ máy thống trị thực dân và phong kiến. Trong tình hình ấy, khi miêu tả số phận những con người bình thường nhỏ bé, văn học hiện thực Việt Nam không thể né tránh vấn đề phê phán những ông chủ nói trên. Nhà nghiên cứu Hoàng Ngọc Hiến đã đề cập hiện tượng này như sau -.”Căn cứ vào những truyền thống hiện thực trong văn học cổ điển của ta, căn cứ vào những thành tựu tiêu biểu của văn học hiện thực phê phán của ta, theo ý chúng tôi, tính độc đáo dân tộc cửa chủ nghĩa hiện thực Việt Nam chủ yếu thể hiện ở quan điểm phê phán”[26; 26]. Đi sâu vào vấn đề trên phương diện nhân đạo, ông viết tiếp ‘.”Các nhà văn hiện thực của Việt Nam thường xuất phát từ những nhu cầu đạo đức, những khát vọng nhân đạo để lên án những trật tự xã hội lỗi thời, để vạch mặt chỉ tên những đại diện của chúng”[26; 27].

Một số nhà văn Tự lực văn đoàn tuy phần lớn xuất thân từ tầng lớp tư sản, tiểu tư sản nhưng bằng sự nhạy bén tâm hồn và sự trung thực, tự trọng của những người trí thức, họ đã có lúc hướng ngòi bút của mình đến việc phê phán xã hội, tố cáo những ông chủ của cái xã hội ấy. Trong những trường hợp này, những nghệ sĩ nhân đạo đã vượt qua quyền lợi và vị trí xã hội riêng tư của mình để nhìn thẳng vào bức tranh hiện thực cuộc sống bằng lăng kính phân tích, phê phán. Trong thực tế, cảm hứng phê phán của các nhà văn Tự lực văn đoàn không hoàn toàn giống nhau, không tập hợp thành trường phái như văn học hiện thực phê phán. Tuy vậy, chúng ta vẫn có thể “quy hoạch” và khảo sát chúng.

“Từ trước 1930, với tính chất thực dân nửa phong kiến, xã hội Việt Nam vốn đã có hai mâu thuẫn cơ bản : mâu thuẫn giữa dân tộc ta và chủ nghĩa đế quốc xâm lược (mâu thuẫn chủ yếu) và mâu thuẫn giữa quần chúng nhân dân đông đảo, chủ yếu là nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.

Từ 1930 trở đi, những mâu thuẫn đó trở nên hết sức quyết liệt, sâu sắc, toàn diện, đẩy lịch sử Việt Nam chuyển những bước mạnh mẽ, mau lẹ lạ thường”[44; 3-4]. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Trong hai mâu thuẫn trên, văn học Việt Nam (trừ văn học cách mạng) chủ yếu đề cập đến mâu thuẫn thứ hai. Cũng có lúc có nhà văn nào đó nói bóng gió đến mâu thuẫn thứ nhất. Còn nói thẳng thì hình như chỉ có một lần trong Tắt đèn của Ngô Tất Tố:

“Lí trưởng phát gắt :

  • Khai tử rồi cũng phải đóng sưu. Ai bảo nó không chết ngay từ tháng mười năm ngoái.

Chị chàng ngẩn ngơ ra bộ không hiểu, như ý ngờ người ta ăn hiếp mình :

  • Thưa ông, người chết đã gần năm tháng, sao lại còn phải đóng sưu ? Lí trưởng quát:
  • Mày đi mà hỏi ông Tây, tao không biết”.

Khi đề cập đến loại ông chủ thứ hai, với tư cách là người “trong cuộc”, nhà văn Nguyễn Công Hoan đã xác định đó là “quan lại tay sai, cho đến tầng dưới của nó là bọn tổng lí cường hào”[30; 211]. Đó là “một tổ chức đẻ ra bời cái chế độ vô nhân đạo”[30; 196].

Trong một chuyên luận về Tự lực văn đoàn in năm 1990, Phan Cự Đệ đã thay đổi trong thẩm định về văn phái này :nTự lực văn đoàn cũng đả kích gay gắt bọn phong kiến quan liêu ôm chân thực dân p/ĩá/?”[10; 56].

Khái Hưng sinh ra trong một gia đình quan lại nhưng bản thân lại chống quan lại đến cùng. Nói chung, trong tác phẩm của Khái Hửng, quan lại, cường hào, địa chủ là một lũ bị nhà văn dành cho những nét bút trào lộng, vạch trần, với một cảm hứng phê phán rõ rệt, không khoan nhượng. Không đợi đến thời kì Mặt trận Dân chủ mà hồi 1934 tức khi viết Nửa chừng xuân, Khái Hưng đã biểu hiện nhiệt tình phủ định bọn thống trị phong kiến rồi.

Đương nhiên “cảm hứng trong tác phẩm không phải là cái tình cảm được xướng lên, mà phải là cái tình cảm toát ra từ tình huống, từ tính cách và sự miêu rô”[45; 270]. Trong Nửa chừng xuân, Khái Hưng đã nhiều lần để cho nhân vật “con cưng” của mình đương diện với bọn cường hào. Đó là cách nhà văn bố trí tình huống để bọn kia phải phơi bày chân tướng bẩn thỉu của chúng. Đó là lần Mai đứt ruột bán nhà để lấy tiền lo cho em là Huy tiếp tục ăn học. ở trong làng, chỉ có lão Hàn Thanh giàu có là có tiền mua nhà. Khi Mai đến nhà lão Hàn già, lão toan sai đày tớ đuổi cô đi. Nhưng thấy Mai có nhan sắc, lão già hiếu sắc giữ cô lại để ve vãn. Biết cô gái đang lúc túng bấn, Hàn Thanh lợi dụng tình thế ngay. Lão giả vờ thoái thác rằng lão không có sẵn tiền, rồi sau hắn ngọt ngào xa xôi .”Lại còn không hiểu. Nghĩa là cô đứng trông coi ruộng nương bên ấy cho tôi”. Thấy cô gái ngây thơ lúng túng, lão già dê bèn đánh bài ngửa ‘.”Lấy tôi, tôi cho nghìn bạc làm vốn, lại có ruộng có vườn, mà vừa được ở nhà ở cửa như xưa, sung sướng biết bao…”. Sự bất bình đối với cường hào thể hiện rõ trong sự miêu tả của nhà văn : “ông Hàn cười híp mắt ! “ông Hàn làm bộ sửng sốt”, “thấy gái thì híp mắt lại”,” ông Hàn cười tình”, “ông Hàn vừa nói vừa nhích lại chỗ Mai, Mai vô tình ngồi yên, khiến ông Hàn tưởng cô đã chịu liền giở giọng tán…”. Đọc cả chương Bước đầu, ai cũng thấy được thái độ của nhà văn Khái Hưng đối với bọn cường hào trọc phú như thế nào. Một nhà văn lãng mạn thoát li thì không thê có được nhận thức thê này :”ơ làng mà đã dê được yên thân ư ? Bị bọn cường hào hà hiếp, còn khốn đốn bằng mấy mươi bị lưu lạc nơi thành thị”. Văn học hiện thực phê phán từng phanh phui những chuyện bức bối do bọn cường hào sâu mọt gây ra sau bốn lũy tre làng. Chúng không từ một thủ đoạn nào để bần cùng hóa người dân thấp cổ bé miệng. Chúng còn kết bè kết cánh để hạ bệ lẫn nhau nhằm tranh quyền đoạt lợi. Trong tác phẩm Chí Phèo, nhân vật cùng tên bị Bá Kiến sai đi thanh toán đội Tảo – một đối thủ nặng kí nhất của hắn trong làng. Khái Hưng cũng phản ánh hiện thực trong Nửa chừng xuân .”Cách đây dăm năm ông Hàn Thanh vì có chuyện hiềm khích lấy tranh nhau một người vợ lẽ, mà ông ta đã đốt nhà ông ấm Cả , ở bên làng Thượng”. “Thằng đểu…!”, đó là tiếng chửi mà tác giả dành cho Hàn Thanh. Đó cũng là bằng chứng ngôn từ về cảm hứng phê phán của nhà văn. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Theo thời gian, cảm hứng phê phán bọn nhà giàu bóc lột ngày càng ngùn ngụt trong những trang viết của Khái Hưng. Bà ba trong Thừa tự là một nhân vật phản diện. Đó là loại nhân vật mà nguyên mẫu của nó trong cuộc đời là kẻ thù của nhà văn. Trong tác phẩm, nhà văn đã xây dựng nhân vật bằng bút pháp trào lộng, có lúc cường điệu để truyền lây tình cảm ghê ghét đến người đọc. Tinh tiết sau đây là một cảnh thường thấy trong hài kịch. Đó là cảnh đang tiếp SƯ Giáp thì có chị nhà quê lại van lạy khất nợ. Sau một hồi chửi rủa, bà sai một đày tớ gái lực lưỡng tống chị nhà quê tội nghiệp ra khỏi cửa. Đoạn bà quay sang sư Giáp thanh minh :

“Bạch cụ, gặt được thóc nó để nó bán, chứ nó không chịu giả nợ. Nếu không có năm chục thùng thóc của tôi cho vay thì vợ chồng con cái nhà nó đã chết nhăn răng ra rồi còn đâu đến ngày nay”. (Sự thực bà Ba biết chị nhà quê khốn quẫn do phải thang thuốc cho con). Sư Giáp nịnh hót một câu, sau khi chứng kiến cảnh trên :

-“A di đà Phật ! Cụ lớn phúc đức lắm, cụ lớn đã cứu sống bao nhiêu người. Nhưng việc gì cũng phải có giới hạn chứ !”.

Không dừng lại ở đây, Khái Hửng còn bồi tiếp một đòn nữa : tiễn sư Giáp ra cổng, thấy thằng ở đánh con chó, bà Ba mắng ngay •/’Mày ác lắm, mày tàn nhẫn lắm. Mày phải biết nó cũng biết đau như mày, cũng có lỉnh hổn như mày, kiếp trước nó cũng làm người như mày. Mày xử với nó như thế à ? Mày hành hạ nổ thế à ? Chẳng sợ xuống âm phủ, bị cưa đầu, cắt lưỡi, bị vứt vào vạc dầu, rồi kiếp sau lên làm chó thay nó ỉ Người ta phải có- lòng nhân từ, mày hiểu chưa, nhân từ đối với người, đối với súc vật, đối với cả cỏ cây vì cỏ cây cũng có linh hển, kinh Phật dạy thế”.

Vâng, “kinh Phật dạy thế”. Không biết kiếp sau bà Ba thành con gì ?

Cũng như người anh ruột của mình, Trần Tiêu luôn đứng về phía người nông dân để cáo buộc lũ bất lương nơi hương ẩm. ở ông, cảm hứng đúng là “một yếu tố của bản thân nội dung nghệ thuật, của thái độ tư tưởng xúc cảm ở nghệ sĩ đối với thế giới được mô tả “[20; 32]. Ngày nay, chúng ta thấy việc Vũ Ngọc Phan xếp Trần Tiêu vào nhóm “tiểu thuyết phong tục” là có vấn đề. Chúng ta trân trọng những đóng góp khai sơn phá thạch của ông trong phê bình văn học 1900-1945, nhưng chúng ta cũng nên mạnh dạn trả Trần Tiêu về địa hạt tiểu thuyết tả chân. Trần Tiêu có một thời gian dài làm nghề dạy học. Nghề giáo có để lại dấu ấn trong tác phẩm của ông. Đó là sự điềm tĩnh, mực thước trong văn phong. Vì thế, nhận ra cảm hứng của Trần Tiêu là điều không đơn giản. Không một lời tố khổ, ít có những câu cảm thán mạnh, nhưng đọc kĩ, vẫn thấy lóe lên từ Con trâu, Truyện quê chất hóm hỉnh tinh tế và lúc đó, thấy được phần nào cảm hứng của ông. Chính chỗ này xác định vị trí tả chân của Trần Tiêu.

Trong Con trâu, hình ảnh bọn hào mục được mô tả rất lôi thôi. Quanh năm chí tối, chúng chẳng làm được gì cho dân cho nước. Chẳng những dốt nát, chúng còn là một lũ lĩ những tên gàn hủ, tham lam, mất nết. Nếu Trần Tiêu phục cổ hay sa vào chiêm bái phong tục thì tại sao ông lại đặt nhan đề cuốn tiểu thuyết là Con trâu ? Có thể có ai đó sẽ nêu lí lẽ : “Biết đâu ông đặt nhan đề một đằng nhưng miêu tả, phản ánh một nẻo thì sao ?”. Có thể tìm thấy câu trả lời cho vấn đề này ở cách kết thúc tác phẩm và số phận nhân vật chính. Trong trường hợp này, “cảm hứng chủ đạo của tác phẩm chi phối sự thống nhất cảm xúc của hình tượng, chỉ phối hệ thống nghệ thuật biểu cảm’của tác phẩm”[45; 269]. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Đọc kĩ đoạn sau đây, sẽ thấy thái độ của nhà văn trong Con trâu :

“Mỗi khi chước tửu, phường trống nghỉ, phường bát âm nổi lên. Bốn chị ả đào nhà quê ở hai bên giải võ, đi lại múa nhạc sau lưng cụ Tuần. Mặt chị nào chị ấy thườn ra như cán tàn. Hai cánh tay giơ ra ngang phê, bàn tay xòe ra năm ngón như tay ếch. Thân cứng đờ xoay đi xoay lại một chỗ như chiếc trục.

Áy thê mà, thiêu các chị buổi tê sẽ mát vẻ long trọng. Và phân nhiêu người đi xem đều chú mục vào các chị hem các cụ. Họ nhìn các cụ mãi cũng đâm chán, nếu không có bọn “nhà tơ” đến làm vui mắt họ”.

Cái nhìn của Trần Tiêu đâu phải là cái nhìn của người thảnh thơi đi dự hội. Chất trào lộng đã giải thiêng buổi tế. Nhà văn đứng ngoài cuộc nhìn vào một cách chán ngán. Có điều nhà văn tả kĩ quá, tường quá, sinh động quá, khiến không ít người nghĩ Trần Tiêu “chuyên” phong tục. Vậy thì phải hiểu Trần Tiêu chuyên phong tục để đả mặt trái của nó, chứ không phải để thưởng lãm. Trong cái nhìn của Trần Tiêu, bọn hào mục suốt đời chìm ngập trong hủ tục, nay hội này mai đám nọ. Chúng duy trì những thứ vốn rất thanh tao này để vét tiền của làng, bòn rút của cải của nông dân. ở ngoài đình, chúng vì dòng họ mà kèn cựa, cạnh khóe nhau, dìm nhau. Những buổi họp làng kèm ăn uống diễn ra thường xuyên. Trong khi đó, hạn hán không ai lo. Chúng lại bày ra những trò chơi : bài bạc, cô đầu, thuốc phiện. Vòng đời cứ thế trôi đi. Nhìn bọn trẻ con xô đẩy nhau vồ pháo ở sân đình trong buổi tế, Trần Tiêu hình dung sau này lớn lên, chúng sẽ “nhập bọn với các cụ “.

Trong tập Truyện quê, những chuyện tương tự xảy ra đẫy rẫy. Rõ nhất là truyện Ai phải, xét ở phạm vi đề tài và khuynh hướng cảm hứng đang nói. Một ông hàn mới được bát phẩm bị cả đám cựu ghen tị xúm vào xiên xỏ, đòi tăng khao vọng. Ở cái làng ấy, hai tay sừng sỏ là lí Cúc và lí Tảo, đứng đầu hai thế lực chống đối nhau. Lí Tảo gần với “cũ” hơn, nên lí lẽ hùng hồn hơn, thuyết phục hơn. Rốt cuộc, trong vụ xô xát giữa xã cỏn và anh Khoán, chiến thắng đã thuộc về Cỏn (đã nêu và phân tích ở chương một). Lần đầu tiên, có lẽ như thế, Trần Tiêu đã để tư tưởng lộ ra .”Phép vua còn thua lệ làng, mà lệ làng ở như mồm các cụ đặt ra, Khoản chỉ còn cách cúi đầu tuân theo mệnh lệnh”.

Tập truyện vừa Sau lũy tre tỏ ra mạnh mẽ hơn trong việc khắc vẽ chân tướng nhân vật bọn chức dịch thôn quê. vẫn là chuyện xà xẻo công quỹ, chuyện cậy quyền bắt nạt người nhà quê ngây lành. Tình cảm tác giả hiện hình ngay trong lời văn miêu tả :”Cỗ bàn bưng lên. Các ông nốc rượu vào, câu chuyên lại càng hăng hái. Tiếng ồn ào như chợ phiên không còn nghe ra câu gì nữa”.

Đoạn cuối của một buổi ăn khao đã được tả như thế này .”Rượu làm cho người ta điên rồ, tàn bạo thì thuốc phiện, trái lại, làm cho người ta trở nên thâm trầm, hòa nhã. Vì thế ban nãy các cụ nói nhiều thì bây giờ các cụ nói ít, mà nói toàn những câu triết, mà triết lí của các cụ chẳng qua khỏi “dĩnhân vi quý”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Trong văn chương, nhà văn có nhiều cách bộc lộ thái độ của mình đối với đối tượng được miêu tả. Dù vậy, một nhà văn cao tay không bao giờ thể hiện cảm hứng một cách thẳng đuột. Họ phải dùng những thủ pháp nghệ thuật đặc hiệu, trong dùng từ đặt câu, trong vẽ người vẽ cảnh. Bữa tiệc của quan viên thành ra “chợ phiên”. Bọn người vẫn tự xưng là “phụ mẫu” của dân nơi thôn xóm thì bị rượu làm cho “điên rồ, tàn bạo”. Nhà văn đã thể hiện tình cảm, suy nghĩ trong việc thể hiện khía cạnh miêu tả. Tả cảnh ăn uống của bọn quan viên, Trần Tiêu có chủ ý làm bổi bật dục vọng, những ham muốn tầm thường, phàm tục của chúng, bằng những từ ngữ “âm tính” như trên.

Trong thế giới những “ông chủ” thì bên trên bọn kì mục là quan lại. “Bọn tham quan lại nhũng là một trong những ung nhọt ghê tởm nhất của thời đại”[HL; 1831 nên quan trường là một đề tài quen thuộc của văn học hiện thực phê phán. Vũ Trọng Phụng có tri huyện (Vỡ đê), nghị Hách (Giông tố); Nguyễn Công Hoan có một loạt những tên tri phủ trong Tắt lửa lòng, Lá ngọc cành vàng, nghị Lại trong Bước đường cùng; Ngô Tất Tố nổi tiếng với hai điển hình trong Tắt đèn: tri phủ Tư Ân và nghị Quế. Một cách lặng lẽ, Tự lực văn đoàn cũng góp vào “bảo tàng” quan lại vài ông quan khá độc đáo.

Trong Tắt đèn, khi tri phủ Tư Ân về làng Đông Xá để đốc thuế, “phó lí, trương tuần cũng như tộc biểu, tuần phu, tuy không phải làm việc gì, ai này vẫn xơ tóc gáy chạy xuôi chạy ngược. Phó hội, thủ quỹ đối với thư kí, chưởng bạ, mỗi người khoanh tay đứng dựa mỗi cột, dáng điệu len lén như rắn mồng năm. Chánh tổng ngồi ngáp vặt cách bức câu lơn, con ruồi đậu mép không muốn đuổi. Chánh hội luôn tay giở sổ thuế, hai mắt vãn lấm lết trông đi đằng nào”. Khái Hưng cũng không chịu thua kém đồng nghiệp trong hiểu biết về quan trường. Nhân vật huyện Viết trong tiểu thuyết Gia đình đi kinh lí cũng gây ra những cảnh tương tự : viên lục sự thì “quát hỏi”, huyện Viết thì “thét mắng”. Trước “phái bộ” ấy, “Lí trưởng run sợ, khúm núm đi dẫn đường”. Trong xã hội cũ, quan lớn là “đèn giời” CÓ thê soi thâu mọi chuyện nhân thế (?!). Ấy thế mà, thoáng thấy bóng “đèn giời”, “Bọn trẻ cưỡi trâu về nhà, nghe tiếng quát tháo nhảy vội xuống đất đứng nép vào bờ tre. Một đứa sợ quá đánh bừa trâu xuống ruộng sâu, ngã lấm ướt cả quần áo. Một người con gái kinh hoảng bỏ trâu ở giữa đường, cắm đầu chạy biệt”.

Ông tri huyện tên Việt quyền uy này là người như thế nào? Đó là một ông quan “toàn diện” vì những việc ông làm có ai biết đâu. Của đáng tội, “Buổi đầu, khi nghe bọn thơ lại xui chàng làm một việc bất nhân, thì chàng bứt rứt, áy náy, đo đắn rụt rè, có lần hối hận suốt đêm không nhắm mắt ngủ được”. Theo năm tháng, cuộc sống nha môn đã đào luyện ở y những “phẩm chất” mới mà y lấy làm hài lòng với bản thân lắm -.”Ngồi trong ô tô, Viết cười một mình. Chàng không còn hổ thẹn với lương tâm như thời mới xuất chính nữa. Tàn ác lâu ngày đã thành thói quen…Nhưng dần dần chàng đã trở nên “can đảm” và giữ được “trơ như đá, vững như đồng” khi đứng trước những cảnh thương tâm, khi có những hành vi dã man, bạo ngược. Đến nỗi hễ thấy bạn đồng nghiệp nào hơi gìn giữ, hơi có lòng liêm sĩ là chàng liệt ngay vào hạng giả đạo đức”.

Viết đi vào quan nghiệp với động cơ trả thù chú ruột. Chả là ông chú ỷ mình là chánh hội lấn át bố mẹ Viết, “chiếm được phần gia tài to hơn”. Theo lời khuyên của bố mẹ, vừa đỗ thành chung, Viết thi ngay trường pháp chính. Thi ra chiếm đỗ đầu, sau ba năm làm tham tá tòa sứ, Viết được bổ tri huyện. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Lương tri huyện của Viết mỗi tháng hai trăm bạc. Để chóng giàu, Viết thi hành thủ đoạn xui người ta kiện nhau để cho người ta khánh kiệt. Hậu quả là họ mất ruộng vào tay Viết. Thủ đoạn này cũng là ngón sở trường của nghị Lại trong Bước đường cùng.

Gia đình được viết năm 1936, in năm 1937. Truyện ngắn Đồng hào có ma được Nguyễn Công Hoan sáng tác vào tháng 2/1937. Do đó không thể nói Khái Hưng mô phỏng Nguyễn Công Hoan về motif truyện. Huyện Hĩnh trong Đồng hào có ma đã dùng giày dậm lên cướp không của chị Nuôi đồng hào đôi. Chị này bị trộm lấy hết tài sản phải đi trình quan. Gia tài chị còn năm đồng hào đôi buộc trong dải yếm. Đó cũng là năm hào chị mang đi để “vi thiêng” quan. Nhưng khi thấy quan “oai vệ quá”, chị sợ, lóng cóng, cái nút xổ ra, cả món tiền rơi xuống gạch. Người đàn bà tìm mãi cũng chỉ được bốn hào đôi. Đồng còn lại, chị chịu, không thấy đâu cả. Có bốn hào trình quan, tất sẽ bị quan chửi, nghĩ vậy, chị Nuôi đau khổ vái quan trở về. Người đàn bà khốn khổ không hề biết “đồng hào có ma” ấy nằm dưới giày quan. Trước đó, Khái Hưng đã kể (thông qua hồi ức của huyện Viết) chuyện ông quan Nguyễn Phò “lấy chân chặn hai hào đánh rơi của một chị nhà quê vào hầu, rồi chờ khi chị này ra, cúi xuống nhặt bỏ túi”.

“Vào cửa quan” là một mô-típ chi tiết được các nhà văn hiện thực ưa thích. Khái Hưng đã hòa vào “mạng cảm hứng” ấy. Như một thông lệ, vào cửa quan thì phải có một món tiền “lễ quan”. Vì thế, hồi mới xuất chính, An (Gia đình) đã “cầm cái thước gạt (tiền – ĐNH) mạnh vào ngăn kéo, rồi vội vàng đóng sập lại”. Nhưng cái “ghê tởm”, “ngớ ngẩn” ấy ở An liệu được duy trì bao lâu vì “chân lí” nghề quan là “Người thật thà như thế, làm quan sao được”.

Doãn trong Hai vẻ đẹp cũng nhận thấy tiền mà anh ăn học lâu nay là tiền “chỗ cha nuôi chàng làm quan”. Anh Pha nhà quê vào cửa quan lớ ngớ bị lính vả vào mồm, lôi cổ ra ngoài. Cảnh đánh người vô tội ấy cũng có trong Đôi bạn của Nhất Linh. Đó là “cảnh công đường khi ông Tuần còn làm tri phủ. Một hôm vào công đường chàng (Dũng – ĐNH) sợ hãi ngừng lại: cha chàng đang đập đầu một người nhà quê vào tường và tát luôn mấy cái nữa mặc dầu má và trán người kia đã ướt đẫm máu”. Hình ảnh tàn bạo này xảy ra mười mấy năm về trước nhưng Dũng “vẫn còn thấy rõ trước mắt, tuy chàng vẫn cố hết sức quên đi”.

Chế giễu, phê phán bọn quan lại, các nhà văn không dừng lại ở việc miêu tả hành tung của chúng nơi nha môn, mà còn còn phanh phui , đả kích sinh hoạt đời tư nhố nhăng, xằng bậy của chúng. Đó là những buổi bàn đèn, tổ tôm triền miên. Đó còn là những cuộc nhảy đầm, gặp gỡ mà chủ yếu là để chim nhau, bêu xấu nhau. Trong các nhà văn Tự lực văn đoàn, Khái Hưng là người am tường chuyện này nhất và miếu tả rất thành công trong Gia đình và Thoát li.

Bữa tiệc có khiêu vũ ở nhà kĩ sư Tòng (Gia đình), người ta dèm pha nhau nhiều hơn là nhảy với nhau.

  • “Nhảy xoàng thế à ?
  • Nó giở mãi lễ phép của nó ra, trông chướng quá.
  • Bà chị có định theo đạo Thiên Chúa không ? « ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Cả bàn phá lên cười. Bà Linh không hiểu sao người ta lại cười, đưa mắt nhìn từ chồng cho chí đám bạn chồng”.

Phòng khiêu vũ tràn ngập tiếng cười chế nhạo. Cho đến khi mệt nhoài vì đùa bỡn, họ giải tán.

Những buổi đánh tổ tôm là những dịp để sát phạt bài bạc và báo thù chuyện đời tư. Nhà bà phán Trinh (Thoát lĩ) là một trong những nơi tụ họp của cái “xã hội” lớp trên ở Ninh Giang. Những người lui tới đó đã quá biết nhau. Thế nhưng họ đi lại với nhau có phải vì hợp nhau, mến nhau không ? Đọc vài trang tả cảnh đánh tổ tôm, ta thấy những từ ngữ, câu sau đây : “vẫn bằng mặt mà chẳng bằng lòng”, “ghét”, “thường tỏ ý khinh”, “lấy thế làm tức lắm”, “nói một câu thấm thìa”, “đánh trống lảng”, “phỉnh”, “vờ kinh ngạc”, “đó là một cách chọc tức ghê gớm lắm, có thể gây ra một cuộc cãi lộn và ẩu đả nếu hai kẻ đương đầu là hai người trẻ tuổi hung hăng”, “chẳng chịu bỏ qua một chút nào”, “nguýt dài”.

Cuộc tổ tôm cũng kéo dài tới một giờ sáng mới mãn. Bà phán Trinh chủ nhà tiễn khách ra về. Tuy thua bốn đồng rưỡi nhưng bà vẫn vui vì bà đã làm cho khách khứa tưởng rằng bà thương con chồng như một từ mẫu !

Nhận xét một vài ưu điểm của Tự lực văn đoàn, Phan Cự Đệ có nêu một ý tưởng như sau :Tự lực văn đoàn chủ trương cải cách xã hội một cách hợp pháp, họ không đánh thẳng vào kẻ thù số một của dân tộc, tuy nhiên, lức có điều kiện, họ cũng đả kích một cách bóng gió, xa xôi bọn thực dân Pháp?”[10; 57]. Rất tiếc, sau luận cứ này, nhà nghiên cứu lại đưa ra những luận chứng, dẫn chứng về mặt báo chí thuần túy như tranh biếm họa của Lí Toét, Nguyễn Gia Trí, Tô Ngọc Vân trên các báo Phong hóa, Ngày nay, chứ không “bảo chứng” ý kiến bằng văn học. Chúng tôi xin minh chứng cho ý kiến của nhà nghiên cứu Phan Cự Đệ bằng tiểu thuyết của Khái Hưng. Trong Gia đình, Khái Hưng đã trực tiếp chế nhạo một tên công sứ. Tên này sẩn sàng bỏ qua những vi phạm, thói tật của bọn quan lại tay chân miễn là những tên này tích cực đầu độc dân đen. Hắn nói thẳng với một tri huyện .”Ông tốt lắm, ông thường đứng đầu bảng tiêu thụ rượu. Điều ây đủ tỏ răng ông chăm chỉ bãi rượu lậu. Ong cứ làm hét bôn phận, báo chí họ nói mặc /ỉợ”.Thế là đã rõ. Một trong những tội ác điển hình của bọn thực dân thống trị đã bị Khái Hưng vạch trần.

3.4. Hiện thực về sinh hoạt bình dân và phong cảnh quê hương : ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Ở các phần trước, khi trình bày yếu tố hiện thực trong việc phản ánh những phạm vi đời sống khác nhau, chừng mực nào đó chúng tôi đã đề cập đến những sinh hoạt đời thường.

Ở mục này, chúng tôi tập trung làm rõ thêm những yếu tố hiện thực về bức tranh sinh hoạt thường nhật của người dân Việt Nam được mô tả trong văn xuôi Tự lực văn đoàn. Dĩ nhiên những gì mà chúng tôi đã trình bày trong các phần mục trước đây sẽ không được nói tới trong mục 2.5 này nữa.

Công bằng mà nói Tự lực văn đoàn có lúc thoát li, chối bỏ thực tại, hướng tới một tương lai tươi đẹp theo trí tưởng tượng. Nhưng như thế không có nghĩa Tự lực văn đoàn bay lơ lửng trên thực tại, bị nhấc hoàn toàn ra khỏi thực tại. Bởi vì những nỗi niềm kia là của những con người đang sống trong thực tại, mang trong nó bản sắc của thời đại. Cũng vì thế mà sinh hoạt đời thường đã được tái hiện, tái tạo sinh động trên những trang văn của Tự lực văn đoàn.

Có một điều nữa cũng phải nói thêm là chúng tôi không bàn đến sinh hoạt của các tầng lớp trên, vì lẽ Tự lực văn đoàn rất sở trường về vấn đề này. Chúng tôi quan tâm đến sinh hoạt bình dân, sinh hoạt của những người cần lao. Đề cập và phân tích kiểu sinh hoạt này, chúng tôi đánh giá được độ chân thực trong sự phản ánh, vừa nhận xét cảm quan lịch sử của nhà văn.

Mở trang đầu của tiểu thuyết Con trâu, độc giả gặp ngay cảnh chiều xuống nơi thôn dã lam lũ, trẻ lùa trâu về .”Ánh đỏ dịu dần, đã đổi sang màu tím và tím nhạt…Một ngôi sao lấp lánh trên màn trời lam tối. Vài con chim bay. Chuông chùa thong thả buông rơi từng giọt buồn vào trong khoảng im lặng, một thứ yên lặng thiêng liêng của cảnh hoàng hôn nơi thôn dã”. Có thể nhà văn không đứng ở điểm nhìn của người lao động khi miêu tả, nhưng không ai có thể nói cảnh được miêu tả là không phải của đời sống thực.

Cũng như những người nông dân khác trong làng, nhà xã Chính lâm vào cảnh đói sau mấy năm đại hạn, úng thủy, bão giông, sâu bọ. Trước cảnh ấy, vợ xã Chính liều đi buôn thóc ở làng xa. Chiều tối mùa đông, gió bấc thổi mạnh, tiếng vạc kêu inh ỏi. Bác xã Chính bồn chồn vì vợ đi chợ làng xã chưa về. Rồi không thắng nổi cơn sốt ruột, xã Chính đi đón vợ ‘.”Đường cái vắng tanh. Trời mỗi lúc một tối. Từng cơn gió bấc thổi. Những gốc tre cọ vào nhau cọt kẹt. Chốc chốc lại một tiếng vạc kêu bất thình lình như thét, như dọa nạt. Bác rùng mình, nghĩ đến những nỗi ghê sợ. Bác rảo bước gần như chạy và càu nhàu trong mồm :”Hừ ĩ Người đâu lại có người liều lĩnh, dại dột đến thế. Không còn biết nguy hiểm là gì nữa!”. Những cảnh khổ sở về những con người cất đầu lên không nổi như thế này chúng ta vẫn thường thấy trong tác phẩm của các nhà văn hiện thực.

Cảnh mùa gặt trong truyện ngắn Những ngày mới của Thạch Lam, tiểu thuyết Con đường sáng của Hoàng Đạo rất thực, không chút tồ hồng, thêu vẽ.

Nhất Linh – người quan tâm đến những vấn đề xã hội rộng lớn – cũng là người nhìn thấy rất rõ những sinh hoạt cụ thể của người dân ‘.”Một người gánh nước đi ngang qua, nước bắn vào bàn chân làm chàng giật mình. Chàng nhìn cái nền gạch long lở ướt sũng nước, nhìn những làn khói tỏa ra ở các bếp hỏa lò ra, lẩm bẩm :

– Ở thế này chỉ vài tháng là ho lao”. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

( Nghèo – trích tập Thế rồi một buổi chiều)

Cảnh trên đây rất giống cảnh lấy nước trong sống mòn của Nam Cao, đó là xóm ngoại ô, nơi Thứ và San dọn đến ở với gia đình nhà thằng Mô. Trống mái là tác phẩm nói nhiều về những chuyện vui thú của những người thành phố lắm tiền nhiều của. Song những đoạn miêu tả về cảnh sống của những người lao động miền biển lại thật như nó vốn có. Đây là cảnh chuẩn bị ra khơi : “Bỗng nàng để ý tới mấy người lom khom từ trong một táp lều chui ra, vai vác chèo, tay ôm lưới. Nàng vội đến gần xem, thì đó là hai cái mái tranh sơ sài ghép lại với nhau, hồi sau vít kín, còn hồi trước làm của ra vào. Hiền tò mò cúi nhìn vào trong. Trên cái chõng tre, bó chiếu để ngổn ngang trên một cái nồi đồng to hết cơm, và một cái mâm gỗ tròn trên đặt lỏng chỏng những đĩa bát rách. Một người cởi trần, da bóng như đồng mắt cua, đang quỳ xuống cát, xếp lưới vào cái sọt đan thưa. Ngay canh lều, hai cái mảng lớn nằm gối đầu lên cái chống. Trên một cái, một người đang kì cạch lấy dao tháo cái chốt ở đằng lái”.

Đọc Nửa chừng xuân, người đọc được biết về làng Thụy Khuê nổi tiếng – một góc ngoại ô của Hà Nội thời Pháp thuộc ‘.”Về buổi chiêu vào giờ tan học và giờ đóng cửa các nhà máy, các cửa hàng, người ta trông thấy từ đền Quan Thánh tới sở thuộc da rải rác từng tốp bốn năm người hay chín mười người hoặc đi chân, hoặc đi xe đạp. Màu trắng, màu chàm, màu nâu của bộ quần áo xen lẫn nhau, và tiếng Pháp tiếng Việt ồn ào lẫn tiếng cười khanh khách. Đó là bọn học sinh với bọn lao động đi về làng Thụy Khuê xưa nay vẫn là nơi ăn trọ của hai hạng người: cắp sách và làm thợ. Làng Thụy Khuê sáu, bảy năm về trước không giống hệt làng Thụy Khuê ngày nay, vì ngày nay cái trại trồng hoa của thành phố về phía đường bên hồ đã làm mất hẳn cái đặc sắc của làng : cái đặc sắc ây là cái hố rác khổng lồ về mùa hè bốc mùi ô uế rất nồng nực khó chịu”. Những gì đọc được từ những dòng văn này có thể trở thành kiến thức xã hội học, Hà Nội học một cách nghiêm chỉnh.

Hồn bướm mơ tiên mơ màng là vậy nhưng cũng không bỏ qua một cảnh gặt lúa ngày mùa “Hai bên đường, lúa chiêm vàng Ối. Từng bọn vừa đàn ông, đàn bà, con gái, cúi khom lưng cầm liềm nhỏ cắt lúa trông dáng vội vàng chăm chỉ lắm, như sợ trời sắp tối không đủ thời giờ mà gặt xong thửa ruộng. Một bọn nữa phần đông lực lường người thì lấy sức rít dây lạt bó các lượm lúa lại thành từng bó, người thì cắm đòn xóc xuống đất đứng bắt chéo chân, nhìn vơ vẩn”.

Tái hiện những bức tranh sinh hoạt đời thường, Tự lực văn đoàn cũng họa lại những bức tranh phong cảnh quê hương đẹp đẽ, hữu tình. Tinh hình này cũng diễn ra bên thơ mới như Nguyễn Hoành Khung nói :”VÌ bất lực, khiếp nhược, không đủ dũng khí tham gia cuộc đấu tranh giải phóng đất nước, người thi sĩ thơ mới trút tình yêu nước trong sự gắn bó với phong cảnh thiên nhiên của quê hương, đất nước” [44; 125].

Chùa Long Giáng – một ngôi chùa cổ kính đẹp nức tiếng xứ Bắc – được Khái Hưng phác họa dăm ba nét những rất sắc sảo, thấm đẫm màu thiền –

.”Trong làn không khí yên tĩnh, tiếng chuông thong thả ngân nga, như đem mùi thiền làm tăng vẻ đẹp cảnh thiên nhiên. Lá cây rung động, ngọn khói thướt tha, bông lúa sột soạt, như cảm tiếng gọi của Mâu Ni muốn theo về nơi hư không tịch mịch”. Một bức tranh đẹp như chính sự vật trong đời thực chứ không phải do gia công, thêm thắt. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Cũng chính Khái Hưng đã đưa thắng cảnh sầm Sơn vào văn học. Những ai từng ao ước được một lần đến vùng biển quyến rũ này có thể thấy thỏa mãn phẫn nào với đoạn văn miêu tả dưới đây “Một đám mây đen viền vàng vừa che khuất mặt trăng. Rặng phi lao ngăn bãi cát với những ruộng lúa xóm Sơn, lờ mờ in hình lên nền trời xám nhạt, để lộ ở khoảng giữa những thân cây thưa lá, một làn nước biển lấp lánh gạn vàng lăn tăn chạy đuổi nhau. Gió mạnh thổi lạt sạt hàng lá gối to bản xếp chen nhau thành cái bình phong trước xóm và uốn bạt ngọn phi lao khiến ta có cái ảo tưởng rằng chúng vẫn có cái hình cong hoặc nghiêng tự nhiên, vì trong ánh sáng lù mù, ta như thấy đám lá mỏng mảnh đứng im tăm táp” (tiểu thuyết Trống mái).

Miền trung du cũng có những thắng cảnh đầy tự hào của mình. Tam Đảo nằm trong số này. Phải đến đây biết bao lần, yêu quê hương biết chừng nào mới có thế tả hay và đúng như thế này : “Mặt trời đã lên cao, điểm ánh nắng lên dãy núi Tam Đảo như vẽ chỗ tím, chỗ xanh. Một đám mây trắng nhỏ vờn ngang sườn núi như làn khói nhạt. Trên một ngọn đồi phản chiếu ánh vàng, lơ thơ mấy cây thông, lá xanh đen xòe ra như những cái tàn cắm trên lưng con rùa” (tiểu thuyết Nửa chừng xuân).

Không cứ gì thắng cảnh, thắng tích, một cảnh sắc bình thường của quê hương Việt Nam khi in bóng vào trong văn Tự lực văn đoàn đều có hồn, có sức lay động tâm khảm người đọc -.”Dũng cũng làm như chưa trông thây Loan; chàng đứng dựa vào hàng rào nứa yên lặng nhìn những luống cải, luống rau vuông vẩn như những miếng thảm xanh. Đất khô và trắng; chỗ nào mới tưới xong, đất nâu sẫm lại, và trên lá cải, lá mùi, những giọt nước còn long lanh. Một cơn gió nhẹ lướt qua mặt đất, các lá rau non ướt nước rung động trước gió như muốn tỏ cái vui sướng được mát mẻ sau một ngày mong đợi khô khan” (tiểu thuyết Đôi bạn).

Trần Tiêu tả một góc làng quê rất đỗi bình dị, một làng quê đi đâu trên đất Bắc ta cũng gặp .”Chung quanh làng, cánh đồng vàng hoe. Xa xa, ẩn dưới cây đa cỗi, một quán ngói cũ nhô lên khỏi mặt lúa. Xa nữa, các lũy tre làng lân cận liên tiếp nhau thành một cái dải xanh rì. Trời lam biếc. Những đám mây trắng đuổi nhau không ngừng. Mỗi khi một đám mây bay ngang qua mặt trời, một khoảng bóng rợp lướt trên đồng lúa như một chiếc màng mỏng” (tiểu thuyết Con trâu).

Ngay cả những bức tranh nhuốm màu tâm cảnh qua cái nhìn của người chinh phu thì cảnh ấy cũng rất dân tộc, rất linh hoạt nhờ bóng dáng sinh hoạt dầu dãi của con người. Cảnh chiều trên sông miền sơn cước :”Vể phía tay phải, núi Tản Viên đã bắt đầu mờ mờ trong sương. Những bãi cát nổi trên mặt sông lúc nãy nhuộm vàng dưới ánh chiều tà lướt qua, bây giờ đã biến ra sắc trắng dịu. Trong một vài chiếc thuyền, cắm sào đậu bên cạnh bãi, ánh lửa thổi cơm chiều thấp thoáng giãi vàng trên mặt nước đen” (tiểu thuyết Đoạn tuyệt).

Tự lực văn đoàn có nhiều trang văn trong sáng, dịu êm, ở đó quê hương đất nước hiện lên hồn hậu, đọc rất bồi hồi. Nhiều người đã thuộc những câu văn ấy, nhớ như in những trang văn ấy, lâu dần thành một thứ hành trang văn hóa, đạo đức thực sự. Từ mùi hương hoàng lan thoang thoảng trong văn Thạch Lam cho đến những con đường làng trong văn Trần Tiêu, ngôi chùa cổ đẹp như mơ trong tác phẩm Khái Hưng, tất cả những văn liệu đó đã nuôi dưỡng tâm hồn của biết bao người. Có thể những cảnh ấy vắng bóng cuộc đấu tranh dân tộc, giai cấp, giành giật mưu sinh nhưng nó vẫn là bầu trời, mặt đất Việt Nam tươi đẹp. Ngày nay, nhìn nhận Tự lực văn đoàn với cái nhìn lịch sử thì nhiều đoạn, trang văn tả phong cảnh của tổ chức văn học này có thể trích ra làm văn mẫu về một số phương diện như kĩ năng miêu tả, giáo dục tình yêu quê hương xứ sở bằng thẩm mĩ. Khi tả cảnh đẹp quê hương, có phải Tự lực văn đoàn đã tô hồng hiện thực ? Đây là một câu hỏi hóc búa nhưng không phải có câu trả lời. Tự lực văn đoàn vẫn có khả năng nhìn thẳng vào hiện thực cuộc sống tối tăm lúc bấy giờ nhưng cảnh đẹp thì thì phải tả đẹp chứ biết sao. Vô lẽ Tự lực văn đoàn phải bôi đen phong cảnh quê hương đất nước thì mới hiện thực ? Ca dao cổ phản ánh nỗi niềm của người bình dân bằng những câu buồn tê tái, nhưng trong kho tàng ca dao vẫn có nhiều bài, câu miêu tả cảnh đẹp đất nước với niềm tự hào vô biên. ( Luận văn: Hiện thực về xã hội – con người thời pháp thuộc )

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537