Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay

Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay dưới đây được hoàn thành với mục đích giải quyết vấn đề chính sách về bảo hiểm xã hội. Bảo hiểm xã hội là một trong những chính sách mà nhà nước ban hành để đảm bảo quyền lợi cho nhân dân trong mọi tầng lớp. Vì vậy, vấn đề này luôn được quan tâm và được trình bày cụ thể thông qua các đề tài luận văn thạc sĩ. Đề tài luận văn thạc sĩ Chế độ chính sách về bảo hiểm xã hội qua từng thời kỳ phát triển của đất nước sau đây sẽ giải đáp cho các bạn, cùng tham khảo và cảm nhận nhé.

1. Thực trạng về thu bảo hiểm xã hội:

1.1. Về chính sách thu bảo hiểm xã hội:

– Đối tượng thu bảo hiểm xã hội

+ Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp Nhà nước;

+ Người lao động làm việc trong các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế ngoài quốc doanh có sử dụng 10 lao động trở lên;

+ Người lao động Việt Nam làm việc trong các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, khu chế xuất, khu công nghiệp, trong các cơ quan, tổ chức nước ngoài hoặc tổ chức quốc tế tại Việt Nam, trừ trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt nam ký kết hoặc tham gia có quy định khác;

+ Người lao động làm việc trong các tổ chức kinh doanh dịch vụ thuộc các cơ quan hành chính, sự nghiệp, cơ quan Đảng, đoàn thể;

+ Người lao động làm việc trong doanh nghiệp, tổ chức dịch vụ lực lượng vũ trang;

+ Người giữ chức vụ dân cử, bầu cử, làm việc trong các cơ quan hành chính sự nghiệp, làm việc trong các cơ quan Đảng, đoàn thể từ trung ương đến cấp huyện;

+ Người lao động và chuyên gia là công dân Việt Nam đi làm có thời hạn ở nước ngoài.

+ Người lao động làm việc trong các cơ sở xã hội hoá ngoài công lập thuộc các ngành: Y tế, Giáo dục, Văn hoá và thể thao;

+ Sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, hạ sĩ quan, binh sĩ Quân đội và Công an nhân dân;

+ Cán bộ xã, phường, thị trấn; ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )

  • Quỹ bảo hiểm xã hội: quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các nguồn sau đây:

+ Người sử dụng lao động đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những người tham gia bảo hiểm xã hội trong đơn vị, trong đó có 10% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp. Đối với người lao động đi làm có thời hạn ở nước ngoài đóng bằng 10% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất. Đối với cán bộ xã, ngân sách Nhà nước đóng bằng 10% so với trợ cấp của cán bộ xã để chi các chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, tiền mai táng. Bộ Quốc phòng, Bộ Công an đóng bằng 15% so với tổng quỹ tiền lương của những quân nhân, công an nhân dân hưởng lương, trong đó 10% để chi các chế độ hưu trí, tử tuất và 5% để chi các chế độ ốm đau, thai sản, tai nạn lao động- bệnh nghề nghiệp, đóng bằng 2% mức lương tối thiểu theo tổng số quân nhân, công an nhân dân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí để chi 2 chế độ trợcấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp và chế độ tử tuất.

+ Người lao động, quân nhân, công an nhân dân hưởng lương đóng 5% trên tổng quỹ lương cho quỹ BHXH để chi 2 chế độ hưu trí và tử tuất; cán bộ xã đóng 5% trên mức sinh hoạt phí để chi các chế độ trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, tiền mai táng.

+ Nhà nước đóng và hỗ trợ thêm để đảm bảo thực hiện các chế độ bảo hiểm xã hội đối với người lao động.

+ Đầu tư sinh lời.

+ Các nguồn thu khác.

Điều lệ bảo hiểm xã hội cũng quy định:

+ Tiền lương, trợ cấp tháng làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội bao gồm lương theo ngạch bậc, quân hàm, chức vụ và các khoản phụ cấp khu vực, đắt đỏ, chức vụ. Thâm niên, hệ số chênh lêch bảo lưu (nếu có). Đối với cán bộ xã căn cứ theo mức trợ cấp sinh hoạt hàng tháng; quân nhân, công an nhân dân thuộc diện hưởng sinh hoạt phí căn cứ theo mức tiền lương tối thiểu.

+ Ngân sách Nhà nước chuyển vào quỹ bảo hiểm xã hội số tiền đủ chi các chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, tử tuất, bảo hiểm y tế của những người được hưởng bảo hiểm xã hội trước ngày thi hành Điều lệ bảo hiểm xã hội và hỗ trợ để chi lương hưu cho người lao động thuộc khu vực Nhà nước về hưu kể từ ngày thi hành Điều lệ bảo hiểm xã hội.

+ Việc tổ chức thu bảo hiểm xã hội do tổ chức Bảo hiểm xã hội Việt Nam thực hiện.

+ Quỹ bảo hiểm xã hội được quản lý tập trung thống nhất theo chế độ tài chính của Nhà nước, hạch toán độc lập và được Nhà nước bảo hộ. Quỹ bảo hiểm xã hội được thực hiện các biện pháp để bảo tồn và tăng trưởng theo quy định của Chính phủ.

Có thể bạn quan tâm:

DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ – BẢNG GIÁ

1.2. Tình hình về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và thu bảo hiểm xã hội: ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )

Về thực trạng đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội bao gồm: số lượng người tham gia, thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bình quân, tiền lương bình quân làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội (theo tổng số và số người có thời gian tham gia trước 1/1995), số lao động này được phân loại theo các độ tuổi, thể hiện cụ thể theo các biểu bảng sau:

Ghi chú: Tiền thu bảo hiểm xã hội và tiền lương tính theo mức tiền lương tối thiểu từng thời điểm ( năm 1996 mức 120.000 đồng; năm 1997 đến 1998 mức 144.000 đồng; năm 2000 mức 180.000 đồng; năm 2001 mức 210.000 đồng).

Qua số liệu thực trạng về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội và tình hình tham gia bảo hiểm xã hội tại các biểu 1,2,3 nêu trên, đề tài có những nhận xét như sau:

  • Đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội kể từ 1/1995 đến năm 2002 tăng khá nhanh, từ 2,85 triệu người năm 1995 tăng lên 4,37 triệu người năm 2001, trong thời gian này số giảm do nghỉ hưu và nghỉ hưởng trợ cấp một lần là 0, 75 triệu người. Như vậy số đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tăng tuyệt đối là 2,27 triệu người ( bình quân 324 nghìn người/năm), đây là yếu tố cơ bản để tăng thu và tăng quỹ bảo hiểm xã hội, đảm bảo cân đối lâu dài về quỹ.
  • Tỷ lệ cơ cấu về giới tính tương đối ngang nhau (nam 51,4%, nữ 48,6%), điều này ảnh hưởng lớn đến quỹ bảo hiểm xã hội vì nữ tuổi nghỉ hưu sớm hơn nam 5 tuổi.
  • Số thu bảo hiểm xã hội tăng bình quân hàng năm 630 tỷ đồng do đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội tăng và mức tiền lương tối thiểu tăng (tiền lương bình quân làm căn cứ đóng bảo hiểm xã hội tăng). Với xu hướng này giúp cho số thu bảo hiểm xã hội hàng năm tăng về số tuyệt đối. Tuy nhiên, số chi bảo hiểm xã hội từ quỹ cũng tăng do việc tăng tiền lương tối thiểu, nhưng hiện tại do số người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng từ quỹ chưa nhiều, nên trong những năm đầu số dư của quỹ có tốc độ tăng nhanh, đến khi có nhiều người hưởng chế độ hàng tháng từ quỹ thì đây là vấn đề rất khó khăn cho việc đảm bảo cân đối quỹ bảo hiểm xã hội.
  • Số người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1995 giảm dần qua các năm do đủ điều kiện nghỉ hưu và nghỉ việc hưởng chế độ trợ cấp một lần, bình quân giảm 109,5 nghìn người/năm (tương đương mức giảm 4%/năm); đối tượng này phụ thuộc vào điều kiện tuổi đời (theo nhóm độ tuổi chia ra lao động nam và lao động nữ)
  • Về thời gian tham gia bảo hiểm xã hội, tính đến năm 2001 bình quân chung là 13,27 năm/người, nhưng số người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1995 tính đến thời điểm này bình quân đã là 21,32 năm/người. Như vậy số người nghỉ hưu những năm từ nay đến năm 2012 vẫn chủ yếu thuộc loại đối tượng tham gia trước 1/1995.
  • Về độ tuổi của người lao động tham gia bảo hiểm xã hội bình quân chung là 34,68 tuổi, chủ yếu ở độ tuổi 25 đến 40 tuổi. Riêng đối với người có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1995 có tuổi đời cao hơn, bình quân 44,5 tuổi, tập trung trong khoảng độ tuổi từ 35 đến 47 tuổi. Với tháp tuổi này dự báo cho chúng ta biết số người nghỉ hưu sẽ tập trung chủ yếu vào các năm 2010 đến 2017 đối với các đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội trước 1/1995.

Với việc đánh giá thực trạng tham gia bảo hiểm xã hội và xác định các số liệu thống kê về đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội nêu trên là căn cứ chủ yếu để xác định các tiêu thức liên quan đến số người nghỉ hưu hàng năm, phục vụ cho tính toán xác định số tiền ngân sách Nhà nước chuyển cho quỹ bảo hiểm xã hội hàng năm và cân đối quỹ bảo hiểm xã hội được chính xác.

2. Thực trạng về chi từ quỹ bảo hiểm xã hội.

2.1. Những nội dung chi từ quỹ bảo hiểm xã hội : ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )

  • Những nội dung chi từ quỹ bảo hiểm xã hội:
  • Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội gồm:

+ Chế độ ốm đau;

+ Chế độ thai sản;

+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp (trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp chết do tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, trợ cấp người phục vụ, trợ cấp hỗ trợ sinh hoạt);

+ Chế độ hưu trí (lương hưu hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp trên 30 năm, trợ cấp hàng tháng đối với công nhân cao su);

+ Chế độ trợ cấp mất sức lao động hàng tháng;

+ Chế độ tử tuất ( trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, tiền mai táng);

+ Chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức;

  • Chi bảo hiểm y tế cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng (mức 3% lương hưu, trợ cấp).
  • Lệ phí cho công tác chi trả (0,52% so với tổng số chi trả);
  • Chi quản lý (năm 2001 và 2002 với mức 4% so với tổng số thu bảo hiểm xã hội)
  • Chi phí cho hoạt động đầu tư.
  • Chi khác.

Những nội dung chi từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội:

  • Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng kể từ 1/1/1995 trở đi gồm:

+ Chế độ ốm đau;

+ Chế độ thai sản;

+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp (trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp chết do tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, trợ cấp người phục vụ, trợ cấp hỗ trợ sinh hoạt);

+ Chế độ hưu trí (lương hưu hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp trên 30 năm);

+ Chế độ tử tuất ( trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, tiền mai táng);

+ Chế độ nghỉ ngơi dưỡng sức;

  • Chi bảo hiểm y tế cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng từ 1/1/1995 trở đi (mức 3% lương hưu, trợ cấp).
  • Lệ phí cho công tác chi trả (0,52% so với tổng số chi trả từ quỹ bảo hiểm xã hội);
  • Chi cho công tác quản lý bộ máy hàng năm (mức 4% so với tổng số thu bảo hiểm xã hội)
  • Chi phí cho hoạt động đầu tư.
  • Chi khác.

Những nội dung chi từ nguồn ngân sách Nhà nước:

  • Chi trả các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng nghỉ hưởng chế độ trước 1/1/1995 gồm:

+ Chế độ trợ cấp tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp (trợ cấp hàng tháng, trợ cấp người phục vụ, trợ cấp hỗ trợ sinh hoạt);

+ Chế độ hưu trí (lương hưu hàng tháng, trợ cấp hàng tháng đối với công nhân cao su);

+ Trợ cấp mất sức lao động hàng tháng (kể cả người hưởng theo Nghị định số 91/CP)

+ Chế độ tử tuất ( trợ cấp hàng tháng, trợ cấp một lần, tiền mai táng);

  • Chi bảo hiểm y tế cho các đối tượng hưởng lương hưu và trợ cấp hàng tháng nghỉ hưởng chế độ trước 1/1/1995 (mức 3% lương hưu, trợ cấp).
  • Lệ phí cho công tác chi trả (0,52% so với tổng số chi trả từ ngân sách Nhà nước);
  • Chi cho các đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội giải quyết theo công văn số 843/LĐTBXH ngày 25/3/1996 của Bộ Lao động – Thương binh & Xã hội;
  • Chi khác.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.2. Thực trạng về đối tượng hưởng bảo hiểm xã hội: ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )

Qua số liệu về đối tượng hưởng chế độ bảo hiểm xã hội tại biểu số 4, số 5 ta thấy:

  • Số người hưởng chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng và một lần đều tăng, năm sau nhiều hơn so với năm trước (tỷ lệ tăng bình quân các năm là 12%) .
  • Số người nghỉ hưu hàng năm đối với đối tượng tham gia bảo hiểm xã hội theo Nghị định số 12/CP tăng nhanh (tăng bình quân 25%/năm).Điều này thể hiện đúng thực trạng về độ tuổi người lao động tham gia bảo hiểm xã hội như đã nêu tại phần thu bảo hiểm xã hội và phản ánh đúng thực trạng tuổi nghỉ hưu theo Nghị định 236/HĐBT, đa số tuổi nghỉ hưu là 50 và khi thực hiện theo Điều lệ bảo hiểm xã hội tuổi nghỉ hưuđã tăng lên trên 50. Riêng người nghỉ hưu thuộc lực lương vũ trang hàng năm tương đối ổn định.
  • Số người nghỉ hưu có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội trên 30 năm cũng tăng qua các năm tương ứng với mức tăng tuổi nghỉ hưu.
  • Số người nghỉ việc hưởng trợ cấp một lần theo điều 28 Điều lệ bảo hiểm xã hội tăng bình quân hàng năm là: 10% (năm 2000 và 2001 mỗi năm đã có trên 10 vạn người).

2.3. Thực trạng về chi bảo hiểm xã hội:

Theo quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội thì kinh phí để chi các chế độ bảo hiểm xã hội gồm từ nguồn do ngân sách Nhà nước và nguồn từ quỹ bảo hiểm xã hội , cụ thể là:

+ Nguồn từ ngân sách Nhà nước để đảm bảo thực hiện chi các chế độ hưu trí, trợ cấp mất sức lao động, tai nạn lao động-bệnh nghề nghiệp, tử tuất, bảo hiểm y tế của những người được hưởng bảo hiểm xã hội trước ngày thi hành Điều lệ bảo hiểm xã hội.

+ Nguồn quỹ bảo hiểm xã hội đảm bảo thực hiện chi các chế độ bảo hiểm xã hội cho các đối tượng đang tham gia bảo hiểm xã hội bị ốm đau, thai sản, nghỉ dưỡng sức và các đối tượng hưởng các chế độ bảo hiểm xã hội hàng tháng, một lần kể từ 01/01/1995.

Tình hình chi bảo hiểm xã hội từ 2 nguồn và chi cho các chế độ bảo hiểm xã hội được thể hiện cụ thể qua số liệu của các biểu sau:

 (Tiền chi bảo hiểm xã hội tính theo mức tiền lương tối thiểu từng thời điểm (năm 1996 mức 120.000 đồng; năm 1997 đến 1998 mức 144.000 đồng;năm 2000 mức 180.000 đồng; năm 2001 mức 210.000 đồng).

Với số liệu tổng hợp và thống kê tại các biểu số 6, 7, 8, 9, 10,11 có thể rút ra một số nhận xét như sau:

  • Số chi từ ngân sách Nhà nước giảm dần qua các năm, nhưng mức giảm thấp, bình quân giảm 1,26%/năm (đã quy theo mức lương tối thiểu chung); Số chi từ quỹ bảo hiểm xã hội tăng ngày càng nhanh, bình quân tăng 25,2%/năm (đã quy theo mức lương tối thiểu chung).
  • Tỷ trọng chi bảo hiểm xã hội cho chế độ hưu trí, trợ cấp một lần, mất sức lao động và tử tuất chiếm đa số trong tổng số chi bảo hiểm xã hội, năm 2001 chiếm 91,77% (8.495 tỷ đồng/ 257 tỷ đồng). ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )
  • Qũy bảo hiểm xã hội chi chế độ hưu trí (hàng tháng, một lần, bảo hiểm y tế, lệ phi chi trả) tăng khá nhanh: năm 1996 là 197,7 tỷ đồng, năm 2001 đã chi là 1.336,7 tỷ đồng, bình quân 32,6%/năm (đã quy theo mức lương tối thiểu chung). Trong đó tiền chi các khoản trợ cấp ngắn hạn tương đối ổn định qua các năm, còn lại tăng chủ yếu các khoản chi lương hưu hàng tháng, bảo hiểm y tế và lệ phí chi trả.
  • Số tiền chi cho chế độ hưu trí (gồm hàng tháng, trợ cấp một lần, trợ cấp trên 30 năm công tác và bảo hiểm y tế) từ nguồn quỹ bảo hiểm xã hội trong những năm từ 1/1995 đến 2001 chi toàn bộ cho các đối tượng là công nhân viên chức Nhà nước đã có thời gian khá dài công tác trước 1/1995 (đến hết năm 2001 chiếm tỷ lệ là 79,19% so với tổng thời gian tham gia bảo hiểm xã hội) và có thời gian ngắn tham gia đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội.
  • Số người hưởng trợ cấp một lần có trên 30 năm đóng bảo hiểm xã hội chiếm bình quân 51,52% số người nghỉ hưu trí hàng tháng, với mức hưởng tương ứng của một người là 2.802.000 đồng (bằng 13,4 tháng tiền lương tối thiểu).
  • Từ năm 1995 đến năm 2001 số người nghỉ hưởng trợ cấp một lần có thời gian tham gia bảo hiểm xã hội bình quân là 8,5 năm với mức lương bình quân tháng làm căn cứ tính trợ cấp là 374.780 đồng (tính theo mức tiền lương tối thiểu 210.000 đ/tháng), mức hưởng trợ cấp bình quân một người tương ứng 18 tháng tiền lương tối thiểu. Đa số người nghỉ hưởng trợ cấp một lần là đối tượng trước 1/1995, đã có thời gian khá dài công tác trước 1/1995 và có thời gian ngắn tham gia đóng bảo hiểm xã hội vào quỹ bảo hiểm xã hội.
  • Về tuổi nghỉ hưu, nếu so với thời kỳ trước 1/1995 bình quân 50,84 tuổi thì sau 1/1995 đã tăng lên bình quân 54,35 tuổi, trong đó bình quân tuổi nghỉ hưu của nam là 57,1; bình quân tuổi nghỉ hưu của nữ là 51,35, nhưng so với tuổi quy định chung (nam đủ 60 tuổi, nữ đủ 55 tuổi) thì khi thực hiện còn giảm bình quân đối với nam là 2,9 tuổi, nữ là 3,75 tuổi. Đó là do chính sách quy định một số đối tượng được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn tuổi quy định và các đối tượng do sức khoẻ suy giảm cũng được nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn quy định với mức lương hưu thấp hơn. Số nghỉ hưu dưới tuổi quy định chung so với tổng số người nghỉ hưu chiếm tỷ trọng đáng phải lưu ý, qua số liệu thống kê thì tỷ trọng là 52,3% đối với nam và 56,7% đối với nữ. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc cân đối quỹ bảo hiểm xã hội vì thời gian đóng vào cho quỹ bị giảm đi, tương ứng là thời gian chi trả lương hưu từ quỹ tăng lên.
  • Về tuổi thọ bình quân của những người nghỉ hưu, theo xu hướng chung của xã hội thì tuổi thọ ngày càng cao, đến thời điểm năm 2001: nam đạt tuổi thọ bình quân là 68,67; nữ đạt tuổi thọ bình quân là 69,66 tuổi. Điều này ảnh hưởng khá lớn đến việc cân đối quỹ bảo hiểm xã hội vì tăng thời gian chi trả lương hưu và xu hướng tất yếu này tăng hàng năm.

3. Kết quả hoạt động của Bảo hiểm xã hội Việt Nam.

Theo quy định của Điều lệ bảo hiểm xã hội quỹ bảo hiểm xã hội được hình thành từ các khoản thu và chi trả bảo hiểm xã hội kể từ 1/1/1995, nhưng do hoạt động của hệ thống Bảo hiểm xã hội Việt Nam nên thực tế quỹ bảo hiểm xã hội được xác định kể từ 1/7/1995. Qua 6 năm hình thành quỹ bảo hiểm xã hội, tình hình quỹ bảo hiểm xã hội được thể hiện nhưsau: ( Luận văn: Thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội nước ta hiện nay )

  • Về số thu cho quỹ bảo hiểm xã hội: hiện tại bao gồm thu bảo hiểm xã hội từ người lao động và người sử dụng lao động; thu lãi đầu tư tăng trưởng từ số tiền thu bảo hiểm xã hội còn nhàn rỗi, chưa có hỗ trợ từ ngân sách Nhà nước.
  • Về chi từ quỹ bảo hiểm xã hội: Ngoài các khoản chi các chế độ bảo hiểm xã hội theo quy định cho các đối tượng hưởng từ 1/1/1995 trở đi, quỹ bảo hiểm xã hội còn chi cho quản lý (chi phí quản lý bộ máy). Những năm 1995, 1996,1997 khoản chi phí này do ngân sách Nhà nước đài thọ, từ năm 1998 trích chi theo định mức từ quỹ bảo hiểm xã hội và các năm sau được xác định theo tỷ lệ phần trăm trên số thực thu bảo hiểm xã hội hàng năm, hiện tại được quy định bằng 4% tổng số thu bảo hiểm xã hội và được trích từ lãi do đầu tư tăng trưởng.

Với tình hình như nêu trên, thực trạng quỹ bảo hiểm xã hội trong các năm qua như sau:

  • Thu bảo hiểm xã hội tăng qua các năm ở mức độ thấp, bình quân tăng 8,2%/năm (Quy theo mức tiền lương tối thiểu 210.000 đ), số tăng thu này tương ứng với số lao động tham gia bảo hiểm xã hội tăng bình quân hàng năm.
  • Tỷ trọng hàng năm số chi bảo hiểm xã hội từ quỹ bảo hiểm xã hội so với số thu bảo hiểm xã hội tăng nhanh, năm 1996 tỷ lệ này là 14,76%, đến năm 2001 đã là 30,5%. Đây là nội dung cần được xem xét đánh giá thường xuyên để có các biện pháp về chính sách đảm bảo cho cân đối quỹ bảo hiểm xã hội lâu dài.
  • Về đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội: hiện tại số lãi do đầu tư tăng trưởng được trích 50% bổ sung cho tăng quỹ bảo hiểm xã hội, còn lại được sử dụng chi cho quản lý bộ máy và các đầu tư cơ sở vật chất. Với hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ trong phạm vi cho phép của Chính phủ, chủ yếu sử dụng đầu tư vào mua trái phiếu, tín phiếu Nhà nước, cho các ngân hàng Nhà nước, ngân sách Nhà nước vay… Hoạt động đầu tư tăng trưởng quỹ bảo hiểm xã hội được bắt đầu thực hiện từ năm 1996 và tính đến hết ngày 31/12/2001 số lãi thu được là 037,2 tỷ đồng.
  • Số chi từ quỹ bảo hiểm xã hội so với số thu vào quỹ bảo hiểm xã hội trong những năm đầu chiếm tỷ trọng không lớn do đối tượng hưởng từ quỹ bảo hiểm xã hội chi trả chưa nhiều nên số tồn quỹ qua hàng năm luôn được bổ sung thêm và tăng hơn so với năm trước, đến cuối năm 2001 số quỹ tích luỹ được là 595,2 tỷ đồng. Tuy nhiên, với mức độ tăng chi quỹ bảo hiểm xã hội và dự báo tăng số người nghỉ hưu trong các năm tới thì việc mất cân đối quỹ bảo hiểm xã hội tất yếu sẽ xảy ra.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

→ Luận văn: Bảo hiểm xã hội qua từng thời kỳ phát triển của đất nước

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537