Hình thành và phát triển các tập đoàn Tài chính ngân hàng là xu hướng phát triển rất mạnh từ nhiều thập kỷ qua trên thế giới, vì tầm quan trọng rất lớn với xu thế hiện nay nên tác giả đã lấy Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng làm bài luận văn Thạc sĩ của mình. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam không thể tách rời xu thế chung đó. Trong đó, việc hình thành những ngân hàng lớn, hoạt động đa năng, có khả năng thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng trong thế giới hiện đại đã và đang trở thành một nhu cầu bức xúc và một xu thế tất yếu được tác khắc họa cụ thể trong Đề tài: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng Tmcp Đông Á Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế” dưới đây, mời các bạn đọc giả tham khảo và cảm nhận!
2.1. Mô hình hoạt động và cơ cấu tổ chức
Ngân hàng TMCP Đông Á (DongA Commercial Joint Stock Bank, gọi tắt là DAB) là một trong những ngân hàng có hoạt động tương đối hiệu quả nhiều năm gần đây tại Việt Nam. DAB được thành lập và chính thức đi vào hoạt động ngày 01.07.1992, theo giấy phép thành lập số 0009/NH-GP do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ký ngày 27.03.1992, giấy phép thành lập công ty số 135/GP- HB của UBND Thành phố Hồ Chí Minh ký ngày 06.04.1992 và giấy đăng ký kinh doanh số 059011 của trọng tài kinh tế Thành phố Hồ Chí Minh ngày 08.04.1992. Thời gian hoạt động của DAB hiện nay là 99 năm theo quyết định số 192/QĐ- NHNN ngày 26.06.1997 của Thống đốc Ngân hàng nhà nước.
Ngày 01.07.1992, DAB đã chính thức đi vào hoạt động tại trụ sở chính: số 130 Phan Đăng Lưu, quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh, với tổng số vốn điều lệ ban đầu là 20 tỷ đồng, hình thành từ 10.000 cổ phiếu với mệnh giá 2.000.000 đồng/cổ phiếu.
Ngân hàng TMCP Đông Á nằm trong nhóm các ngân hàng TMCP mới được thành lập theo tinh thần pháp lệnh 1990. Đặc điểm của DAB là không hình thành trên cơ sở hợp nhất các cơ sở tín dụng mà hình thành từ một ngân hàng thương mại mới với ba cổ đông lớn nhất là: Ban Tài chính Thành ủy Thành phố Hồ Chí Minh, Công ty Vàng bạc đá quý Phú Nhuận (PNJ), Công ty xây dựng và kinh doanh nhà Phú Nhuận.
Ngân hàng TMCP Đông Á là một trong những ngân hàng TMCP được Ngân hàng nhà nước đánh giá hoạt động có hiệu quả trong nhiều năm liền: là Ngân hàng TMCP duy nhất được Deutsche Bank (Đức) trao chứng nhận “Ngân hàng có chất lượng dịch vụ thanh toán xuất sắc năm 2005 của Việt Nam, giải thưởng “Sao vàng đất Việt” năm 2005 và 2008, giải thưởng “Thương hiệu mạnh” 2007, 2008 do Cục Xúc tiến thương mại, Bộ Công thương trao tặng, Cúp vàng thương hiệu Việt ngành Ngân hàng – tài chính – bảo hiểm do Hội sở hữu trí tuệ Việt Nam trao tặng lần 02, Cúp vàng sản phẩm uy tín chất lượng đối với dịch vụ Thẻ đa năng của Hội sở hữu công nghiệp Việt Nam, bằng khen của Ủy ban quốc gia về hợp tác kinh tế quốc tế về thành tích xuất sắc trong phát triển sản phẩm và thương hiệu tham gia hội nhập kinh tế quốc tế. Đặc biệt, Ngân hàng TMCP Đông Á là ngân hàng duy nhất trong khối ngân hàng thành phố Hồ Chí Minh được đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh trao tặng cờ dành cho chi bộ hai lần liên tiếp đạt danh hiệu Chi bộ trong sạch vững mạnh 05 năm liên tục (1994-1998 và 1999-2004), bằng khen của Liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh về thành tích xuất sắc trong công tác xây dựng Công đoàn cơ sở vững mạnh 06 năm liền 2000-2006, bằng khen của Liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh về thành tích xuất sắc trong công tác tổ chức phong trào thi đua “giỏi việc nước – đảm việc nhà” cùng nhiều bằng khen và danh hiệu khác,…
2.1.1. Mô hình hoạt động ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Mô hình hoạt động
Qua 18 năm hoạt động, DongA Bank đã khẳng định là một trong những ngân hàng cổ phần phát triển hàng đầu của Việt Nam, đặc biệt là ngân hàng đi đầu trong việc triển khai các dịch vụ ngân hàng hiện đại, đáp ứng nhu cầu thiết thực cho cuộc sống hàng ngày. Ngân hàng đã xây dựng thành công nền tảng phân phối rộng và đa dạng, tạo đà cho việc mở rộng hoạt động ngân hàng bán lẻ và phục vụ doanh nghiệp vừa và nhỏ với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng hiện đại, chất lượng cao. Ngoài các sản phẩm và dịch vụ truyền thống, Ngân hàng còn đầu tư vào nhiều lĩnh vực khác như: chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, kinh doanh bất động sản,… thông qua các công ty con. Ngân hàng Đông Á đã tập trung áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiện đại, mở rộng và nâng cấp mạng lưới chi nhánh và phòng giao dịch. Cho đến ngày 31/12/2009, mạng lưới của Ngân hàng Đông Á đã vươn rộng ra nhiều địa bàn và lĩnh vực, bao gồm: 01 sở giao dịch, 34 chi nhánh, 139 phòng giao dịch và trung tâm giao dịch 24h trên toàn quốc, 03 công ty con: công ty chứng khoán Đông Á, công ty kiều hối Đông Á và công ty thẻ thông minh Vina (VNBC)
Ngân hàng Đông Á cùng với các công ty con sẽ tạo thành nhóm công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con.
Hiện nay, Ngân hàng Đông Á đang triển khai theo mô hình công ty mẹ – công ty con, trong đó, công ty mẹ là Ngân hàng Đông Á, và các công ty con trực thuộc mà Ngân hàng Đông Á đang nắm giữ toàn bộ vốn, bao gồm:
- Công ty kiều hối Đông Á Vốn điều lệ: 50 tỷ đồng
Dịch vụ nổi bật: chi trả kiều hối tại quầy, tại nhà, chi trả kiều hối thông qua tài khoản thẻ, tài khoản tiết kiệm, tài khoản thanh toán,…
Với chính sách quản lý thông thoáng và hiệu quả của Ngân hàng Nhà Nước, doanh số chuyển tiền kiều hối về Việt Nam ngày càng gia tăng. Nắm bắt xu hướng phát triển của dịch vụ, Ngân hàng Đông Á đã thành lập Công ty Kiều Hối Đông Á vào ngày 01/11/2001, nhằm tạo sự chuyên biệt về dịch vụ cũng như đáp ứng tốt hơn nhu cầu của khách hàng.
Với phương châm: thủ tục đơn giản, chi trả nhanh chóng, dịch vụ đa dạng, dịch vụ chuyển tiền kiều hối của Kiều hối Đông Á đã nhận được sự tín nhiệm cao của quý khách hàng. Nhờ vậy, Kiều Hối Đông Á luôn duy trì vị trí dẫn đầu về doanh số chi trả kiều hối trên toàn quốc. Tổng doanh số chi trả của Công ty kiều hối Đông Á năm 2008 đạt 1,18 tỷ USD; năm 2009 đạt 1 tỷ USD, chiếm 17% thị phần chi trả kiều hối cả nước. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Hiện nay, khách hàng của Công ty kiều hối Đông Á có thể nhận được tiền một cách dễ dàng, nhanh chóng bởi công ty đã triển khai dịch vụ tại 174 điểm trên toàn quốc với lực lượng nhân viên chi trả tận nhà chuyên nghiệp, tận tình đã phủ khắp 64 tỉnh, thành. Hơn nữa, thời gian chi trả được rút ngắn còn 12 tiếng thay vì 24 tiếng như trước đây.
Với định hướng mở rộng mạng lưới toàn cầu, Công ty kiều hối Đông Á đã chính thức hợp tác với MoneyGram, công ty chuyển tiền lớn thứ hai trên thế giới triển khai dịch vụ chi trả tận nhà từ tháng 07/2008. Thông qua sự hợp tác chiến lược này, khách hàng đến với Công ty kiều hối Đông Á đã có thêm một sự lựa chọn an toàn và đáng tin cậy để người thân gửi tiền về Việt Nam từ hơn 150.000 đại lý tại 180 quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới.
- Công ty chứng khoán Đông Á (DAS) và Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á (DAFM)
Vốn điều lệ: 500 tỷ đồng
Dịch vụ nổi bật: cung cấp dịch vụ tư vấn tài chính doanh nghiệp, môi giới, đầu tư chứng khoán, bảo lãnh phát hành chứng khoán, quản lý quỹ đầu tư, quản lý danh mục đầu tư.
Thành lập quý 3/2004, Công ty chứng khoán Đông Á (DAS) và Công ty quản lý quỹ đầu tư chứng khoán Đông Á (DAFM) được tổ chức hoạt động theo mô hình nhóm công ty nhằm phát huy các thế mạnh của từng công ty riêng biệt, nâng cao hình ảnh, hiệu quả và sức cạnh tranh mà chỉ nhóm công ty mới có thể mang lại.
Trong lĩnh vực tư vấn tài chính, với đội ngũ chuyên gia tư vấn giàu kinh nghiệm, nhóm công ty luôn đi đầu trong lĩnh vực tư vấn cổ phần hóa cũng như thực hiện các nghiệp vụ tư vấn tái cấu trúc doanh nghiệp, chia tách, sát nhập, tư vấn niêm yết trên Sở giao dịch chứng khoán thành phố Hồ Chí Minh (HOSE) và trung tâm giao dịch chứng khoán Hà Nội (HaSTC) với gần 1000 hợp đồng được ký kết.
Trong lĩnh vực môi giới, DAS đã đạt được thành công trong việc phát triển và mở rộng thị phần, thu hút đông đảo nhiều nhà đầu tư tham gia mở hơn 12.000 tài khoản và giao dịch chứng khoán.
Trong lĩnh vực quản lý tài sản, với ưu thế đội ngũ nhân viên có kiến thức sâu rộng trong nhiều lĩnh vực cùng với công nghệ hiện đại, phong cách phục vụ chuyên nghiệp, DAFM hiện đang quản lý danh mục đầu tư cho hàng trăm khách hàng với số tài sản lên tới gần 1.500 tỷ đồng.
- Công ty cổ phần thẻ thông minh VINA (VNBC) ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Công ty VNBC được chính thức thành lập trong năm 2008, có tiền thân là hệ thống chuyển mạch VNBC, đồng thời kết nạp thêm hai thành viên mới là: ngân hàng Đại Á, PIBank (Campuchia) và ký kết hợp tác mở rộng với Ngân hàng dầu khí toàn cầu (GP Bank) nâng tổng số các thành viên kết nối với hệ thống VNBC lên 10 đơn vị, trong đó có 03 ngân hàng nước ngoài của Singapore, Australia và Campuchia. Hiện nay, hệ thống kết nối VNBC của Ngân hàng Đông Á là hệ thống duy nhất tại Việt Nam có các ngân hàng nước ngoài tham gia kết nối. Việc ra đời Công ty cổ phần VNBC nhằm cung cấp giải pháp kết nối, các thiết bị, dịch vụ cho ngành ngân hàng. Công ty VNBC xác định tầm nhìn và sứ mệnh của mình là công ty công nghệ hàng đầu tại Việt Nam trong lĩnh vực cung cấp các dịch vụ và giải pháp toàn diện cho ngành tài chính ngân hàng và các ngành khác có liên quan bằng công nghệ hiện đại, tối ưu nhất với chất lượng dịch vụ hoàn hảo nhằm thỏa mãn khách hàng ở mức cao nhất.
- Nhận xét về mô hình hoạt động
Ngân hàng TMCP Đông Á đã chuẩn bị cho mình các điều kiện tương đối đầy đủ về các nhánh hoạt động tài chính – tiền tệ mang tính tương trợ lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình. Ngoài lĩnh vực kinh doanh chủ chốt là hoạt động ngân hàng, Ngân hàng Đông Á cũng đã tham gia vào các mảng đầu tư tài chính hỗ trợ cho hoạt động ngân hàng như: kinh doanh chứng khoán, cho thuê tài chính, cho thuê văn phòng,… từng bước tiến tới hình thành mô hình tập đoàn TC – NH.
Dựa vào cơ sở lý luận về cấu trúc của tập đoàn TC – NH trên thế giới thì Ngân hàng TMCP Đông Á đang áp dụng theo mô hình ngân hàng đa năng. Đây cũng là mô hình đặc biệt phổ biến ở những tập đoàn tài chính quốc tế châu Âu, Trong mô hình này, Ngân hàng TMCP Đông Á giữ vai trò là công ty mẹ và sẽ nắm giữ toàn bộ vốn, quyền kiểm soát hoặc cổ phần chi phối của các công ty con trực thuộc, vì thế ưu điểm của mô hình này là có quy mô hoạt động rộng ở nhiều lĩnh vực khác nhau để chiếm lĩnh thị phần gia tăng hiệu quả hoạt động, từ đó tạo ra nhiều lợi nhuận. Tuy nhiên, nhược điểm của mô hình này là đòi hỏi phải có nguồn vốn đủ mạnh để thực hiện việc thành lập thêm các công ty con (công ty bảo hiểm, công ty đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng,…) hay các chi nhánh ở nước ngoài trong tương lai phù hợp theo tiêu chuẩn của một tập đoàn TC – NH có tầm cỡ quốc tế và sẽ gây khó khăn trong việc xác định rủi ro ở từng lĩnh vực. Để bước sang kinh doanh ở lĩnh vực mới nào đó, Ngân hàng TMCP Đông Á cần trang bị cho mình đầy đủ tiềm lực về tài chính, học hỏi kinh nghiệm kinh doanh và quản lý ở các nước khác, đồng thời đưa vào áp dụng các công nghệ hiện đại phù hợp với điều kiện sẵn có hiện tại và thông lệ quốc tế.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.2. Cơ cấu vốn ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Cơ cấu vốn
Quy mô và cơ cấu vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Đông Á được xác định dựa trên các căn cứ sau:
- Các chỉ tiêu đảm bảo sự tăng trưởng ổn định
- Giá trị doanh nghiệp
- Phương án phát hành cổ phần
- Yêu cầu của việc niêm yết trên thị trường chứng khoán
- Quy mô, cơ cấu tổng tài sản và nguồn vốn của Ngân hàng TMCP Đông Á, vốn đầu tư cho các công ty con hoặc đầu tư cho các hoạt động kinh doanh khác,…
Hiện nay, các cổ đông lớn của Ngân hàng Đông Á bao gồm:
- Ban tài chính Thành ủy HCM: nắm cổ phần chi phối với tỷ lệ 51%
- Công ty CP Vàng bạc Đá quý Phú Nhuận (PNJ)
- Công ty Xây dựng và Kinh doanh nhà Phú Nhuận
- Tổng Công ty May Việt Tiến
- Tổng Công ty Bia – Rượu – Nước giải khát Sài Gòn (SABECO)
- Công ty Dịch vụ Hàng không Sân bay Tân Sơn Nhất (SASCO)
Mức vốn điều lệ
Việc xây dựng vốn điều lệ của Ngân hàng TMCP Đông Á được cân nhắc giữa các yếu tố:
- Đảm bảo đạt các tiêu chí vốn tối thiểu theo chuẩn quốc tế (CAR) là 8%
- Đảm bảo mức sinh lời trên vối (ROE) đủ để hấp dẫn các nhà đầu tư
- Mức vốn cần thiết để đầu tư và mở rộng hoạt động của NHTMCP Đông Á như là tập đoàn TC – NH đa năng
Vì vậy, mức vốn điều lệ xây dựng cho Ngân hàng Đông Á được Đại hội đồng cổ đông thông qua là 6.000 tỷ đồng (năm 2010) để nâng chỉ tiêu vốn tối thiểu theo thông lệ quốc tế.
Nhận xét về cơ cấu vốn
Cơ cấu vốn hiện tại của Ngân hàng Đông Á xét dưới góc nhìn của các nhà đầu tư thì với cơ cấu tổ chức và nguyên tắc nhà nước nắm giữ cổ phần chi phối sẽ làm tính cạnh tranh và lợi nhuận kinh doanh trong hoạt động đầu tư của Ngân hàng Đông Á giảm sút do tính tự chủ trong hoạt động kinh doanh không cao. Điều này chưa phù hợp lắm với chức năng của một tập đoàn TC – NH được xây dựng trên cơ sở lợi nhuận kinh doanh là chủ yếu và chiếm lĩnh thị phần trong nước, hạn chế thấp nhất mọi rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Cùng với xu thế hội nhập kinh tế quốc tế thì sự cạnh tranh trong lĩnh vực TC – NH sẽ gay gắt hơn một khi Việt Nam thực hiện các cam kết của WTO. Muốn vậy, Ngân hàng Đông Á cần phải từng bước loại bỏ yếu tố nhà nước giữ thị phần chủ đạo một cách phù hợp, thực hiện chính sách linh hoạt trong kinh doanh để thu hút thêm lượng khách hàng đến giao dịch, từ đó làm tăng lợi nhuận, tạo tính hấp dẫn đối với các nhà đầu tư trong và ngoài nước, đồng thời cần hoàn thiện cơ cấu vốn của mình cho phù hợp với tiêu chuẩn quốc tế, xét về góc độ của một tập đoàn TC – NH quốc tế thì quy mô vốn của Ngân hàng Đông Á hiện nay còn khá khiêm tốn.
2.1.3. Cơ cấu tổ chức ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Ngân hàng TMCP Đông Á, hoạt động theo cơ cấu bao gồm: Đại hội cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, Ủy ban kiểm soát rủi ro, Ban Tổng giám đốc và các khối chức năng. Các khối chức năng bao gồm: Khối khách hàng cá nhân, Khối khách hàng doanh nghiệp và các định chế tài chính, Khối kinh doanh tiền tệ, Khối nghiệp vụ, Khối hỗ trợ hoạt động và Khối giám sát hoạt động, ngoài ra còn có các chi nhánh cấp 1, cấp 2, các phòng giao dịch và trung tâm giao dịch 24h trực thuộc Hội sở chính.
Mạng lưới hoạt động: tính đến thời điểm 31/12/2009, Ngân hàng Đông Á đã có hơn 173 chi nhánh và phòng giao dịch trên toàn quốc. Mạng lưới hoạt động của Ngân hàng Đông Á đã phủ khắp các khu vực kinh tế trọng điểm. Hoạt động của các chi nhánh đã góp phần quảng bá hình ảnh của Ngân hàng Đông Á, tạo tiền đề cho việc triển khai các dịch vụ ngân hàng bán lẻ rộng khắp các tỉnh, thành phố lớn trên cả nước.
2.1.4. Nguồn nhân lực
Tổng số cán bộ công nhân viện của ngân hàng Đông Á và các công ty con vào ngày 31/12/2009 là 3.691 người, tăng 553 người so với năm 2008.
Xét về mặt cơ cấu nhân sự hiện tại của Ngân hàng TMCP Đông Á so với yêu cầu xây dựng và phát triển thành một tập đoàn TC – NH còn khá khiêm tốn. Trình độ nhân sự còn chưa đồng đều, chất lượng chuyên môn nghiệp vụ chưa cao, tỷ trọng đội ngũ nhân viên trẻ tuổi còn thấp hơn so với các NHTMCP khác, chưa khai thác được hết chất xám của nhân viên, phần lớn do sự bố trí nhân sự trong các phòng ban chưa phù hợp với năng lực của từng người.
Vì vậy, trong thời gian tới, Ngân hàng Đông Á phải chú trọng hơn trong vấn đề đào tạo nguồn nhân lực cả về số lượng và chất lượng để đáp ứng những yêu cầu về nhân sự của ngân hàng trong việc tiến tới thành lập một tập đoàn TC – NH đa năng. Ngân hàng Đông Á nên xem xét việc tuyển dụng các cán bộ có trình độ đại học và trên đại học chuyên ngành, có trình độ ngoại ngữ tốt để chuẩn bị cho giai đoạn hội nhập sắp tới, đồng thời chú trọng đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn, ngoại ngữ cho cán bộ, cử cán bộ tham gia học tập, tham quan khảo sát trong và ngoài nước.
2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh
2.2.1. Ngành nghề, phạm vi và hoạt động kinh doanh ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Huy động vốn: Bao gồm nhận tiền gửi, phát hành chứng chỉ tiền gửi, trái phiếu, kỳ phiếu và các giấy tờ có giá khác để huy động vốn, vay vốn của các TCTD trong và ngoài nước và các hình thức huy động vốn khác theo quy định của NHNN
- Hoạt động tín dụng: Bao gồm cấp tín dụng dưới hình thức cho vay, chiết khấu thương phiếu và các giấy tờ có giá khác, bảo lãnh ngân hàng, cho thuê tài chính, và các hình thức khác theo quy định của NHNN.
- Hoạt động thanh toán: Bao gồm mở tài khoản, cung ứng các phương tiện thanh toán trong nước và ngoài nước, thực hiện dịch vụ thanh toán trong nước và quốc tế, thực hiện dịch vụ thu chi hộ, thu và phát tiền mặt, ngân phiếu thanh toán cho khách hàng.
- Phát triển thẻ: Bao gồm cung cấp các sản phẩm thẻ ghi nợ nội địa, thẻ tín dụng và các tiện ích đi kèm: rút tiền, gửi tiền, chuyển khoản, thấu chi, thanh toán hóa đơn, thanh toán trực tuyến, thu đổi ngoại tệ,…
- Các hoạt động khác: Bao gồm hoạt động góp vốn, mua cổ phần, tham gia thị trường tiền tệ, thực hiện mua bán các giấy tờ có giá bằng ngoại tệ và VND, kinh doanh ngoại hối, nghiệp vụ ủy thác và đại lý, dịch vụ bảo hiểm, kinh doanh các nghiệp vụ chứng khoán thông qua công ty trực thuộc, cung ứng dịch vụ tư vấn tài chính tiền tệ,…
2.2.2. Kết quả hoạt động kinh doanh
Một số nét chính về kết quả kinh doanh 2009[5]
- Tổng tài sản: Tính đến 31/12/2009 đạt 42.148 tỷ đồng (tương đương 2,34 tỷ USD), tăng 22% so với thời điểm 31/12/2008, tổng dư nợ đạt 34.687 tỷ đồng (tương đương 1,93 tỷ USD), vốn chủ sở hữu đạt 3.400 tỷ đồng (tương đương 0,19 tỷ USD), đáp ứng tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu 8% theo tiêu chuẩn quốc tế.
- Tổng nguồn vốn: Kết thúc năm tài chính 2009, tổng nguồn vốn huy động của Ngân hàng Đông Á đạt 33.392 tỷ đồng, tăng 21,2% so với năm 2008. Tình hình huy động vốn: từ cuối năm 2008 đến nay, thị trường tiền tệ có nhiều biến động về lãi suất trong nước và trên thị trường quốc tế, tình hình lạm phát, cạnh tranh về huy động vốn giữa các TCTD trong nước (theo chính sách thắt chặt tiền tệ của NHNN), gây ảnh hưởng đến công tác huy động vốn của các NHTM nói chung và Ngân hàng Đông Á nói riêng. Trước các biến động về tình hình huy động vốn trên thị trường, Ngân hàng Đông Á đã chủ động áp dụng chính sách lãi suất linh hoạt trên cơ sở cung – cầu vốn thị trường, tích cực cải thiện chênh lệch lãi suất cho vay – lãi suất huy động và chênh lệch lãi suất giữa các chi nhánh, cải thiện quản trị thanh toán dựa trên hệ thống thông số an toàn và phát triển nhiều công cụ huy động vốn mới (chứng chỉ tiền gửi, lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm bảo an,…). Tuy nhiên, vốn huy động của ngân hàng còn phụ thuộc nhiều vào một số khách hàng lớn, dẫn đến sự biến động nhỏ từ nhóm khách hàng này cũng có thể dẫn đến những khó khăn trong thanh khoản. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Hoạt động tín dụng: Tổng dư nợ cho vay đạt 34.687 tỷ đồng, tăng 36% so với cuối năm 2008. Tình hình nợ quá hạn được kiểm soát chặt chẽ nên tỷ lệ nợ quá hạn chỉ chiếm 2,29% tổng dư nợ tại thời điểm 31/12/2009. Trong năm 2009, Ngân hàng Đông Á đã đa dạng hóa các sản phẩm tín dụng nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi đối tượng khách hàng khác nhau. Đối với khách hàng cá nhân: Ngân hàng Đông Á có rất nhiều sản phẩm cho vay phục vụ nhu cầu tiêu dùng như mua nhà, mua hàng, ô tô, xe máy, laptop, thanh toán học phí, cho vay ứng trước tiền bán chứng khoán, thấu chi tài khoản thẻ,.. Đối với khách hàng doanh nghiệp: Ngân hàng Đông Á có các sản phẩm như: tài trợ vốn lưu động, tài trợ xuất nhập khẩu,…. Ngoài ra, Ngân hàng Đông Á đã và đang tiếp tục hợp tác với các tổ chức tài chính tài trợ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Việt Nam như: chương trình hợp tác quốc tế Nhật Bản (JBIC), chương trình của WB thông qua quỹ phát triển nông thôn (RDF), chương trình của Ngân hàng phát triển châu Á (ADB) cho vay mua nhà dành cho người có thu nhập thấp.
- Hoạt động kinh doanh ngoại tệ và vàng: Hoạt động kinh doanh ngoại tệ đáp ứng đủ cho nhu cầu của khách hàng trong thanh toán quốc tế và đáp ứng kịp thời cho chi trả kiều hối. Do hoạt động tín dụng có nhiều khó khăn nên trong năm 2009, Ngân hàng Đông Á đã triển khai mạnh việc kinh doanh vàng và ngoại tệ theo phương thức mua bán kỳ hạn và đã mang lại hiệu quả cao cho ngân hàng. Tổng lãi thuần từ kinh doanh ngoại hối và vàng năm 2009 đạt hơn 200 tỷ đồng, chiếm tỷ trọng 27% tổng thu nhập thuần toàn ngân hàng.
- Hoạt động thanh toán quốc tế: Năm 2009 là một năm thực sự khó khăn với nhiều biến động lớn đối với tình hình kinh tế trong và ngoài nước. Những thay đổi về tỷ giá, lãi suất cùng với ảnh hưởng của cuộc khủng hoảng tài chính trên thế giới đã tác động mạnh mẽ đến hoạt động xuất nhập khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, hoạt động thanh toán quốc tế của Ngân hàng Đông Á năm 2009 vẫn duy trì ở mức cao, đạt doanh số 2,5 tỷ USD, tăng nhẹ so với mức 2,4 tỷ USD năm 2008.
Trong năm 2009, Ngân hàng Đông Á đã lựa chọn và tiếp tục duy trì mối quan hệ với những định chế tài chính lớn, ổn định trên thế giới, mở rộng thêm mối quan hệ với 33 ngân hàng trong nước và nước ngoài. Mạng lưới ngân hàng đại lý của DAB được mở rộng trên 90 quốc gia và vùng lãnh thổ, giúp cho hoạt động thanh toán quốc tế của khách hàng được thông suốt và nhanh chóng.
Dịch vụ thẻ
- Năm 2009 là một năm Ngân hàng Đông Á có những bước phát triển vượt bậc trong việc cung cấp các sản phẩm dịch vụ khách hàng cá nhân, trong đó có dịch vụ thẻ, bao gồm: thẻ đa năng (thẻ đa năng Đông Á, thẻ đa năng CK Card, thẻ đa năng hưu trí, thẻ đa năng Richland Hill), thẻ tín dụng quốc tế VISA DongA Bank, thẻ liên kết sinh viên, và các loại thẻ liên kết khác. [11]
- Hiện nay, thẻ đa năng Đông Á đang khẳng định vị trí số một về tiện ích sử dụng và giá trị gia tăng trên thị trường thẻ ghi nợ nội địa. Tổng số thẻ đã phát hành trong năm 2009 là 1,5 triệu thẻ, tăng 88% so với năm 2008, nâng tổng số thẻ đã phát hành của Ngân hàng Đông Á đến cuối năm 2009 là 3,9 triệu thẻ, chiếm hơn 30% thị phần thẻ tại Việt Nam.
Bên cạnh số lượng thì chất lượng dịch vụ thẻ đa năng Đông Á cũng được quan tâm và không ngừng cải tiến. Ngoài các tiện ích đã phát triển và khẳng định vị trí thẻ đa năng trong thời gian trước, năm 2009, thẻ đa năng Đông Á còn được bổ sung thêm các tiện ích sau: ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Nạp tiền trực tiếp trên ATM và báo có lập tức
- Đổi ngoại tệ trên ATM: USD và EUR
- Kênh giao dịch ngân hàng Đông Á điện tử: chuyển khoản (tối đa 500 triệu đồng/ngày) thanh toán hóa đơn, thanh toán trực tuyến khi mua hàng trên mạng, nạp tiền điện tử,…
Kế hoạch kinh doanh năm 2010
Mục tiêu của ngân hàng Đông Á năm 2010 sẽ trở thành Ngân hàng bán lẻ tốt nhất Việt Nam và đến năm 2020 sẽ hình thành tập đoàn tài chính tốt nhất.
Trong năm 2010, Ngân hàng Đông Á xác định nhiệm vụ trọng tâm và dự kiến các chỉ tiêu kế hoạch như sau:
Nhiệm vụ trọng tâm:
- Tăng cường huy động vốn và tăng tổng tài sản
- Kiện toàn hệ thống giám sát, kiểm tra kiểm soát nội bộ
- Tăng thêm một triệu khách hàng mới
Chỉ tiêu hoạt động kinh doanh:
- Lợi nhuận trước thuế: 100 tỷ đồng, tăng 41% so với năm 2009
- Tổng tài sản cuối năm đạt 60.000 tỷ đồng, tăng 42% so với năm 2009
- Tổng số dư huy động vốn cuối năm đạt 500 tỷ đồng, tăng 37% so với năm 2009
- Tổng dư nợ tín dụng cuối năm đạt 400 tỷ đồng, tăng 11% so với năm 2009
- Tổng trị giá phát sinh thanh toán xuất nhập khẩu trong năm 2010 là 2,6 tỷ USD, tăng 3% so với năm 2009
- Phấn đấu phát hành thêm 01 triệu thẻ trong năm 2010
- Doanh số chi trả kiều đạt 1 tỷ USD, tương đương năm 2009
2.3. Quá trình xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại NHTMCP Đông Á hiện nay
2.3.1. Nhu cầu hình thành tập đoàn tài chính tại NHTMCP Đông Á ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Nhu cầu hình thành tập đoàn TC – NH Đông Á được hình thành và phát triển từ nhiều nguyên nhân, tựu chung lại một số nguyên nhân chính sau:
- Gia tăng lợi nhuận, giảm áp lực cạnh tranh
Một trong những nguyên nhân chủ yếu của nhu cầu hình thành tập đoàn TC – NH Đông Á là nỗ lực tìm kiếm nguồn thu nhập mới. Để đối phó với việc suy giảm lợi nhuận từ những dịch vụ ngân hàng truyền thống, ngân hàng Đông Á cần năng động hơn trong việc liên kết các dịch vụ với các nhà cung cấp dịch vụ tài chính và phi tài chính khác.
Hơn nữa, sự phát triển của công nghệ thông tin đã đem lại các dịch vụ tài chính đa dạng với chi phí thấp, thúc đẩy nhiều công ty hoạt động trong lĩnh vực phi tài chính như: viễn thông, dầu khí, vận tải, xây dựng,… tham gia vào thị trường dịch vụ tài chính. Khi đó, cạnh tranh về dịch vụ tài chính không chỉ tồn tại giữa các nhà cung cấp dịch vụ ngân hàng truyền thống, các công ty chứng khoán, các công ty bảo hiểm mà còn tồn tại giữa các nhà cung cấp dịch vụ tài chính với các công ty phi tài chính. Sự gia tăng về số lượng đối thủ cạnh tranh trên thị trường cũng là một nhân tố đòi hỏi ngân hàng Đông Á phải cải thiện hoạt động quản lý của mình.
- Phát triển chiến lược quảng bá thương hiệu
Sau một thời gian tương đối dài tham gia vào thị trường tài chính, thương hiệu DongA Bank phần nào đã chiếm được niềm tin của khách hàng. Nói cách khác, thương hiệu DongA Bank đã dành được lợi thế cạnh tranh.
Phát triển thành tập đoàn TC – NH đa ngành, DongA Bank có thể sử dụng lợi thế cạnh tranh sẵn có về uy tín thương hiệu đối với các sản phẩm tài chính của mình trên thị trường các dịch vụ tài chính và phi tài chính khác. Khi đó, tên và logo DongA Bank sẽ đóng vai trò chủ chốt như là tên của toàn bộ tập đoàn để quảng bá lợi thế cạnh tranh về thương hiệu. Đây cũng là một trong những mục tiêu quan trọng của DongA Bank. Không chỉ vậy, chiến lược về thương hiệu cũng có hiệu quả trên thị trường bán lẻ, thị trường mục tiêu của DongA Bank trong thời gian tới. Một phần của chiến lược này là do khách hàng chính của thị trường bán lẻ và cá nhân, những người bị tác động trực tiếp của lợi thế cạnh tranh về thương hiệu, nhưng một phần cũng là do hiệu quả của sự phối hợp trong kinh doanh thông qua hàng loạt dịch vụ toàn diện, đầy đủ. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Tạo dựng các lợi thế kinh tế
Ngày nay, các tập đoàn TC – NH đua nhau ra đời, cái sau lớn hơn cái trước và dường như xu hướng này không thể đảo ngược mà còn tiếp tục trong nhiều năm tới. Ngân hàng Đông Á cũng không nằm ngoài xu hướng đó. Hình thành tập đoàn TC – NH là hình thức tốt nhất để ngân hàng Đông Á giành được những lợi thế cạnh tranh trong nước, khu vực và toàn cầu thông qua: lợi thế kinh tế về quy mô (economies of scale) và lợi thế kinh tế về cơ hội (economies of scope).
Lợi thế kinh tế về quy mô: điều cần thiết đối với một tập đoàn TC – NH là có vốn sở hữu lớn, thậm chí rất lớn. Phải có được điều này vì một mặt khẳng định uy tín, vị thế của tập đoàn TC – NH đó, tiêu chí rất quan trọng đối với tập đoàn tài chính, song quan trọng hơn là phát huy được lợi thế kinh tế nhờ quy mô do nội dung cốt lõi của các sản phẩm ngân hàng là tiền hoặc tương đương tiền (các giấy tờ có giá). Thêm vào đó, các sản phẩm với của ngân hàng không khó bắt chước dù việc nghiên cứu để tạo ra nó không dễ dàng. Chính vì thế, các ngân hàng phải có quy mô lớn, tiềm lực tài chính mạnh để nhanh chóng triển khai các sản phẩm truyền thống cũng như hiện đại nhằm chiếm lĩnh thị trường, mở rộng thị phần của mình, nâng cao lợi nhuận.
Lợi thế kinh tế về cơ hội: dưới cùng một chủ sở hữu và bộ máy quản lý chung, các hoạt động kinh doanh có thể được điều tiết tốt hơn thông qua chia sẻ nguồn lực và tạo ra những cơ hội mới lẫn nhau. Lợi thế kinh tế về cơ hội thể hiện rõ nhất đối với DongA Bank là một mặt huy động tiền gửi, mặt khác cấp tín dụng, nhờ vậy có thể tái sử dụng tiền gửi một cách có lợi nhất. Những kỹ năng và thông tin hữu ích trong kinh doanh được sử dụng tốt cả trong huy động vốn lẫn cho vay. Như vậy, ngân hàng Đông Á sẽ có lợi thế kinh tế về cơ hội do cung cấp nhiều dịch vụ tài chính nên có thề dùng tiền từ nguồn tiền gửi ngân hàng, tiền nhàn rỗi từ tài khoản thanh toán chứng khoán, tiền bán bảo hiểm,… từ ngân hàng, công ty chứng khoán, công ty bảo hiểm trong tập đoàn để cho vay hay các công ty thành viên trong tập đoàn sẽ có cơ hội bán chéo sản phẩm cho nhau.
- Đáp ứng các thay đổi về nhu cầu tài chính
Cấu trúc nền kinh tế luôn thay đổi, tạo ra những thay đổi nhu cầu về dịch vụ tài chính của mỗi cá nhân, mỗi công ty, trong đó phát sinh nhiều nhu cầu tài chính phức tạp. Để đáp ứng những thay đổi này, ngân hàng Đông Á cần phát triển thành mô hình tập đoàn tài chính.
Đối với các cá nhân, họ ngày càng quan tâm đến việc quản lý tài sản sao cho an toàn, sinh lời và tiện lợi. Đối với các công ty, họ có nhu cầu dịch vụ tài chính đa dạng và mang tính toàn cầu hơn, vì các công ty này đều có xu hướng mở rộng hoạt động ra phạm vi toàn cầu. Chính những thay đổi về nhu cầu tài chính này đã thúc đẩy ngân hàng Đông Á nhanh chóng xây dựng các sản phẩm dịch vụ tài chính mới, đồng thời mở rộng tổ chức, hướng tới mô hình tập đoàn tài chính nhằm liên kết các nhà cung cấp thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để đáp ứng nhu cầu đa dạng của khách hàng.
2.3.2. Thuận lợi ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Trong năm 2009, mặc dù nền kinh tế thế giới và Việt Nam có nhiều diễn biến phức tạp nhưng ngân hàng Đông Á có bước phát triển vượt bậc cả về tổ chức mạng lưới, cả trong hoạt động kinh doanh do đó đạt kết quả về lợi nhuận cao và đã có những kết quả sau đây:
Cơ bản hoàn thành xử lý nợ xấu, đẩy mạnh cơ cấu lại tài chính, tiến hành hiện đại hóa công nghệ; củng cố tổ chức,… trong đó đặc biệt là việc tăng năng lực tài chính. Song song với việc tìm kiếm đối tác chiến lược để hợp tác đầu tư và hỗ trợ cùng phát triển, ngân hàng Đông Á đã tích cực thực hiện các biện pháp tăng vốn lên 3.400 tỷ đồng vào cuối năm 2009. Trên cơ sở đó, ngân hàng Đông Á đã mở rộng phạm vi và địa bàn hoạt động, thu hút khách hàng và giành được những kết quả ấn tượng, đều khắp trong các sản phẩm dịch vụ ngân hàng như: tín dụng, thanh toán quốc tế, huy động vốn, phát hành thẻ,…
Cùng với gia tăng các hoạt động dịch vụ, hiệu quả hoạt động của ngân hàng Đông Á đã được nâng cao. Tính đến cuối năm 2009, mặc dù bị ảnh hưởng của những biến động do khủng hoảng kinh tế, nhưng ngân hàng Đông Á vẫn kinh doanh có lãi, hơn nữa, lợi nhuận trước thuế vẫn đạt 750 tỷ đồng, cao hơn năm 2008 và hoàn thành mục tiêu Hội đồng quản trị đề ra.
Ứng dụng công nghệ vào hoạt động của ngân hàng Đông Á cũng được tăng cường hơn, do đó đã đẩy mạnh hoạt động dịch vụ ngân hàng, đặc biệt là dịch vụ thanh toán, trong đó thanh toán bằng thẻ ATM tăng khá mạnh, duy trì vị thế dẫn đầu của ngân hàng Đông Á trong dịch vụ phát hành và các tiện ích của thẻ thanh toán nội địa. Đặc biệt, trong năm 2009, thực hiện chủ trương của Thủ tướng chính phủ và Ngân hàng nhà nước Việt Nam, ngân hàng Đông Á đã góp phần quan trọng trong việc khai thông kết nối giữa hai hệ thống thẻ lớn nhất Việt Nam là VNBC và SmartLink, từ đó thúc đẩy sự phát triển các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt tại Việt Nam, đồng thời tạo thuận tiện cho khách hàng có thể giao dịch tại hơn 3.000 máy ATM thuộc hai hệ thống trên.
2.3.3. Khó khăn ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Trong quá trình xây dựng mô hình tập đoàn TC – NH, ngân hàng Đông Á có khả năng gặp nhiều rủi ro phát sinh như sau:
- Rủi ro về lãi suất: Rủi ro lãi suất xảy ra khi có sự chênh lệch về kỳ hạn, tính thanh khoản giữa vốn huy động và việc sử dụng vốn huy động của ngân hàng trong điều kiện lãi suất thị trường thay đổi ngoài dự kiến, điều này dẫn đến khả năng giảm thu nhập của ngân hàng so với dự tính.
- Rủi ro về tín dụng: Rủi ro tín dụng bao hàm những tổn thất mà ngân hàng Đông Á có thể phải gánh chịu khi khách hàng không có khả năng thực hiện các nghĩa vụ tài chính đã được ngân hàng Đông Á bảo lãnh hoặc không thanh toán đầy đủ, đúng hạn gốc và lãi các khoản tiền vay theo hợp đồng. Tổng số dư nợ các khoản vay của ngân hàng Đông Á đối với các doanh nghiệp của Việt Nam tập trung vào các đối tượng thuộc các nhóm ngành chính của nền kinh tế như: sản xuất, giao thông vận tải, hàng không, hàng hải, dầu khí… Do đó, sự suy thoái trong bất kỳ ngành công nghiệp nào nêu trên đây đều có thể dẫn đến sự gia tăng nợ xấu, điều này có thể ảnh hưởng bất lợi đáng kể đến kết quả của hoạt động kinh doanh và tình trạng tài chính của ngân hàng Đông Á.
- Rủi ro về ngoại hối: Rủi ro ngoại hối phát sinh khi có sự biến động về tỷ giá ngoại hối trên thị trường đối với các khoản mục tài sản Nợ và tài sản Có bằng ngoại tệ tại ngân hàng Đông Á.
- Rủi ro về hoạt động ngoại bảng: Ngân hàng Đông Á thực hiện các hoạt động cam kết bảo lãnh cho khách hàng, đây là những hoạt động thuần túy mang tính chất dịch vụ và được hạch toán ngoại bảng. Tuy nhiên, trong trường hợp khách hàng mất khả năng thanh toán cho người thụ hưởng như mất khả năng thanh toán L/C trả chậm, L/C trả ngay… thì ngân hàng Đông Á sẽ gặp rủi ro vì phải thay khách hàng trả tiền cho người thụ hưởng. Lúc đó, nghĩa vụ phát sinh của khách hàng sẽ được hạch toán trong nội bảng với tư cách là những khoản tín dụng bắt buộc.
- Rủi ro hoạt động: Rủi ro hoạt động là loại rủi ro liên quan đến công nghệ, cơ sở hạ tầng, quy trình nghiệp vụ, yếu tố con người… trong quá trình hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Hiện này, Ngân hàng Đông Á chủ yếu tích hợp các biện pháp kiểm soát rủi ro hoạt động trong các hoạt động hàng ngày của từng phòng ban, chứ không quản lý rủi ro hoạt động thông qua một phòng trung tâm. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Rủi ro hệ thống thông tin: Ngân hàng Đông Á sử dụng hệ thống công nghệ thông tin để thực hiện một số lượng lớn các giao dịch một cách chính xác và kịp thời, và để lưu trữ và xử lý về cơ bản tất cả các dữ liệu liên quan đến công việc kinh doanh và hoạt động của ngân hàng Đông Á. Việc vận hành tốt hệ thống công nghệ thông tin liên quan đến kiểm tra tài chính, quản lý rủi ro, phân tích tín dụng và báo cáo, kế toán, dịch vụ khách hàng và các vấn đề khác, cũng như là các mạng liên lạc giữa các chi nhánh của ngân hàng Đông Á và các trung tâm xử lý dữ liệu chính, có tính quyết định đối với công việc kinh doanh và khả năng cạnh tranh hiệu quả của ngân hàng Đông Á. Tuy nhiên, các hoạt động kinh doanh có thể bị gián đoạn nghiêm trọng nếu một phần hoặc toàn bộ hệ thống công nghệ thông tin hoặc mạng thông tin nào của ngân hàng Đông Á không vận hành hoặc vận hành sai. Các sự cố không vận hành hoặc vận hành sai đó có thể xảy ra vì nhiều lý do, kể cả do các thảm họa thiên tai, mất điện trên diện rộng và virus máy tính. Việc vận hành tốt hệ thống công nghệ thông tin cũng phụ thuộc vào các số liệu chính xác và có thể tin cậy được và các dữ liệu đầu vào khác của hệ thống, mà điều này khó tránh khỏi sai sót do con người gây ra. Bất kỳ sự cố hoặc chậm trễ nào trong việc ghi chép hoặc xử lý các dữ liệu giao dịch đều có thể khiến ngân hàng Đông Á bị đòi bồi thường thiệt hại, mất mát hoặc bị xử phạt.
- Rủi ro luật pháp: Ngân hàng Đông Á là một doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tài chính, tiền tệ – một lĩnh vực nhạy cảm, chịu sự điều chỉnh bởi nhiều văn bản pháp luật và đây cũng là lĩnh vực hoạt động có quan hệ sâu rộng với nhiều đối tượng khách hàng, tầng lớp trong xã hội.
Việt Nam đang trong quá trình mở cửa và hội nhập với nền kinh tế thế giới. Do vậy hệ thống văn bản pháp luật của Nhà nước không ngừng được chỉnh sửa, bổ sung hoặc ban hành mới để hoàn thiện và phù hợp với điều kiện hội nhập. Việc không áp dụng kịp thời, áp dụng không đúng các văn bản pháp luật điều chỉnh sẽ dẫn đến rủi ro về mặt pháp luật đối với hoạt động ngân hàng.
2.4. Cơ hội – thách thức của NHTMCP Đông Á sau khi trở thành tập đoàn TCNH
2.4.1. Cơ hội
- Tình hình kinh tế Việt Nam và thế giới
Kinh tế thế giới đang trải qua một cuộc khủng hoảng nghiêm trọng nhất kể từ năm 1929 – 1933, đã làm cho các nền kinh tế chủ chốt của thế giới suy thoái từ 2% đến 5%, những tổn thất do cuộc khủng hoảng này gây ra đã lên tới nghìn tỷ USD và những hệ quả của nó còn có thể kéo dài trong nhiều năm tới. Tuy nhiên, cuối năm 2009, dấu hiệu hồi phục đã xuất hiện ở nhiều quốc gia, mặc dù còn diễn biến khá phức tạp: hồi phục không chắc chắn, những động thái về tiền tệ, đầu tư, thương mại… khó dự đoán, nhiều rủi ro bất trắc, các cơ hội phát triển mong manh, nhưng xét về tổng thể, tình hình kinh tế thế giới năm 2010 sẽ khá hơn năm 2009, đó là điều thuận lợi đối với Việt Nam. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Năm 2009 là năm nước Mỹ chứng kiến làn sóng sụp đổ của các ngân hàng. Chỉ riêng trong ngày 18/12/2009, có tới 7 ngân hàng đóng cửa, nâng tổng số nạn nhân từ đầu năm lên đến 140. Dù vậy, hầu hết các nạn nhân của năm nay đều là những ngân hàng nhỏ, không còn những “đại gia” như Lehman Brothers hồi năm 2008. Đó cũng là tín hiệu khả quan, một phần nhờ vào những nỗ lực của chính phủ Mỹ. Gói Giải trừ nợ xấu (TARP) trị giá khoảng 200 tỷ USD phê duyệt hồi cuối năm 2008 đã phát huy tác dụng. Nhờ TARP, một loạt ngân hàng đã phục hồi và thậm chí còn thu lãi kỷ lục như Goldman Sachs. Trong quý 2/2009, lợi nhuận của Goldman đạt 3,4 tỷ USD, tăng tới 89% và là kỷ lục trong lịch sử 140 năm của ngân hàng này. Sau khi Goldman Sachs tuyên bố thanh toán xong mọi nợ nần với chính phủ, một loạt các đại gia khác như Well Fargos, Citigroup cũng cho biết đã sẵn sàng trả nợ
Vào đầu tháng 12, khu vực sử dụng đồng tiền chung châu Âu cũng hồ hởi tuyên bố EU đã chính thức thoát khỏi suy thoái. Trong quý III/2009, EU tăng trưởng dương 0,3%, sau 5 quý âm liên tiếp từ đầu năm 2008. Khu vực này được vực dậy nhờ hoạt động xuất khẩu cùng hàng loạt biện pháp kích thích kinh tế của các chính phủ. Trước đó, các nền kinh tế khác như Singapore, Hong Kong, Đức, Pháp cũng tuyên bố đã ra khỏi thời kỳ đen tối nhất. Với kết quả tăng trưởng kinh tế quý 3 đạt 2,2%, nền kinh tế lớn nhất toàn cầu là Mỹ cũng đã vượt qua đáy, đập tan các dự báo về suy thoái kép. Trước đó, GDP nước này tăng trưởng âm 4 quý liên tiếp.
Giá dầu tăng theo đà hồi phục của kinh tế thế giới. Khởi đầu năm 2009 với mức đáy 34,57 USD một thùng vào ngày 2/1, giá dầu tăng nhanh với tốc độ xấp xỉ 10 USD chỉ trong một tuần sau đó do tác động của tình hình chiến sự tại Dải Gaza và những tranh cãi xung quanh vấn đề vận chuyển dầu của Nga qua Ukraina. Đà hồi phục của kinh tế thế giới trong suốt năm 2009 tiếp tục là động lực cho thị trường suốt 12 tháng sau đó. Liên tiếp xô đổ ngưỡng 50 rồi 60 USD một thùng trong tháng 5 và tháng 6, giá dầu giằng co quanh mốc 70 USD một thùng trong giai đoạn từ tháng 6 đến tháng 10 năm nay. Cùng với những tin tức tốt lành từ kinh tế Mỹ, giá dầu đạt kỷ lục 79,12 USD một thùng vào thời điểm hai ngày trước khi năm 2009 kết thúc. Trong cuộc họp gần cuối năm, Tổ chức Các nước xuất khẩu dầu mỏ OPEC hoan hỉ rằng đây là mức giá “hoàn hảo”.
Cùng với Trung Quốc, các quốc gia châu Á trở thành trung tâm chú ý của toàn thế giới trong khủng hoảng. Trong tháng 12/2009, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) nâng mức dự báo tăng trưởng cho nhóm 45 quốc gia châu Á đang phát triển lên 4,5% trong 2009 và 6,6% trong năm 2010. Con số này cao hơn nhiêu so với đánh giá trước đó, lần lượt là 3,9% và 6,4% cho hai năm. Với mức tăng này, châu Á hiện vẫn là đầu tàu tăng trưởng của thế giới. Thậm chí, theo đánh giá của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), sự tăng trưởng kinh tế toàn cầu trong năm tới sẽ phụ thuộc vào châu Á, đặc biệt là những nền kinh tế mới nổi như Trung Quốc và Ấn Độ ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Cũng theo đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Việt Nam là một trong những nước giữ được tốc độ tăng trưởng kinh tế ấn tượng nhất khu vực Đông Nam Á, ngăn ngừa được lạm phát, an sinh xã hội được đảm bảo…Chính sách vĩ mô được ban hành một cách nhanh chóng và mạnh mẽ của Chính phủ đã giúp nền kinh tế thoát khỏi suy thoái, trong đó có sự đóng góp chủ đạo của ngành Ngân hàng.
Do ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính toàn cầu, tăng trưởng kinh tế Việt Nam sụt giảm mạnh, tác động trầm trọng nhất là vào quý I/2009. Tuy nhiên, dấu hiệu hồi phục đã nổi lên từ quý II, sau khi gói kích thích kinh tế khá lớn được đưa ra hồi đầu năm 2009, bao gồm nhiều biện pháp khác nhau, từ chương trình hỗ trợ lãi suất, miễn và hoãn thu nhiều loại thuế đến đầu tư vốn bổ sung, bắt đầu phát huy tác dụng.
Mặc dù chịu ảnh hưởng không nhỏ từ suy thoái kinh tế chung nhưng tốc độ tăng trưởng GDP Việt Nam vẫn tăng dần qua 4 quý, lần lượt là 3,1%, 4,5%, 5,8% và 6,8%. Cả năm 2009, GDP đạt khoảng 5,2% so với mục tiêu Quốc hội đề ra là khoảng 5%.
Đáng chú ý, trong khi tăng trưởng GDP đạt được kết quả khả quan như vậy thì Chính phủ vẫn thực hiện tốt các biện pháp kiềm chế lạm phát. Cụ thể lạm phát năm 2009 chỉ ở mức trung bình khoảng 7%.
Dù được đánh giá là một trong ít nền kinh tế phục hồi tốt nhất trong khu vực nhưng dưới ảnh hưởng của suy giảm kinh tế toàn cầu, năm 2009, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam giảm sút khá sâu. Tuy nhiên, do tốc độ giảm kim ngạch xuất khẩu chậm hơn tốc độ giảm kim ngạch nhập khẩu nên nhập siêu giảm xuống chỉ còn khoảng 11 tỷ USD, thấp hơn 6 tỷ USD so với năm 2008. Về hình thức, đây là tín hiệu tích cực của việc cải thiện cán cân thương mại. [1]
Thị trường chứng khoán Việt Nam đã có giai đoạn tăng trưởng ấn tượng trước khi điều chỉnh vào hai tháng cuối năm 2009. Số lượng các công ty niêm yết cũng tăng qua các năm từ đó lượng vốn hóa trên thị trường cũng tăng theo. Trong năm 2009, TTCK có thêm 115 doanh nghiệp lên sàn niêm yết, trong đó ở sàn TPHCM là 26 và Hà Nội là 89, đưa tổng số mã cổ phiếu niêm yết cả nước đến thời điểm hiện tại là 454 loại. Tổng hợp số liệu của Sở Giao dịch chứng khoán TPHCM và Trung tâm Giao dịch Chứng khoán Hà Nội cho biết đến ngày 31/12, giá trị vốn hóa của hai thị trường đạt hơn 610.000 tỷ đồng, chiếm 37,6% GDP của cả nước. Với đà tăng trưởng của thị trường chứng khoán Việt Nam thì lĩnh vực ngân hàng cũng phát triển nóng lên đặc biệt là ở khâu giao dịch thanh toán. [2]
Với dân số khoảng 86 triệu người (đứng thứ 13 trên thế giới), hiện mới chỉ có khoảng 9 triệu tài khoản mở tại Việt Nam, trong đó có tới 7 triệu tài khoản được mở chỉ trong 3 năm 2007-2009. Con số này cho thấy mức độ tiếp cận các dịch vụ ngân hàng chiếm khoảng 10%, thuộc hàng thấp nhất thế giới. Ngoài ra, hiện nay 70,4% dân số sống bên ngoài khu vực thành thị và không tiếp cận được với các cơ sở ngân hàng như mạng lưới các chi nhánh hay hệ thống máy ATM. Tuy nhiên, trong những năm gần đây, Việt Nam đã trải qua quá trình đô thị hóa nhanh chóng với số dân thành thị tăng với tốc độ 3,4%/năm từ 2000 đến 2009. Điều đó mở ra cơ hội khai thác tiềm năng thị trường đáng kể trong lĩnh vực ngân hàng và dịch vụ tài chính của Việt Nam.
- Thương hiệu ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Ngân hàng TMCP Đông Á được thừa nhận rộng rãi là NHTM hàng đầu trong lĩnh vực thẻ tại Việt Nam. Với hơn 18 năm xây dựng và phát triển, NHTMCP Đông Á đã vươn lên và trở thành một trong những ngân hàng hoạt động hiệu quả nhất tại Việt Nam. Thương hiệu và uy tín đã giúp cho NGÂN HÀNG ĐÔNG Á cung cấp được các loại hình sản phẩm dịch vụ ngân hàng, đạt được thị phần tương đối trong các mảng kinh doanh thẻ, thanh toán xuất nhập khẩu, huy động vốn, tín dụng, kinh doanh ngoại tệ… cho hệ thống các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Ngân hàng TMCP Đông Á hiện đứng đầu thị trường Việt Nam về các mảng dịch vụ thẻ phục vụ cho đối tượng doanh nghiệp và cá nhân với trên 3,9 triệu thẻ đã phát hành, chiếm 30% thị phần thẻ Việt Nam với nhiều tính năng nổi trội như: gửi tiền báo có trực tiếp tại ATM, thu đổi ngoại tệ tại ATM, thanh toán mua hàng trực tuyến, thanh toán các dịch vụ sinh hoạt hàng ngày (điện, nước, điện thoại, internet, taxi, bảo hiểm,…)
2.4.2. Thách thức
Về mặt pháp luật và công tác quản trị điều hành chung
- Hiện nay, nước ta chưa có luật quy định cụ thể về tập đoàn kinh tế và tập đoàn TC – NH. Luật Doanh nghiệp năm 2005 – Điều 149 mới chỉ đưa ra định nghĩa khái quát: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn, Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí, tổ chức quản lý và hoạt động của tập đoàn kinh tế”.
- Chưa có các quy định pháp lý cụ thể về việc mua bán, sáp nhập các định chế tài chính, trong khi khung pháp lý về mua bán, sáp nhập là nền tảng quan trọng thúc đẩy quá trình tích tụ, tập trung vốn công khai minh bạch tại các tổ chức tín dụng.
- Nghị định số 153/2004/NĐ-CP ngày 09 tháng 8 năm 2004 của Chính phủ về tổ chức, quản lý tổng công ty nhà nước và chuyển đổi tổng công ty nhà nước, công ty nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ – công ty con, còn quá khái quát và chủ yếu phục vụ mục đích chuyển đổi mô hình hoạt động của các tổng công ty 100% vốn Nhà nước. Trong điều kiện chuyển đổi mô hình tập đoàn tài chính – ngân hàng theo mô hình công ty mẹ – công ty con trong giai đoạn cổ phần hóa và hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay đòi hỏi phải tính đến những yêu cầu và điều kiện đặc thù một cách thận trọng.
- Công tác quản trị doanh nghiệp, chuẩn mực hệ thống kế toán – kiểm toán còn chưa theo chuẩn mực quốc tế, tính minh bạch trong thông tin tài chính còn hạn chế. Hầu hết các NHTM chưa thực hiện đáng giá tín nhiệm theo thông lệ.
- Năng lực tài chính (vốn tự có) của các NHTM Việt Nam còn yếu, hầu hết các NHTM còn gặp nhiều khó khăn về chỉ tiêu đảm bảo an toàn vốn tối thiểu. Các NHTM còn phải tốn nhiều công sức và thời gian kiện toàn lại bộ máy hoạt động/năng lực tài chính, xây dựng các quy tắc chuẩn mực quản trị doanh nghiệp và quản trị rủi ro trong kinh
- Năng lực quản trị điều hành của HĐQT, của Ban lãnh đạo các NHTM còn phải được nâng cao trong điều kiện hội nhập trên cả hai phương diện: hoạt động ngân hàng và hoạt động của các đơn vị thành viên phi ngân hàng.
Về cơ chế hoạt động của DAB ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Thời gian 18 năm hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng không phải là thời gian dài đủ để ngân hàng TMCP Đông Á hoàn thiện bộ máy tổ chức cũng như cơ chế hoạt động của mình. Theo đó, mỗi lần chuyển đổi mô hình tổ chức và cách thức quản trị là một thách thức không nhỏ đối với ngân hàng Đông Á.
- Thêm vào đó, mặc dù là ngân hàng cổ phần nhưng nguồn vốn sở hữu nhà nước chiếm tỷ lệ không nhỏ trong cơ cấu vốn của Ngân hàng Đông Á, đặc biệt trong điều kiện cần thiết phải thay đổi từng ngày để hội nhập với môi trường kinh tế quốc tế hiện nay, điều này đã làm cho hoạt động kinh doanh phần nào kém linh hoạt và không phát huy hết yếu tố nguồn lực con người trong quá trình hoạt động.
Sự chuyển dịch cơ cấu nguồn lực lao động
Mặc dù hoạt động theo cơ chế của một ngân hàng cổ phần, thời gian qua ngân hàng Đông Á đã không ngừng tìm kiếm các giải pháp nhằm hỗ trợ nâng cao đời sống và thu nhập của người lao động. Tuy nhiên, chính sách lương, thưởng và các chế độ đãi ngộ của ngân hàng Đông Á vẫn chưa thực sự là đòn bẩy khuyến khích người lao động làm việc và gắn bó với ngân hàng vì nó chưa theo kịp được các chính sách chế độ đãi ngộ của hệ thống các NHTM NN, ngân hàng nước ngoài.
Thời gian qua, việc chuyển dịch các nguồn lực lao động có chất lượng cao trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán nói chung và ngân hàng Đông Á nói riêng diễn ra rất phổ biến. Điều này xuất phát từ hai nguyên nhân chủ yếu:
- Thị trường dịch vụ ngân hàng, tài chính, bảo hiểm, chứng khoán phát triển với tốc độ cao, yêu cầu về việc mở rộng địa bàn hoạt động, phát triển mạng lưới là yêu cầu cấp bách trong xu thế mở cửa và hội nhập. Điều này dẫn đến nhu cầu về lao động đối với những lĩnh vực này tăng cao. Việc tuyển mới nhân sự sẽ không hiệu quả bằng việc thu hút các nhân sự có chất lượng cao tại các đơn vị bạn.
- Đối với bản thân các nhân sự có chất lượng cao luôn nhận được sự quan tâm và mời chào của các NHTM CP, ngân hàng nước ngoài, tổ chức tài chính khác với các chính sách, chế độ đãi ngộ vô cùng hấp dẫn. Điều này dẫn đến việc một bộ phận nhân sự có trình độ, kinh nghiệm chuyển sang làm việc ở nơi khác làm ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Áp lực cạnh tranh ngày càng gay gắt ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Tính đến thời điểm hiện tại, hệ thống ngân hàng Việt Nam được chia thành 03 khối bao gồm 5 NHTM NN, 39 NHTM CP và các khối ngân hàng nước ngoài (40 chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam, 05 ngân hàng liên doanh, 05 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 53 văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam).
Trong những năm gần đây khi môi trường pháp luật ngày càng rõ ràng hơn, tạo điều kiện bình đẳng cho các thành phần kinh tế cùng pháp triển theo cơ chế của nền kinh tế thị trường, thị trường đã ghi nhận sự phát triển vượt bậc của khối các NHTM CP, tạo nên áp lực cạnh tranh mạnh mẽ trong lĩnh vực TC – NH tại Việt Nam. Thời gian qua, các NHTM CP đã không ngừng nâng cao năng lực tài chính (bổ sung vốn điều lệ), đầu tư cho các hoạt động phát triển mạng lưới, thành lập mới các chi nhánh, phát triển hệ thống các phòng giao dịch, đầu tư công nghệ, đầu tư lắp đặt hệ thống máy ATM tại các địa bàn để có thể phục vụ khách hàng tốt hơn. Bên cạnh đó, các NHTM CP cũng sẽ thực hiện hàng loạt các chiến dịch, chương trình quảng cáo, tiếp thị, quan hệ công chúng để nâng cao vị thế và hình ảnh trên thị trường.
Việt Nam vẫn được đánh giá là một thị trường vô cùng tiềm năng đối với các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng tại Việt Nam chưa có sự đa dạng, tính phù hợp nhắm đến các đối tượng sử dụng khác nhau, mà vẫn mang tính đơn điệu, chung chung… do vậy làm cho sự cạnh tranh lại càng gay gắt hơn.
Môi trường kinh doanh có nhiều biến động bất lợi
Tình hình kinh tế thế giới trong năm 2009 suy giảm và diễn biến phức tạp đã tác động nhiều mặt, đặc biệt về xuất khẩu, đầu tư, du lịch… đến các nước, trong đó có nước ta. Từ giữa năm 2009, suy thoái kinh tế thế giới đã chững lại và bắt đầu có dấu hiệu phục hồi ở một số nước nhưng vẫn còn rất nhiều khó khăn. Những vấn đề cốt lõi của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế chưa thể giải quyết trong thời gian ngắn, thương mại toàn cầu bị thu hẹp và vấn đề lao động, việc làm còn trầm trọng ở nhiều nước.
Trong nước nền kinh tế gặp nhiều khó khăn, thách thức một mặt do tác động của cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế thế giới. Mặt khác do ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt trên nhiều vùng trong cả nước đã tác động mạnh đến tốc độ phát triển kinh tế và đời sống thu nhập của các tầng lớp xã hội. Khu vực dịch vụ tài chính Việt Nam có những biểu hiện phát triển chậm lại và đang tiềm ẩn nguy cơ rủi ro cao.
2.4.3. Nguyên nhân và chỉ số điều kiện để xây dựng tập đoàn TCNH ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Nguyên nhân
Xu thế toàn cầu hóa và sự phát triển như vũ bão của khoa học công nghệ, đặc biệt là công nghệ thông tin và sự nới lỏng các quy định pháp lý về TC – NH là nguyên nhân chính thúc đẩy quá trình hình thành và phát triển của các tập đoàn TC – NH (TC – NH). Khi phát triển đến mức độ nhất định và do nhu cầu của nền kinh tế, các ngân hàng, công ty bảo hiểm hay công ty chứng khoán đều vươn ra hoạt động đa năng và hướng ra toàn cầu thông qua những hình thức khác nhau như liên kết, hợp nhất, sáp nhập, thành lập các công ty trực thuộc. Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn TC – NH là mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ, giảm chi phí để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó đem lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn.
Sau sự kiện Việt Nam trở thành thành viên của WTO, các tổ chức tín dụng nước ngoài như: Văn phòng đại diện, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, ngân hàng liên doanh hoặc ngân hàng 100% vốn nước ngoài; các công ty cho thuê tài chính… đã và đang xúc tiến mạnh mẽ các hoạt động kinh doanh trên thị trường Việt Nam. Bên cạnh những đối thủ cạnh tranh truyền thống trước đây, các ngân hàng thương mại trong nước sẽ phải đương đầu với các định chế tài chính khác như các công ty bảo hiểm, quỹ đầu tư, công ty tài chính, tổ chức phi ngân hàng khác… Chúng ta sẽ cạnh tranh thế nào trong khu vực và ngay trên sân nhà khi hội nhập tài chính đang “gõ cửa” từng địa phương, từng doanh nghiệp, từng gia đình với hệ thống tài chính hoàn toàn thiếu vắng những tập đoàn TC – NH ngay cả có quy mô nhỏ?
Việc thành lập các ngân hàng, hay tổ chức ngân hàng trong tập đoàn kinh tế là hoàn toàn có thể và sẽ tạo được lợi thế cạnh tranh không chỉ trong nước và khu vực. Và một trong những nguyên nhân thúc đẩy thành lập tập đoàn TC – NH chính là yêu cầu quản lý rủi ro và hạn chế thấp nhất rủi ro.
Để có thể đứng vững trong hội nhập và trưởng thành trong xu hướng phát triển kinh tế cả nước, Ngân hàng Đông Á sẽ phát triển theo hướng trở thành tập đoàn tài chính, kinh doanh với nhiều hình thức khác nhau.
Đáng chú ý, trong mô hình tập đoàn tài chính mà lãnh đạo ngân hàng Đông Á đưa ra có triển khai việc thành lập thêm các đơn vị như: Công ty bảo hiểm nhân thọ, Công ty Quản lý quỹ đầu tư, Công ty quản lý vốn đầu tư bất động sản, Công ty thẻ, Công ty chuyển mạch thẻ quốc gia, Trung tâm dịch vụ tin học ngân hàng,…
Hiện nay, thị trường bảo hiểm Việt Nam còn rất non trẻ, tiềm năng tăng trưởng lớn với mức tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 20%. Để đáp ứng yêu cầu của thị trường và để chuẩn bị cho tương lai, ngân hàng Đông Á có thể đầu tư vốn vào một số doanh nghiệp bảo hiểm trong nước, ký kết thỏa ước với một số công ty bảo hiểm để tiến hành bán chéo các sản phẩm bảo hiểm nhân thọ và phi nhân thọ qua mạng lưới giao dịch của mình. ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Thêm nữa, trong bối cảnh cải cách, đổi mới doanh nghiệp và cổ phần hóa hiện nay, tiềm năng và cơ hội kinh doanh quản lý quỹ và đầu tư trực tiếp vào các doanh nghiệp cổ phần hóa là rất lớn. Hiện tiềm năng về vốn của công chúng đầu tư trong và ngoài nước rất lớn, cơ hội đầu tư sẵn có, số lượng các trung gian cung cấp dịch vụ đầu tư – đặc biệt là các công ty quản lý quỹ cũng như các quỹ đã có nhiều, tuy nhiên, chỉ có một số ít công ty hoạt động thực sự hiệu quả.
Ngân hàng Đông Á đang có lợi thế lớn trong việc tiếp cận, cung cấp các giải pháp tài chính trọn gói bao gồm cả việc đầu tư trực tiếp dưới dạng tham gia vốn vào các doanh nghiệp đang trong quá trình cổ phần hóa. Nhận thức được thời cơ kinh doanh, ngân hàng đã thành lập và đang trong quá trình hoàn thiện Công ty quản lý quỹ chứng khoán Đông Á. Kinh doanh quản lý quỹ đầu tư sẽ tạo cho Ngân hàng Đông Á khả năng hoàn thiện danh mục sản phẩm của mình, cung cấp được cho khách hàng mọi sản phẩm, dịch vụ tài chính, đáp ứng yêu cầu của quá trình hội nhập và cạnh tranh trên trường quốc tế.
Chỉ số điều kiện xây dựng tập đoàn TCNH
Theo tiêu chuẩn quốc tế thì một tập đoàn TC – NH ngoài quy mô hoạt động rộng khắp, mức độ đa dạng dịch vụ cao, khả năng quản lý … còn phải đảm bảo các chỉ số cơ bản sau:
- Đảm bảo hệ số vốn an toàn vốn tối thiểu (CAR = Vốn tự có/Tổng tài sản có rủi ro) là 8%;
- Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ không quá 5%;
- Lợi nhuận ròng trên tổng tài sản có (ROA) từ 1% trở lên;
- Lợi nhuận ròng trên vốn chủ sở hữu (ROE) tử 15% trở lên.
Qua việc phân tích kết quả hoạt động kinh doanh, cơ hội và thách thức bên trên, xét về cơ bản, ngân hàng Đông Á đang từng bước hoàn thiện cơ cấu hoạt động của mình theo các tiêu chuẩn quốc tế để tiến tới thực hiện mục tiêu trở thành một tập đoàn TC – NH có quy mô hoạt động rộng khắp qua việc thỏa các chỉ tiêu theo chuẩn quốc tế cụ thể: hệ số an toàn vốn tối thiểu (CAR) là 8%, tỷ lệ nợ xấu là 2,29%, ROA ~ 1,8%, ROE ~ 22%.
Nhưng nguồn vốn tự có hiện nay còn khá thấp so với tiềm lực của một tập đoàn TC-NH trên thế giới làm hạn chế khả năng mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng. Để đạt được mức vốn tự có theo quy mô của một tập đoàn TC-NH thì ngân hàng Đông Á cần đạt mức vốn tự có vào khoảng 01 tỷ USD, gần gấp 05 lần so với thời điểm hiện tại. Đây cũng nằm trong mục tiêu lâu dài đến năm 2015 của ngân hàng Đông Á.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 2 ( Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Như vậy, chặng đường mà các NHTM Việt Nam còn phải trải qua theo mô hình phát triển thành tập đoàn TC – NH phía trước còn rất nhiều chông gai. Trên thực tế, việc cho phép các NHTM được sở hữu các công ty chứng khoán, bảo hiểm đã tạo tiền đề tốt cho việc hình thành những liên kết ngang nhằm khắc phục trọn gói nhu cầu của khách hàng. Tuy nhiên, sự thiếu vắng những quy định pháp lý liên quan đến tổ chức, hoạt động và tư cách pháp nhân những tập đoàn và những điều kiện, tiêu chí cần thiết cho việc hình thành tập đoàn đúng nghĩa (đủ sức mạnh tài chính, đủ khả năng quản trị điều hành, quản trị rủi ro đảm bảo tính minh bạch, công bố thông tin và chuẩn mực kế toán, kiểm toán) đã cho thấy những khó khăn đáng kể (cả chủ quan và khách quan) đối với việc triển khai mô hình tập đoàn TC – NH trong thời điểm hiện tại. Sẽ là thực tế và hiệu quả hơn nếu các cấp có thẩm quyền tiếp tục kiên trì định hướng chỉ đạo các TCTD tăng cường năng lực nội sinh; đồng thời tiếp tục nghiên cứu làm rõ khung pháp lý và nền móng kỹ thuật của mô hình tập đoàn TC – NH trên cơ sở rút kinh nghiệm các nước và điều kiện thực tế của Việt Nam.
Qua việc đánh giá kết quả hoạt động kinh doanh và kế hoạch thực hiện các chỉ tiêu tài chính cho các năm tới của ngân hàng Đông Á có đủ tự tin để sẵn sàng gia nhập vào sân chơi tài chính quốc tế trong tương lai không xa và chắc chẵn sẽ trở thành một tập đoàn TC – NH lớn mạnh có quy mô hoạt động rộng khắp.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Giải pháp phát triển tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
