Hình thành và phát triển các tập đoàn Tài chính ngân hàng là xu hướng phát triển rất mạnh từ nhiều thập kỷ qua trên thế giới, vì tầm quan trọng rất lớn với xu thế hiện nay nên tác giả đã lấy Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng làm bài luận văn Thạc sĩ của mình. Trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế, Việt Nam không thể tách rời xu thế chung đó. Trong đó, việc hình thành những ngân hàng lớn, hoạt động đa năng, có khả năng thích ứng trước những thay đổi nhanh chóng trong thế giới hiện đại đã và đang trở thành một nhu cầu bức xúc và một xu thế tất yếu được tác khắc họa cụ thể trong Đề tài: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng Tmcp Đông Á Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế” dưới đây, mời các bạn đọc giả tham khảo và cảm nhận!
LỜI MỞ ĐẦU
1.Tính cấp thiết của đề tài:
Tại Việt Nam, từ khi hình thành hệ thống ngân hàng hai cấp, hoạt động kinh doanh tiền tệ, tín dụng đã được chuyển sang các tổ chức tín dụng (TCTD) theo hướng chuyên môn hóa, đa dạng hóa. Nhờ đó, các TCTD đã trưởng thành nhanh chóng, nhất là các Ngân hàng thương mại (NHTM) nhà nước và NHTM cổ phần. Phần lớn các NHTM đã chú trọng tăng vốn, đổi mới trang thiết bị, nâng cao năng lực quản trị điều hành và chất lượng nguồn nhân lực nhằm mở rộng quy mô và loại hình dịch vụ, từng bước tăng cường năng lực cạnh tranh. Nhờ đó, thị trường dịch vụ tài chính Việt Nam đã và đang ngày càng mở cửa sâu, rộng với khu vực và quốc tế theo các cam kết gia nhập Tổ chức thương mại thế giới (WTO).
Tuy nhiên, so với các NHTM nước ngoài, hệ thống NHTM Việt Nam còn yếu kém về nhiều mặt như nguồn vốn, kinh nghiệm quản lý, kinh doanh, công nghệ, kỹ thuật, chất lượng và loại hình dịch vụ, cũng như khả năng chống đỡ rủi ro. Điều này đòi hỏi mỗi NHTM phải có định hướng và giải pháp thích hợp để phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh, làm chủ được thị trường tài chính trong nước và vươn ra thị trường nước ngoài.
Là một người đang công tác tại Ngân hàng TMCP Đông Á (DAB – DongA Bank), với mong muốn DAB ngày càng phát triển và lớn mạnh thành một tập đoàn tài chính ngân hàng tầm cỡ, tôi mạnh dạn nghiên cứu và thực hiện luận văn với đề tài: “Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng Tmcp Đông Á Trong Quá Trình Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế”
2. Mục đích nghiên cứu:
Luận văn nghiên cứu tổng quan những lý luận cơ bản về tập đoàn TC – NH và thực trạng phát triển mô hình tập đoàn tài chính tại ngân hàng TMCP Đông Á, so sánh tương quan với các đối thủ khác trong ngành, từ đó tìm ra các giải pháp nhằm giúp khắc phục những tồn tại và đẩy mạnh, xây dựng thành công mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân hàng này. ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
3. Nhiệm vụ nghiên cứu:
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luân văn đặt ra ba nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nguyên cứu lý thuyết, hệ thống hóa các vấn đề lý luận cơ bản về tập đoàn tài chính ngân hàng.
- Tìm hiểu thực trạng hoạt động và xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân hàng TMCP Đông Á
- Đề xuất một số giải pháp nhằm xây dựng thành công mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân hàng TMCP Đông Á
4. Đối tượng, phạm vi nghiên cứu:
Phạm vi nghiên cứu của luận văn giới hạn ở một số vấn đề lý luận và thực tiễn có liên quan trực tiếp đến xây dựng tập đoàn tài chính tại ngân hàng TMCP Đông Á giai đoạn 2003-2008.
Đối tượng nghiên cứu của luận văn là thực trạng và các giải pháp xây dựng thành công mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân hàng TMCP Đông Á
5. Phương pháp nghiên cứu:
Phương pháp nghiên cứu được vận dụng trong đề tài bao gồm phương pháp hệ thống so sánh, phân tích, khái quát cụ thể, thu thập và xử lý số liệu, từ đó, đề xuất các giải pháp nhằm giải quyết những vấn đề đặt ra trong đề tài.
6. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài
Luận văn dựa trên thực trạng tình hình hoạt động của Ngân hàng TMCP Đông Á, từ đó, đi sâu vào phân tích những cơ hội, thách thức và đưa ra các giải pháp để Ngân hàng TMCP Đông Á hình dung được hướng phát triển thành một tập đoàn tài chính ngân hàng trong thời gian ngắn nhất.
Do thời gian nghiên cứu và kiến thức còn hạn hẹp, học viên không thể tránh khỏi những thiếu sót. Rất mong nhận được những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô, các bạn bè, đồng nghiệp và các độc giả để học viên điều chỉnh, hoàn thiện luận văn và mở rộng kiến thức của mình trong công tác nghiên cứu sau này.
Có thể bạn quan tâm:
CHƯƠNG 1. TỔNG QUAN VỀ TẬP ĐOÀN TÀI CHÍNH – NGÂN HÀNG
1.1. Khái niệm về tập đoàn tài chính – ngân hàng (TC-NH) ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Tập đoàn tài chính ngân hàng là một thực thể kinh tế gồm một số doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng và các hoạt động khác có liên quan đến hoạt động TC – NH, mỗi thành viên tập đoàn là những pháp nhân độc lập, trong đó có một doanh nghiệp làm nòng cốt. Giữa các doanh nghiệp đó có mối liên kết nhất định để cùng nhau thực hiện một liên kết kinh tế có quy mô lớn nhằm đạt được hiệu quả hoạt động tối đa. [10]
Như vậy, tập đoàn tài chính, ngân hàng, về mặt pháp lý, là một liên hợp pháp nhân, tổ chức tập đoàn gồm nhiều tầng lớp, với nguyên tắc tự nguyện và cùng có lợi. Điều này có nghĩa là không cưỡng ép và không thể cứ “gom” các doanh nghiệp lại là có thể thành lập tập đoàn kinh tế. Các thành viên trong tập đoàn tài chính, ngân hàng phải tạo điều kiện hỗ trợ, giúp đỡ lẫn nhau, cạnh tranh lành mạnh, cùng nhau chia sẻ nguồn lực nhằm giảm các chi phí trong hoạt động tăng cường sức mạnh và tận dụng tổng lực của tập đoàn để ngăn ngừa và hạn chế rủi ro trong lĩnh vực hoạt động tài chính – tiền tệ đầy biến động.
Mục tiêu của việc hình thành tập đoàn TC-NH là mở rộng quy mô hoạt động và đổi mới công nghệ, giảm chi phí để có thể tồn tại trong cạnh tranh, từ đó, đem lại lợi nhuận tối đa cho tập đoàn.
1.2. Cơ cấu tổ chức và mô hình cơ bản của tập đoàn TC-NH
1.2.1. Cơ cấu tổ chức tập đoàn tài chính – ngân hàng
Cơ cấu tổ chức tập đoàn tài chính, ngân hàng sẽ bao gồm: công ty mẹ đóng vai trò hạt nhân và các công ty con. Công ty mẹ có thực lực kinh tế mạnh, khống chế và điều chỉnh vốn, tài sản, cơ cấu tổ chức, quản lý, nhân sự,… ở công ty con. Mỗi công ty con được phép thành lập công ty khác hoặc tham gia góp vốn, tài sản của mình vào công ty mới sau khi được phép của công ty mẹ. Nguyên tắc cơ bản mỗi thành viên tập đoàn vẫn là những pháp nhân độc lập với mục đích tạo ra lợi nhuận, mối quan hệ lẫn nhau mang nặng nội dung là quan hệ tài chính.
1.2.2. Mô hình cơ bản của tập đoàn tài chính – ngân hàng ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Theo mức độ chuyên môn hóa
Các tập đoàn TC-NH trên thế giới được phân thành hai nhóm chính: nhóm tập đoàn chuyên ngành hẹp và nhóm tập đoàn đa ngành, kinh doanh tổng hợp. Các tập đoàn TC-NH chuyên ngành hẹp có mức độ chuyên môn hóa sâu, gồm các công ty con hoạt động trong cùng lĩnh vực dịch vụ tài chính và liên kết chặt chẽ với nhau nhằm khai thác thế mạnh trong kinh doanh dịch vụ TC-NH.
Đặc điểm của tập đoàn TC-NH là lấy ngân hàng cỡ lớn làm hạt nhân của tập đoàn để liên kết và khống chế các doanh nghiệp xung quanh bằng mối quan hệ nắm giữ cổ phần, cho vay vốn và sắp xếp nhân sự. [9]
Mô hình phổ biến nhất của tập đoàn TC-NH là tổ chức theo kiểu công ty mẹ – công ty con. Trong đó, công ty mẹ và công ty con đều có tư cách pháp nhân độc lập, có tài sản và bộ máy quản lý riêng. Giao dịch giữa ngân hàng mẹ và các công ty con hay giữa các công ty con trong cùng một tập đoàn là giao dịch bên ngoài, giao dịch thị trường.
Đặc điểm của mô hình này là ngân hàng mẹ (holding company) sở hữu toàn bộ hoặc một tỷ lệ nhất định vốn cổ phần trong các công ty con, đề ra chiến lược và định hướng phát triển tổng thể của tập đoàn, đồng thời, phân bổ nguồn lực của tập đoàn thông qua các hoạt động tài chính như phát hành, mua bán chứng khoán, cơ cấu lại tài sản của các công ty con. Ngoài ra, ngân hàng mẹ còn sử dụng vốn của mình để đầu tư, góp vốn cổ phần, liên doanh, liên kết để hình thành các công ty con hoặc công ty liên kết.
Các công ty con là những pháp nhân độc lập, hoạt động tự chủ và tự chịu trách nhiệm. Hình thức quản lý của công ty con khá đa dạng, có thể là công ty cổ phần do ngân hàng mẹ nắm giữ cổ phần chi phối; công ty TNHH hai thành viên trở lên, trong đó, ngân hàng mẹ giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty liên doanh với nước ngoài do ngân hàng mẹ nắm giữ tỷ lệ vốn góp chi phối; công ty TNHH một thành viên do ngân hàng mẹ làm chủ sở hữu.
- Theo tính chất và phạm vi hoạt động
Tập đoàn TC-NH kinh doanh theo mô hình công ty mẹ – công ty con có hai loại: mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy và mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh. Trên thực tế, không có sự tách bạch rõ ràng, nhiều tập đoàn kinh doanh theo mô hình công ty mẹ – công ty con là hỗn hợp của hai loại hình trên. Tập đoàn TC-NH theo mô hình công ty mẹ – công ty con cũng hoạt động theo mô hình hỗn hợp, trong đó, ngân hàng mẹ vừa nắm vốn vừa trực tiếp kinh doanh một số công ty con, đồng thời chỉ nắm vốn thuần túy một số công ty con khác.
Ngoài hoạt động kinh doanh ngân hàng, tập đoàn TC-NH còn cung cấp dịch vụ tài chính phi ngân hàng (do các công ty con thực hiện), những dịch vụ này liên quan chặt chẽ với hoạt động ngân hàng và mang lại lợi ích chung cho tập đoàn.
- Một số cấu trúc tập đoàn tài chính – ngân hàng trên thế giới ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Hiện nay, trên thế giới, tập đoàn TC-NH được xây dựng theo ba cấu trúc tổ chức chủ yếu sau đây:
- Mô hình ngân hàng đa năng (universal banking)
Đây là mô hình tập đoàn phổ biến nhất ở châu Âu. Các cổ đông của ngân hàng trực tiếp quản lý mọi hoạt động kinh doanh ngân hàng, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bảo hiểm, không có sự phân biệt về quản lý vốn giữa các lĩnh vực. Điều này gây ra khó khăn trong việc xác định rủi ro của mỗi lĩnh vực, bên cạnh đó rủi ro của lĩnh vực này có thể kéo theo rủi ro của cả những lĩnh vực khác. [3]
Ở Châu Âu, ngân hàng có thể chiếm lĩnh cả kinh doanh chứng khoán, nhưng không một nước công nghiệp chính nào cho phép một công ty đơn lẻ thực hiện cả ba hoạt động kinh doanh: ngân hàng, bảo hiểm, chứng khoán.
- Mô hình công ty mẹ vừa nắm vốn vừa kinh doanh ngân hàng (parent – subsidiary relationship)
Trong mô hình này, các công ty tài chính khác là công ty con của ngân hàng. Các cổ đông của ngân hàng quản lý trực tiếp ngân hàng nhưng không quản lý trực tiếp các công ty bảo hiểm hay công ty chứng khoán. Còn các lãnh đạo của các ngân hàng quản lý trực tiếp hoạt động của công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm. Đối với mô hình này, vốn của ngân hàng, công ty chứng khoán và công ty bảo hiểm được quản lý một cách độc lập nhưng rủi ro của các lĩnh vực vẫn có thể gây ra rủi ro dây chuyền.
- Mô hình công ty mẹ nắm vốn thuần túy (holding company)
Trong mô hình này, một công ty mẹ đứng trên chịu trách nhiệm quản lý các công ty con trên từng lĩnh vực. Các cổ đông của công ty mẹ không trực tiếp quản lý những hoạt động của các công ty con. Với ưu thế rủi ro của lĩnh vực này không ảnh hưởng đến lĩnh vực khác, mô hình này đặc biệt phổ biến ở những tập đoàn tài chính quốc tế, ở Mỹ và cũng đã được cho phép ở Nhật Bản.
1.3. Các đặc trưng của tập đoàn tài chính – ngân hàng ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Để nhận dạng một tập đoàn, cần thông qua những đặc trưng chung của tập đoàn và đặc trưng riêng của các công ty con hay công ty thành viên trong tập đoàn.
1.3.1. Đặc trưng chung của tập đoàn
Tập đoàn là một cấu trúc có tính lỏng về tổ chức nhưng có quan hệ rất chặt chẽ về chiến lược thị trường và chiến lược luân chuyển vốn. Đa số các tập đoàn không có tư cách pháp nhân, không có “trụ sở chính”, không có “cơ quan hành chính” thường trực chung của tập đoàn, tuy nhiên, cũng có các tập đoàn có tư cách pháp nhân là do được hình thành theo quyết định của chính phủ. Nhưng đã là tập đoàn thì nhất thiết phải có một số thiết chế quản trị chung của tập đoàn như hội đồng chiến lược, ủy ban kiểm toán, ủy ban bầu cử, hội đồng quản trị. Các thành viên trong những hội đồng hay ủy ban nêu trên hoạt động theo tôn chỉ và mục đích chung đã được các bên thống nhất từ trước và đa số theo cơ chế kiêm nhiệm. Trong đó, chủ tịch tập đoàn thường là người có ảnh hưởng và uy tín lớn nhất thuộc công ty xuất phát hay công ty chính của tập đoàn. Thông thường, chủ tịch và các thành viên trong hội đồng và ủy ban hưởng lương chính từ các công ty con hay công ty thành viên và được hưởng một khoản phụ cấp trách nhiệm do các công ty con hay công ty thành viên đóng góp lên tập đoàn theo quy định chung.
Lợi ích chung của các công ty trong tập đoàn là được hành động theo chiến lược chung, theo “bản đồ” phân bố thị trường hay các quan hệ gắn bó về vốn, thương hiệu, văn hóa, ngoại giao,… Cơ chế điều hành chung của các tập đoàn chủ yếu dựa trên quan hệ về lợi ích kinh tế minh bạch và uy tín cũng như các cam kết trong quy chế chung của tập đoàn mà không dựa trên mệnh lệnh hành chính. Các pháp nhân trong tập đoàn có chung quyền được bảo vệ để có thể tránh khỏi những nguy cơ bị thôn tính hay chèn ép trên thị trường từ những công ty ngoài tập đoàn.
1.3.2. Đặc trưng riêng của các công ty trong tập đoàn
Đặc trưng quan trọng nhất là mỗi công ty trong tập đoàn phải là một pháp nhân độc lập. Các công ty thành viên hoặc công ty con có sở hữu tài sản riêng, có trụ sở riêng, thị trường riêng, thậm chí ngành nghề riêng. Chính vì vậy, giữa các công ty trong tập đoàn có sự khác nhau về mức thu nhập, tình trạng rủi ro và quy mô tài chính. Nhìn chung, các tập đoàn kinh doanh được hình thành theo nguyên tắc tự nguyện thông qua đàm phán để mua, bán, liên doanh, sát nhập, cam kết,… Trong đó, một công ty khởi xướng và đóng vai trò sáng lập ra tập đoàn (thông qua hình thức tập trung tư bản từ nhiều công ty thành viên), hoặc từ một công ty lớn tách ra thành nhiều công ty con độc lập (thông qua hình thức tích tụ tư bản, trong đó công ty mẹ vẫn đóng vai trò chi phối). Như vậy, việc hình thành một tập đoàn kinh doanh không phải do “mệnh lệnh” hành chính của nhà nước mà do quyết định của nhà doanh nghiệp, được dư luận xã hội, thị trường và nhà nước thừa nhận. Nói đúng hơn, sự hình thành của các tập đoàn là xuất phát từ nhu cầu của thị trường và vấn đề sống còn của doanh nghiệp theo nguyên tắc tự nguyện. ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
1.4. Điều kiện hình thành và yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của tập đoàn TC-NH
1.4.1. Điều kiện hình thành
Có nhiều yếu tố tác động đến khả năng hình thành tập đoàn TC-NH, trong đó các yếu tố có liên hệ mật thiết với nhau. Từ phương diện phân tích, có thể phân chia thành điều kiện khách quan và điều kiện chủ quan.
- Điều kiện khách quan
Môi trường pháp lý có thể cản trở hoặc thúc đẩy sự hình thành và phát triển các tập đoàn TC-NH, nhất là những quy định pháp lý điều chỉnh hoạt động tài chính, ngân hàng, chứng khoán. Nói cách khác, quá trình hình thành và phát triển tập đoàn TC-NH diễn ra theo quy luật khách quan, nhưng các chính phủ cũng đóng vai trò quan trọng trong việc đưa ra các quy định và chính sách phát triển dịch vụ tài chính nói chung và tập đoàn TC-NH nói riêng. [4]
Trình độ phát triển của thị trường dịch vụ tài chính tác động đến khả năng mở rộng quy mô hoạt động của tập đoàn tài chính như thông qua các công ty con hay công ty trực thuộc. Trên thực tế, sự hình thành các tập đoàn TC-NH thường bắt nguồn từ việc mở rộng các loại hình kinh doanh trong lĩnh vực dịch vụ của ngân hàng mẹ, từ chỗ chỉ kinh doanh dịch vụ ngân hàng, mở rộng sang dịch vụ bảo hiểm, chứng khoán,… Mặt khác, thị trường tài chính càng phát triển, khách hàng càng đòi hỏi cao hơn về chất lượng và tiện ích của dịch vụ TC-NH là yêu cầu khách quan để đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, hình thành nhiều loại hình hoạt động, nhiều công ty,…
Sự phát triển bùng nổ của công nghệ thông tin cũng là yếu tố và điều kiện để một tổ chức tài chính phát triển thành tập đoàn TC-NH. Các tập đoàn này phải kịp thời nắm bắt thông tin, nhất là công nghệ mới có liên quan đến hoạt động TC-NH để có thể khai thác và ứng dụng các thành tựu về công nghệ mới vào hoạt động kinh doanh, mang lại nhiều lợi nhuận cho tập đoàn và tiện ích cho khách hàng.
- Điều kiện chủ quan ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Tiềm lực tài chính đóng vai trò quan trọng trong việc duy trì hoạt động và khả năng phát triển lâu dài của tập đoàn. Trong đó, nguồn vốn có tác dụng hỗ trợ cho tập đoàn đổi mới công nghệ, mở rộng các lĩnh vực kinh doanh, phát triển dịch vụ mới, tăng cường năng lực cạnh tranh và mở rộng thị phần. Các ngân hàng tiên tiến và tập đoàn tài chính mạnh thường cung cấp dịch vụ đa dạng và đạt chất lượng cao với nhiều đối tượng khách hàng khác nhau. Tương tự, chất lượng nguồn nhân lực cũng đóng vai trò không kém phần quan trọng trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của các ngân hàng và tập đoàn tài chính.
1.4.2. Yếu tố tác động đến hiệu quả hoạt động của tập đoàn TC-NH
1.4.2.1. Môi trường vĩ mô
- Môi trường kinh tế thế giới
Với tư cách là môi trường, điều kiện và không gian của quá trình phát triển kinh tế quốc gia, môi trường kinh tế thế giới là nơi cung cấp các cơ sở để xác định và thực thi mô hình tăng trưởng và phát triển của từng quốc gia nói chung và từng tập đoàn kinh tế nói riêng, trong đó có ba yếu tố cơ bản là: xu hướng tự do hóa (di chuyển các nguồn lực); tính mở (tính không bị giới hạn) của quá trình phát triển và tính kết nối mạng của các quá trình kinh tế trên phạm vi toàn cầu. [8]
- Môi trường quốc gia
Môi trường quốc gia có tác động rất lớn đến hoạt động của các tổ chức kinh tế nói chung và tập đoàn TC – NH nói riêng. Môi trường quốc gia bao gồm: hệ thống chính sách, môi trường chính trị, môi trường pháp lý,…Mỗi thay đổi chính sách có thể kéo theo các tác động tốt hoặc xấu tới hoạt động của tập đoàn, nhất là trong những thời điểm nhạy cảm.
Môi trường chính trị – xã hội luôn có những tác động nhất định đến hoạt động của tập đoàn. Yếu tố chính trị bao gồm những thay đổi về chính phủ và các hoạt động chính trị, sửa đổi chính sách có ảnh hưởng rất lớn đến tập đoàn.
Môi trường pháp luật là yếu tố quan trọng tác động tới tập đoàn . Do vậy môi trường pháp lý cần đuợc xem xét trên các góc độ: hệ thống hành lang pháp lý của tập đoàn kinh tế được xây dựng như thế nào, có đủ bảo vệ quyền lợi chính đáng của tập đoàn hay không? Những mặt khuyến khích, ưu đãi, hạn chế được quy định trong hệ thống pháp luật. Sự ổn định của hệ thống luật pháp, khả năng sửa đổi và ảnh hưởng của chúng đến TTCK.
1.4.2.2. Môi trường vi mô ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Nguồn nhân lực
Nguồn lực con người là yếu tố cơ bản, quan trọng nhất trong các yếu tố để phát triển nhanh và bền vững của doanh nghiệp. Con người vừa là người sáng tạo ra, vừa là người sử dụng phương tiện, phương pháp công nghệ để đạt được lợi ích kinh tế cao nhất cho xã hội, cho doanh nghiệp và cho bản thân họ. Tuy nhiên, nguồn nhân lực phát huy được vai trò của nó không phải do ưu thế về số lượng mà là ở chất lượng. Một chiến lược đào tạo, phát triển hợp lý sẽ phát huy được nội lực cao nhất, phát huy được khả năng làm việc, khả năng sáng tạo của người lao động, từ đó, nâng cao trách nhiệm, tăng năng suất lao động và hiệu quả kinh doanh.
- Tài chính doanh nghiệp
Tài chính doanh nghiệp có vai trò to lớn trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, tài chính doanh nghiệp giữ những vai trò chủ yếu sau:
Huy động và đảm bảo đầy đủ, kịp thời nguồn vốn cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp thường nảy sinh các nhu cầu vốn ngắn hạn và dài hạn cho hoạt động kinh doanh thường xuyên của doanh nghiệp cũng như cho đầu tư phát triển. Vai trò của tài chính doanh nghiệp trước hết thể hiện ở chỗ xác định đúng đắn các nhu cầu vốn cần thiết cho hoạt động của doanh nghiệp trong từng thời kỳ và tiếp đó phải lựa chọn các phương pháp và hình thức thích hợp huy động vốn từ bên trong và bên ngoài đáp ứng kịp thời các nhu cầu vốn cho hoạt động của doanh nghiệp.
Tổ chức sử dụng vốn kinh doanh tiết kiệm và hiệu quả: Hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp phụ thuộc rất lớn vào việc tổ chức sử dụng vốn. Tài chính doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng vào việc đánh giá và lựa chọn dự án đầu tư trên cơ sở phân tích khả năng sinh lời và mức độ rủi ro của các dự án đầu tư từ đó góp phần lựa chọn dự án đầu tư tối ưu. Việc huy động kịp thời các nguồn vốn có ý nghĩa rất quan trọng để doanh nghiệp có thể nắm bắt được các cơ hội kinh doanh. Mặt khác việc huy động tối đa số vốn hiện có vào hoạt động kinh doanh có thể giảm bớt và tránh được những thiệt hại do ứ đọng vốn gây ra, đồng thời giảm bớt được nhu cầu vay vốn, từ đó giảm được các khoản tiền trả lãi vay. Việc hình thành và sử dụng tốt các quỹ của doanh nghiệp, cùng với việc sử dụng các hình thức thưởng phạt vật chất một cách hợp lý sẽ góp phần quan trọng thúc đẩy người lao động gắm bó với doanh nghiệp từ đó nâng cao năng suất lao động, cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp.
- Văn hóa doanh nghiệp
Văn hoá doanh nghiệp là toàn bộ các giá trị văn hoá được gây dựng nên trong suốt quá trình tồn tại và phát triển của một doanh nghiệp, trở thành các giá trị, các quan niệm và tập quán, truyền thống ăn sâu vào hoạt động của doanh nghiệp ấy và chi phối tình cảm, nếp suy nghĩ và hành vi của mọi thành viên của doanh nghiệp trong việc theo đuổi và thực hiện các mục đích.
Cũng như văn hoá nói chung, văn hoá doanh nghiệp có những đặc trưng cụ thể riêng biệt. Trước hết, văn hoá doanh nghiệp là sản phẩm của những người cùng làm trong một doanh nghiệp và đáp ứng nhu cầu giá trị bền vững. Nó xác lập một hệ thống các giá trị được mọi người làm trong doanh nghiệp chia sẻ, chấp nhận, đề cao và ứng xử theo các giá trị đó. Văn hoá doanh nghiệp còn góp phần tạo nên sự khác biệt giữa các doanh nghiệp và được coi là truyền thống của riêng mỗi doanh nghiệp
Đối với các tập đoàn TC – NH, đặc biệt là các tập đoàn đa quốc gia, do có nhiều chi nhánh hoạt động ở nhiều địa phương trong nước và nhiều quốc gia trên thế giới, nên thường phải đối mặt với môi trường kinh doanh đa sắc tộc, đa quốc tịch và đa văn hóa. Để tăng cường sức mạnh và sự liên kết giữa các chi nhánh ở các khu vực khác nhau, các tập đoàn phải có một nền văn hóa đủ mạnh. Hầu như tập đoàn kinh tế nào cũng có bản sắc văn hóa riêng của mình và đây được coi là một trong những điều kiện sống còn, một loại vũ khí cạnh tranh lợi hại. Các tập đoàn có mục đích kinh doanh chiến lược, nhãn hiệu hàng hóa nổi tiếng và danh tiếng cao về chất lượng sản phẩm và dịch vụ trên thị trường trong nước và thế giới. Những kết quả này có thể coi là sản phẩm của quá trình vận động của văn hóa tập đoàn. Tuy nhiên, để đạt được những đỉnh cao của sự thành công đó, các tập đoàn phải mất nhiều thời gian và tiền bạc. ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Công nghệ
Công nghệ là tổng hợp các giải pháp cũng như công cụ để chuyển đổi các nguồn tài nguyên thiên nhiên và sức lao động của con người thành sản phẩm hàng hóa và dịch vụ phục vụ cho nhu cầu của xã hội. Công nghệ là yếu tố quyết định mức độ hiệu quả trong việc sử dụng tài nguyên. Trong xã hội hiện đại, vai trò của công nghệ ngày càng tăng lên. Nó đã và đang trở thành hàng hóa được chuyển giao trên thị trường và được bảo hộ bằng pháp luật. Những tiến bộ như vũ bão của công nghệ trong hai thập kỷ qua, đặc biệt trong các lĩnh vực công nghệ thông tin, công nghệ sinh học, công nghệ Nano, tự động hóa đã tạo những bước ngoặt trong tư duy và chiến lược của nhiều tập đoàn kinh tế.
1.5. Các phương thức hình thành tập đoàn tài chính – ngân hàng
Tùy theo những yếu tố như: môi trường pháp lý, yếu tố lịch sử khác nhau, mục tiêu, quan điểm,… mà hình thành theo nhiều phương thức khác nhau, có thể như các phương thức:
- Công ty mẹ mua công ty khác để biến thành công ty con của mình
- Thành lập mới một số công ty con
- Sát nhập công ty khác vào công ty mẹ hoặc công ty
1.6. Bối cảnh kinh tế thế giới và xu hướng hình thành tập đoàn TC-NH tại Việt Nam
1.6.1. Bối cảnh kinh tế thế giới hiện nay ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Năm 2009, nền kinh tế thế giới đã trải qua một năm vô cùng khó khăn. Trước việc toàn bộ hệ thống tài chính trên thế giới gần như suy sụp, các nhà phân tích nhận định năm 2009 là năm mà lần đầu tiên toàn cầu bị suy thoái trầm trọng kể từ sau cuộc Đại suy thoái hồi thập niên 1930 của thế kỷ XX.
Tuy nhiên, thực tế thì hậu quả của nó cũng không quá nặng nề do Chính phủ các nước đã can thiệp kịp thời bằng nhiều biện pháp như cắt giảm lãi suất cơ bản, rót thêm các gói cứu trợ vào nền kinh tế, triển khai nhiều chương trình kích thích tiêu dùng khiến nền kinh tế toàn cầu trở nên khả quan hơn. Nhiều nhà phân tích cho rằng các nền kinh tế trên thế giới sẽ tiếp tục những nỗ lực lấy lại đà tăng trưởng vào năm 2010.
Theo dự báo của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF) thì kinh tế thế giới năm 2010 sẽ tăng trưởng 3,1%, cao hơn so với mức 1,1% của năm 2009. Với sự phục hồi của tăng trưởng kinh tế, thương mại thế giới cũng sẽ sôi động hơn hơn. IMF dự báo thương mại thế giới sẽ tăng 2,5% so với năm 2009 (trong khi năm 2009 giảm 11,9% so với năm 2008). Tuy nhiên, nhu cầu tiêu dùng sẽ vẫn còn yếu do thu nhập tăng chậm và thất nghiệp cao. Những sản phẩm tiêu dùng phổ thông và cần thiết hàng ngày sẽ tăng nhanh hơn những sản phẩm cao cấp.
Còn theo dự báo của Liên Hợp Quốc thì năm 2010 nền kinh tế thế giới có thể đạt mức tăng trưởng 2,4%, tuy nhiên sự phục hồi này còn rất mong manh. Theo báo cáo của Liên Hợp Quốc, sự phục hồi của kinh tế toàn cầu chủ yếu là do chính sách kích thích kinh tế được các nước tung ra trong năm 2009.
Trong khi đó, Viện Kinh tế và Chính trị thế giới trong bản Dự báo và phân tích tình hình thế giới năm 2010 đã đưa ra mức dự báo tăng trưởng kinh tế toàn cầu là 2%-3%, nhưng vẫn có khả năng bị suy thoái lần thứ hai.
Nhìn chung, các dự báo về nền kinh tế toàn cầu đều cho thấy cuộc khủng hoảng tài chính thế giới đã được kiểm soát, kéo theo dấu hiệu hồi phục kinh tế. Tuy nhiên, hiện vẫn còn quá sớm để khẳng định kinh tế thế giới hoàn toàn thoát khỏi suy thoái và bước vào chu kỳ hồi phục.
Đặc biệt là hầu hết các nhà phân tích đều nhận định khu vực châu Á, trong đó có Việt Nam, đang là động lực đưa thế giới thoát ra khỏi khủng hoảng kinh tế.
Nghiên cứu của Liên Hợp Quốc về tình hình kinh tế-xã hội khu vực châu Á- Thái Bình Dương nhấn mạnh châu Á-Thái Bình Dương đang dẫn đầu thế giới về phục hồi kinh tế với dự báo tốc độ tăng trưởng trung bình 6,3% trong năm 2010.
Việc các nước Châu Á tích cực chuyển hướng, chú trọng hơn đến thị trường nội địa, nhằm giảm phụ thuộc xuất khẩu là hướng đi hiệu quả, giúp lấy lại ổn định và tăng trưởng sau khủng hoảng.
Theo dự báo “Tình hình và triển vọng kinh tế thế giới năm 2010” của Liên Hợp Quốc, năm 2010, các nước đang phát triển ở Châu Á sẽ có tốc độ tăng trưởng kinh tế nhanh nhất, đặc biệt là Trung Quốc 8,8%, Ấn Độ 6,5%, tiếp đến là Việt Nam, Lào: 5%, hơn mức 4% của năm 2009. Kế tiếp là Myanmar và Indonesia với hơn 4%.
1.6.2. Xu hướng hình thành tập đoàn TC-NH tại Việt Nam ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Thời gian gần đây, vấn đề cải cách doanh nghiệp theo hướng tăng cường tiềm lực tài chính và năng lực cạnh tranh là nhiệm vụ hết sức cấp bách. Nhà nước đã thực hiện nhiều giải pháp đổi mới DNNN như cổ phần hóa, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, ban hành Luật Doanh nghiệp thống nhất, quyết định thí điểm thành lập một số tập đoàn kinh tế trên cơ sở tổ chức lại các tổng công ty nhà nước.
Trong lĩnh vực TC – NH, bên cạnh việc cổ phần hóa các NHTMNN như Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long và các NHTMNN khác, một số NHTMCP cũng đang có kế hoạch chuyển đổi thành tập đoàn tài chính. Cụ thể, tại một số NHTM Việt Nam, đã có một số dấu hiệu và đặc điểm cơ bản của tập đoàn TC-NH. Những đặc điểm này thể hiện ở quy mô nguồn vốn, phạm vi hoạt động, khả năng chi phối thị trường, xu hướng mở rộng các hoạt động chức năng (ngoài hoạt động truyền thống) như bảo hiểm, chứng khoán, môi giới kinh doanh.
Các tập đoàn kinh tế đã được thành lập theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Trong đó, công ty mẹ cũng chính là tập đoàn; các công ty con là công ty trực thuộc hoặc công ty cổ phần do tập đoàn đầu tư vốn hoặc góp vốn. Nghĩa là chỉ có sự đổi tên công ty mẹ (tổng công ty) thành tập đoàn, mối quan hệ giữa công ty mẹ và công ty con vẫn được thực hiện thông qua quan hệ chủ sở hữu vốn góp, chưa xác định rõ quyền hạn, nghĩa vụ cũng như mối quan hệ giữa tập đoàn công ty mẹ và các công ty con. Nói cách khác, mô hình tập đoàn kinh tế chưa thực sự tồn tại mà chỉ là nhóm công ty được tổ chức theo mô hình công ty mẹ, công ty con với tên gọi là “tập đoàn kinh tế”. Về mặt pháp lý, cho đến nay, Luật Doanh nghiệp chưa có những quy định cụ thể về tổ chức và hoạt động của tập đoàn công ty mà giao cho Chính phủ quy định chi tiết về tiêu chí, tổ chức và hoạt động của tập đoàn công ty, nhưng Nghị định về tập đoàn công ty vẫn chưa được ban hành.
1.7. Kinh nghiệm từ quá trình hình thành một số tập đoàn trên thế giới
1.7.1. Tập đoàn CitiGroup ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
CitiGroup là tập đoàn ngân hàng đa quốc gia, được hình thành thông qua việc hợp nhất giữa Citicorp và Traveler Insurance, bao gồm nhiều công ty khác nhau, từ tín dụng thương mại đến hỗ trợ tiêu dùng, môi giới đến bảo hiểm. CitiGroup có trụ sở chính tại New York với công ty mẹ là Citibank. Ngân hàng này đã mở chi nhánh đầu tiên lại London (năm 1902) và Buenos Aires (năm 1914), các hoạt động quốc tế của ngân hàng phát triển mạnh trong những năm 1920-1940 (khoảng 100 văn phòng đại diện và chi nhánh tại gần 100 nước trên thế giới). Năm 1955, Citibank sát nhập với First National (New York) để trở thành một tổ hợp lớn với tên gọi First National City Bank. Năm 1968, ngân hàng này cải tổ để trở thành một công ty mẹ (holding company) và hình thành tập đoàn ngân hàng dưới tên gọi là First National City Corp (năm 1974 đổi tên thành CitiCorp), trọng tâm là các dịch vụ tài chính và ngân hàng bán lẻ. Citibank là ngân hàng đầu tiên lắp đặt máy rút tiền tự động ATM (năm 1977) với trên 500 máy tại New York. Trong những năm 80, Citibank đã mua lại một số tổ chức tài chính ở San Francisco, Chicago, Miami, Washington DC, và năm 1998 sát nhập với Travelers Group (công ty kinh doanh thẻ nổi tiếng) để trở thành tập đoàn TC-NH đứng đầu thế giới. Doanh thu năm 2007 đạt 81,7 tỷ USD, lợi nhuận ròng đạt 3,62 tỷ USD, tuy nhiên, do khủng hoảng tài chính, lợi nhuận hai năm tiếp theo của tập đoàn đều giản, năm 2008: -27,68 tỷ USD và năm 2009: -1,61 tỷ USD.
Hoạt động của CitiGroup theo mô hình khối gồm 3 khối chính:
- Khối tiêu dùng toàn cầu (Global Consumer Group): Hoạt động kinh doanh của khối tiêu dùng toàn cầu bao gồm việc cung cấp các loại sản phẩm dịch vụ tài trợ cho tiêu dùng gồm các dịch vụ về ngân hàng, thẻ tín dụng, cho vay và bảo hiểm, cụ thể như sau:
- Phát hành thẻ (United States Cards): Với gần 120 triệu tài khoản, CitiGroup chuyên phát hành các loại thẻ với nhiều nhãn hiệu khác nhau tại thị trường Mỹ như: Mastercard, Visacard, thẻ ghi nợ và các nhãn hiệu khác.
- Mạng lưới phân phối bán lẻ ở Mỹ (United States Retail Distribution): ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Mạng lưới này bao gồm bốn mảng chính: Citibank, CitiFinancial, Primerica Financial Sevices và Citibank Direct, trong đó:
- Citibank: chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng cho các khách hàng có quy mô hoạt động kinh doanh nhỏ, cá nhân cũng như các dịch vụ về đầu tư nhỏ thông qua mạng lưới các chi nhánh.
- CitiFinancial: cung cấp phần lớn các sản phẩm và dịch vụ cho vay đến các khách hàng địa phương hiện đang sinh sống và làm việc tại nước Mỹ.
- Primeria Financial Services: cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng thông qua hơn 100 văn phòng đại diện độc lập ở Mỹ, Canada, Puerto Rico, Tây Ban Nha và Anh, phục vụ cho hơn 6 triệu khách hàng qua việc xây dựng và đưa ra các giải pháp về mô hình tài chính an toàn cho các hộ gia đình.
- Citibank Direct: là kênh phân phối mới nhất chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng qua mạng lưới
- Cho vay tiêu dùng tại Mỹ (United States Consumer Lending)
Hoạt động cho vay tiêu dùng tại Mỹ thông qua các kênh phân phối khác nhau được chia làm 02 loại sau đây:
- Cho vay bất động sản (Real Estate Lending): cung cấp các khoản cho vay thế chấp tài sản nhà ở được thực hiện trực tiếp đến khách hàng qua điện thoại, internet, tổ chức, các chi nhánh của Citibank và các văn phòng đại diện của Primerica, hoặc gián tiếp thông qua các nhân viên môi giới, các công ty cầm cố, đó là CitiMortgage và Myhome Equity trực thuộc Citibank.
- Cho vay đối với sinh viên (Student Loans): cung cấp các sản phẩm cho vay cho đối tượng là sinh viên để tài trợ cho việc học tập thông qua các văn phòng đặt tại các trường học.
- Hệ thống tự động (Auto): cung cấp các dịch vụ tài chính tự động và internet
- Nhóm hoạt động kinh doanh thương mại (Commercial Business Group)
Chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ cho thuê, các sản phẩm và dịch vụ về ngân hàng và bất động sản đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ trong ngành công nghiệp sản xuất.
- Thẻ quốc tế (International Cards): Chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ về thẻ cho hơn 20,9 triệu tài khoản ở 42 quốc gia ngoài nước Mỹ.
- Tài trợ tiêu dùng quốc tế (International Consumer Finance): Hoạt động tài trợ cho chi tiêu và dịch vụ cho vay địa phương ở 20 quốc gia ngoài phạm vi nước Mỹ qua một số các thương hiệu vòng quanh thế giới như CitiFinancial Canada.
- Ngân hàng bán lẻ quốc tế (International Retail Banking) Chuyên cung cấp các sản phẩm và dịch vụ tài chính hàng đầu đến 40 quốc gia trên thế giới để phục vụ các nhu cầu của khách hàng địa phương qua thương hiệu Banamex.
- Tài trợ phụ của Citi (Citi Microfinance): Hoạt động tài trợ này cung cấp việc tài trợ vốn trực tiếp đến các thị trường vốn địa phương, cho thuê, cho vay các thể thông qua đối tác MFI, các hàng rào về tỷ giá hối đoái và lãi suất, hoạt động chuyển tiền và bảo hiểm.
- Dịch vụ dành cho phụ nữ (Women & Co): Đặc biệt phục vụ cho phụ nữ, mang đến cho chị em phụ nữ các sản phẩm và dịch vụ tiết kiệm đặc biệt phù hợp với các nhu cầu của chị em ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- Khối dịch vụ ngân hàng đầu tư và cho vay doanh nghiệp (Institutional Clients Group): Hoạt động của khối này cung cấp việc quản lý tiền mặt, kho bạc, đầu tư kinh doanh, giám hộ, thanh toán, ký quỹ, đầu tư vào các dự án, bất động sản, tư vấn tài chính và đưa ra các giải pháp nhằm cung cấp nguồn vốn rộng rãi nhất vào hơn 100 quốc gia trên thế giới, chủ yếu là các tổ chức cần vốn, các công ty, chính phủ các nước. Mục tiêu của Citi là sử dụng nguồn vốn của mình một cách linh hoạt và có hiệu quả nhất, đa dạng hóa nguồn vốn kinh doanh và duy trì một cách tập trung, thường xuyên để phục vụ tốt các khách hàng của mình, cụ thể:
- Bộ phận ngân hàng và tiếp thị: Citi luôn chuyển tải sự am hiểu và các cơ hội thuận lợi đến các khách hàng của mình ở 100 quốc gia trên thế giới như cung cấp, tư vấn và đưa ra các giải pháp về việc sử dụng nguồn vốn đầu tư, các giải pháp quản lý tiền mặt cho các tổ chức, chính phủ các nước, các nhà đầu tư, doanh nghiệp trong và ngoài nước để thực hiện các mục tiêu chiến lược của họ, được chia thành 03 kênh chính như:
- Ngân hàng toàn cầu (Global Banking): chuyển tải sự am hiểu, các giải pháp về vốn hàng đầu cho các tổ chức tài chính lớn, chính phủ các quốc gia về các dịch vụ tư vấn tài chính, cơ cấu nguồn vốn hợp lý, cho vay, công cụ phái sinh, phân bổ tài sản và nợ, quản lý tiền mặt, các biến động về tỷ giá hối đoái và lãi suất.
- Thị trường vốn toàn cầu (Global Capital Markets): giúp khách hàng tổ chức và các nhà đầu tư nhỏ lẻ nhận biết khả năng tài chính, việc phân bổ doanh thu, nợ, giá trị tài sản bao gồm trái phiếu công ty, trái phiếu chính phủ, các hợp đồng kỳ hạn,… và cung cấp nguồn vốn trong các ngành công nghiệp sản xuất thông qua mạng lưới môi giới bán lẻ lớn thứ hai tại Mỹ.
- Dịch vụ trong giao dịch (Transaction Services): cung cấp các dịch vụ trong các giao dịch như quản lý tiền mặt, kho bạc, đầu tư thương mại, giám hộ, chi trả, nộp tiền, dịch vụ đại lý ủy thác, ngân quỹ đến các tổ chức vốn, công ty, chính phủ có tài sản đảm bảo, báo cáo tài chính rõ ràng và hoạt động kinh doanh ở nhiều quốc gia.
- Bộ phận đầu tư khác (Citi Alternative Investments): Hoạt động đầu tư vào các dự án bao gồm các quỹ đầu tư, cơ cấu tín dụng, tài sản cá nhân, bất động sản, phân bổ khác và các cơ hội đầu tư đặc biệt.
- Khối quản lý tài sản toàn cầu: Hoạt động của khối là cung cấp các dịch vụ tư vấn về quản lý tài sản, quản lý tiền mặt, quản lý các danh mục đầu tư, giải pháp về vốn, chiến lược kinh doanh, bất động sản, giáo dục cho các khách hàng cá nhân, công ty, các quỹ đầu tư ở các quốc gia trên thế giới. Ngoài ra, Citi cũng là đơn vị nghiên cứu phân tích vĩ mô và định lượng về tài chính cho thị trường toàn cầu, thông qua ba thương hiệu sau đây:
Citi Private Bank: Là một trong những ngân hàng tư nhân lớn nhất trên thế giới cung cấp hàng loạt sản phẩm ngân hàng, dịch vụ tư vấn tin cậy, các giải pháp về vốn, chiến lược đầu tư hiệu quả cũng như tính thanh toán tiền mặt trong nền kinh tế toàn cầu thông qua 470 các ngân hàng trực thuộc và đội ngũ chuyên gia ở hơn 30 quốc
Smith Barney: Là đơn vị quản lý tài sản tư nhân của Citi, chuyên cung cấp các kế hoạch đầu tư và dịch vụ tư vấn thích hợp trong việc quản lý nguồn vốn, danh mục đầu tư, trong lĩnh vực giáo dục, hưu bổng, nhà đất đến các tổ chức, cá nhân kinh doanh, chính phủ, các quỹ đầu tư.
Citi Investment Research: Là đơn vị nghiên cứu chi tiết sự phân tích vĩ mô và định lượng về xu hướng tài chính ở các địa phương và thị trường tài chính toàn cầu với đội ngũ 390 chuyên gia phân tích tài chính ở 22 quốc gia trên thế giới.
1.7.2. Tập đoàn OCBC ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
OCBC là một trong những tập đoàn tài chính hàng đầu trên thị trường Singapore và Malaysia hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con, trong đó OCBC Bank là công ty mẹ, có tổng tài sản vào tháng 10/2009 khoảng 188 tỷ đô la Singapore (130 tỷ đô la Mỹ), trên 490 chi nhánh và văn phòng đại diện tại 15 quốc gia và vùng lãnh thổ: Singapore, Malaysia, Indonesia, Trung Quốc, Hồng Kông, Brunei, Nhật Bản, Australia, Anh và Mỹ. OCBC Bank cũng là một trong những tổ chức tài chính lớn nhất ở Singapore cung cấp dịch vụ ngân hàng, bảo hiểm, cho vay tư nhân và hộ gia đình, tín thác, cho vay các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Công ty con của OCBC Bank là Great Eastern Holdings cũng là tập đoàn bảo hiểm lớn nhất ở Singapore và Malaysia về tổng tài sản cũng như thị phần, riêng OCBC Bank nắm khoảng 80% cổ phần của Great Eastern Holdings. Trong lĩnh vực quản lý tài sản, Lion Capital Management là một trong những công ty quản lý tài sản lớn nhất Đông Nam Á. OCBC Bank cung cấp hàng loạt dịch vụ ngân hàng mới và các công cụ tài chính liên quan tới cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, ngân hàng đầu tư, tài chính toàn cầu và quản lý đầu tư, môi giới và kinh doanh chứng khoán, quản lý khách sạn, kinh doanh bất động sản,… [13]
Các hoạt động kinh doanh của OCBC Bank cụ thể như sau:
- Khối ngân hàng tiêu dùng (Consumer Banking): OCBC cung cấp hàng loạt các sản phẩm và dịch vụ trong lĩnh vực tiêu dùng để đáp ứng các nhu cầu khác nhau cho hơn nửa triệu khách hàng tại Singapore và Malaysia, với chi phí hợp lý và chất lượng tín dụng tốt nhất trong giao dịch tài chính, nộp tiền mặt, cho vay mua nhà, mua xe, thẻ tín dụng, cho vay đầu tư BĐS,…
- Khối ngân hàng kinh doanh (Business Banking): OCBC cung cấp các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng truyền thống như cho vay, dịch vụ quản lý tiền mặt,… đến đối tượng khách hàng là các doanh nghiệp vừa và nhỏ, công ty có quy mô lớn, chính phủ, các tổ chức, công ty bất động sản chủ yếu tại thị trường Singapore và Malaysia.
- Khối ngân hàng đầu tư (Investment Banking): Bộ phận này bao gồm thị trường về vốn (Capital Markets), tài trợ cho tổ chức (Corporate Finance), và tổ chức vốn Mezzanine (Capital Mezzanine) luôn phối hợp chặt chẽ với khối ngân hàng trong lĩnh vực kinh doanh để phát triển, mang đến các sản phẩm và dịch vụ tiện ích đáp ứng nhu cầu của khách hàng.
- Khối ngân hàng giao dịch (Transaction Banking): Chuyên cung cấp các dịch vụ liên quan đến quản lý tiền mặt, đầu tư thương mại, ủy thác, dịch vụ thu chi hộ đến các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các tổ chức lớn, cơ quan tài chính, chính phủ tại Singapore và Malaysia, thông qua hệ thống chuyển tiền điện tử tiên tiến nhất cùng với đội ngũ chuyên gia giỏi để mang đến cho khách hàng các giải pháp trong thanh toán một cách nhanh chóng, dễ dàng và chính xác.
- Khối tài chính toàn cầu (Global Treasury): Khối này phối hợp với khối Business Banking và Consumer Banking để cấu trúc lại sản phẩm và đưa ra các giải pháp về tài chính cho các khách hàng mà có nhu cầu đầu tư và quảng bá thương hiệu của họ, ngoài ra, bộ phận này là kênh huy động được lượng tiền trong thương mại như thu đổi ngoại tệ, thu nhập cố định từ chứng khoán, và thị trường công cụ phái sinh.
- Khối ngân hàng quốc tế (International Banking): Ngoài thị trường Singapore và Malaysia, OCBC còn có một mạng lưới quốc tế với hơn 25 chi nhánh nước ngoài và văn phòng đại diện tại 13 quốc gia trên thế giới, nhằm phục vụ chủ yếu cho các cơ quan và tổ chức nước ngoài cũng như các khách hàng ở Singapore và Malaysia.
Các công ty con của OCBC Bank gồm có: ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
- OCBC Securities: là một trong số các công ty vốn và công ty kinh doanh các hợp đồng giao sau hàng đầu tại Singapore, ngoài ra đây còn là một trong những thành viên của Sở Giao dịch chứng khoán của Singapore. Công ty chứng khoán OCBC mang đến nhiều cơ hội đầu tư cho các khách hàng qua các sản phẩm và dịch vụ môi giới chứng khoán ở các thị trường vốn và thị trường phái
- Great Eastern Holdings: Là công ty bảo hiểm nhân thọ có giá trị tài sản lớn nhất Singapore và Malaysia, khoảng 45 tỷ đô la Singapore và sở hữu 3,8 triệu hợp đồng bảo hiểm thông qua các kênh phân phối tại thị trường Singapore, Malaysia, Indonesia, [12]
- Bank of Singapore Limited (BOS): được thành lập vào năm 1954, BOS là một kiểu mô hình ngân hàng mới đó là ngân hàng điện tử trực tuyến. BOS mang đến cho khách hàng các sản phẩm và dịch vụ ngân hàng với chi phí hợp lý và chất lượng cao thông qua mạng lưới internet hoạt động 24 giờ/7 ngày.
- Bank NISP: thành lập năm 1941 tại Bandung, Tây Java (OCBC Bank sở hữu 74,73% cổ phần), ngân hàng NISP là ngân hàng hoạt động lâu đời tại Indonesia. Quý 3/2009, với tổng giá trị tài sản 32,6 triệu Rp tương đương khoảng 2,96 triệu đô la Mỹ, Bank NISP là ngân hàng nằm trong top 5 ngân hàng lớn nhất tại Indonesia, với mạng lưới 381 chi nhánh, văn phòng và 22.000 máy rút tiền tự động (ATMs) phục vụ cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ cũng như thị trường tiêu dùng tại Indonesia. Năm 2005 và 2009, Bank NISP được tạp chí Tài chính Châu Á bình chọn là ngân hàng thương mại tốt nhất Châu Á.
- Lion Capital Management Ltd: là một trong những công ty quản lý tài sản lớn nhất Đông Nam Á, với tổng giá trị tài sản hơn 34 tỷ đô la Singapore, chuyên cung cấp nguồn vốn vào các hoạt động đầu tư kinh doanh cho các tổ chức quốc doanh và hợp doanh, công ty tư nhân, các tổ chức phi lợi nhuận và giáo dục.
1.7.3. Tập đoàn Ngân hàng Trung Quốc (Hồng Kông) – BOCHK
Tập đoàn Ngân hàng Trung Quốc (Hồng Kông) thành lập năm 1983, bao gồm 13 ngân hàng tại Trung Quốc, Hồng Kông, Macao. Năm 2001, tập đoàn đã thực hiện tái cơ cấu theo hướng sáp nhập nghiệp vụ của 10 trong số 12 ngân hàng cũ của Tập đoàn và đổi tên thành Công ty TNHH Ngân hàng Trung Quốc chi nhánh Hồng Kông (Bank of China Hong Kong Ltd – BOCHK), là một trong bốn đơn vị trực thuộc Ngân hàng Trung Quốc (BOC).
Các hoạt động chính là dịch vụ NHTM, ngân hàng đầu tư, bảo hiểm, bất động sản, thẻ tín dụng… thông qua mạng lưới 300 chi nhánh và 400 máy rút tiền tự động (ATMs). BOCHK là một trong ba ngân hàng phát hành giấy bạc tại Hồng Kông và hoạt động với tư cách là ngân hàng đứng đầu trong Hiệp hội Ngân hàng tại Hồng Kông. Ngoài ra, BOCHK còn có 14 chi nhánh và các chi nhánh trực thuộc tại lục địa của Trung Quốc nhằm đáp ứng các nhu cầu về dịch vụ ngân hàng xuyên lục địa của khách hàng Hồng Kông và lục địa.
Sau khi thực hiện tái cơ cấu, BOCHK đã có một số thay đổi lớn như xây dựng cơ chế quản lý công ty, xây dựng cơ chế giám sát rủi ro độc lập, cơ chế truy cứu trách nhiệm toàn diện, thực hiện phương châm “khách hàng là trọng tâm”.
1.7.4 Bài học kinh nghiệm đối với NHTM Việt Nam ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Qua ba mô hình tập đoàn TC – NH trình bày trên sẽ là những bài học quý báu cho Việt Nam trong quá trình xây dựng tập đoàn tài chính từ các NHTM Việt Nam. Từ kinh nghiệm của các tập đoàn trên, có thể rút ra một số bài học như sau:
- Thứ nhất, muốn có những tập đoàn TC – NH cần có một môi trường pháp lý phù hợp.
- Thứ hai, phải lựa chọn một cấu trúc tổ chức tập đoàn TC – NH theo một trong ba cấu trúc: ngân hàng đa năng, công ty quan hệ mẹ – con và công ty nắm vốn cho phù hợp với thực tế của đất nước và định hướng phát triển của từng ngân hàng.
- Thứ ba, các ngân hàng, công ty bảo hiểm cần năng động tìm những hướng đi mới để đa dạng sản phẩm cũng như kênh phân phối của mình thông qua sự kết hợp với nhau. Có như vậy ngân hàng mới có thể đứng vững trước xu thế suy giảm của những dịch vụ ngân hàng truyền thống.
- Thứ tư, nên coi hợp nhất và sáp nhập là những hình thức tất yếu trong con đường hình thành những tập đoàn TC – NH.
- Thứ năm, các tập đoàn TC – NH cần chú ý đến công tác quản lý rủi ro của tập đoàn, đặc biệt là những rủi ro liên quan đến quản lý và hoạt động. Công tác quản lý các loại rủi ro đối với tập đoàn TC – NH cần được tiến hành một cách thận trọng, vì bản chất rủi ro của tập đoàn TC – NH đã thay đổi so với khi những thực thể tài chính còn tồn tại riêng rẽ.
- Thứ sáu, khi đưa tập đoàn TC – NH vào hoạt động, cần phải hình thành những nguyên tắc quản lý mới cho phù hợp. Cần xây dựng giám sát mới với sự hình thành những cơ quan giám sát chặt chẽ thường xuyên.
- Thứ bảy, công nghệ thông tin là một yếu tố không thể thiếu trong việc xây dựng tập đoàn TC – NH, bên cạnh đó cần phải nâng cao trình độ của đội ngũ cán bộ công nhân viên.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Thông qua một số lý luận cơ bản về tập đoàn TC – NH, chúng ta phần nào hiểu rõ về mô hình, phương thức hoạt động, đặc điểm…của một tập đoàn TC – NH, và sự cần thiết phải hình thành các tập đoàn TC – NH cũng đang là vấn đề nóng bỏng ở nước ta hiện nay, nó góp phần hoàn thiện hệ thống tài chính – tiền tệ, từ đó có những chính sách kinh tế phù hợp ở từng thời điểm phát triển, tạo động lực thúc đẩy nền kinh tế nước nhà sánh vai với các quốc gia trên thế giới.
Việc đưa ra một số mô hình tập đoàn TC – NH tiêu biểu trên thế giới ở trên, giúp chúng ta hình dung được mô hình cơ bản thực tế của một tập đoàn TC – NH như thế nào, để chúng ta có cách tiếp cận phù hợp trong xây dựng mô hình tập đoàn tài chính ở Việt Nam.
Điểm chung của ba tập đoàn TC – NH trên là hình thành theo phương thức sáp nhập các công ty với nhau và từ đó hoạt động kinh doanh theo mô hình công ty mẹ – công ty con. Các tập đoàn này đều hoạt động kinh doanh trong lĩnh vực TC – NH như cho vay tiêu dùng, cho vay doanh nghiệp, dịch vụ về ngân hàng, đầu tư tài chính toàn cầu, tư vấn tài chính, bảo hiểm, môi giới, kinh doanh chứng khoán, kinh doanh bất động sản…và hầu hết đều có chi nhánh nước ngoài, văn phòng đại diện ở các quốc gia trên thế giới. Vì vậy, các tập đoàn tài chính này đều có mục tiêu giống nhau là lợi nhuận và giành được thị phần lớn ở các quốc gia trên thế giới. Tùy thuộc vào chiến lược kinh doanh khác nhau, mà các tập đoàn TC – NH trên có cơ cấu tổ chức, phương thức hoạt động và phạm vi hoạt động khác nhau, phụ thuộc vào tổng giá trị tài sản và tiềm lực của từng tập đoàn. ( Luận văn: Xây dựng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng )
Nhìn chung việc hình thành các tập đoàn TC – NH đã hình thành nên mạng lưới liên thông tài chính – tiền tệ giữa các nền kinh tế toàn cầu, đem lại sự thuận lợi trong hoạt động giao thương, đầu tư giữa các quốc gia với nhau, giúp chính phủ các nước dự báo được xu hướng biến động tài chính ở các thị trường, từ đó đưa ra các giải pháp phù hợp, hạn chế được rủi ro để bình ổn thị trường tài chính – tiền tệ ở nước mình, góp phần thúc đẩy nền kinh tế nước nhà nói riêng và của các quốc gia trên thế giới nói chung.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Thực trạng mô hình tập đoàn tài chính tại Ngân Hàng

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
