Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông giúp hoàn thiện mô hình quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Đây đang là vấn đề đang được giới chuyên môn trong và ngoài nước hết sức quan tâm; đặc biệt trong điều kiện Việt Nam đã chính thức gia nhập tổ chức thương mại thế giới WTO, trong đó, Bưu chính Viễn thông là một trong những lĩnh vực đi đầu về mở cửa hội nhập. Với ý nghĩa trên tác giả đã chọn đề tài: “Hoàn thiện mô hình quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam trước yêu cầu hội nhập nền kinh tế quốc tế”
CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG QUÁ TRÌNH XÂY DỰNG VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA MÔ HÌNH QUẢN TRỊ TẬP ĐOÀN TẠI TẬP ĐOÀN BƯU CHÍNH VIỄN THÔNG VIỆT NAM
2.1 Giới thiệu về Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
2.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam
Ngành Bưu Điện Việt Nam ra đời năm 1945 (15/08/1945). Trong những năm chiến tranh, Bưu chính – Viễn thông chủ yếu phục vụ cho cuộc kháng chiến của dân tộc, mục tiêu kinh doanh còn chưa lớn, ngành Bưu Điện đã thực hiện tốt nhiệm vụ đảm bảo thông tin cho Đảng và Nhà nước, đảm bảo thông tin cho chiến đấu và sản xuất kinh doanh.
Khi mới thành lập, Tổng cục Bưu điện trực thuộc Bộ Giao thông Vận tải và Bưu điện cho đến năm 1960. Sau đó Tổng cục Bưu điện và Truyền thanh tách khỏi Bộ Giao thông Vận tải và trực thuộc Hội đồng Bộ trưởng (trước đây), tiếp theo lại được tách ra thành Tổng cục Bưu điện. Đầu năm 1990, Hội đồng Bộ trưởng cho phép thành lập thêm Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam, trực thuộc Tổng cục Bưu điện.
Đến tháng 5 năm 1993, theo Quyết định số 28/CP, Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông lại được sáp nhập vào Tổng cục Bưu điện và hoạt động dưới tên Tổng Công ty Bưu chính – Viễn thông Việt Nam trực thuộc Bộ Giao thông vận tải và Bưu điện. Sau đó lại tách ra khỏi Bộ Giao thông Vận tải. Lĩnh vực bưu chính viễn thông (Bưu điện ) do Tổng cục Bưu điện vừa quản lý nhà nước vừa thực hiện chức năng kinh doanh.
Trước yêu cầu đổi mới theo cơ chế thị trường, Nhà nước chủ trương tách quản lý nhà nước và quản lý kinh doanh, một số ngành kinh tế trọng điểm được Chính phủ lựa chọn để phát triển thành các TĐKT, trước mắt thành lập các Tổng Công ty mạnh hoạt động theo mô hình 91/TTg, hàng loạt các Tổng Công ty được thành lập: Tổng Công ty Dầu khí Việt Nam, Tổng Công ty Hàng không, … Và ngày 29 tháng 4 năm 1995 Thủ tướng Chính Phủ đã ra quyết định số 249/TTg thành lập Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là doanh nghiệp chủ đạo trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông. Giai đoạn này, cũng bắt đầu khởi động xoá bỏ độc quyền trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông với sự xuất hiện của Công ty Viễn thông Quân đội (Viettel) và Công ty Cổ phần Bưu chính Viễn thông Sài Gòn (SPT). Tuy nhiên, sự tham gia của các doanh nghiệp mới trên thị trường Bưu chính Viễn thông thời kỳ này là chưa đáng kể. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông vẫn giữ thế độc quyền. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Giai đoạn 2000 – 2005, ngành Bưu chính Viễn thông bước vào thời kỳ hội nhập, phát triển. Ngoài Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, đã có 5 doanh nghiệp khác được xây dựng hạ tầng mạng là Viettel, SPT, Vishipel, VP Telecom, Hanoi Telecom và đã có gần 20 doanh nghiệp thuộc nhiều thành phần kinh tế cung cấp dịch vụ Internet.
Qua gần 10 năm hoạt động Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã phát triển trở thành DNNN chủ lực trong trong xây dựng cơ sở hạ tầng thông tin cho đất nước, kinh doanh các dịch vụ Bưu chính Viễn thông đa dạng. Hoạt động sản xuất kinh doanh trải rộng trên nhiều lĩnh vực như: dịch vụ Bưu chính Viễn thông, đào tạo, nghiên cứu khoa học, dịch vụ tài chính – ngân hàng…. Tổng công ty có 77 đơn vị hạch toán phụ thuộc, 10 đơn hạch toán độc lập và 10 đơn vị sự nghiệp. Tổng công ty đã tham gia góp vốn thành lập 8 công ty liên doanh và 27 công ty cổ phần. Tuy nhiên trước những thách thức của quá trình hội nhập kinh tế quốc tế, trong đó nghành công nghệ thông tin và truyền thông là nghành bị cạnh tranh gay gắt nhất thì mô hình Tổng công ty lại có sự hạch toán phụ thuộc quá lớn (hơn 70% đơn vị thành viên của Tổng công ty là đơn vị là hạch toán phụ thuộc), điêù này đã làm giảm động lực của người lao động, của từng đơn vị thành viên và do đó làm giảm sức cạnh tranh của doanh nghiệp. Chính sự hạch toán không rõ ràng khiến bưu chính chưa thực sự phát huy được hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tạo gánh nặng cho khối viễn thông (doanh thu bưu chính chiếm 7% trong khi viễn thông là 93% nhưng khối bưu chính lại chiếm hơn 50% số lao động toàn ngành). Mặt khác, mô hình tổ chức vẫn theo kiểu hành chính, cơ chế quản lý nội bộ chưa theo kịp sự phát triển của Tổng công ty và các đơn vị thành viên về quy mô, năng lực mạng lưới và trình độ công nghệ; khối các đơn vị hạch toán tập trung quá lớn trong lĩnh vực điều hành sản xuất kinh doanh tại bộ máy quản lý của Tổng công ty dẫn đến hạn chế tính năng động sáng tạo, tạo sức ỳ lớn đối với các đơn vị thành viên.
Để khắc phục những tồn tại yếu kém trên và tổng hợp sức mạnh của các thành phần kinh tế nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh cho ngành cũng như thực hiện chủ trương của Trung ương Đảng nhằm phát triển nền kinh tế hội nhập quốc tế, đặc biệt, Nghị quyết TW 3 khoá IX cũng ghi rõ, với một số lĩnh vực trọng điểm, cần phải hình thành mô hình tập đoàn kinh tế, trong đó có tập đoàn bưu chính viễn thông. Ngày 23/3/2005, Thủ tướng Chính phủ đã ra Quyết định số 58/2005/QĐ-TTG phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, tập đoàn đầu tiên được Thủ tướng Chính phủ cho phép thí điểm thành lập. Tiếp theo, ngày 09/01/2006, Thủ tướng Chính phủ đã có Quyết định số 06/2006/QĐ-TTG về việc thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT). Việc thành lập VNPT sẽ tạo điều kiện cho Doanh nghiệp chủ động phát triển, huy động mọi thành phần kinh tế tham gia và đầu tư cho Bưu chính Viễn thông và Công nghệ Thông tin; các Doanh nghiệp vừa cạnh tranh vừa hợp tác tốt hơn. Chính vì vậy nó sẽ phục vụ tốt hơn cho xã hội, nâng cao chất lượng phục vụ và giảm giá thành, tiến tới đầu tư và cung cấp dịch vụ ra nước ngoài cũng như tạo điều kiện để phát triển kinh tế trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước.
Năm 2007, tiếp tục triển khai thực hiện Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, VNPT đã hoàn thành chia tách Bưu chính Viễn thông trên địa bàn các tỉnh/thành phố. Theo đó, từ Bưu điện tỉnh cũ hình thành 2 đơn vị: Bưu điện tỉnh/thành phố trực thuộc Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam và Viễn thông tỉnh/thành phố trực thuộc Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam. Ngày 26/12/2007, VNPT đã chính thức công bố quyết định thành lập Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam và Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam đã đi vào hoạt động từ ngày 01/01/2008. Sự kiện này chính thức đánh dấu bước đổi mới, phát triển của VNPT trên thực tế, theo mô hình Tập đoàn kinh tế.[13]
2.1.2 Ngành nghề kinh doanh chính ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Theo Khoản 2, Điều 4 của Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) (Ban hành kèm theo Quyết định số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ) và Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 0106000689 ngày 21/4/2006 do Phòng Đăng ký kinh doanh của Sở Kế hoạch và Đầu tư Thành phố Hà Nội cấp, VNPT có nhiệm vụ kinh doanh theo quy hoạch, kế hoạch và chính sách của Nhà nước, bao gồm trực tiếp thực hiện các hoạt động đầu tư, sản xuất, kinh doanh hoặc đầu tư vào doanh nghiệp khác trong các ngành, nghề lĩnh vực chủ yếu sau: Đầu tư tài chính và quản lý vốn đầu tư của Tập đoàn tại các Doanh nghiệp khác; Dịch vụ Viễn thông đường trục; Dịch vụ Viễn thông – Công nghệ Thông tin; Dịch vụ Truyền thông; Khảo sát, tư vấn, thiết kế, lắp đặt, bảo dưỡng các công trình viễn thông và công nghệ thông tin; Sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu cung ứng vật tư thiết bị viễn thông – công nghệ thông tin; Dịch vụ tài chính, tín dụng, ngân hàng; Dịch vụ quảng cáo; Kinh doanh bất động sản, cho thuê văn phòng; Các ngành nghề khác theo quy định của pháp luật.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.3 Mục tiêu hoạt động và ý nghĩa Thương hiệu của VNPT
2.1.3.1 Mục tiêu hoạt động của VNPT
Khoản 1, Điều 4 của Điều lệ Tổ chức và Hoạt động của Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam (VNPT) (Ban hành kèm theo Quyết định số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ) đã nêu rõ mục tiêu hoạt động của VNPT là:
- Kinh doanh có lãi; bảo toàn và phát triển vốn chủ sở hữu đầu tư tại VNPT và vốn của VNPT đầu tư tại các doanh nghiệp khác; hoàn thành các nhiệm vụ khác do chủ sở hữu giao;
- Tối đa hóa hiệu quả hoạt động của Tập đoàn Bưu chính Viễn thông quốc gia Việt Nam;
- Phát triển thành tập đoàn kinh tế có trình độ công nghệ, quản lý hiện đại và chuyên môn hóa cao; kinh doanh đa ngành, trong đó viễn thông và công nghệ thông tin là các ngành, nghề kinh doanh chính; gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học, công nghệ, nghiên cứu, đào tạo; có sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế; làm nòng cốt để ngành bưu chính, viễn thông Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả.
2.1.3.2 Ý nghĩa Thương hiệu của VNPT
Ngày 21/9/2006, tại Hà Nội, VNPT chính thức giới thiệu hệ thống nhận diện thương hiệu. Hệ thống nhận diện thương hiệu VNPT là bộ quy chuẩn về hình ảnh thể hiện, được ứng dụng trong các hoạt động quảng cáo thương hiệu và dịch vụ, tổ chức các hoạt động quan hệ công chúng, tuyên truyền, các ấn phẩm xuất bản, phương tiện vận chuyển và các hoạt động sự kiện, hội nghị, triển lãm, các hoạt động khác của VNPT. Việc sử dụng thống nhất hệ thống nhận diện thương hiệu Tập đoàn là một bước đi chiến lược hướng tới tính chuyên nghiệp cao trong các hoạt động truyền thông tiếp thị, góp phần đưa sản phẩm, dịch vụ của VNPT đến gần hơn với khách hàng và xã hội.
– Cụm đồ hoạ về hệ thống Nhận diện thương hiệu VNPT. Logo VNPT gồm 2 phần: phần hình (graphic logo) là cách điệu của vệt quỹ đạo vệ tinh xoay quanh quả địa cầu vẽ lên chữ V, biểu hiện sự phát triển theo mạch vận động không ngừng. Phần text: VNPT (viết tắt của Vietnam Posts & Telecommunications) [16]. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
– Khẩu hiệu của VNPT
+ Tiếng Việt: “Cuộc sống đích thực”
+ Tiếng Anh: “Real life”.
– Đồ hoạ: ý nghĩa việc thể hiện đôi mắt trong thương hiệu
+ Đôi mắt thể hiện cho con người, thể hiện sự quan tâm, chia sẻ, minh hoạ cho giá trị nhân văn của VNPT;
+ Cụm đồ hoạ VNPT – cánh sóng cách điệu – đôi mắt: thể hiện VNPT luôn vì khách hàng, quan tâm chăm sóc khách hàng;
+ Sử dụng hình ảnh đôi mắt nam, nữ thể hiện sự cân bằng tự nhiên, sự đa dạng của khách hàng trong nước và quốc tế của VNPT, tạo sự thuận tiện về tính đối xứng với mỗi hạng mục thiết kế;
+ Ngôn ngữ đồ hoạ được sử dụng một cách hiện đại thông qua sự thể hiện mảng màu giữa xanh và trắng, vị trí, bố cục hình logo, chữ VNPT và câu slogan.
Hệ thống nhận diện thương hiệu VNPT được xây dựng đảm bảo ba tính chất: tính lịch sử, tính nhân văn, và tính kết nối; và hướng tới ba mục tiêu:
Thứ nhất, từng bước triển khai trên toàn tập đoàn và khách hàng trên phạm vi toàn quốc, giúp khách hàng dễ dàng nhận diện hình ảnh mới của tập đoàn.
Thứ hai, hệ thống thương hiệu cùng với slogan mới ”Cuộc sống đích thực” thể hiện cam kết mạnh mẽ của 8 vạn nhân viên trong nỗ lực mang lại tiện ích cho khách hàng, cho cộng đồng.
Thứ ba, hệ thống đem lại lợi ích cho khách hàng, bên cạnh những giá trị hữu hình, thương hiệu mạnh của VNPT sẽ đem lại giá trị cảm nhận ngày càng lớn.
Thương hiệu này đã được kế thừa truyền thống, nhưng có sự thay đổi về ý nghĩa nội dung, bao quát hơn và đặt yêu cầu lớn hơn đối với VNPT. Trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông, hiện tại, ở Việt Nam, VNPT là doanh nghiệp lớn đầu tiên xây dựng hệ thống thương hiệu và bảo vệ thương hiệu của mình tại thị trường quốc tế, đặc biệt tại Hoa Kỳ – được công nhận bởi tổ chức Chứng nhận thương hiệu có uy tín của Hoa Kỳ.
Có thể nói VNPT là một trong những Tập đoàn kinh tế Nhà nước đầu tiên tại Việt Nam triển khai hệ thống nhận diện một cách toàn diện và chuyên nghiệp. Với mục đích giữ vững vị trí số 1 trên thị trường Bưu chính Viễn thông và Công nghệ thông tin trong nước và đủ khả năng cạnh tranh bình đẳng với các tập đoàn lớn cùng lĩnh vực trên thế giới, VNPT coi đây là điểm mốc quan trọng trong tiến trình chuẩn bị hội nhập WTO.
Tuy nhiên, lãnh đạo VNPT hiểu rất rõ rằng việc phát triển thương hiệu mới chỉ là bước khởi đầu. Quan trọng hơn, VNPT luôn chú trọng tới chất lượng dịch vụ và phục vụ khách hàng; nâng cao chất lượng dịch vụ, phát triển nhanh chóng các dịch vụ giá trị gia tăng, các dịch vụ nội dung trên nền mạng NGN, Internet, di động… điều chỉnh giá cước các dịch vụ thích ứng với môi trường cạnh tranh, thực hiện tốt công tác bán hàng và chăm sóc khách hàng.
2.2 Thực trạng hoạt động của VNPT khi áp đụng mô hình quản trị TĐKT ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
2.2.1 Thực trạng hoạt động của VNPT trước khi áp dụng mô hình quản trị TĐKT
2.2.1.1 Giai đoạn trước năm 1987 – cơ chế quản lý bao cấp, độc quyền Bưu chính Viễn thông
Giai đoạn này mọi hoạt động liên quan đến Bưu chính Viễn thông được Đảng và Nhà nước giao trọn gói cho Tổng cục Bưu điện thực hiện. Tổng cục Bưu điện đồng nghĩa với ngành bưu điện. Vốn hoạt động do Nhà nước cấp phát tương ứng với nhiệm vụ được giao. Hàng năm Bộ tài chính và Uỷ ban kế hoạch Nhà nước căn cứ Bảng cân đối kế toán để xác định lượng vốn cần thiết phải cấp phát bổ sung hoặc cho vay và giao nhiệm vụ, giao kế hoạch. Chế độ làm việc, chi phí, tiền lương được thực hiện theo cơ chế kế hoạch hoá tập trung bao cấp nên kết quả hoàn thành tuỳ theo mức độ báo cáo của Tổng cục Bưu điện và sự suy xét, cân đối, chấp nhận của Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước. Các chỉ số kế hoạc mang tính định lượng về kết quả hơn là định lượng về hiệu quả. Mục tiêu, nhiệm vụ được thể hiện qua các chỉ số mang nặng tính xã hội hơn là tính kinh tế.
2.2.1.2 Giai đoạn từ 1987 đến 1995 – giai đoạn độc quyền trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông
Bước sang giai đoạn này, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông và các doanh nghiệp độc lập khác đã có bảng tổng kết tài sản riêng để phản ánh vốn và tài sản của từng doanh nghiệp. Trên cơ sở đó, Bộ Tài chính giao vốn và Uỷ ban Kế hoạch Nhà nước giao nhiệm vụ. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông thực hiện cơ chế giao vốn, giao nhiệm vụ thông qua kế hoạch cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc. Các đơn vị thực hiện thu và chi ở mức vừa có thành tích về thu vừa có thể xin tăng chi cho năm sau, trong đó có việc xin vốn cho đầu tư Xây dựng Cơ bản.
Các đơn vị hạch toán độc lập trực thuộc Tổng cục Bưu điện gồm những nhà máy, công ty sản xuất thiết bị, xây lắp lại lao đao khốn khó vì vốn nhỏ và thiếu thị trường. Nguyên nhân là do sản phẩm của các đơn vị không phải là sản phẩm độc quyền mà có thể mua, nhập từ nhiều nước, từ nhiều doanh nghiệp khác. Vì thế, các doanh nghiệp phải làm kế hoạch 3 (Kế hoạch Nhà nước không giao) để bù đắp chi phí và trả lương.
Giai đoạn này, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là đơn vị duy nhất cung cấp dịch vụ Bưu chính Viễn thông. Vị thế độc quyền này là do điều kiện lịch sử và thể chế phát triển kinh tế của Nhà nước. Hiện tượng này không chỉ xảy ra ở Việt Nam mà là hiện tượng chung trên toàn thế giới. Trên thực tế tất cả các nước đều duy trì sự độc quyền doanh nghiệp trong giai đoạn đầu phát triển thị trường viễn thông. Các nước châu Âu mới chỉ bắt đầu quá trình tự do hoá thị trường này từ cuối thập kỷ 1980. Hoa Kỳ có ngành viễn thông phát triển nhất thế giới, nhưng cũng trải qua các giai đoạn: 1913-1968 duy trì độc quyền một doanh nghiệp viễn thông (công ty Bell Systems); 1968 – 1996 bắt đầu mở cửa thị trường cho cạnh tranh trên cơ sở chia tách Bell System thành các công ty nhỏ hơn; từ 1996 đến nay, thị trường viễn thông Hoa Kỳ mới thực sự là thị trường viễn thông hoàn hảo (theo luật Viễn thông Hoa Kỳ).
2.2.1.3 Giai đoạn 1995 đến khi bắt đầu áp dụng mô hình quản trị TĐKT – quản lý theo mô hình Tổng công ty 91, xoá độc quyền trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Giai đoạn này đánh dấu nhiều sự thay đổi trong quản lý và hoạt động của doanh nghiệp ngành Bưu chính Viễn thông, đó là sự xuất hiện của nhiều doanh nghiệp khác ngoài Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam tham gia trên thị trường, và sự ra đời của Bộ Bưu chính Viễn thông, thực hiện vai trò quản lý nhà nước trong lĩnh vực Bưu chính Viễn thông – Công nghệ Thông tin. Sự cạnh tranh xuất hiện, môi trường kinh doanh của doanh nghiệp Bưu chính Viễn thông đã thay đổi với sự chi phối của các luật như Luật DNNN, Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông , Luật cạnh tranh, Luật thương mại, …
Khi Pháp lệnh Bưu chính Viễn thông được ban hành (năm 2002), Bộ Bưu chính Viễn thông lần lượt cấp giấy phép cho hầu hết các dịch vụ viễn thông, đánh dấu mốc chấm dứt sự độc quyền 01 doanh nghiệp trên thị trường Viễn thông Việt Nam. Như vậy, nếu so sánh về mặt chính sách và luật pháp về lộ trình tự do hoá thị trường viễn thông của Việt Nam và Hoa Kỳ có thể thấy: hiện nay mặt bằng chính sách tự do hoá thị trường viễn thông Việt Nam ngang với mặt bằng chính sách của Hoa Kỳ vào năm 1968. Để có thị trường cạnh tranh hoàn hảo như hiện tại, Hoa Kỳ phải mất 30 năm. Bởi vậy, lộ trình mở cửa, tự do hoá thị trường viễn thông của Việt Nam mới là bắt đầu. Về mặt chính sách và luật pháp, Việt Nam đã chấm dứt độc quyền doanh nghiệp của VNPT trên thị trường viễn thông từ năm 2002. Nhưng trên thực tế, vai trò chi phối thị trường viễn thông của VNPT hiện nay và trong một số năm tới vẫn là đáng kể vì các doanh nghiệp mới cần phải có thời gian để phát triển trưởng thành.
Về tổ chức quản lý và hoạt động, Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam được thành lập theo Quyết định số 249/TTg là loại hình Tổng công ty mạnh gồm Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cũ và các đơn vị hạch toán độc lập.
Bộ máy quản lý của Tổng công ty dựa trên bộ máy của khối phụ thuộc; doanh thu, lợi ích mang lại cũng chủ yếu từ khối này. Các thành viên hạch toán độc lập được sáp nhập lại không mang thêm nhiều lợi ích cho Tổng công ty, được Tổng công ty hỗ trợ bằng cách san sẻ một ít lợi nhuận từ khối hạch toán phụ thuộc và ban hành một số qui chế nội bộ để tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiêu thụ sản phẩm, dịch vụ. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Cơ chế quản lý của mô hình Tổng công ty chưa có thay đổi cơ bản, cụ thể:
Về cơ chế tài chính, các thành viên hạch toán độc lập tiếp tục thực hiện cơ chế giao nhận vốn, có bảng cân đối tài sản riêng và có nghĩa vụ nộp thuế trực tiếp cho Ngân sách. Các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc gồm 64 Bưu điện tỉnh, thành phố, các công ty dọc được hạch toán chung vào một bản cân đối và lợi ích mang lại cho từng đơn vị là sự tính toán ăn chia về mặt kế hoạch theo cơ “chế nồi cơm” chung do bộ máy chức năng suy tính và phán quyết. Cơ chế kế hoạch tính doanh thu riêng tuy phần nào tạo ra quyền tự chủ và tính năng động cho các đơn vị hạch toán phụ thuộc nhưng vẫn mang bản chất của cơ chế cấp phát – xin cho. Sự phân chia lợi ích chưa thực sự dựa trên hiệu quả sản xuất do mỗi đơn vị làm ra; hiệu quả sử dụng vốn không được xem xét khoa học, cụ thể và cũng không được coi trọng (nhất là hiệu quả sử dụng vốn trong xây dựng cơ bản) nên chưa tạo được động lực thúc đẩy các đơn vị phấn đấu tăng thu tối đa, tiết kiệm chi phí. Đơn vị có thu lớn hơn kế hoạch thì cố giữ mức thu hợp lý, giấu bớt thu. Đơn vị có thu thấp hơn chi thì cố gắng chi hết kế hoạch để có thể xin tăng chi cho kế hoạch năm tới. Quan hệ giữa chức năng Tổng công ty với các đơn vị là sự suy xét mang tính chủ quan hơn là dựa theo biểu đồ chỉ số kinh tế thực tế. Cụ thể một số mặt như sau:
Công tác kế hoạch: Tổng công ty có chiến lược phát triển cho từng giai đoạn, cụ thể hoá thành các kế hoạch 5 năm và kế hoạch từng năm. Cơ chế kế hoạch của tổng công ty qui định cụ thể hệ thống các chỉ tiêu kế hoạch cho các đơn vị thành viên được xác định theo qui định riêng, hàng năm có sửa đổi, bổ sung, bao gồm: Doanh thu phát sinh, Doanh thu kinh doanh Bưu chính Viễn thông phân chia, Doanh thu thuần, Doanh thu được hưởng (doanh thu riêng), Doanh thu được điều tiết hoặc doanh thu phải nộp, Tuyển dụng lao động, Đơn giá tiền lương, Đầu tư, Hiệu quả sản xuất kinh doanh, Sản lượng.
Các chỉ tiêu được xác định trên cơ sở mức bình quân chung của các đơn vị thành viên, tình hình phát triển mạng lưới và dự báo nhu cầu trên địa bàn với các định mức kinh tế, kỹ thuật, tiêu chuẩn ngành. Tuy nhiên, yếu tố thị trường và hiệu quả đầu tư chưa được xem xét một cách khoa học, chủ yếu là các đánh giá mang tính chủ quan, thiếu định lượng.
Cơ chế tài chính:Cơ chế tài chính của Tổng công ty được cụ thể hoá trong Quy chế tài chính ban hành kèm theo Quyết định số 91/QĐ-KTTKTC- HĐQT ngày 07/04/2000, bao gồm một số nội dung cơ bản sau:
- Nhà nước giao vốn điều lệ ban đầu cho Tổng công ty khi thành lập. Ngoài vốn điều lệ, Tổng công ty được phép huy động vốn dưới mọi hình thức theo qui định của pháp luật để phát triển sản xuất kinh doanh và tự chịu trách nhiệm về việc huy động vốn. Tổng công ty cũng được quyền sử dụng vốn thuộc quyền sử dụng của mình để đầu tư ra ngoài dưới các hình thức theo qui định của pháp luật.
- Tổng công ty thực hiện việc giao vốn cho các đơn vị thành viên hạch toán độc lập, giao quyền quản lý và sử dụng vốn cho các đơn vị thành viên hạch toán phụ thuộc và đơn vị sự nghiệp. Các đơn vị thành viên có nhiệm vụ bảo toàn và phát triển vốn, quản lý tài sản theo phân cấp và qui định của Tổng công Nguồn vốn khấu hao được quản lý tập trung tại Tổng công ty.
- Doanh thu, chi phí của tổng công ty là doanh thu, chi phí của các đơn vị thành viên và doanh thu, chi phí phát sinh tại tổng công ty. Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Giám đốc các đơn vị thành viên chịu trách nhiệm trước Nhà nước và pháp luật về tính đúng đắn và hợp pháp của các khoản doanh thu, chi phí phát sinh tại đơn vị mình. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
- Lợi nhuận của Tổng công ty gồm lợi nhuận của các đơn vị thành viên hạch toán độc lập và lợi nhuận hạch toán tập trung. Cơ chế phân phối lợi nhuận tuân thủ các qui định của Nhà nước, đảm bảo cân đối lợi ích trong nội bộ tổng công ty. Lợi nhuận của Tổng công ty sau khi nộp thuế được trích lập vào các quỹ theo tỷ lệ: 50% quỹ đầu tư phát triển, 10% quỹ dự phòng tài chính, số còn lại trích vào quỹ khen thưởng phúc lợi theo hạn mức không vượt 2 tháng lương bình quân theo quỹ lương của tổng công ty, số còn lại trích bổ sung vào quỹ đầu tư phát triển. Lợi nhuận để lại các đơn vị sau khi trừ tỷ lệ thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp, được trích lập chủ yếu vào quỹ đầu tư phát triển đơn vị (50%), quỹ khen thưởng phúc lợi trích lập theo qui định cụ thể hàng năm của tổng công ty nhưng không vượt quá tỷ lệ chung của tổng công ty, số còn lại được trích tiếp vào quỹ đầu tư phát triển. Việc sử dụng các quỹ theo qui định riêng của tổng công [14]
Về công tác tổ chức cán bộ:
Công tác cán bộ được tiến hành theo cơ chế phân cấp quyết định bằng quyền lực hành chính của các cấp hành chính. Việc phân cấp này được tiến hành như sau: các đơn vị thành viên (cấp dưới) đề xuất, Tổng công ty (cấp trên) cử cán bộ chức năng xuống, tổ chức thăm dò tín nhiệm, thẩm tra các vấn đề cần thiết, sau đó đề nghị Lãnh đạo Tổng công ty xem xét quyết định bổ nhiệm. Quy trình này áp dụng đối với tất cả các thành viên trong Tổng công ty. Việc tuyển dụng, đào tạo cán bộ của các đơn vị thành viên thực hiện theo kế hoạch, qui định chung của Tổng công ty.
2.2.2 Thực trạng hoạt động của VNPT khi áp dụng mô hình quản trị TĐKT
- Mô hình tổ chức VNPT
Sau gần 10 năm đi vào hoạt động theo mô hình Tổng công ty 91, Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông đã đạt được trình độ nhất định về tích tụ, tập trung, phân công chuyên môn hóa và hợp tác hóa sản xuất, bảo đảm thực hiện các nhiệm vụ Nhà nước giao, từng bước nâng cao khả năng, hiệu quả kinh doanh và chất lượng phục vụ của các đơn vị thành viên và toàn Tổng công ty, đáp ứng nhu cầu của nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay, viễn thông được đánh giá là một lĩnh vực tiềm năng, có thế và lực, có điều kiện để cạnh tranh và hội nhập nền kinh tế quốc tế một cách hiệu quả.
Trước yêu cầu mới của thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và chủ động hội nhập nền kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ, Nghị quyết Trung ương 3 (Khóa IX) của Đảng đã đề ra việc thí điểm hình thành tập đoàn kinh tế trong lĩnh vực viễn thông. Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã chỉ đạo thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam làm nòng cốt để ngành Bưu chính, Viễn thông Việt Nam phát triển nhanh và bền vững, cạnh tranh và hội nhập kinh tế quốc tế có hiệu quả trên cơ sở tổ chức, sắp xếp lại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên. Theo Quyết định số 58/QĐ-TTg ngày 23/3/2005 về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg ngày 9/1/2006, về việc thành lập Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và Điều lệ Tổ chức và hoạt động của Công ty mẹ-Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam, Ban hành kèm theo Quyết định số 265/2006/QĐ-TTg ngày 17/11/2006 của Thủ tướng Chính phủ, sau nhiều lần thay đổi, hiện nay, VNPT đã xác định mô hình tập đoàn Bưu chính Viễn thông như mô hình 2.1 sau: ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Mô hình tổ chức Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam ở Hình 2.1 được diễn giải như sau (Chi tiết xin xem thêm phần phụ lục):
“Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quốc gia Việt Nam” là tổ hợp doanh nghiệp, không có tư cách pháp nhân, bao gồm: Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên, được hình thành trên cơ sở tổ chức lại Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và các đơn vị thành viên theo Quyết định số 58/2005/QĐ-TTg ngày 23 tháng 3 năm 2005 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án thí điểm hình thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam.
- Công ty mẹ: “Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam”: là Công ty mẹ trong Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Quốc gia Việt Nam, là công ty nhà nước, có tư cách pháp nhân, được thành lập theo Quyết định số 06/2006/QĐ-TTg ngày 09 tháng 01 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam bao gồm cơ quan quản lý, điều hành VNPT và các đơn vị trực thuộc.
– Công ty con bao gồm :
+ Công ty con do VNPT nắm giữ 100% vốn điều lệ
+ Công ty con do VNPT nắm trên 50% vốn điều lệ
+ Công ty con do VNPT nắm ít hơn 50% vốn điều lệ
– Các công ty Liên doanh về viễn thông (tự nguyện liên kết)
Tổng Công ty Bưu chính Việt Nam: Tổng Công ty do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập
2.2.2.2 Cơ cấu tổ chức quản lý của Công ty mẹ – VNPT
a. Vế hình thức pháp lý, tư cách pháp nhân của VNPT
- VNPT là công ty nhà nước, do Nhà nước quyết định đầu tư và thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật đối với công ty nhà nước và theo Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn.
- VNPT có tư cách pháp nhân, con dấu riêng, biểu tượng, tài khoản tiền đồng Việt Nam và ngoại tệ mở tại Kho bạc Nhà nước, các ngân hàng trong nước và nước ngoài
- Chủ sở hữu và đại diện chủ sở hữu nhà nước đối với VNPT:
+ Nhà nước là chủ sở hữu của VNPT. Chính phủ thống nhất tổ chức thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với VNPT. Thủ tướng Chính phủ trực tiếp thực hiện hoặc uỷ quyền cho các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với VNPT theo quy định của pháp luật
+ Hội đồng quản trị VNPT là đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VNPT và đại diện chủ sở hữu đối với công ty do mình đầu tư toàn bộ vốn điều lệ.
- Đại diện theo pháp luật của VNPT
Người đại diện theo pháp luật của VNPT là Tổng giám đốc VNPT.
- Quản lý nhà nước đối với VNPT
VNPT chịu sự quản lý nhà nước của Chính phủ, các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương theo quy định của pháp luật.
b. Về cơ cấu tổ chức quản lý của VNPT
Cơ cấu tổ chức quản lý, điều hành của VNPT gồm có:
+ Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát;
+ Tổng giám đốc, các Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng;
+ Bộ máy giúp việc. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
b1. Chức năng và cơ cấu của Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát
- Chức năng và cơ cấu của Hội đồng quản trị
- Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại VNPT và Tổng công ty Bưu chính Việt Nam; thực hiện các quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty do VNPT đầu tư toàn bộ vốn điều lệ và của chủ sở hữu đối với phần vốn góp của VNPT tại các doanh nghiệp khác.
- Hội đồng quản trị có quyền nhân danh VNPT để quyết định mọi vấn đề liên quan đến việc xác định và thực hiện mục tiêu, nhiệm vụ và quyền lợi của VNPT, trừ những vấn đề thuộc thẩm quyền, trách nhiệm của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ hoặc phân cấp cho các cơ quan, tổ chức khác là đại diện chủ sở hữu thực hiện.
- Hội đồng quản trị chịu trách nhiệm trước Thủ tướng Chính phủ và trước pháp luật về mọi hoạt động của Hội đồng quản trị VNPT có không quá 09 thành viên do Thủ tướng Chính phủ bổ nhiệm, miễn nhiệm hoặc thay thế, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Bộ trưởng Bộ Bưu chính, Viễn thông. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc, Trưởng ban kiểm soát là thành viên chuyên trách. Nhiệm kỳ của thành viên Hội đồng quản trị không quá 05 năm. Thành viên Hội đồng quản trị có thể được bổ nhiệm lại.
– Chủ tịch Hội đồng quản trị: Chủ tịch Hội đồng quản trị không kiêm nhiệm chức vụ Tổng giám đốc VNPT.
* Chức năng và cơ cấu của Ban kiểm soát
- Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị thành lập, có 05 thành viên, trong đó Trưởng Ban kiểm soát là thành viên Hội đồng quản trị do Hội đồng quản trị phân công, 01 thành viên là đại diện tổ chức Công đoàn có đủ tiêu chuẩn và điều kiện quy định tại khoản 4 Điều này; các thành viên khác của Ban kiểm soát do Hội đồng quản trị lựa chọn, bổ nhiệm, miễn nhiệm. Chủ tịch Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc không được kiêm Trưởng Ban kiểm soát.
b2. Chức năng của Tổng giám đốc, Phó Tổng giám đốc và kế toán trưởng
- Chức năng của Tổng giám đốc:
- Tổng giám đốc là người đại diện theo pháp luật, điều hành hoạt động hàng ngày của VNPT, điều hành kế hoạch phối hợp kinh doanh theo mục tiêu, kế hoạch phù hợp với Điều lệ VNPT và các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về việc thực hiện các quyền và nhiệm vụ được
– Tuyển chọn, bổ nhiệm Tổng giám đốc
Tổng giám đốc là ủy viên Hội đồng quản trị, do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức sau khi được Thủ tướng Chính phủ chấp thuận bằng văn bản
* Chức năng của Phó tổng giám đốc, kế toán trưởng ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
- VNPT có các Phó tổng giám đốc và kế toán trưởng, do Hội đồng quản trị bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức, khen thưởng, kỷ luật theo đề nghị của Tổng giám đốc.
- Phó tổng giám đốc là viên chức lãnh đạo giúp Tổng giám đốc điều hành VNPT; thực hiện nhiệm vụ và quyền hạn do Tổng giám đốc giao phù hợp với Điều lệ này; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc và trước pháp luật về nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
- Kế toán trưởng có nhiệm vụ tổ chức thực hiện công tác kế toán – thống kê của VNPT; giúp Tổng giám đốc giám sát tài chính tại VNPT theo pháp luật về tài chính, kế toán; chịu trách nhiệm trước Tổng giám đốc, trước Hội đồng quản trị và trước pháp luật về thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn được phân công hoặc uỷ quyền.
b3. Chức năng của Bộ máy giúp việc
- Bộ máy giúp việc gồm Văn phòng và các Ban chuyên môn, nghiệp vụ (sau đây gọi chung là các Ban tham mưu) có chức năng tham mưu, kiểm tra, giúp việc Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong quản lý, điều hành VNPT cũng như trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của chủ sở hữu, của cổ đông, của thành viên góp vốn hoặc bên liên doanh đối với các doanh nghiệp khác.
- Cơ cấu tổ chức và chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Văn phòng và các Ban tham mưu do Tổng giám đốc quyết định sau khi được Hội đồng quản trị chấp thuận.
b4. Hình thức tham gia quản lý doanh nghiệp của người lao động
Người lao động trong VNPT tham gia quản lý doanh nghiệp thông qua các hình thức và tổ chức sau đây
- Đại hội toàn thể hoặc Đại hội đại biểu công nhân viên chức các cấp của VNPT;
- Tổ chức Công đoàn VNPT;
- Ban Thanh tra nhân dân;
- Thực hiện quyền kiến nghị, khiếu nại, tố cáo theo quy định của pháp luật.
2.2.2.3 Mối quan hệ của VNPT với các đơn vị thành viên ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Các thành viên liên kết với nhau theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con thông qua quan hệ đầu tư vốn là chủ yếu, đồng thời có sự gắn kết về công nghệ, thị trường và thương hiêụ, …
Công ty mẹ và các Công ty con đều là những pháp nhân độc lập, bình đẳng trong thương trường và trước pháp luật. Công ty mẹ là chủ sở hữu hoặc đồng chủ sở hữu Công ty con. Quyền và nghĩa vụ của công ty mẹ đối với Công ty con (và ngược lại) là quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với pháp nhân (và ngược lại) theo các quy định của pháp luật.
a. Quan hệ giữa VNPT với các đơn vị trực thuộc
Đơn vị trực thuộc của VNPT thực hiện chế độ phân cấp hoạt động kinh doanh, hạch toán, tổ chức và nhân sự, … của VNPT theo quy định tại Quy chế tổ chức hoạt động của đơn vị trực thuộc do Tổng giám đốc VNPT xây dựng và trình Hội đồng quản trị phê duyệt. VNPT chịu trách nhiệm về các nghĩa vụ tài chính phát sinh đối với các cam kết của các đơn vị này.
b. Quan hệ giữa VNPT với các công ty con do VNPT nắm 100% vốn điều lệ
- Các công ty con do VNPT nắm 100% vốn điều lệ được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật tương ứng với hình thức pháp lý của từng loại công ty con đó.
- VNPT là chủ sở hữu của các công ty con do VNPT nắm giữ 100% vốn điều lệ. Hội đồng quản trị VNPT thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các công ty con này. Tổng giám đốc VNPT và bộ máy giúp việc giúp Hội đồng quản trị thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu, theo đó có trách nhiệm:
+ Tiếp nhận, kiểm tra, thẩm định các hồ sơ mà công ty con báo cáo VNPT để trình Hội đồng quản trị xem xét, thông qua hoặc quyết định;
+ Tổ chức thực hiện các nghị quyết, quyết định của Hội đồng quản trị đối với công ty con.
+ Kiểm tra, đôn đốc, giám sát việc thực hiện kế hoạch phối hợp kinh doanh tại công ty con.
+ Quyền và nghĩa vụ của VNPT đối với công ty con do VNPT nắm 100% vốn điều lệ :
Quyết định điều chỉnh vốn điều lệ của công ty theo đề nghị của Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty hoặc Tổng giám đốc, Giám đốc công ty;
Quyết định cơ cấu tổ chức quản lý công ty; các hình thức và biện pháp tổ chức lại công ty theo quy định tại Điều lệ của công ty đó ; ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Tổ chức giám sát, theo dõi và đánh giá hoạt động kinh doanh, hoạt động quản lý theo Điều lệ của công ty.
+ VNPT có quyền chi phối các công ty con do VNPT nắm 100% vốn điều lệ về các vấn đề sau:
Định hướng và lựa chọn công nghệ mới, xây dựng kế hoạch dài hạn về phát triển mạng và dịch vụ; quản lý mạng viễn thông thống nhất cấp quốc gia; khung thoả thuận kết nối với các doanh nghiệp viễn thông khác; tổ chức thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh thông tin và an toàn mạng lưới viễn thông;
Quản lý thống nhất nghiệp vụ các dịch vụ phổ cập triển khai trên phạm vi toàn quốc;
Phối hợp nghiên cứu khoa học công nghệ; định hướng phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, khai thác thị trường trong và ngoài nước;
Sử dụng thương hiệu chung của VNPT trong kinh doanh; Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công ích Nhà nước giao;
c. Quan hệ giữa VNPT với công ty con có cổ phần hoặc vốn góp chi phối của VNPT
- Công ty con mà VNPT giữ cổ phần, vốn góp chi phối là công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên; công ty liên doanh với nước ngoài; công ty ở nước ngoài do VNPT chi phối (sau đây gọi là công ty bị chi phối) gồm:
+ Các công ty có trên 50% vốn điều lệ là cổ phần hoặc vốn góp của VNPT;
+ Các công ty có dưới 50% vốn điều lệ là cổ phần hoặc vốn góp của VNPT nhưng bị VNPT chi phối bởi ít nhất một trong các yếu tố sau đây: định đoạt đối với điều lệ hoạt động, bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức các chức danh quản lý chủ chốt; thị trường, bí quyết công nghệ, thương hiệu, … theo quy định của pháp luật.
- Các công ty bị chi phối được thành lập, tổ chức và hoạt động theo quy định của pháp luật tương ứng với hình thức pháp lý của từng loại công ty đó.
- VNPT là chủ sở hữu phần vốn của VNPT tại các công ty bị chi phối. Hội đồng quản trị VNPT thực hiện các quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với phần vốn VNPT đầu tư vào các công ty này.
- Quyền và nghĩa vụ của VNPT đối với công ty con bị chi phối:
+ Thực hiện quyền, nghĩa vụ của cổ đông, thành viên góp vốn, bên liên doanh thông qua người đại diện của mình tại công ty theo pháp luật quy định đối với công ty và theo Điều lệ công ty bị chi phối;
+ Thu lợi tức và chịu rủi ro theo phần vốn góp của VNPT ở công ty bị chi phối;
+ Giám sát, kiểm tra việc sử dụng phần vốn góp vào công ty bị chi phối; ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
+ Chịu trách nhiệm về hiệu quả sử dụng, bảo toàn và phát triển phần vốn góp vào công ty bị chi phối. VNPT có quyền chi phối các công ty con bị chi phối thông qua người đại diện phần vốn ở các công ty con bị chi phối phù hợp với Điều lệ công ty, Điều lệ của VNPT hoặc thoả thuận với các công ty con bị chi phối về các vấn đề sau:
+ Định hướng lựa chọn công nghệ mới, xây dựng kế hoạch dài hạn về phát triển mạng và dịch vụ viễn thông; quản lý mạng viễn thông thống nhất cấp Quốc gia; khung thoả thuận kết nối với các doanh nghiệp viễn thông khác; tổ chức phối hợp thực hiện các biện pháp đảm bảo an ninh thông tin và an toàn mạng lưới viễn thông;
+ Phối hợp nghiên cứu khoa học công nghệ; định hướng phát triển nguồn nhân lực; nghiên cứu, khai thác thị trường trong và ngoài nước;
+ Sử dụng thương hiệu chung của VNPT trong kinh doanh;
+ Phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công ích Nhà nước giao.
d. Quan hệ giữa VNPT với các công ty liên kết
- Công ty liên kết là công ty có cổ phần, vốn góp của VNPT dưới mức chi phối và có thoả thuận liên kết với VNPT, được tổ chức dưới hình thức công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn hai thành viên trở lên, công ty liên doanh với nước ngoài; hoạt động theo quy định của Luật Doanh nghiệp và các quy định khác của pháp luật.
- VNPT thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình đối với công ty liên kết theo quy định của pháp luật, theo Điều lệ công ty và theo quy định của Điều lệ VNPT.
- VNPT quan hệ với công ty liên kết thông qua các thoả thuận về định hướng và lựa chọn công nghệ; nghiên cứu và phát triển dịch vụ mới về viễn thông – công nghệ thông tin; liên kết về nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực; sử dụng thương hiệu chung của VNPT trong kinh doanh và các hoạt động khác.
e. Quan hệ giữa VNPT với các đơn vị sự nghiệp
- Các đơn vị sự nghiệp do VNPT đầu tư thành lập, được chuyển đổi tổ chức và hoạt động theo cơ chế doanh nghiệp và các quy định của pháp luật;
- VNPT thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với các đơn vị sự nghiệp theo quy định của pháp luật;
- VNPT khuyến khích các đơn vị thành viên của VNPT sử dụng các dịch vụ nghiên cứu, đào tạo và y tế do các đơn vị sự nghiệp của VNPT cung cấp trên cơ sở hợp đồng.
f. Quan hệ giữa VNPT với công ty tự nguyện tham gia liên kết với VNPT
–. Tất cả các loại hình công ty thuộc mọi thành phần kinh tế ở trong nước và ở nước ngoài có thể tham gia tự nguyện liên kết với VNPT theo quy định của pháp luật (sau đây gọi là công ty tự nguyên liên kết). Công ty tự nguyện liên kết không có cổ phần, vốn góp của VNPT; ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
- Công ty tự nguyện liên kết chịu sự ràng buộc về quyền, nghĩa vụ với VNPT và các đơn vị thành viên khác theo thoả thuận liên kết giữa công ty đó với VNPT
- VNPT quan hệ với công ty tự nguyện liên kết thông qua các thoả thuận về: định hướng và lựa chọn công nghệ; nghiên cứu và phát triển dịch vụ mới về viễn thông – công nghệ thông tin; liên kết về nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực; sử dụng thương hiệu chung của VNPT trong kinh doanh và các hoạt động khác.
g. Quan hệ giữa VNPT với công ty con ở nước ngoài
- Các công ty con ở nước ngoài của VNPT bao gồm các công ty mà VNPT nắm trên 50% vốn điều lệ hoặc một tỷ lệ khác theo quy định của pháp luật nước sở tại và Điều lệ công ty đủ để VNPT có quyền chi phối đối với công ty; được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật nước sở tại và Điều lệ công ty;
- VNPT thực hiện quyền, nghĩa vụ của chủ sở hữu, cổ đông hoặc bên góp vốn chi phối đối với công ty theo quy định của pháp luật nước sở tại, các điều ước quốc tế, các hiệp định ký kết giữa Chính phủ nước sở tại và Chính phủ Việt Nam và Điều lệ công ty;
- VNPT thực hiện quyền chi phối công ty ở nước ngoài thông qua các thoả thuận về: định hướng và lựa chọn công nghệ; nghiên cứu và phát triển dịch vụ mới về viễn thông – công nghệ thông tin; liên kết về nghiên cứu khoa học công nghệ và phát triển nguồn nhân lực; sử dụng thương hiệu chung của VNPT trong kinh doanh và các hoạt động khác.
h.Quan hệ giữa VNPT với Tổng công ty Bưu chính Việt Nam
Tổng công ty Bưu chính Việt Nam là đơn vị thành viên của VNPT, do Nhà nước quyết định thành lập và giao vốn thông qua VNPT. Hội đồng quản trị VNPT là đại diện trực tiếp chủ sở hữu nhà nước tại Tổng công ty Bưu chính Việt Nam.
Nếu như quan hệ giữa VNPT với các công ty con là “liên kết cứng” thì quan hệ giữa VNPT với Tổng Công ty Bưu chính là “liên kết mềm” thông qua các hợp đồng hợp tác kinh doanh.
2.2.2.4 Cơ chế hoạt động tài chính của VNPT
a.Tăng, giảm, điều chỉnh vốn điều lệ của VNPT
Vốn điều lệ của VNPT là vốn do Nhà nước đầu tư tại VNPT ở thời điểm ngày 01 tháng 01 năm 2006: Bốn mươi nghìn tỷ đồng. Trong quá trình hoạt động, vốn điều lệ có thể tăng lên do:
+ Lợi nhuận sau thuế của VNPT, lợi nhuận sau thuế của các Công ty các công ty con do VNPT sở hữu 100% vốn điều lệ và lợi nhuận được chia từ các doanh nghiệp có cổ phần, vốn góp của VNPT;
+ Vốn do chủ sở hữu bổ sung cho VNPT từ ngân sách nhà nước hoặc nguồn khác;
- Chính phủ giao, uỷ quyền cho VNPT thực hiện chức năng chủ sở hữu một phần hoặc toàn bộ vốn điều lệ của một doanh nghiệp khác tham gia làm công ty con hoặc công ty liên kết của VNPT. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
- Việc điều chỉnh tăng hay giảm vốn điều lệ của VNPT do Thủ tướng Chính phủ quyết định.
- Trong mọi trường hợp tăng hay giảm vốn điều lệ, VNPT phải tiến hành điều chỉnh kịp thời trong bảng cân đối tài sản, công bố vốn điều lệ và làm các thủ tục điều chỉnh vốn điều lệ trong Điều lệ của Tập đoàn
- Chủ sở hữu chỉ được rút vốn đã đầu tư vào VNPT trong trường hợp điều chỉnh giảm vốn điều lệ nhưng vẫn đảm bảo khả năng thanh toán của Trường hợp không điều chỉnh giảm vốn điều lệ thì chỉ được rút vốn thông qua hình thức chuyển nhượng toàn bộ hoặc một phần vốn của VNPT cho các tổ chức, cá nhân khác.
- Đối với vốn nhà nước mà chủ sở hữu đã cam kết bổ sung cho VNPT thì chủ sở hữu có trách nhiệm đầu tư đủ vốn theo đúng thời hạn đã cam kết
Trường hợp sau hai năm mà không đầu tư đầy đủ và đúng hạn số vốn đã cam kết thì phải điều chỉnh vốn điều lệ của VNPT.
b. Quản lý vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, giá thành, giá cước và phân phối lợi nhuận của VNPT
Việc quản lý vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, giá thành, giá cước của VNPT được thực hiện theo Quy chế quản lý tài chính của VNPT và quy định của pháp luật. Nội dung Quy chế quản lý tài chính của VNPT phải tuân thủ các quy định hiện hành của pháp luật về cơ chế tài chính và các nguyên tắc về quản lý vốn, tài sản, doanh thu, chi phí, giá thành, giá cước và phân phối lợi nhuận của công ty nhà nước và các quy định trong Điều lệ tổ chức và hoạt động của Tập đoàn. Quy chế quản lý tài chính của VNPT phải có những nội dung chính sau đây: Cơ chế quản lý và sử dụng vốn; Cơ chế quản lý và sử dụng tài sản; Cơ chế quản lý doanh thu, chi phí và kết quả hoạt động kinh doanh của VNPT; Cơ chế phân phối lợi nhuận; các quỹ và mục đích sử dụng các quỹ của VNPT; Cơ chế quản lý kế hoạch tài chính, chế độ kế toán, thống kê và kiểm toán; Quyền hạn, nghĩa vụ và trách nhiệm của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc trong việc quản lý tài chính VNPT; Mối quan hệ về tài chính giữa VNPT với các Tổng công ty Bưu chính Việt Nam, các công ty con và công ty liên kết.
c. Kế hoạch tài chính, kế toán, kiểm toán và thống kê
- Năm tài chính của VNPT bắt đầu từ ngày 01 tháng 01 và kết thúc vào ngày 31 tháng 12 dương lịch hàng năm.
- Trước ngày 15 tháng 12 hàng năm, Tổng giám đốc trình Hội đồng quản trị phê duyệt kế hoạch kinh doanh, kế hoạch đầu tư, kế hoạch tài chính năm sau kế tiếp của VNPT. Hội đồng quản trị có trách nhiệm báo cáo Thủ tướng Chính phủ các kế hoạch kinh doanh hàng năm của VNPT làm căn cứ để giám sát và đánh giá kết quả quản lý, điều hành hoạt động kinh doanh của Hội đồng quản trị, Tổng giám đốc VNPT.
- Trong thời hạn 30 ngày sau khi kết thúc quý, Tổng giám đốc phải trình Hội đồng quản trị báo cáo tổng hợp. Trong thời hạn 60 ngày sau khi kết thúc năm tài chính, Tổng giám đốc phải trình Hội đồng quản trị phê duyệt các báo cáo tài chính năm, báo cáo đã được kiểm toán.
- VNPT tổ chức và chỉ đạo thực hiện:
+ Công tác kiểm toán nội bộ theo quy định của Bộ Tài chính nhằm phục vụ cho công tác điều hành của Tổng giám đốc và công tác giám sát, kiểm tra của chủ sở hữu, của Hội đồng quản trị đối với các đơn vị trực thuộc, các công ty con và các đơn vị sự nghiệp của VNPT.
+ Kiểm toán bắt buộc theo quy định của pháp luật đối với báo cáo tài chính hàng năm của VNPT, của các đơn vị trực thuộc, của các công ty con và của các đơn vị sự nghiệp và báo cáo quyết toán các dự án đầu tư nhóm A.
- VNPT phải thực hiện công khai tài chính theo quy định của Nhà nước.
- VNPT phải thực hiện công tác kế toán, thống kê theo quy định của pháp luật.
Mời bạn tham khảo thêm:
2.3 Đánh giá về mô hình quản trị tập đoàn kinh tế đang áp dụng tại VNPT
2.3.1 Ưu điểm và những kết quả đạt được khi áp dụng mô hình quản trị tập đoàn tại VNPT ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
2.3.1.1 Ưu điểm của mô hình quản trị tập đoàn đang áp dụng tại VNPT
Trên cơ sở khái niệm về Tập đoàn đã nêu ở Chương I và mô hình Tập đoàn đang được áp dụng tại VNPT như đã phân tích ở phần trên, chúng ta có thể hiểu: VNPT, về bản chất, là một tổ hợp kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, đa sở hữu, trong đó sở hữu Nhà nước giữ vai trò chủ đạo; kinh doanh đa ngành trong đó viễn thông, công nghệ thông tin và bưu chính là các ngành chính, giữ vai trò nòng cốt; mối liên kinh tế chủ yếu sử dụng mô hình công ty mẹ, công ty con; có sự gắn kết chặt chẽ giữa sản xuất, kinh doanh với khoa học công nghệ, nghiên cứu triển khai, đào tạo; cùng với sự tham gia của đông đảo các thành phần kinh tế. Một cấu trúc như vậy sẽ làm biến đổi một cách căn bản tính chất tổ chức, mối quan hệ chỉ đạo, điều hành, môi trường tồn tại và các tác nhân cần thiết, tạo động lực cho mọi nhân tố của doanh nghiệp phát triển nhanh, bền vững. Những biến đổi có tính chất tiến bộ hơn của mô hình quản trị tập đoàn so với mô hình Tổng công ty trước đây của VNPT được thể hiện rõ ở những điểm sau:
Thứ nhất, lúc chưa tiến hành đổi mới, từ một Tổng công ty với 94 đơn vị thành viên, trong đó có tới 70 đơn vị thành viên hạch toán tập trung (bản chất là hạch toán phụ thuộc) đã trở thành một Tập đoàn kinh tế bao gồm các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập. Trong đó, các đơn vị thành viên thuộc khối hạch toán tập trung được tổ chức lại thành các Tổng công ty hoặc các công ty hạch toán độc lập, kể cả các đơn vị đào tạo, nghiên cứu, các cơ sở y tế, chăm sóc sức khỏe; được chuyên môn hóa cao theo ngành, theo vùng lãnh thổ hoặc vùng kinh tế đặc thù.
Thứ hai, về cấu trúc tổ chức và thủ tục thành lập: Mô hình Tổng công ty Nhà nước trước đây là doanh nghiệp do Nhà nước sở hữu toàn bộ vốn điều lệ, thành lập, tổ chức quản lý, đăng ký hoạt động theo luật Doanh nghiệp Nhà nước, hoạt động trên cơ sở liên kết của nhiều đơn vị. Còn Tập đoàn kinh tế là tổ hợp các doanh nghiệp thành viên hạch toán độc lập, đa sở hữu. Nó vừa có chức năng kinh doanh vừa có chức năng liên kết. Trong cấu trúc Tập đoàn, Công ty mẹ nắm giữ quyền chi phối hoạt động của các công ty con. Do cấu trúc đa sở hữu nên trong Tập đoàn vừa có Doanh nghiệp Nhà nước hoạt động theo luật Doanh nghiệp Nhà nước, vừa có các loại doanh nghiệp khác hoạt động theo Luật doanh nghiệp. Nhà nước không ra quyết định thành lập Tập đoàn mà chỉ ra quyết định phê duyệt Đề án hình thành Tập đoàn. Bước tiếp theo Nhà nước lần lượt ra các quyết định thành lập các Công ty Nhà nước trong Tập đoàn. Các doanh nghiệp còn lại sẽ theo trình tự thủ tục thành lập Doanh nghiệp và các văn bản dưới luật khác của Nhà nước quy định. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Thứ ba, từ một Tổng công ty kinh doanh chuyên ngành Bưu chính Viễn thông khi chuyển sang mô hình Tập đoàn sẽ cho phép kinh doanh đa ngành nhưng ngành Bưu chính, Viễn thông, Công nghệ thông tin vẫn là các ngành kinh doanh chính. Việc mở rộng ngành, nghề kinh doanh đến đâu do Lãnh đạo Tập đoàn quyết định nếu xét thấy việc kinh doanh ngành nghề đó có nhu cầu tiêu thụ trên thị trường, góp phần bảo toàn, phát triển vốn, tác động tốt cho việc hỗ trợ, thúc đẩy ngành kinh doanh chính phát triển.
Thứ tư, từ một Tổng công ty chủ yếu sử dụng quyền lực hành chính trong điều hành kinh tế, tổ chức cán bộ sang một Tập đoàn điều hành bằng quyền lực kinh tế của người chủ sở hữu vốn thông qua biểu quyết đối vốn ở đại hội đồng cổ đông, biểu quyết đối nhân ở Hội đồng quản trị; thực thi quyền lực điều hành thông qua Tổng giám đốc và đội ngũ cán bộ các cấp trong Tập đoàn.
Để hiểu rõ sự biến đổi này, hãy cùng phân tích một ví dụ trong trường hợp bổ nhiệm cán bộ: Khi còn là Tổng công ty, việc bổ nhiệm Giám đốc, các phó giám đốc, kế toán trưởng các đơn vị thành viên của Tổng công ty được tiến hành theo quyền lực hành chính của các cấp hành chính. Việc này được phân cấp như sau: Các đơn vị thành viên (cấp dưới) đề xuất, Tổng công ty (cấp trên) cử cán bộ chức năng xuống, tổ chức thăm dò tín nhiệm, thẩm tra các vấn đề cần thiết sau đó trình Lãnh đạo Tổng công ty xem xét quyết định bổ nhiệm. Quy trình này áp dụng đối với tất cả các đơn vị thành viên trong Tổng công ty. Khi chuyển sang mô hình Tập đoàn, quyền lực theo cấp hành chính như vậy của Công ty mẹ chỉ còn áp dụng đối với Tổng công ty Bưu chính và các Viễn thông tỉnh, thành phố trực thuộc công ty mẹ. Đối với mô hình Tập đoàn, việc lựa chọn và quyết định cán bộ cho mỗi đơn vị thành viên còn lại được diễn ra tại chính công ty thành viên đó. Công ty mẹ chỉ được lựa chọn người đại diện vốn để giới thiệu cho Đại hội đồng cổ đông của mỗi đơn vị thành viên xem xét, bỏ phiếu bầu cử vào các chức danh lãnh đạo công ty, chứ không trực tiếp ra quyết định bổ nhiệm với tư cách là cấp trên trong hệ thống cấp hành chính như Tổng công ty trước đây. Trong việc bổ nhiệm cán bộ theo cơ chế bỏ phiếu đối vốn như vậy, ai có vốn góp sở hữu vốn tỷ lệ cao hơn sẽ là người có quyền quyết định cao hơn; người có vốn góp với tỷ lệ cao nhất sẽ có quyền lực quyết định cao nhất. Ngoài ra, người được xem xét bổ nhiệm còn chịu sự giám sát lựa chọn của đông đảo cổ đông đang cầm lá phiếu quyết định việc lựa chọn của mình với tư cách họ cũng là những chủ sở hữu vốn của công ty.
Thứ năm, quy mô của Tập đoàn sẽ không ngừng được mở rộng nhờ uy tín thu hút ngày càng đông các doanh nghiệp tham gia làm thành viên theo nguyên tắc tự nguyện. Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một doanh nghiệp Nhà nước mang tính chất một Công ty trách nhiệm vô hạn. Nhà nước phải có trách nhiệm vô hạn đối với tất cả các yếu tố của dây chuyền công nghệ sản xuất kinh doanh trong mỗi đơn vị thành viên kể cả việc giải quyết công nợ, lao động dôi dư v.v…Vì vậy, việc mở rộng quy mô, thành lập thêm các đơn vị thành viên mới rất hạn chế hoặc phải được Nhà nước cân nhắc rất kỹ càng thông qua các thủ tục xét duyệt của nhiều cấp quản lý Nhà nước có thẩm quyền. Khi chuyển sang Tập đoàn, việc mở rộng quy mô sẽ linh hoạt hơn, dễ dàng hơn. Do cơ cấu của Tập đoàn có nhiều mức độ liên kết chặt, lỏng khách nhau, kiên kết rất chặt như mối liên kết giữa công ty mẹ với các công ty con mà công ty mẹ sở hữu 100% vốn (còn gọi là liên kết cứng). Có mối liên kết lỏng hơn như mối liên kết giữa Công ty mẹ với các công ty con mà công ty mẹ góp vốn trên 50%; và có cả những mối liên kết rất lỏng như các mối liên kết với các công ty mà ở đó công ty mẹ chỉ góp vốn dưới 50% (còn gọi liên kết mềm). Với các hình thức liên kết ở nhiều mức độ như vậy, mối quan hệ trách nhiệm Nhà nước với các doanh nghiệp trong Tập đoàn không còn là trách nhiệm vô hạn như trước đây nữa mà chỉ là trách nhiệm hữu hạn theo tỷ lệ vốn góp. Vì vậy sẽ không có sự hạn chế của Nhà nước đối với số lượng các đơn vị tham gia Tập đoàn, quy mô Tập đoàn sẽ không ngừng được mở rộng đồng thời với việc trách nhiệm của lãnh đạo mỗi đơn vị thành viên phải được nâng cao tương ứng. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Bành trướng, thôn tính và thâm nhập là con đường mở rộng quy mô của các Tập đoàn kinh tế tư bản như chúng ta đã phân tích trong chương I. Tuy nhiên, đối với chúng ta, do bản chất của Chế độ Xã hội Chủ nghĩa nên việc mở rộng quy mô Tập đoàn chủ yếu dựa trên cơ sở tự nguyện liên kết của các công t y con có nhu cầu, lợi ích chung và có sự tín nhiệm đối với Tập đoàn mà họ có ý định liên kết.
Thứ sáu, do cơ chế lựa chọn cán bộ trong Tập đoàn chủ yếu dựa trên cơ sở bầu chọn. Việc ai được lựa chọn vào vị trí lãnh đạo chẳng những phụ thuộc vào người nắm giữ cổ phần chi phối mà còn phụ thuộc vào lá phiếu của đông đảo các cổ đông là chủ sở hữu các nguồn vốn khác nhau. Nét mới này cùng với đặc điểm Nhà nước không can thiệp quá sâu vào việc quyết định quy mô, cấu trúc tổ chức như đã trình bày ở trên sẽ làm cho chế độ trách nhiệm đối với mỗi cán bộ quản lý, điều hành của Tập đoàn rành mạch, rõ ràng, khuyến khích tài năng, tạo động lực phấn đấu cho cán bộ lãnh đạo, quản lý
Thứ bảy, quyền độc lập, tự chủ; tính linh hoạt, sáng tạo; sự hợp tác và sức cạnh tranh của các doanh nghiệp thành viên được củng cố, nâng cao. Trước đây, do cơ chế hạch toán tập trung trong Tổng công ty kéo dài quá lâu; sự hạch toán không rành mạch giữa Bưu chính và Viễn thông, giữa kinh doanh với công ích, giữa các đơn vị thành viên trong khối hạch toán phụ thuộc với nhau đã triệt tiêu động lực sáng tạo của mỗi thành viên; làm nảy sinh tư tưởng ỷ lại, trông chờ, ngại cạnh tranh. Thực hiện đề án hình thành VNPT với việc tách Bưu chính, Viễn thông để hình thành Tổng công ty Bưu chính Việt Nam và các Viễn thông tỉnh thành, phố trực thuộc Tập đoàn; tách riêng các đơn vị còn lại trong khối hạch toán tập trung để hình thành các Tổng công ty, Công ty hạch toán độc lập dưới nhiều hình thức tổ chức doanh nghiệp mới như Công ty Trách nhiệm hữu hạn, Công ty Cổ phần; việc cục Bưu điện Trung ương, đơn vị chủ yếu thực hiện chức năng phục vụ công ích sẽ được tách ra khỏi khối hạch toán tập trung trong thời gian tới để chuyển về trực thuộc Bộ Thông tin và Truyền thông, sẽ đặt tiền đề đổi mới cơ chế quản lý, chấm dứt cơ chế bao tiêu sản phẩm từ khối công nghiệp cung cấp cho khối dịch vụ; chấm dứt tình trạng bù chéo thu nhập từ đơn vị kinh doanh có hiệu quả sang nơi kinh doanh kém hiệu quả; chấm dứt tình trạng kinh doanh kém hiệu quả nhưng dễ bao biện lý do bởi sự hạch toán không rành mạch giữa kinh doanh và công ích. Các đơn vị sự nghiệp củng sẽ được hạch toán kinh doanh thông qua các hợp đồng nghiên cứu, đào tạo, chăm sóc y tế. Những biến đổi về mặt tổ chức này sẽ khắc phục một cách căn bản những tồn tại do cấu trúc của mô hình Tổ chức Tổng công ty trước đây.
Thứ tám, mô hình Tập đoàn sẽ đưa VNPT về hoạt động theo đúng nghĩa là một đơn vị hoạt động sản xuất kinh doanh theo cơ chế thị trường, những mặt hoạt động công ích sẽ được hạch toán riêng để đảm bảo báo cáo tài chính phản ánh đúng tình hình tài chính của một tập đoàn. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Thứ chín, đối với vốn của công ty mẹ – VNPT trên cơ sở tài sản của nhà nước tại Tổng công ty BCVT cũ: sẽ không thực hiện cơ chế giao vốn mà là thực hiện cơ chế đầu tư vào các công ty con. Nếu đầu tư vào công ty con không hiệu quả thì tập đoàn được quyền rút vốn đầu tư để tập trung đầu tư vào dự án khác có hiệu quả hơn, điều mà cơ chế giao vốn cho công ty thành viên không có được. Như vậy là phân định được rõ trách nhiệm quản lý vốn của nhà nước thuộc về tập đoàn. Điều này buộc ban lãnh đạo trong tập đoàn phải năng động, nâng cao trình độ để quản lý vốn của nhà nước vì nếu đầu tư không hiệu quả thì sẽ gây thất thoát vốn. Không còn cơ chế giao vốn dẫn đến khi vốn nhà nước bị thất thoát không quy được trách nhiệm cho ai, nhà nước buộc phải sử dụng các biện pháp xoá nợ…Mặt khác các công ty con được đầu tư cũng buộc phải năng động hơn trong việc sử dụng vốn đầu tư, vì nếu thấy vốn đầu tư không có hiệu quả thì tập đoàn sẽ rút vốn đầu tư sang công ty khác, lĩnh vực khác.
Thứ mười, mô hình như trên sẽ tạo điều kiện cho cơ quan quản lý nhà nước không phải can thiệp vào hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp mà tập trung vào giải quyết các vấn đề kinh tế vĩ mô của nhà nước.
Thứ mười một, nếu coi tập đoàn chỉ là một nhà đầu tư vào công ty con thì các thành phần kinh tế khác cũng là các nhà đầu tư vào công ty này, như vậy sẽ tạo nên một công ty có một lượng vốn đủ lớn để đảm bảo thực hiện được các mục tiêu chiến lược của tập đoàn, đủ sức cạnh tranh với các công ty nước ngoài đảm bảo tỷ suất lợi nhuận cho các nhà đầu tư, điều này sẽ làm tăng thêm sức mạnh cho tập đoàn khi số vốn tập đoàn đầu tư có hiệu quả và công ty con ngày càng lớn mạnh.
Thứ mười hai, trong khi yêu cầu đổi mới trang thiết bị đối với ngành viễn thông đặt ra nhu cầu rất lớn về vốn mà vốn để tái đầu tư mở rộng được trích từ lợi nhuận sau thuế không đáp ứng đòi hỏi để tái sản xuất mở rộng thì những thủ tục về đầu tư của nhà nước rất phức tạp làm mất thời cơ kinh doanh gây nên lãng phí rất lớn cho cả doanh nghiệp và khách hàng và làm chậm quá trình đi tắt đón đầu đối với ngành Công nghệ thông tin. Nhưng với việc chuyển sang mô hình tập đoàn thì các vấn đề ở trên sẽ được giải quyết, bởi không chỉ có vốn nhà nước đầu tư mà còn có vốn của các thành phần kinh tế khác gồm cả vốn của các nhà đầu tư nước ngoài.
Thứ mười ba, với việc hình thành tập đoàn thì đây sẽ là một cơ hội để ngành Viễn thông Việt Nam vươn ra nước ngoài.
Thứ mười bốn, với sức mạnh về vốn và môi trường kinh doanh sôi động của một tập đoàn chắc chắn sẽ tạo ra được một hệ thống chương trình đào tạo gắn liền với thực tế của doanh nghiệp. Mô hình 3 gắn kết đào tạo – nghiên cứu – ứng dụng sẽ tạo ra nguồn nhân lực về Công nghệ thông tin có chất lượng cao phục vụ cho ngành viễn thông nói riêng và cho đất nước nói chung. Với tài sản cũng như kết quả sẵn có do Tổng công ty Bưu chính Viễn thông cũ để lại, cùng với mô hình tập đoàn mới năng động chắc chắn sẽ tạo ra một Tập đoàn Bưu chính Viễn thông kinh doanh hiệu quả, phát triển mạnh là những “quả đấm thép” cạnh tranh với các tập đoàn nước ngoài, các công ty đa quốc gia…như mong muốn của Nhà nước khi quyết định hành thành các tập đoàn.
2.3.1.2 Những kết quả đạt được từ việc áp dụng mô hình quản trị tập đoàn kinh tế tại VNPT ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Việc chuyển đổi Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong xu hướng toàn cầu hóa nền kinh tế, phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác đó cũng là nhu cầu phát triển tất yếu đáp ứng yêu cầu nội tại của bản thân Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và của Tập đoàn ngày nay nhằm tạo ra sự phù hợp giữa quy mô sản xuất của doanh nghiệp với mô hình quản lý doanh nghiệp, tạo đường cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo thắng lợi cho Tập đoàn trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Những thành tựu bước đầu trong một thời gian ngắn kể từ khi triển khai mô hình Tập đoàn tại VNPT đã phần nào khẳng định được điều này.
Một là, phát triển hợp tác với nhiều đối tác lớn trong lĩnh vực đầu tư tài chính, ngân hàng, bảo hiểm, xây dựng hạ tầng khu đô thị, khu công nghiệp.
Ngay sau khi triển khai mô hình Tập đoàn, VNPT đã ký thỏa thuận hợp tác chiến lược với nhiều ngân hàng, tổ chức tài chính, bảo hiểm, đầu tư… xây dựng lớn tại Việt Nam như Ngân hàng Đầu tư và Phát triển (BIDV), Ngân hàng Công thương Việt Nam (Incombank), Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng TMCP Hàng hải (Maritime Bank), Ngân hàng Phát triển nhà Đồng bằng Sông Cửu Long (MHB), Tập đoàn Bảo Việt, Công ty Bảo hiểm Nhân thọ Prudential Việt Nam, Công ty Cổ phần VINCOM, Tổng công ty Cổ phần Xuất nhập khẩu và Xây dựng Việt Nam (Vinaconex), Tổng Công ty Đầu tư và Phát triển Công nghiệp (BECAMEX IDC)…
Việc hợp tác với các đối tác này là một trong những hướng phát triển theo mô hình đầu tư tài chính, kinh doanh đa ngành đa nghề của VNPT. Hai là, Đẩy mạnh cam kết về năng lực mạng lưới và chất lượng dịch vụ.
Những năm qua, VNPT đã có những bước phát triển vượt bậc. Đổi mới
căn bản và toàn diện từ mạng lưới kỹ thuật lạc hậu sang kỹ thuật số hiện đại, phục vụ sản xuất kinh doanh có hiệu quả. Đi đôi với mạng lưới Bưu chính Viễn thông, VNPT cũng quan tâm thích đáng đến phát triển công nghiệp thông tin và tin học. Đã tạo dựng được nền công nghiệp thông tin tương đối mạnh, sản xuất thiết bị Bưu chính Viễn thông là chính, kết hợp sản xuất thiết bị điện tử. Quán triệt đường lối chỉ đạo của Đảng “Để công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước cần huy động nhiều nguồn vốn, gắn với quản lý và sử dụng vốn có hiệu quả, trong đó nguồn vốn trong nước là quyết định, nguồn vốn từ bên ngoài là quan trọng”, VNPT đã dùng nhiều biện pháp huy động vốn, tự lực tìm mọi nguồn vốn. Liên doanh trở thành biện pháp cần thiết để thu hút vốn đầu tư nước ngoài, thu hút công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến. Bên cạnh đó, VNPT cũng đã thực hiện chuyển giao công nghệ để tạo dựng mạng lưới Bưu chính Viễn thông hiện đại, cập nhật được với công nghệ của các nước trong khu vực và quốc tế, các loại dịch vụ đạt trình độ của các nước phát triển. Nhờ đó, mạng lưới Bưu chính Viễn thông hiện nay đã phát triển theo hướng số hoá, hiện đại hoá đồng bộ:
Thông tin quốc tế hình thành 3 cửa ngõ đi quốc tế: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng với các trạm mặt đất thông tin vệ tinh, các trạm thuộc hệ thống Intersat và hệ thống Intersputnik với trên 5000 kênh liên lạc với hầu hết các nước trên thế giới.
Mạng nội hạt và liên tỉnh phát triển mạnh, 100% số tỉnh và 100% số huyện có tổng đài Điện tử tự động, kỹ thuật số.
Hệ thống chuyển mạch được kết nối bằng các tuyến truyền dẫn liên tỉnh với các tuyến cáp quang, viba băng rộng, … tạo thành xa lộ thông tin trên tuyến trục bắc nam đáp ứng yêu cầu thông tin cho toàn xã hội, phát thanh, truyền hình, quốc phòng an ninh quốc gia và các ngành kinh tế khác. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Mạng lưới Bưu chính phát triển rộng khắp. Đã có hơn 3000 bưu cục trong cả nước với nhiều loại hình dịch vụ mang lại giá trị cao. Công nghiệp thông tin với công nghệ hiện đại phát triển với mức tăng trưởng hàng năm khá, trên mức tăng trưởng chung của công nghiệp cả nước. Đã cung cấp được 70% nhu cầu trang thiết bị Bưu chính Viễn thông cho mạng lưới, tiến dần tới tự trang trải và có sản phẩm xuất khẩu.
Tính đến hết năm 2007, vùng phủ sóng di động của VNPT đã được mở rộng hơn với trên 12.000 trạm thu phát sóng. Vinaphone đã trở thành mạng di động đầu tiên tại Việt Nam phủ sóng trong nhà (In – building) cho 120 tòa nhà cao tầng thuộc các tỉnh, thành phố trọng điểm. Mobifone là mạng di động đầu tiên tại Việt Nam thử nghiệm thành công công nghệ nhảy tần nhóm và công nghệ truyền dữ liệu tốc độ cao. Năm 2007, VNPT cũng đã tăng dải số thuê bao điện thoại cố định tại 14 tỉnh/thành.
Năm 2007, VNPT cũng đã đưa nhiều dịch vụ mới vào khai thác như Điện thoại cố định không dây Gphone, Nhắn tin mạng cố định Fixed SMS, Giải pháp phần mềm điện thoại nội bộ – IP Centrex… Vinaphone và Mobifone cũng đã đưa vào khai thác nhiều dịch vụ tiện ích mới như Nhạc chuông cho người gọi, Nhận Email bằng điện thoại di động, …
Tất cả những nỗ lực trên thể hiện sự tăng cường cam kết của VNPT về năng lực mạng lưới và chất lượng dịch vụ nhằm đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của xã hội.
Ba là, tập trung triển khai các dự án viễn thông lớn.
Để đảm bảo tiến độ phóng Vệ tinh viễn thông đầu tiên của Việt Nam VINASAT – 1 lên quỹ đạo vào ngày 28/03/2008, song song với quá trình đặt hàng sản xuất VINASAT – 1, trong năm 2007, VNPT đã khởi công công trình Nhà trạm điều khiển vệ tinh VINASAT tại Quế Dương (Hà Tây), thành lập Trung tâm Thông tin Vệ tinh VINASAT, ban hành logo của dịch vụ VINASAT và ký hợp đồng cung cấp dịch vụ bảo hiểm vệ tinh VINASAT. Tháng 4/2007, cùng với các hãng viễn thông hàng đầu thế giới và khu vực Đông Nam A’, VNPT cũng đã ký kết thoả thuận tham gia Dự án Xây dựng hệ thống cáp quang biển quốc tế băng rộng tốc độ cao kết nối trực tiếp từ Đông Nam A’ tới Hoa Kỳ với tên gọi Cổng quốc tế Á – Mỹ (AAG), có chiều dài 20.000 km, có tốc độ 1,92 Terabit/s, có khả năng hỗ trợ cùng một lúc 130.000 đường truyền tín hiệu truyền hình độ phân giải cao. Tổng vốn đầu tư cho Dự án là gần 500 triệu USD.
Bốn là, chuyển đổi sang mô hình Tập đoàn, mặc dù còn nhiều khó khăn trong giai đoạn đầu nhưng Sản xuất kinh doanh của Tập đoàn vẫn tiếp tục đạt mức tăng trưởng cao.
Nhờ đổi mới mô hình, đổi mới tư duy, chọn hướng đi đúng đắn, bước đi phù hợp và linh hoạt; quyết tâm tiến thẳng vào công nghệ hiện đại tiên tiến, tận dụng được nguồn lực, biết phát huy hiệu quả đồng vốn trong sản xuất, nên những năm qua, VNPT đã có những bước phát triển vượt bậc, tốc độ phát triển năm sau cao hơn năm trước, càng đầu tư thì kết quả đạt được càng cao. Thể hiện qua chỉ tiêu như sau: Các tổ chức quốc tế đánh giá tốc độ phát triển viễn thông năm 2005, 2006 của Việt Nam đứng đầu thế giới, tốc độ phát triển Internet đứng thứ 3. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Năm 2005 VNPT coi là năm tạo sức bật và những chuyển biến căn bản cho giai đoạn phát triển tiếp theo, đặc biệt là việc VNPT chuyển sang hoạt động theo mô hình Tập đoàn Kinh tế. Doanh thu phát sinh năm 2005 là 33.115 tỷ đồng, tăng 10,32% so với năm 2004. Nộp ngân sách 5000 tỷ đồng, tăng 7,8% so với kế hoạch đăng ký. Vốn đầu tư 10.000 tỷ đồng, khối lượng thực hiện là 7.500 tỷ đồng.
Năm 2006, tổng doanh thu phát sinh đạt 38.329 tỷ đồng (tương đương 2,4 tỷ USD), vượt 3,28% kế hoạch, tăng 14,92% so với năm 2005. Trong đó, doanh thu viễn thông tăng 14,25%, bưu chính, phát hành báo chí (chiếm tỷ trọng 5,05%); tài chính, thương mại, công nghiệp tăng 11,3%; doanh thu hoạt động tài chính: 1.281 tỷ đồng, vượt 12,03% kế hoạch.
Năm 2006, VNPT phát triển mới 4,5 triệu máy điện thoại, vượt 8,76% kế hoạch, tăng 30,54%. Nâng tổng số thuê bao điện thoại hiện có lên 17,86 triệu, đạt mật độ 21 máy/100 dân.
Số lượng thuê bao MegaVNN phát triển mới đạt 151.000, tăng 75% so với năm 2005, nâng tổng số thuê bao MegaVNN lên 226.000 thuê bao.
Tổng giá trị nộp ngân sách: 6.390 tỷ đồng, vượt 11,33% kế hoạch, tăng 24,42% so với giá trị thực hiện năm 2005. Năng suất lao động: tính trên doanh thu phát sinh tăng 15,2%; tính trên doanh thu sau khi trừ cước kết nối tăng 11,2% so với năm 2005. Lợi nhuận toàn Tập đoàn vượt 6,61% kế hoạch, tăng 23,43% so với năm 2005.
Năm 2007, doanh thu của VNPT đã đạt 45.300 tỷ đồng (~ 2,8 tỷ USD), tăng 14,08% so với năm 2006. Nộp ngân sách Nhà nước 6.917 tỷ đồng, tăng 12,78% so với năm 2006. Năm 2007, VNPT đã phát triển mới được 9,88 triệu thuê bao điện thoại (trong đó có 8,8 triệu thuê bao di động). Mạng điện thoại trên toàn quốc của VNPT đã đạt khoảng 27,8 triệu máy, đạt mật độ 33 máy/100 dân, trong đó có khoảng 19 triệu thuê bao di động. Cũng trong năm 2007, VNPT đã phát triển mới được 514.000 thuê bao Internet băng rộng MegaVNN, nâng tổng số thuê bao MegaVNN trên toàn mạng lên 740.000 thuê bao.
Mạng lưới điểm phục vụ Bưu chính Viễn thông tiếp tục được mở rộng, hiện đạt con số 18.834 điểm, trong đó có gần 8.000 điểm Bưu điện – Văn hóa xã, bán kính phục vụ bình quân đạt 2,37 km/điểm. [7]
Năm là, sau hơn một năm đi vào hoạt động theo mô hình mới, VNPT đã thực hiện nhiều đợt giảm cước lớn hướng về lợi ích của khách hàng và góp phần bình ổn giá cả trên thị trường.
Thực hiện cam kết giảm cước theo lộ trình, năm 2007, VNPT đã có 3 đợt giảm cước lớn được áp dụng từ các ngày 1/6, 1/9 và 15/12. Theo đó, cước liên lạc khác vùng của dịch vụ đường dài liên tỉnh, cước liên lạc liên tỉnh của dịch vụ Cardphone, cước fax và telex trong nước giảm từ 15-20%; cước dịch vụ điện thoại quốc tế chiều đi đã giảm 12 – 25%, cước thuê kênh quốc tế giảm 20 – 50%; cước thông tin di động Vinaphone và Mobifone giảm với mức lớn nhất từ trước đến nay, tới 20%. Đây là những hành động cụ thể của VNPT tiếp tục hướng mạnh về lợi ích khách hàng, đồng thời góp phần thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng chính phủ về hạn chế tốc độ tăng giá, bình ổn giá cả thị trường. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Năm 2007, VNPT cũng đã tổ chức nhiều chương trình khuyến mãi hấp dẫn, điển hình là 2 chương trình “Sôi động kết nối cùng VNPT và Intel” và “Chào 2008”. Thông qua các chương trình khuyến mãi, VNPT tăng cường thực hiện mục tiêu phổ cập dịch vụ tới mọi người dân.
Sáu là, là tổ chức thành công nhiều sự kiện lớn.
- Tháng 9/2007, tại Hà Nội, VNPT đã tổ chức thành công Triển lãm và Hội nghị Truyền thông Quốc tế – Vietnam Comm07 với chủ đề Vô tuyến và Công nghệ Thông tin (Wireless and IT). Vietnam Comm07 đã thu hút được trên 170 đơn vị, doanh nghiệp đến từ 20 quốc gia và vùng lãnh thổ tham gia. Vietnam Comm07 thực sự đã trở thành cơ hội tốt để các nhà cung cấp dịch vụ viễn thông và CNTT trong và ngoài nước trao đổi thông tin, tìm kiếm đối tác qua đó mở ra những cơ hội hợp tác mới, thúc đẩy sự phát triển của thị trường ICT Việt Nam nói riêng và công cuộc hội nhập, phát triển của Việt Nam nói chung.
- Tháng 11/2007, cùng với 4 ISP lớn khác là Viettel, EVN Telecom, SPT và NetNam, VNPT đã chủ trì tổ chức chuỗi các sự kiện để kỷ niệm 10 năm Internet Việt Nam. Đây là dịp để nhìn lại những thành tựu mà Internet mang lại cho cộng đồng trong 10 năm qua và tôn vinh các tập thể đã có đóng góp trong quá trình đưa Internet vào Việt Nam; đồng thời cũng là dịp để VNPT và các ISP cam kết thắt chặt quan hệ hợp tác hơn nữa để tiếp tục thực hiện mục tiêu “xã hội hóa Internet”, nâng cao chất lượng dịch vụ, vì sự phát triển của cộng đồng.
Bảy là, song song với việc đẩy mạnh kinh doanh, nâng cao năng lực mạnh lưới, VNPT cũng đã triển khai nhiều hoạt động xã hội thiết thực vì sự phát triển, tiến bộ chung của cộng đồng.
- Với mục tiêu tạo thêm nhiều cơ hội tiếp cận và sử sụng Internet cho đông đảo thanh niên Việt Nam, đặc biệt là ở nông thôn, miền núi, từ đầu tháng 9/2007, VNPT đã chính thức triển khai Chương trình “Một triệu giờ đồng hành”. Với Chương trình này, 1 triệu giờ truy cập Internet miễn phí được thực hiện tại 2.353 điểm BĐ-VH xã đang cung cấp dịch vụ Internet trên cả nước. Hiện, Chương trình đang được triển khai rộng khắp và sẽ kéo dài trong 1 năm.
- Năm 2007, VNPT cũng tiếp tục thực hiện chương trình “Học bổng VNPT vì sự nghiệp khuyến học Việt Nam”. Đây là năm thứ 2 liên tiếp, chương trình được triển khai với 2000 suất học bổng, có tổng trị giá 1 tỉ đồng để dành tặng cho những học sinh tiểu học nghèo hiếu học thuộc 22 tỉnh thành trên toàn quốc.
Việc triển khai chương trình “Một triệu giờ đồng hành”, chương trình “Học bổng VNPT vì sự nghiệp khuyến học” và việc tài trợ cho các Cuộc thi như “Nhân tài đất Việt”, “Olympic tin học sinh viên”… là những nỗ lực thiết thực của VNPT nhằm góp phần khuyến học khuyến tài vì tương lai đất nước. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Tám là, kế thừa những mối quan hệ đã thiết lập trước đây với Tổng Công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam, tận dụng những thế mạnh mới của mô hình Tập đoàn, VNPT đã không ngừng đẩy mạnh các quan hệ quốc tế song phương cũng như đa phương.
Tính đến nay, VNPT có quan hệ bạn hàng với hơn 120 đối tác là các Tập đoàn đa quốc gia về bưu chính, viễn thông, Tin học hàng đầu trên thế giới trong tất cả các lĩnh vực kinh doanh, khai thác, sản xuất công nghiệp, tài chính, tư vấn, bảo hiểm, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực.
Về Bưu chính: VNPT đã hợp tác trao đổi chuyến thư, bưu phẩm, bưu kiện bằng máy bay với 60 nước trên thế giới qua 25 tuyến. Đã mở đường thư trên bộ với các nước Lào, Trungquốc, Campuchia. Hợp tác cùng các hãng chuyển phát nhanh hàng đầu thế giới.
Về Viễn thông: VNPT đã thiết lập liên lạc viễn thông quốc tế với tất cả các nước trên thế giới trong đó liên lạc trực tiếp với 36 quốc gia với 5.700 kênh viễn thông quốc tế qua vệ tinh và cáp quang biển.
Về Công nghiệp: VNPT đã hợp tác với Siemens, Alcatel, Fujitsu, NEC, Cornning, G, Daesung, DongAh thành lập 9 liên doanh có tổng số vốn đầu tư gần 100 triệu USD. Các liên doanh này đã đáp ứng được 40% nhu cầu thiết bị chuyển mạch và truyền dẫn, 70% nhu cầu cáp quang và cáp đồng và đã bắt đầu xuất khẩu
Về Phát triển mạng lưới, dịch vụ: đã và đang triển khai các hợp đồng hợp tác kinh doanh với các Tập đoàn khai thác hàng đầu thế giới: NTT, France Telecom, Telstra, KT, Kinnevik với tổng số vốn hơn 1 tỷ USD để xây dựng và phát triển mạng viễn thông quốc tế, di động, nội hạt Bên cạnh đó, Tập đoàn còn phối hợp với Bộ Bưu chính Viễn thông đã tham gia hầu hết các tổ chức quốc tế về Bưu chính Viễn thông, bước đầu đã khẳng định được vai trò và uy tín của ngành Bưu chính Viễn thông Việt nam trên trường quốc tế: Là thành viên của các tổ chức Liên minh Bưu chính Thế giới (UPU), Liên minh Viễn thông Thế giới ( ITU), Liên minh Viễn thông Châu Á Thái Bình dương (APT). Tập đoàn cũng chủ động tham gia tích cực vào các tổ chức quốc tế và các diễn đàn quốc tế chuyên ngành khai thác như Intersputnik, WSBI, ASEAN Posts, Hiệp hội GSM, Hội đồng Viễn thông Thái Bình dương (PTC), Diễn đàn các nhà khai thác viễn thông Thái Bình dương (PPM), Hội nghị Viễn thông toàn cầu GTM… Đồng thời Tập đoàn đã tham gia vào các hoạt động mang tính quốc gia thông qua các diễn đàn hợp tác khu vực như Hiệp hội Các quốc gia Đông Nam Á – ASEAN, Diễn đàn Hợp tác Kinh tế Châu Á Thái bình dương APEC, Tổ chức Thương mại Thế giới – WTO
Chín là, Tập đoàn cũng đã bắt đầu tiến hành hoạt động đầu tư, kinh doanh tại nước ngoài nhằm tìm kiếm thêm thị trường đối tác, nâng cao năng lực cạnh tranh của Tập đoàn trong bối cảnh hội nhập nền kinh tế thế giới, cụ thể:
- Hoàn tất việc tham gia liên doanh viễn thông Acasia và đang chuẩn bị tiến hành cung cấp dịch vụ tại Việt nam
- Khảo sát và đàm phán nhiều dự án mới tại nước ngoài: Liên doanh sản xuất cáp đồng tại Lào, liên doanh xây dựng hạ tầng và cung cấp dịch vụ viễn thông tại Campuchia, mở văn phòng chi nhánh tại Hoa Kỳ, mở tổng đài chuyển mạch tại Hoa Kỳ và Hong Kong …
2.3.2 Một số vấn đề tồn tại cản trở tới việc triển khai mô hình quản trị Tập đoàn tại VNPT ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
VNPT tuy đã chính thức ra mắt, song thực chất để đi vào hoạt động vẫn còn “ngỗn ngang” những công việc đặt ra để Tập đoàn hoạt động một cách có hiệu quả.
Thứ nhất, trong khi một số Tổng công ty được Chính phủ phê duyệt thí điểm chuyển thành Tập đoàn đã và đang xây dựng đề án thành lập Tập đoàn trình Thủ tướng Chính phủ thì đến thời điểm hiện nay, mặc dù Nhà nước đã ban hành một số chính sách liên quan đến hoạt động của các doanh nghiệp được tổ chức theo mô hình công ty mẹ – công ty con như Nghị định 153/2004/NĐ-CP ngày 9/8/04 của Chính phủ về tổ chức, quản lý Tổng công ty Nhà nước và chuyển đổi Công ty Nhà nước, Công ty Nhà nước độc lập theo mô hình công ty mẹ – công ty con, Nghị định 199/2004/NĐ-CP ngày 3/12/2004 của Chính phủ về quản lý tài chính và hạch toán kinh doanh của Công ty mẹ Nhà nước …. Nhưng đó mới chỉ là một số văn bản liên lẻ quy định cho các doanh nghiệp hoạt động theo mô hình công ty mẹ – con, các văn bản luật hiện đang có hiệu lực dường như xây dựng để áp dụng cho các doanh nghiệp độc lập, không nằm trong cơ cấu của một tổ chức kinh tế theo loại hình công ty mẹ – công ty con.
Bên cạnh đó, vấn đề Tập đoàn kinh tế lại gần như chưa có văn bản nào đề cập đến. Dường như mới có luật doanh nghiệp được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI thông qua tại kỳ họp thứ 8 ngày 29/11/2005 đề cập tại điều 49 trong đó quy định: “Tập đoàn kinh tế là nhóm công ty có quy mô lớn. Chính phủ quy định hướng dẫn tiêu chí tổ chức quản lý và hoạt động của Tập đoàn kinh tế”. Như vậy, điều khoản này chỉ mang tính định hướng, các doanh nghiệp khó có thể áp dụng được mà cần phải chờ các Nghị định, Thông tư hướng dẫn cụ thể. Vì thế, khi ban hành hệ thống văn bản hướng dẫn áp dụng đối với các loại hình doanh nghiệp theo loại này cần giải quyết một số vấn đề cơ bản mang tính chất chung của tất cả các tập đoàn kinh tế và một số vấn đề mang tính “đặc thù” của VNPT.
Thứ hai, về mặt nguyên tắc các đơn vị thành viên trong Tập đoàn (bao gồm cả công ty mẹ, công ty con và công ty liên kết) có quan hệ với nhau về vốn, tài chính, công nghệ, thông tin, thị trường…Nhưng đều xuất phát từ lợi ích của các doanh nghiệp trong toàn bộ Tập đoàn.
Nhìn chung các TĐKT trên thế giới đều cho phép công ty mẹ được sử dụng năng lực của tất cả các thành viên trong tập đoàn để tham gia các hoạt động kinh tế, ví dụ như tham gia đấu thầu trong và ngoài nước. Khi trúng thầu, công ty mẹ có quyền phân chia các gói thầu cho các công ty con thực hiện, công ty mẹ chịu trách nhiệm cuối cùng trước đối tác. Mặt khác, công ty mẹ có quyền thành lập các công ty con nhằm sản xuất các sản phẩm, vật tư, cung cấp cho hoạt động của công ty mẹ và các đơn vị thành viên hay nói cách khác, sản phẩm đầu ra của doanh nghiệp này chính là sản phẩm đầu vào của doanh nghiệp khác trong tập đoàn. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Tuy nhiên theo quy định của pháp luật hiện hành, một doanh nghiệp là thành viên của Tổng công ty hay một công ty con trong Tập đoàn muốn cung cấp sản phẩm cho một doanh nghiệp khác trong cùng tổ chức đó sẽ là không được phép (như quy định của Điều 1 về phạm vi điều chỉnh, Điều 11 quy định về đối tượng tham gia thầu …của Luật Đấu thầu đã được Quốc hội nước CHXHCN Việt Nam khóa XI, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 29/11/2005). Điều này sẽ làm cho công ty mẹ dường như không có khả năng huy động sức mạnh của Tập đoàn trong những lúc cần thiết, hạn chế cơ hội đầu tư thành lập các doanh nghiệp con hoạt động chuyên ngành vì lợi ích chung của toàn tập đoàn.
Thứ ba, đối với Tập đoàn ở nhiều nước (Ví dụ Công ty mẹ của Australia và Newzealand) với lý do công ty mẹ có quyền và cần phải kiểm soát các công ty con, nên HĐQT được phép trao quyền rất rộng và hoạt động linh hoạt. HĐQT phải chịu trách nhiệm trước cổ đông về việc phải làm sao cho hoạt động kinh doanh của các công ty đạt được lợi ích tối đa xét trên phạm vi toàn bộ tập đoàn. Vì vậy, HĐQT có thể điều chuyển một số hoạt động từ công ty con này sang công ty con khác có điều kiện thực hiện một cách hiệu quả hơn, hoặc có thể yêu cầu một công ty con nào đó chuyên môn hóa về một sản phẩm (hoặc ngành sản xuất) thiết yếu đối với toàn bộ tập đoàn nhưng lợi nhuận trực tiếp mang lại từ công ty con này sẽ thấp. Mặt khác, HĐQT còn có quyền điều chuyển lợi nhuận từ công ty con này sang công ty con khác, làm gia tăng tài sản của một số công ty con trên cơ sở chịu thiệt, thậm chí là thua lỗ (xét tại thời điểm điều chuyển) của công ty con khác.
Tuy nhiên, theo quy định hiện hành việc này vẫn chưa thực hiện được hoặc bị ngăn chặn được quy định tại Điều 17, Nghị định 153/2004/NĐ-CP, Thông tư 03/2005/TT-BKH ngày 18/7/2005 của Bộ Kế hoạch và Đầu từ về “Hướng dẫn về nội dung và quy trình xây dựng điều lệ tổng công ty do nhà nước quyết định đầu tư và thành lập và Điều lệ công ty mẹ trong mô hình công ty mẹ – công ty con”. Theo quy định của Nghị định và Thông tư này, công ty mẹ buộc phải thỏa thuận với các đơn vị thành viên (nếu không sẽ phải bồi thường thiệt hại) trong các trường hợp như: buộc đơn vị thành viên phải ký các hợp đồng kinh tế bất bình đẳng với đơn vị thành viên khác; điều chuyển vốn, tài sản của đơn vị thành viên, gây thiệt hại cho đơn vị bị điều chuyển; điều chuyển một hoạt động kinh doanh có hiệu quả, có lãi từ đơn vị thành viên này sang đơn vị thành viên khác dẫn đến đơn vị thành viên điều chuyển bị lỗ hoặc giảm sút lợi nhuận…
Đây là vấn đề lớn, dường như sẽ chi phối toàn bộ cơ chế điều hành trong nội bộ tập đoàn. Do vậy, cần phải có những chính sách quy định cụ thể, phù hợp với các thực tiễn của mô hình tập đoàn để tập đoàn phát triển theo đúng quy luật khách quan, trở thành đơn vị chủ lực của nền kinh tế.
Thứ tư, một trong những mặt tồn tại của mô hình Tổng công ty cũ mà hiện nay mô hình Tập đoàn vẫn chưa khắc phục được đó là vấn đề về nhân sư. Hiện nay lực lượng lao động của VNPT vẫn còn quá nhiều, tỷ lệ bình quân số thuê bao khoảng 65 máy/1 lao động, thấp hơn rất nhiều so với các nước trong khu vực và trên thế giới (Thái Lan 300 máy/1 lao động). Điều này đồng nghĩa là chỉ tiêu hiệu quả kinh doanh đầu người là rất thấp. ( Luận văn thực trạng quản trị tập đoàn kinh tế )
Bên cạnh đó, việc thành lập Tập đoàn chính là sự đổi mới, cải cách mô hình tổ chức, quản lý của VNPT. Mô hình tập đoàn với trình độ quản lý phức tạp đòi hỏi một đội ngũ quản lý, điều hành có năng lực, có phong cách lãnh đạo và phẩm chất đạo đức tốt. Trong khi đó phần lớn cán bộ, chuyên viên của Tập đoàn vẫn là những con người cũ, vẫn chưa thích nghi kịp với môi trường kinh doanh mang tính cạnh tranh khốc liệt như hiện nay. Đây cũng là một trong những trở ngại rất lớn đối với quá trình xây dựng và phát triển VNPT.
Do mô hình Tập đoàn kinh tế là một hình thức khá mới đối với Việt Nam, và mô hình này được áp dụng tại VNPT cũng chưa lâu nên những hạn chế còn chưa bộ lộ rõ bởi vậy người viết chỉ mạnh dạn nêu một số vấn đề cơ bản như trên.
Việc chuyển đổi Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam thành Tập đoàn Bưu chính Viễn thông Việt Nam là một chủ trương đúng đắn của Đảng và Nhà nước trong xu hướng toàn cầu hoá nền kinh tế, phù hợp với quy luật phát triển của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Mặt khác, đó cũng là nhu cầu phát triển tất yếu đáp ứng yêu cầu nội tại của bản thân Tổng công ty Bưu chính Viễn thông Việt Nam và của Tập đoàn ngày nay nhằm tạo ra sự phù hợp giữa quy mô sản xuất của doanh nghiệp với mô hình quản lý doanh nghiệp, tạo đường cho hoạt động sản xuất kinh doanh phát triển, đảm bảo thắng lợi cho Tập đoàn trong cạnh tranh và hội nhập quốc tế. Tuy nhiên để đạt được mục tiêu của bản thân doanh nghiệp cũng như mục tiêu nhà nước giao cho Tập đoàn thực hiện, ngoài những yêu cầu nội tại đòi hỏi doanh nghiệp phải tự đổi mới, hoàn thiện còn cần có sự ủng hộ của các cơ quan Nhà nước thông qua hệ thống cơ chế chính sách pháp luật, tạo điều kiện cho doanh nghiệp hoạt động đúng pháp luật, đạt hiệu quả.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn giải pháp quản trị tập đoàn kinh tế tại Tập đoàn Bưu chính Viễn thông

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
