Tiểu luận luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam

Lựa chọn học chuyên ngành luật khiến không ít các bạn sinh viên, học viên đau đầu về từng khoản luật, lại còn cần những bài mẫu tài liệu phục vụ cho luận văn của bản thân là một điều vô cùng khó khăn. Nhận thức được sự cần thiết của tài liệu đối với các bạn, trong bài viết này mình sẽ chia sẻ Đề tài Tiểu luận luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam, với mong muốn giúp đỡ các bạn trong quá trình làm bài.

BỐ CỤC BÀI TIỂU LUẬN LUẬT ĐẦU TƯ 2005 ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

Để hoàn thiện được bài tiểu luận với Đề tài So sánh luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam. Tác giả đã mất không ít thời gian để nghiên cứu các tài liệu, sách, báo, giáo trình, học hỏi từ ý kiến của giảng viên,… và rồi nhận được điểm cao, xứng đáng với công sức bản thân bỏ ra.

Khác với hình thức trình bày của các bài mẫu tiểu luận khác. Tác giả lựa chọn bắt đầu luôn ở nội dung chính, mặc dù vậy nhưng điểm trừ lớn nhất là không có lời mở đầu, lời cảm ơn cũng như kết luận chung cả bài.

Trong nội dung chính của bài mẫu Tiểu luận luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam. Tác giả chia ra làm 3 chương chính, mỗi chương có những phần mục nhỏ để đảm bảo đúng, đủ nội dung. Nội chung chương 1 phải liên kết với chương 2 và từ hai chương trên đúc kết ra chương 3 là yếu tố tiên quyết khi tác giả làm bài tiểu luận này.

Mở đầu chương 1, tác giả mang đến cho đọc giả những kiến thức mới được cập nhật hiện nay, bắt đầu từ bối chỉnh ra đời và nguồn gốc của luật đầu tư 2005, sau đó triển khai các ý chính của nội dung cơ bản của luật đầu tư. Đến chương 2, là phần quan trọng nhất trong bài Tiểu luận luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài.

Ảnh hưởng của luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và đầu tư nước ngoài được tác giả trình bày qua từng mục nhỏ, sau đó nối tiếp lẫn nhau dài hơn 10 trang. Đối với các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam thì là sự lựa chọn vô cùng khôn ngoan. Cuối cùng, tác giả đúc kết đưa ra những kiến nghị nhằm góp phần hoàn thiện luật đầu tư trong tình hình hội nhập quốc tế và toàn cầu hoá.

NỘI DUNG CHÍNH ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN LUẬT ĐẦU TƯ 2005 ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ NƯỚC NGOÀI TẠI VIỆT NAM

CHƯƠNG 1: TÌM HIỂU BỐ I CẢN H RA ĐỜI VÀ KHÁI QUÁT VỀ LU ẬT ĐẦU TƯ

1.1. Bối cảnh ra đời và nguồn gốc của luật đầu tư 2005.

Luật Đầu tư 2005 ra đời trong bối cảnh có xu hướng về việc hợp nhất các luật liên quan đến doanh nghiệp và đầu tư. Luật Doanh nghiệp 1999 và Luật Doanh nghiệp Nhà nước 2003 và một phần Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt N am 1987 đã được hợp nhất thành Luật Doanh nghiệp 2005 (thường được gọi là Luật Doanh nghiệp thống nhất). Trong bối cảnh ấy, việc thống nhất Luật Đầu tư dường như đã là một xu hướng không thể đảo ngược tại thời điểm Luật Đầu tư 2005 ra đời.

Luật Đầu tư 2005 (thường được gọi là Luật Đầu tư chung) được cho là kế thừa Luật Đầu tư nư ớc ngoài tại Việt Nam 1987 và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994. Nhưng dường như khi thống nhất các luật trên, Luật Đầu tư 2005 đã không “chiết ” được cái tinh túy nhất từ các luật này, mà mới chỉ “ cộng” các luật này với nhau.

Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 quy định chủ yếu về cách thức tổ chức t hành lập, hoạt động, giải thể của các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài. Về bản chất, nó là một bộ phận của pháp luật về tổ chức doanh nghiệp hay nói cách khác, là một “ Luật Doanh nghiệp con” áp dụng các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài.

Trong khi đó, Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1994 lại tập trung vào các chính sách và thủ tục về ưu đãi đầu tư cho doanh nghiệp trong nước – tức là luật về nội dung chứ không phải luật về t ổ chức như Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987.

Do phạm vi điều chỉnh của các luật này là khác nhau, không thể chỉ căn cứ vào tên gọi mà gom Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 và Luật Khuyến khích đầu tư trong nước 1984 thành Luật Đầu tư (chung) một cách máy móc. Đáng lẽ ra, các vấn đề tổ chức, thành lập, hoạt động của doanh nghiệp trong Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam 1987 cần được chuyển sang Luật Doanh nghiệp, còn quy định về chính sách đầu tư, khuyến khích đầu tư cần được chuyển sang một luật về khuyến khích đầu tư chung. Nghĩa là, nếu được sắp xếp hợp lý, chúng t a cần có Luật Doanh nghiệp (thống nhất) và Luật Khuyến Khích đầu tư ( chung).

1.2. Nội dung cơ bản của luật đầu tư.

1.2.1. Quy định chung.

Về việc áp dụng pháp luật, Luật Đầu tư và quy định trường hợp pháp luật Việt Nam được ban hành sau khi Việt Nam là thành viên của các điều ước quốc tế có quy định thuận lợi hơn so với điều ước quốc tế thì nhà đầu tư có quy ền lựa chọn việc áp dụng theo điều ước quốc tế hoặc pháp luật Việt Nam.
N goài ra, nhằm đảm bảo khả năng bao quát, không chồng lấn với các luật chuyên ngành, Luật Đầu tư quy định hoạt động đầu tư đặc thù được quy định trong pháp luật chuy ên ngành thì áp dụng theo quy định của pháp luật chuyên ngành đó. Quy định như vậy nhằm đảm bảo thự c tế có một số luật chuyên ngành quy định về chứng khoán, bảo hiểm, ngân hàng, tài chính đã và đang đư ợc thực hiện theo pháp luật chuyên ngành.
Về giải thích từ ngữ, Luật Đầu tư đã bổ sung các thuật ngữ dự án đầu tư mới, dự án đầu tư mở rộng để nhà đầu tư biết rõ trong quá trình thực hiện hoạt động đầu tư của mình mà có liên quan đến ưu đãi đầu tư.

1.2.2. Về hình thức đầu tư.

Về những hình thức đầu tư như : thành lập tổ chứ c kinh tế 100% vốn của nhà đầu tư trong nư ớc hoặc 100% vốn của nhà đầu tư nước ngoài; thành lập tổ chức kinh tế liên doanh giữa các nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài; đầu tư theo hình thức hợp đồng BBC, hợp đồng BOT, hợp đồng BT; đầu tư phát triển kinh doanh; mua cổ phần hoặc góp vốn để tham gia quản lý hoạt động đầu tư; và đầu tư thực hiện việc sát nhập và mua lại doanh nghiệp. Nhà đầu tư được đầu tư để thành lập tổ chức kinh tế bằng 100% vốn của mình, doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài đã thành lập tại Việt Nam được hợp tác với nhau và hoặc với nhà đầu tư nước ngoài để đầu tư thành lập doanh nghiệp 100% vốn đầu tư nước ngoài mới theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

1.2.3. Quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư.

Luật Đầu tư đã cụ thể hóa những nội dung về quyền và nghĩa vụ của nhà đầu tư, theo đó, nhà đầu tư có quyền tự chủ đầu tư kinh doanh, quyền tiếp cận các nguồn lực đầu tư, sử dụng nguồn vốn tín dụng, đất đai và tài nguyên, quyền sử dụng lao động, quyền mở tài khoản và mua ngoại tệ, quyền xuất khẩu, nhập khẩu, quảng cáo, gia công, gia công lại,…

CHƯƠNG 2: ẢNH HƯỞNG CỦA LUẬT ĐẦU TƯ 2005 ĐỐI VỚI ĐẦU TƯ TRONG NƯỚC VÀ ĐẦU TƯ NƯỚC NGOÀI Ở CÁC KHU CÔNG NGHIỆP, KHU CHẾ XUẤT TẠI VIỆT NAM

2.1. Vài nét về khu công nghiệp, kh\u chế xuất ở Việt Nam.

2.1.1. Khu chế xuất.

Với tính chất là khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, đứng ngoài chế độ mậu dịch và thuế quan của một nước, ngày nay có nhiều cách hiểu khác nhau về khu chế xuất, và do đó, có nhiều định nghĩa khác nhau về mô hình kinh tế này.
– Định nghĩa của Hiệp hội các khu chế xuất thế giới( WEPZA): Theo điều lệ hoạt động của WEPZA, khu chế xuất bao gồm tất cả các khu vực được Chính phủ các nước cho phép như cảng tự do, khu mậu dịch tự do, khu công nghiệp tự do hoặc bất kì khu vực ngoại thư ơng hoặc khu vực khác được WEPZA công nhận. Định nghĩa này về cơ bản đồng nhất khu chế xuất với khu vực miễn thuế. Theo định nghĩa này, có thể xếp Hồng Kông và Singapo vào các khu chế xuất.
– Định nghĩa của Tổ chứ c phát triển công nghiệp Liên hợp quốc( UNIDO ): Theo UNIDO, khu chế xuất là “khu vực được giới hạn về hành chính, có khi về địa lý, được hưởng một chế độ thuế quan cho phép tự do nhập khẩu trang bị và sản phẩm nhằm mục đích sản xuất sản phẩm xuất khẩu. Chế độ thuế quan được ban hành cùng với những qui định luật pháp ưu đãi, chủ yếu về thuế nhằm thu hút đầu tư nước ngoài.” Khái niệm khu chế xuất bao hàm viêc thành lập các nhà máy hiện đại trong một khu công nghệp và một loạt những ưu đãi nhằm khuyến khích việc đầu tư của các nhà kinh doanh nước ngoài vào nước sở tại. Với định nghĩa hẹp nói trên của UNIDO, về bản chất hoạt động kinh tế khu chế xuất khác với khu mậu dịch tự do, cảng tự do. Bởi hoạt động chính trong khu chế xuất là sản xuất công nghiệp, mặc dù trên thực tế các ho ạt động kinh doanh cũng đư ợc thực hiện tại một số khu chế xuất.
– Định nghĩa của Việt Nam: Theo Q ui chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao- ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/ 4/ 1997, khu chế xuất là “khu chuyên sản xuất hàng xuất khẩu, thự c hiện các dịch vụ cho sản xuất hàng xuất khẩu và hoạt động xuất khẩu, có ranh giới địa lý xác định, không có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập”. Như vậy, về cơ bản, khu chế xuất ở Việt Nam cũng được hiểu theo như định nghĩa hẹp của UNIDO.

2.1.2 Khu công nghiệp:

Tuỳ điều kiện từng nước mà K hu công nghiệp có những nội dung hoạt động kinh tế khác nhau. Nhưng tựu trung lại, hiện nay trên thế giới có hai mô hình phát triển K hu công nghiệp, cũng từ đó hình thành hai định nghĩa khác nhau về khu công nghiệp.
– Định ngh ĩa 1: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ rộng có nền tảng là sản xuất công nghiệp, đan xen với nhiều hoạt động dịch vụ, kể cả dịch vụ sản xuất công nghiệp, dịch vụ sinh hoạt, vui chơi giải trí, khu t hương mại, văn phòng, nhà ở… Khu công nghiệp theo quan niệm này về thự c chất là khu hành chính – kinh tế đặc biệt như khu công nghiệp Batam Indonesia, các công viên công nghiêp ở Đài Loan, Thái Lan và một số nước Tây Âu.
– Định nghĩa 2: Khu công nghiệp là khu vực lãnh thổ có giới hạn nhất định, ở đó tập trung các doanh nghiệp công nghệp và dịch vụ sản xuất công nghiệp, không có dân cư sinh sống. Đi theo quan niệm này, ở một số nước như Malaixia, Indonesia, Thái Lan, Đài Loan đã hình thành nhiều khu công nghiệp với qui mô khác nhau. –   Định nghĩa của Việt Nam:   Theo Qui chế khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao – ban hành kèm theo Nghị định số 36/CP ngày 24/ 4/ 1997, khu công nghiệp là “khu tập trung các doanh nghiệp khu công nghiệp chuyên sản xuất hàng công nghiệp và thực hiện các dịch vụ cho sản xuất công nghiệp, có ranh giới địa lý xác định, kông có dân cư sinh sống; do Chính phủ hoặc Thủ tướng chính phủ quyết định thành lập. Trong khu công nghiệp có thể có doanh nghiệp chế xuất”. Như vậy, khu công nghiệp ở Việt Nam được hiểu giống với định nghĩa hai.

2.3. Ảnh hưởng của luật đầu tư năm 2005 đối với đầu tư t rong n ướ c và đầu tư nước ngoài ở các khu công nghiệp, khu chế xuất tại Việt Nam.

2.3.1. Thu hút đầu tư tại khu công nghiệp, khu chế xuất.

Đ ối với Việt N am, để tăng trưởng và phát triển nền kinh t ế đòi hỏi một khối lượng vốn đầu tư rất lớn.Vốn trong nước chư a đủ để đáp ứng nhu cầu đó. Do đó thu hút vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài vào KCN , KCX là rất quan trọng vì KCN, KCX phản ánh tiềm năng phát triển công nghiệp của mỗi nước. Theo ngân hàng thế giới(WB), các dự án thực hiện trong KCN , KCX do các nhà đầu tư nước ngoài hoặc do liên doanh với nước ngoài thực hiện (24% do liên doanh với nước ngoài, 33 do các nhà đầu tư nước ngoài, 43% do đầu tư trong nước). Do vậy KCN , KCX đã góp phần đáng kể trong việc thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài cho nước chủ nhà.

2.3.2. Sự ảnh hưởng của luật đầu tư năm 2005.

Cuối năm 1987, Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam được Quốc hội thông qua, khi nước ta còn trong vòng xoáy cuộc khủng hoảng kinh tế – xã hội, lạm phát phi mã, sản xuất và lưu thông chậm phát triển, làm không đủ ăn, buộc phải dùng tem phiếu “phân phối sự thiếu thốn”; khi các nước “phương Tây” cấm vận đối với Việt Nam, quan hệ kinh tế đối ngoại hầu như chỉ bó hẹp trong khung khổ Hội đồng Tương trợ kinh tế với 12 nước xã hội chủ nghĩa (cũ).

Hạn chế củ a luật đầu tư 2005:

Đ ối với Luật Đầu tư năm 2005, nhiều ý kiến nhận xét rằng, nội dung của luật này trùng lặp với nhiều luật khác, do vậy nên hình thành Chương Đầu tư trong Luật Doanh nghiệp, bởi vì đầu tư là hoạt động chính của doanh nghiệp. Cũng có ý kiến cho rằng, trong Luật Doanh nghiệp và Luật Đầu tư năm 2005 không chú ý đặc điểm của FDI và doanh nghiệp FDI, nên đã k hông điều chỉnh được mọi hành vi liên quan đến FDI, làm giảm hiệu năng quản lý nhà nước đối với khu vực kinh tế này. Do vậy, Luật Doanh nghiệp mới cần khắc phục nhược điểm đó.
Hơn thế, trước thực trạng nhiều doanh nghiệp FDI đang gặp khó khăn do tác động từ khủng hoảng kinh tế thế giới và lạm phát cao trong nước, thì Chính phủ và chính quyền các cấp cần tiếp cận, hướng dẫn, hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua tình trạng kinh doanh kém hiệu quả. Đó chính là cách xúc tiến đầu tư tốt nhất, vì chính các doanh nghiệp này sẽ quảng bá rộng rãi chính sách và phương thức hoạt động của bộ máy nhà nước ra bên ngoài.
Các cuộc vận động đầu tư cần hướng chủ yếu vào 500 TNCs hàng đầu thế giới đối với dự án công nghệ cao, dịch vụ hiện đại, nghiên cứu và phát triển, đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, thường xuyên cập nhật thông t in về điều kiện đảm bảo đầu tư theo yêu cầu của từng TNCs thay cho những cuộc hội thảo đông người kém hiệu quả. Sau khủng hoảng kinh tế thế giới, TNCs điều chỉnh thị trường đầu tư, có thể Việt Nam không còn được lựa chọn hoặc được đưa vào diện ưu tiên, do đó cần theo dõi để biết được chiến lược đầu tư mới của TNCs.

Các bộ lập và công bố quy hoạch ngành kinh tế – kỹ thuật đủ chi tiết, gắn với quy hoạch vùng lãnh thổ, xây dựng tiêu chuẩn, định mức để hướng dẫn chính quyền địa phương thự c hiện, bảo đảm việc phân cấp quản lý vừ a phát huy được tính năng động, sáng kiến của tỉnh, thành phố, vừa bảo vệ lợi ích quốc gia. Trên cơ sở đó, chuyển trọng tâm quản lý nhà nước đối với FDI sang hướng dẫn, theo dõi, kiểm tra doanh nghiệp khi đưa dự án đầu tư vào hoạt động theo đúng quy định luật pháp.
Hiện nay, Cục Đầu tư nư ớc ngoài (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang xây dựng Trung tâm Thông tin được nối mạng với các sở kế hoạch và đầu tư, ban quản lý KCN, KKT, doanh nghiệp FDI, hải quan, cơ quan thuế, ngân hàng để khắc phục nhược điểm thiếu thông t in, không cập nhật, nhằm đánh giá đúng thực trạng và đề ra giải pháp xử lý kịp thời đối với hoạt động FDI trong cả nước. Đây là điều đáng mừng.
Bài học thành công và thất bại trong kinh tế thị trường, hội nhập quốc tế, trong đó có thu hút FDI là tài sản quý giá để người Việt Nam khôn ngoan hơn, để tiếp nhận vốn đầu tư quốc tế có hiệu quả hơn và phát triển bền vững hơn.

CHƯƠNG 3: MỘT SỐ KIẾN NGHỊ NHẰM GÓP PHẦN HO ÀN THIỆN LUẬT ĐẦU TƯ TRONG TÌNH HÌNH HỘI NHẬP QUỐC TẾ VÀ TOÀN CẦU HÓA

3.1. Một số kiến nghị đối với Nhà nước.

Tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật đầu tư năm 20 5 và các văn bản hướng dẫn thi hành:
– Nhà nước phải tăng cường tuyên truyền, phổ biến nội dung Luật đầu tư 2005. Đây là công tác rất quan trọng góp phần đưa những nội dung chính sách của Đảng và Nhà nước đến được với quần chúng nhân dân. Làm cho mọi người dân hiểu luật và có những đóng góp cho sự nghiệp xây dựng m ột nhà nước pháp quyền.
– Đối với các nghị định hướng dẫn thi hành Luật đầu tư, thì công tác tuyên truyền, phổ biến nội dung càng đóng vai trò quan trọng. Nhà nước nên sử dụng các phương tiện thông tin đại chúng để góp phần tuyền truyền có hiệu quả hơn. Đặc biệt, nhà nước nên khai thác k hả năng truyền tải nhanh và tiện lợi của mạng internet. Nhà nước đăng tải toàn văn Luật đầu tư và các văn bản hướng dẫn thi hành trên trang Web của Chính phủ và của các Bộ, ngành hữu quan…
Tiến hành rà soát các văn bản pháp luật chuyên ngành:Luật đầu tư 2005 liên quan đến rất nhiều luật chuyên ngành như: Luật Doanh nghiệp, Luật Chứng khoán, Luật Ngân hàng, Luật Bảo hiểm,.. Do đó, để tránh hiện tượng chồng chéo, Chính phủ cần rà soát lại các nội dung của các luật chuyên ngành, sửa đổi, bổ sung, huỷ bỏ những qui định cho phù hợp thống nhất với Luật đầu tư năm 2005, phù hợp với cam kết quốc tế.

KẾT LUẬN ĐỀ TÀI TIỂU LUẬN 

Để hoàn thiện và ban hành Luật Đầu tư sửa đổi cần chú ý đến các nội dung liên quan đến vai trò pháp lý của nhà đầu tư, đánh giá rõ vai trò của nhà đầu tư đối với xã hội. Cần xem xét kỹ việc có nên đưa quyền sử dụng đất vào Luật Đầu tư. Luật Đầu tư sửa đổi cần ghi rõ quy trình, điều kiện chuy ển nhượng dự án để các cấp quản lý áp dụng dễ hơn. Tránh trường hợp cụ thể hiện này đang vướng phải trên địa bàn thành phố Biên Hòa (Dự án chợ tạm Tân Hiệp).

Sau cùng, mình cũng hy vọng bài Tiểu luận luật đầu tư 2005 đối với đầu tư trong nước và nước ngoài tại Việt Nam này sẽ giúp ích cho các bạn trong quá trình làm bài. Chúc các bạn hoàn thiện bài luận thật tốt, điểm cao như mong muốn nhé!

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537