Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Trong kinh doanh, rủi ro là điều không thể tránh khỏi, đặc biệt là rủi ro trong kinh doanh ngân hàng. Rủi ro trong hoạt động cho vay được biết đến như một đặc thù, một yếu tố tất yếu khách quan trong hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Bất kì một hoạt động kinh doanh nào của ngân hàng cũng có thể xảy ra rủi ro, đặc biệt là trong cho vay. Do đó, việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro trong hoạt động cho vay là rất quan trọng, nó quyết định đến kết quả kinh doanh của một ngân hàng.
Các doanh nghiệp vừa và nhỏ là một bộ phận lớn mạnh trong nền kinh tế nước ta hiện nay (chiếm đến hơn hơn 97% tổng số doanh nghiệp trong cả nước, hoạt động kinh doanh đóng góp hơn 40% GDP và tạo ra một lượng đáng kể công ăn việc làm cho người lao động). Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) cũng là nhóm khách hàng tiềm năng của Ngân hàng thương mại (NHTM), tuy nhiên, với tình hình kinh tế suy thoái, các doanh nghiệp vừa và nhỏ làm ăn thua lỗ, khả năng trả nợ cho những khoản vay ngân hàng để trang trải cho các dự án đầu tư và xoay vòng tiền sản xuất kinh doanh kém đã đẩy nguy cơ rủi ro trong cho vay lên cao, đe dọa đến hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại.
Làm thế nào để giảm thiểu được những tổn thất do rủi ro trong hoạt động cho vay gây nên, các ngân hàng đã làm gì để phòng ngừa, khắc phục rủi ro? Đây là câu hỏi luôn được đặt ra trong mọi thời điểm hoạt động của các ngân hàng, đòi hỏi các ngân hàng phải thích ứng một cách linh hoạt với các rủi ro, đảm bảo công tác quản trị rủi ro được hiệu quả.
Trong thời gian thực tập tại ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (No&PTNT) Thanh Hóa chi nhánh số 4, em nhận thấy rủi ro trong cho vay vẫn chưa được kiểm soát tốt. Chính vì vậy, yêu cầu đặt ra lúc này là phải có những biện pháp nhằm củng cố hệ thống kiểm soát rủi ro của ngân hàng, đảm bảo mức độ rủi ro trong phạm vi chấp nhận được, không làm ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Bên cạnh đó, giúp nâng cao uy tín của ngân hàng cũng như tạo ra lợi thế cạnh tranh với các ngân hàng khác trong cùng hệ thống. Từ đó, em chọn đề tài “Hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa” làm đề tài nghiên cứu cho khóa luận tốt nghiệp với mong muốn có thể đóng góp một phần nào đó giúp nâng cao hiệu quả hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ tại chi nhánh.
2. Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
- Mục tiêu nghiên cứu của đề tài tập trung vào 3 nội dung chính sau:
Tìm hiểu những lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro trong cho vay của Ngân hàng thương mại.
Phân tích hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa , từ đó đưa ra những điểm tích cực và hạn chế trong công tác quản trị hiện tại.
Đề xuất một số giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa.
3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
Đối tượng nghiên cứu: Hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay
Phạm vi nghiên cứu: Đề tài tập trung nghiên cứu thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa giai đoạn 2022 – 2024.
4. Phương pháp nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Phương pháp nghiên cứu được sử dụng chủ yếu là phương pháp thu thập thông tin và phương pháp phân tích. Thông tin thu thập được thông qua nhiều kênh như quá trình thực tập trực tiếp tại ngân hàng, phỏng vấn cán bộ nhân viên của ngân hàng, các báo cáo tài chính năm, báo cáo cho vay,… Phương pháp phân tích sử dụng các thông tin này, kết hợp với phương pháp so sánh, đối chiếu, tổng hợp thông tin, từ đó làm rõ thực trạng hoạt động quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa.
5. Bố cục của khóa luận
Nội dung của khóa luận được chia thành 3 chương:
- Chương 1: Cơ sở lý luận chung về công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại.
- Chương 2: Thực trạng công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa.
- Chương 3: Giải pháp hoàn thiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam chi nhánh số 4 Thanh Hóa.
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC QUẢN TRỊ RỦI RO TRONG CHO VAY ĐỐI VỚI DOANH NGHIỆP VỪA VÀ NHỎ TẠI NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI
1.1. Tổng quan về hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
1.1.1. Khái niệm hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
- Khái niệm về hoạt động cho vay
Đối với các Ngân hàng thương mại, hoạt động chủ yếu của ngân hàng là kinh doanh tiền tệ hay nói đúng hơn là ngân hàng đi vay để cho vay. Cho vay là hoạt động vô cùng quan trọng đối với ngân hàng, chiếm đến 70% tỷ trọng tài sản của ngân hàng, đem lại cho ngân hàng khoản lợi nhuận lớn. Để biết rõ hơn, trước hết phải tìm hiểu về khái niệm cho vay.
Theo Quyết định số 1627/2013/QĐ-NHNN về việc ban hành quy chế cho vay của Tổ chức tín dụng (TCTD) đối với khách hàng do Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành ngày 31/12/2013 thì: “Cho vay là một hình thức cấp tín dụng, theo đó Tổ chức tín dụng giao cho khách hàng sử dụng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích và thời gian nhất định theo thoả thuận với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi cho ngân hàng”. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Luật các Tổ chức tín dụng năm 2022 do Quốc hội ban hành cũng đưa ra một định nghĩa khác về cho vay: “Cho vay là hình thức cấp tín dụng, theo đó bên cho vay giao hoặc cam kết giao cho khách hàng một khoản tiền để sử dụng vào mục đích xác định trong một thời gian nhất định theo thỏa thuận với nguyên tắc có hoàn trả cả gốc và lãi”.
Khái niệm về hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại có rất nhiều, tuy nhiên, có thể khái quát được định nghĩa về hoạt động cho vay như sau:
Cho vay là một hình thức cấp tín dụng của Ngân hàng thương mại mà theo đó Ngân hàng sẽ chuyển giao cho bên đi vay là khách hàng một khoản vốn tiền tệ. Bên đi vay sẽ sử dụng khoản vốn đó trong một khoảng thời gian với nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi theo đúng thời hạn đã cam kết.
Hoạt động cho vay của ngân hàng có mối quan hệ mật thiết với tình hình phát triển kinh tế tại địa bàn hoạt động của ngân hàng. Nhờ hoạt động cho vay, doanh nghiệp có vốn để sản xuất kinh doanh. Lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra không những có thể trả nợ cho ngân hàng mà khoản dư ra doanh nghiệp có thể gửi vào ngân hàng, làm tăng hoạt động huy động vốn của ngân hàng.
- Khái niệm về Doanh nghiệp vừa và nhỏ
Căn cứ Khoản 1 Điều 3 Nghị định 56/2021/NĐ-CP ngày 30/06/2021 của Chính phủ về trợ giúp phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, khái niệm doanh nghiệp vừa và nhỏ được định nghĩa như sau: Doanh nghiệp vừa và nhỏ (DNV&N) là cơ sở kinh doanh đã đăng ký kinh doanh theo quy định pháp luật, được chia thành 3 cấp: siêu nhỏ, nhỏ và vừa theo quy mô tổng nguồn vốn (tổng nguồn vốn tương đương tổng tài sản được xác định trong bảng cân đối kế toán của doanh nghiệp) hoặc số lao động bình quân năm (tổng nguồn vốn là tiêu chí ưu tiên), cụ thể như sau:
- Bảng 1.1. Các loại hình doanh nghiệp vừa và nhỏ
1.1.2. Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
- Đặc điểm của doanh nghiệp vừa và nhỏ
Đối với nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam, loại hình DNV&N là vô cùng phù hợp. Nhận thức được tầm quan trọng của DNV&N đối với nền kinh tế, chính phủ đã có những biện pháp thúc đẩy sự phát triển của DNV&N. Chính vì vậy mà DNV&N ngày càng lớn mạnh về cả số lượng lẫn chất lượng. Đặc điểm của DNV&N chính là yếu tố khiến loại hình doanh nghiệp này phát triển mạnh trong nền kinh tế Việt Nam. DNV&N có các đặc điểm sau:
DNV&N hoạt động và phát triển ở hầu hết các lĩnh vực, các thành phần kinh tế như thương mại, dịch vụ, công nghiệp, xây dựng, nông, lâm nghiệp,…và dưới nhiều hình thức như: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn,…
DNV&N ở nước ta có vốn ban đầu nhỏ nên có thể thành lập dễ dàng, hoạt động sản xuất kinh doanh trông chờ chủ yếu vào nguồn vốn đi vay. Vốn đầu tư của doanh nghiệp bao gồm đầu tư vào tài sản cố định và vốn lưu động phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh. Vì vốn đầu tư ban đầu ít nên khả năng cạnh tranh trên thị trường của DNV&N không lớn. Hơn nữa, tài sản của DNV&N thường có giá trị nhỏ dẫn đến việc hạn chế khả năng vay vốn ngân hàng hoặc các Tổ chức tín dụng khác nếu vay bằng hình thức thế chấp.
Cơ cấu tổ chức của DNV&N khá gọn nhẹ và hiệu quả, do đó chi phí quản lý của doanh nghiệp tương đối ít, linh hoạt trong việc điều chỉnh các mối quan hệ, sát sao hơn với tình hình thị trường và người tiêu dùng. DNV&N có tính năng động cao trước những thay đổi của thị trường, dễ chuyển đổi quy mô sản xuất của mình để giảm thiểu tổn thất khi xảy ra rủi ro. Đặc biệt cơ cấu tổ chức như vậy còn giúp cho các DNV&N nhỏ linh hoạt, dễ dàng thích ứng với biến động của thị trường, có khả năng tiếp cận và đáp ứng các nhu cầu nhỏ lẻ tốt hơn so với các doanh nghiệp lớn.
Do quy mô vốn nhỏ nên các DNV&N không có điều kiện đầu tư nhiều vào việc nâng cấp, đổi mới, mua sắm trang thiết bị, công nghệ tiên tiến, hiện đại. Đây là nguyên nhân làm giảm sức cạnh tranh trên thị trường của DNV&N. Hơn nữa, DNV&N cũng gặp nhiều khó khăn trong việc tìm kiếm, thâm nhập thị trường và phân phối sản phẩm do thiếu thông tin về thị trường và công tác marketing chưa được chú trọng. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Với những đặc điểm cơ bản trên, có thể nhận thấy tầm quan trọng cũng như những khó khăn thách thức mà DNV&N đang gặp phải. Để duy trì và tăng trưởng nền kinh tế đang phát triển như Việt Nam thì việc quan tâm đến các DNV&N là vô cùng cần thiết.
- Đặc điểm của hoạt động cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ
DNV&N đối với nền kinh tế Việt Nam là vô cùng quan trọng, Chính phủ nhận thức được điều này nên đã đưa ra những chính sách nhằm khuyến khích và tạo điều kiện tốt nhất cho DNV&N phát triển. Không những chính phủ mà các Ngân hàng thương mại cũng xác định DNV&N là khách hàng tiềm năng với nhu cầu vay vốn cao để sản xuất kinh doanh nên các hoạt động cho vay đối với DNV&N cũng được ngân hàng khai thác và đưa vào dịch vụ kinh doanh của Ngân hàng. Hoạt động cho vay đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại có những đặc điểm sau:
Các DNV&N vay vốn với nhiều mục đích nhằm phục vụ tốt nhất cho quá trình kinh doanh. Trong đó DNV&N đi vay để bổ sung vốn lưu động tài trợ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong ngắn hạn, vay để thực hiện các dự án đầu tư trong trung dài hạn… thường là các mục đích chính.
Đối với các DNV&N, quy mô các khoản vay thường không lớn, thường phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, quy mô của các dự án đầu tư hay quy mô các hợp đồng đã kí kết.
Nguồn trả nợ của DNV&N khi đi vay vốn ngân hàng bao gồm các nguồn từ hiệu quả sử dụng vốn vay, khấu hao tài sản của doanh nghiệp và các nguồn khác ổn định mà doanh nghiệp cam kết sử dụng để trả nợ cho ngân hàng.
Tùy thuộc vào mục đích sử dụng vốn vay mà có thời gian vay vốn phù hợp tuy nhiên nhìn chung các DNV&N thường vay vốn để đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh trong ngắn hạn nhiều hơn là cho vay trung dài hạn, tức là thời gian vay chủ yếu là dưới 1 năm bởi chu kỳ kinh doanh của các DNV&N thường là ngắn hạn và nhu cầu vay vốn của các DNV&N đa số là để đáp ứng cho nhu cầu vốn lưu động, chi trả cho các hoạt động ngắn hạn như mua nguyên liệu sản xuất, trả lương công nhân viên, vay theo hạn mức tín dụng đáp ứng các giao dịch mua bán với nhà cung ứng và khách hàng, các dự án đầu tư trong ngắn hạn.
Để ngân hàng ra quyết định cho doanh nghiệp vay vốn cũng như quyết định quy mô khoản vốn được vay, tài sản đảm bảo là điều kiện thiết yếu. Theo lý thuyết thì tài sản đảm bảo luôn phải có giá trị lớn hơn giá trị của khoản vay nhưng một thực trạng phổ biến của các DNV&N ở Việt Nam đó là không có, không đủ tài sản đảm bảo cho việc vay vốn, hoặc nếu có thì không đáp ứng đầy đủ quy định về tài sản đảm bảo cho vay theo yêu cầu của ngân hàng. Quy mô khoản vốn cho vay theo tài sản đảm bảo còn phụ thuộc vào quy định của từng ngân hàng. Vì vậy, thực trạng hiện nay là các ngân hàng vì mục tiêu lợi nhuận đã cho khách hàng vay vốn kể cả khi tài sản đảm bảo thiếu hoặc không đủ tiêu chuẩn để xét cho vay. Điều này đã làm cho rủi ro cho vay tăng cao, gây nên việc mất uy tín và khả năng thanh khoản của ngân hàng, dẫn đến nguy hại trong hoạt động kinh doanh ngân hàng.
Cho vay nói chung và cho vay DNV&N nói riêng là một trong những nguồn mang lại lợi nhuận cao cho ngân hàng bên cạnh các hoạt động kinh doanh sinh lời khác. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
- Các nguyên tắc trong cho vay
Nhằm đảm bảo tính an toàn và khả năng sinh lời, hoạt động cho vay đối với DNV&N của Ngân hàng thương mại phải tuân thủ những nguyên tắc sau:
- Nguyên tắc 1: Sử dụng vốn vay đúng mục đích theo thỏa thuận trong hợp đồng cho vay
DNV&N phải cam kết sử dụng nguồn vốn vay ngân hàng đúng mục đích đã thỏa thuận trong hợp đồng vay vốn, sử dụng hiệu quả và không trái pháp luật. Các cán bộ tín dụng (CBTD) của ngân hàng sau khi cho DNV&N vay vốn, nhiệm vụ tiếp theo chính là theo dõi, giám sát hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp để chắc chắn doanh nghiệp đó vay vốn và sử dụng vốn đúng mục đích đã đưa ra trong hợp đồng vay. Nguyên tắc này là vô cùng quan trọng vì một khi doanh nghiệp sử dụng sai mục đích số tiền vay sẽ có thể dẫn đến rủi ro cho doanh nghiệp cũng như ngân hàng. Doanh nghiệp có thể mất khả năng trả nợ, còn ngân hàng có thể đứng trước nguy cơ không thể thu hồi được toàn bộ số nợ gốc và lãi dẫn đến rủi ro tín dụng tăng cao. Trong trường hợp khách hàng sử dụng vốn vay sai mục đích, ngân hàng phải áp dụng các biện pháp chế tài thích hợp nhằm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra cho ngân hàng.
- Nguyên tắc 2: Hoàn trả nợ gốc và lãi đúng hạn đã thỏa thuận.
DNV&N khi đi vay vốn ngân hàng phải cam kết hoàn trả được gốc và lãi đầy đủ và đúng hạn cho ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng chính là kinh doanh niềm tin. Khách hàng có khoản tiền nhàn rỗi gửi vào ngân hàng nhằm mục đích sinh lời. Ngân hàng vay tiền của họ để cho những người cần vay vay. Ngân hàng cũng là người đi vay. Ngân hàng phải chịu trách nhiệm hoàn trả vốn và lãi cho người gửi tiền hay chính là chủ nợ của ngân hàng khi đến hạn. Vì vây, DNV&N cũng phải trả gốc và lãi đúng hạn và đầy đủ để ngân hàng có vốn xoay vòng, nhờ thế hoạt động của ngân hàng mới được duy trì. Nếu các khoản cho vay không được hoàn trả đúng hạn thì nhất định sẽ ảnh hưởng đến hoạt động cũng như uy tín của ngân hàng. Ngoài ra, trong quá trình thực hiện nghiệp vụ cho vay, ngân hàng phải bù đắp được các chi phí như: trả lãi tiền gửi, in ấn, trả lương nhân viên, nộp thuế, trích lập các quỹ. Do đó, ngân hàng phải thu thêm các khoản chênh lệch ngoài số vốn gốc cho vay, đó chính là lãi vay.
Hoạt động cho vay tại ngân hàng phải đảm bảo thực hiện và duy trì đúng các nguyên tắc trên thì mới đảm bảo ngân hàng hoạt động có hiệu quả và sinh lời.
1.1.3. Điều kiện cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Bên cạnh việc phải tuân thủ các nguyên tắc cho vay, DNV&N cũng phải đáp ứng được các điều kiện vay vốn sau:
- Có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự và chịu trách nhiệm dân sự theo quy định của pháp luật.
Quan hệ giữa ngân hàng với khách hàng là quan hệ được pháp luật bảo vệ, vì vậy nó phải được lập trên cơ sở quy định của luật pháp. Do đó, các chủ thể tham gia phải có đủ tư cách pháp lý mới được phép xin vay vốn ngân hàng.
- Mục đích sử dụng vốn vay hợp pháp
Vốn vay phải được sử dụng hợp pháp, không vi phạm pháp luật và phải đúng với cam kết trong hồ sơ xin vay vốn của DNV&N với ngân hàng. Nếu nguồn vốn vay bị sử dụng bất hợp pháp có thể dẫn đến tài khoản của doanh nghiệp bị phong tỏa và doanh nghiệp sẽ bị buộc dừng kinh doanh. Khi đó khả năng thu hồi lại được vốn và lãi của ngân hàng là rất khó.
- Có khả năng tài chính đảm bảo trả nợ trong thời hạn cam kết
Năng lực tài chính của DNV&N được thể hiện qua tổng giá trị tài sản – nguồn vốn lớn, khả năng thanh toán, khả năng sinh lời cao. Ngoài ra còn là khả năng khai thác, quản lý, sử dụng các nguồn lực tài chính thể hiện qua trình độ tổ chức quản lý, trình độ công nghệ, chất lượng nguồn nhân lực. DNV&N phải có năng lực tài chính lành mạnh mới có thể hoạt động liên tục và sinh lời, đảm bảo được khả năng hoàn trả nợ đã cam kết.
Có dự án đầu tư, phương án sản xuất, kinh doanh, dịch vụ, phương án phục vụ đời sống khả thi và phù hợp với quy định của pháp luật DNV&N phải có phương án đầu tư, sản xuất, kinh doanh khả thi thì mới có thể sinh lời. Đây chính là nguồn trả nợ chính của doanh nghiệp và là nguồn thu nợ thứ nhất của ngân hàng. DNV&N có thể hoàn thành nghĩa vụ hoàn trả nợ theo quy định mới tạo nên uy tín cho ngân hàng. Ngân hàng thu được nợ đầy đủ mới đảm bảo hệ thống hoạt động có hiệu quả. Tuy nhiên phương án sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cần phải phù hợp với quy định của pháp luật. Điều này là vô cùng quan trọng để đảm bảo DNV&N kinh doanh lành mạnh, giảm bớt rủi ro cho cả ngân hàng và DNV&N
- Thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định của Chính phủ và hướng dẫn của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Đảm bảo tiền vay là hệ thống các biện pháp ngân hàng đề ra để tạo cơ sở kinh tế, pháp lý cho ngân hàng trong việc thu hồi nợ. Bao gồm cầm cố, thế chấp tài sản khách hàng hoặc bảo lãnh của bên thứ ba hoặc sử dụng tín chấp cho khách hàng vay vốn. Việc áp dụng biện pháp nào là tùy thuộc vào quyết định kinh doanh của ngân hàng và ngân hàng phải đảm bảo các biện pháp là phù hợp với từng khoản vay, từng ngân hàng. Đảm bảo tiền vay là nguồn thanh toán nợ thứ 2 cho Ngân hàng thương mại.
1.1.4. Một số hình thức cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại
- Theo thời hạn cho vay doanh nghiệp vừa và nhỏ
Phân loại theo thời hạn cho vay bao gồm: cho vay ngắn hạn, cho vay trung và dài hạn
Cho vay ngắn hạn: Đây là khoản vay có thời hạn từ 12 tháng trở xuống.
DNV&N thường xin vay theo hình thức này khi cần mua sắm tài sản lưu động phục vụ cho quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Cho vay ngắn hạn bao gồm 4 hình thức cho vay chủ yếu là cho vay vốn lưu động, cho vay mua hàng dự trữ, cho vay theo hạn mức thấu chi và cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng.
Cho vay trung và dài hạn: Cho vay trung hạn là các khoản vay có thời hạn từ 1 đến 5 năm, cho vay dài hạn chỉ bao gồm các khoản vay từ 5 năm trở lên. Mục đích DNV&N vay trung và dài hạn là phục vụ cho việc mua sắm trang thiết bị, máy móc, tài sản cố định và xây dựng những công trình lớn, có thời gian dài hay để đầu tư.
Cho vay theo hạn mức tín dụng: Là phương thức cho vay mà ngân hàng và doanh nghiệp xác định và thỏa thuận một hạn mức tín dụng duy trì trong một khoảng thời gian nhất định. Trong thời hạn duy trì hạn mức tín dụng, doanh nghiệp được phép rút vốn bất kỳ lúc nào phù hợp với nhu cầu sử dụng vốn nhưng không vượt quá hạn mức đã kí kết. Cho vay theo hạn mức tín dụng thường chỉ áp dụng với những doanh nghiệp mà ngân hàng tín nhiệm, vay vốn thường xuyên và có mục đích sử dụng vốn rõ ràng.
Cho vay theo dự án đầu tư: Nhằm hỗ trợ tài chính cho các doanh nghiệp thực hiện đầu tư các dự án mới, các dự án nâng cấp, mở rộng sản xuất kinh doanh; giúp các doanh nghiệp thuận lợi trong việc triển khai hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ hoặc mở rộng quy mô hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình.
Cho vay luân chuyển: Một khoản cho vay luân chuyển cho phép doanh nghiệp có thể vay tới một mức tối đa xác định trước, hoàn trả toàn bộ hoặc một phần khoản vay và tiếp tục vay khi có nhu cầu cho đến khi hợp đồng vay vốn hết hạn. Các khoản cho vay như vậy có thể là ngắn hạn hoặc kéo dài tới 3,4 thậm chí 5 năm. Hình thức cho vay này được áp dụng nhiều nhất khi doanh nghiệp không chắc chắn về thời gian của luồng tiền mặt hoặc về quy mô chính xác của nhu cầu vay vốn trong tương lai. Thời hạn của khoản vay không được quy định rõ ràng khi kí kết hợp đồng vay vốn, vì vậy việc thu hồi nợ của ngân hàng sẽ gặp khó khăn khi việc kinh doanh của doanh nghiệp không tốt. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Cho vay đồng tài trợ: Là quá trình cho vay của một nhóm các Ngân hàng thương mại (từ 2 Ngân hàng thương mại trở lên) cho một dự án đầu tư, do một Ngân hàng thương mại sẽ làm đầu mối, phối hợp với các bên bên đồng tài trợ để thực hiện, nhằn phân tán rủi ro của các ngân hàng. Hình thức này được được áp dụng trong các trường hợp: Các dự án đầu tư có quy mô lớn đòi hỏi một khoản vốn lớn mà một ngân hàng không thể đáp ứng được toàn bộ khoản vay đó. Vì vậy, các ngân hàng cần phải liên kết với nhau để cùng cho DNV&N vay. Khi đó, mức độ rủi ro do khoản vay đó tạo ra (nếu có) sẽ được chia đều cho các ngân hàng thành viên. Do vậy, cho vay đồng tài trợ là một hoạt động tín dụng giúp ngân hàng phân tán rủi ro và có thể sử dụng tối đa nguồn vốn của họ cho đầu tư vào các dự án trung đến dài hạn.
- Phân loại theo tính chất đảm bảo
Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: Là loại cho vay dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp hoặc cầm cố bằng tài sản. Sự bảo đảm này là căn cứ pháp lý để ngân hàng có thêm một nguồn thứ hai, bổ sung cho nguồn thu nợ thứ nhất thiếu chắc chắn.
- Cho vay có đảm bảo bằng tài sản bao gồm các hình thức:
Cho vay cầm cố bằng chứng khoán: Là hình thức cho vay mà doanh nghiệp có thể dùng một hay nhiều chứng khoán để đảm bảo cho một khoản nợ như công trái, trái phiếu kho bạc, cổ phiếu, trái phiếu…
Cho vay cầm cố bằng thương phiếu: doanh nghiệp có thương phiếu nhưng không muốn chiết khấu hoặc không nhận chiết khấu. Trong trường hợp này, doanh nghiệp có thể xin vay có cầm cố bằng thương phiếu.
Cho vay cầm cố bằng hợp đồng thầu khoán: Phần lớn dành cho các công ty xây dựng hoặc các doanh nghiệp trong lĩnh vực kinh doanh trúng thầu đòi hỏi một lượng vốn lớn ban đầu để tiến hành xây lắp hoặc mua sắm máy móc.
Cho vay cầm cố bằng hàng hóa: Hàng hóa ở đây là thường là hàng tồn kho đang có tại DNV&N.
Cho vay cầm cố bằng bất động sản: Đất, nhà thuộc quyền sở hữu của DNV&N xin vay.
Cho vay có đảm bảo của người bảo lãnh: Đây là hình thức có bên thứ 3 uy tín đứng ra bảo lãnh cho DNV&N vay ngân hàng. Bên thứ 3 ở đây có thể là 1 khách hàng có uy tín của ngân hàng hoặc 1 ngân hàng khác.
- Phân loại theo xuất xứ
Cho vay trực tiếp: ngân hàng cấp vốn trực tiếp cho người có nhu cầu, đồng thời người đi vay trực tiếp hoàn trả nợ vay cho ngân hàng. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Cho vay gián tiếp: Là khoản cho vay được thực hiện thông qua việc mua lại các khế ước hoặc chứng từ nợ đã phát sinh và còn trong thời hạn thanh toán. Các Ngân hàng thương mại cho vay gián tiếp theo các loại sau:
Chiết khấu thương mại: Người thụ hưởng hối phiếu hoặc lệnh phiếu còn trong thời hạn thanh toán có thể nhượng lại cho ngân hàng.
Mua các phiếu bán hàng: các mặt hàng tiêu dùng và máy móc nông nghiệp trả góp.
Ngoài ra ngân hàng còn thực hiện các nghiệp vụ bao thanh toán và các nghiệp vụ bảo lãnh cho khách hàng bằng uy tín của mình. Trong đó:
Bao thanh toán: Ngân hàng đồng ý mua lại các khoản phải thu từ phía khách hàng theo một mức chiết khấu có thỏa thuận, từ đó giúp khách hàng cải thiện dòng tiền, tăng khả năng thanh khoản.
Bảo lãnh: Đối với hình thức này, ngân hàng dùng uy tín của mình thay vì tiền để bảo lãnh cho khách hàng trong hợp đồng kinh doanh đối với bên thứ 3. Tuy nhiên khi khách hàng không thực hiện được đúng theo hợp đồng, ngân hàng bảo lãnh phải đứng ra trả thay theo đúng số tiền trong hợp đồng bảo lãnh đã cam kết.
1.2. Rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
1.2.1. Khái niệm rủi ro trong cho vay
Chủ thể của hoạt động tín dụng là Ngân hàng và Khách hàng. Nếu quan hệ tín dụng giữa ngân hàng và khách hàng không được đảm bảo thực hiện theo hợp đồng thì rủi ro tín dụng xuất hiện. Tương tự, đối với hoạt động cho vay của ngân hàng thì đó chính là rủi ro trong cho vay. Cũng như định nghĩa về hoạt động cho vay, có rất nhiều cách hiểu về khái niệm rủi ro cho vay của Ngân hàng thương mại.
Theo QĐ 493/2017/QĐ-NHNN ngày 22/4/2017 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước, rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng là khả năng xảy ra tổn thất trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng do khách hàng không thực hiện hoặc không có khả năng thực hiện nghĩa vụ của mình theo cam kết.
Rủi ro trong hoạt động cho vay cũng là một phần của rủi ro tín dụng, nên có thể định nghĩa rủi ro cho vay trong hoạt động ngân hàng như sau:
Rủi ro cho vay là rủi ro phát sinh trong quá trình cho vay của ngân hàng, thể hiện qua việc khách hàng không trả được nợ hoặc trả nợ không đúng hạn cho ngân hàng.
Hay có thể nói rõ hơn như sau: Rủi ro cho vay là khả năng xảy ra những tổn thất mà ngân hàng phải chịu do khách hàng vay không thực hiện nghĩa vụ đã cam kết, chậm trả hoặc không trả cả gốc và lãi khi đến hạn.
Từ một số đinh nghĩa trên cùng với định nghĩa về rủi ro tín dụng theo QĐ số 493, có thể tóm tắt lại khái niệm rủi ro trong cho vay như sau: Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Rủi ro trong cho vay là rủi ro về sự tổn thất tài chính xuất phát từ việc người đi vay (khách hàng) không thực hiện nghĩa vụ trả nợ đúng hạn cho người cho vay (NHTM) như đã cam kết trong hợp đồng hoặc người đi vay mất khả năng thanh toán.
Rủi ro cho vay còn được gọi là rủi ro mất khả năng chi trả hay rủi ro sai hẹn. Tuy nhiên có thể hiểu rủi ro trong cho vay theo nghĩa xác suất có thể xảy ra hoặc không xảy ra tổn thất. Tuy nhiên một khoản vay dù chưa quá hạn nhưng vẫn luôn tiềm ẩn nguy cơ xảy ra tổn thất vì nhiều nguyên nhân khách quan lẫn chủ quan tác động làm khách hàng mất khả năng trả nợ hoặc không trả nợ cho ngân hàng, đồng tiền ngân hàng chuyển giao quyền sở hữu tạm thời cho khách hàng không được thu hồi mà ngân hàng vẫn phải trả gốc và lãi đúng hạn cho người gửi tiền dẫn đến rủi ro cho vay.
Vì khả năng hoàn trả tiền vay của khách hàng phụ thuộc vào nhiều yếu tố, có những yếu tố bất ngờ không thể dự đoán chính xác được. Mặt khác, việc phân tích rủi ro trong cho vay còn phụ thuộc vào khả năng hay các yếu tố chủ quan của cán bộ ngân hàng. Vì vậy, có thể nói rằng rủi ro trong cho vay là không thể tránh khỏi và tồn tại khách quan gắn liền với hoạt động kinh doanh của ngân hàng, rủi ro chỉ có thể đề phòng, hạn chế chứ không thể loại trừ. Ngân hàng cần thận trọng hơn trong các khâu thẩm định và có các biện pháp quản trị rủi ro hợp lý để giảm tối thiểu tổn thất cho mình khi cho vay nhất là với những khoản vay trung và dài hạn.
1.2.2. Phân loại rủi ro trong cho vay
Căn cứ vào nguyên nhân phát sinh rủi ro, rủi ro trong cho vay được phân chia thành rủi ro danh mục và rủi ro giao dịch. Trong đó:
Rủi ro danh mục: là rủi ro phát sinh từ những hạn chế trong quản lý danh mục cho vay của ngân hàng, được phân chia thành 2 loại là rủi ro nội tại và rủi ro tập trung.
Rủi ro giao dịch: là rủi ro phát sinh do những hạn chế trong quá trình giao dịch và xét duyệt cho vay, đánh giá khách hàng. Rủi ro giao dịch gồm rủi ro lựa chọn, rủi ro bảo đảm và rủi ro nghiệp vụ.
1.2.3. Đặc điểm của rủi ro trong cho vay
Tính tất yếu của rủi ro trong cho vay: Rủi ro luôn tồn tại và gắn liền với hoạt động cho vay của Ngân hàng thương mại. Tình trạng thông tin bất cân xứng đã làm cho ngân hàng không thể nắm bắt được các dấu hiệu rủi ro một cách toàn diện và đầy đủ, điều này làm cho bất cứ khoản vay nào cũng tiềm ẩn rủi ro đối với ngân hàng. Kinh doanh ngân hàng là kinh doanh rủi ro ở mức phù hợp và nhận về lợi nhuận tương ứng. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Có những trường hợp ngân hàng không thể tiên liệu trước được rủi ro trong quá trình cho khách hàng vay hoặc rủi ro phát sinh trong quá trình thực hiện hợp đồng cho vay.
Rủi ro cho vay mang tính liên đới: Trong cho vay, ngân hàng chuyển giao quyền sử dụng vốn cho doanh nghiệp. Khi các doanh nghiệp này gặp những tổn thất và thất bại trong quá trình sử dụng vốn dẫn đến mất khả năng hoàn trả vốn gốc và lãi, làm ngân hàng gặp rủi ro khi cho vay.
Thiệt hại do rủi ro của mỗi khoản cho vay dù ít hay nhiều cũng đều có ảnh hưởng không tốt đến uy tín và hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Tuy nhiên DNV&N với quy mô nhỏ và vừa, các khoản vay ngân hàng của doanh nghiệp là không lớn vì vậy mức độ tổn thất và ảnh hưởng đến ngân hàng khi xuất hiện rủi ro vẫn có thể kiểm soát được. Khi xảy ra rủi ro, việc thanh lý các tài sản đảm bảo, sử dụng các khoản dự phòng rủi ro,…có thể giúp ngân hàng khắc phục hậu quả do rủi ro gây ra.
Rủi ro cho vay DNV&N có tính chất đa dạng và phức tạp: điều này biểu hiện ở sự đa dạng, phức tạp trong hoạt động của DNV&N khi mà các doanh nghiệp này hoạt động ở hầu hết các lĩnh vực, thành phần kinh tế. Do đó, khi phòng ngừa và khắc phục rủi ro cho vay phải chú ý đến mọi dấu hiệu, xuất phát từ nguyên nhân bản chất và hậu quả rủi ro cho vay mang tới để có biện pháp phòng ngừa phù hợp.
1.2.4. Nguyên nhân gây ra rủi ro cho vay Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
- Nguyên nhân thuộc về ngân hàng
Trong quá trình cho vay, cán bộ ngân hàng làm sai quy tắc cho vay, hoặc trình độ yếu kém không đủ khả năng thẩm định những dự án phức tạp, chưa bắt kịp với những thay đổi của thị trường,… đã tạo ra khe hở cho khách hàng chiếm đoạt vốn của ngân hàng. Bên cạnh đó là yếu tố cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường. Các ngân hàng đã quên nhiệm vụ đảm bảo an toàn mà chạy theo chính sách lợi nhuận. Bỏ qua các quy tắc phòng ngừa rủi ro, làm sai lệch các nguyên tắc trong cho vay, trong thẩm định dự án. Đây là chính sách mạo hiểm trong kinh doanh nó sẽ mang lại tổn thất lớn nếu xảy ra rủi ro trong hoạt động kinh doanh.
Công tác đào tạo cán bộ ngân hàng chưa đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu nhiệm vụ kinh doanh trong thời kỳ mới, trình độ cán bộ tín dụng còn hạn chế cả nghiệp vụ và hiểu biết trong việc nắm bắt những thay đổi của thị trường đã khiến cho rủi ro cho vay có điều kiện phát sinh và trở thành mối đe dọa đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng.
Ngân hàng không thực hiện hoặc thực hiện không tốt các trong khâu xét duyệt hồ sơ xin vay. Người vay không đáp ứng đủ các điều kiện về tài sản thế chấp, cầm cố, bảo lãnh nhưng Ngân hàng thương mại vẫn cho vay. Bên cạnh đó có một số cán bộ tín dụng biến chất đã thông đồng với khách hàng nâng giá trị tài sản nhằm nhằm mục đích vay được nhiều tiền.
- Nguyên nhân từ phía khách hàng
Nguyên nhân dẫn tới rủi ro cho vay của Ngân hàng thương mại từ phía khách hàng có thể chia làm hai trường hợp sau: nguyên nhân do chủ quan của người vay và nguyên nhân do khách quan mang lại.
Trong hoạt động ngân hàng, rủi ro vẫn luôn là điều không thể tránh khỏi vì nguồn thu chủ yếu của các ngân hàng là từ các doanh nghiệp thông qua hoạt động tín dụng trong đó hoạt động cho vay chiếm phần lớn. Chính vì vậy hoạt động của doanh nghiệp đi vay có ảnh hưởng rất lớn tới hoạt động của ngân hàng và rủi ro trong kinh doanh của doanh nghiệp đi vay cũng ảnh hưởng trực tiếp tới rủi ro cho vay của ngân hàng. Rủi ro của doanh nghiệp xảy ra như: doanh nghiệp bị rủi ro khách quan như thiên tai, hoả hoạn, động đất… Đây là trường hợp bất khả kháng khó mà lường trước được. Hoặc bản thân doanh nghiệp bị lừa đảo hay bị ảnh hưởng từ phía khách hàng của doanh nghiệp.
Ngoài các trường hợp nêu trên còn có rủi ro xuất phát từ chính sự yếu kém của bản thân doanh nghiệp. Sự cạnh tranh khắc nghiệt của thị trường luôn đặt doanh nghiệp trong tình trạng phải có sự nỗ lực cao độ vì bất kì một sự sai sót nào trong phương thức quản lý kinh tế cũng như quản lý tài chính đều dẫn đến thua lỗ, phá sản doanh nghiệp ảnh hưởng đến khả năng trả nợ của doanh nghiệp.
- Nguyên nhân từ môi trường kinh doanh Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Môi trường kinh tế tác động mạnh mẽ đến lĩnh vực kinh doanh của ngân hàng cũng như của doanh nghiệp trong nền kinh tế. Khi nền kinh tế đang tăng trưởng ổn định thì các doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả và có nhiều khả năng trả nợ được cho ngân hàng. Ngược lại khi nền kinh tế rơi vào suy thoái, mất ổn định đã làm cho các doanh nghiệp gặp nhiều khó khăn trong hoạt động sản xuất, kinh doanh bị đình trệ, sức mua bị giảm sút, hàng hoá bị ứ đọng điều này ảnh hưởng tới các khoản nợ của các ngân hàng.
Môi trường chính trị, xã hội ổn định sẽ tạo điều kiện cho các nhà đầu tư phát triển. Đây cũng là điều kiện để thu hút đầu tư của các doanh nghiệp. Ngược lại nếu môi trường chính trị, xã hội không ổn định thì các doanh nghiệp không thể yên tâm mà phát triển và rủi ro có thể ập tới bất kì lúc nào đối với doanh nghiệp cũng như ngân hàng.
Nếu như một đất nước xây dựng được một hành lang pháp lý thông thoáng và có hiệu lực sẽ thu hút được đông đảo các nhà đầu tư vào đầu tư phát triển đây là điều tất yếu của nền kinh tế thị trường. Và ngược lại nếu hành lang pháp lý lỏng lẻo tạo ra nhiều khe hở, gây nên tình trạng lừa đảo và gây thiệt hại lẫn nhau từ đó ảnh hưởng tới khả năng thanh toán cho ngân hàng, thậm chí trực tiếp lừa đảo chiếm dụng vốn của ngân hàng.
Như vậy trong nền kinh tế thị trường, do những biến động của thị trường hay những nguyên nhân khác nhau của nền kinh tế đã tác động tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp và chính bản thân ngân hàng. Từ đó nảy sinh các biến cố trong cho vay làm cho các quan hệ cho vay vận động theo những chiều hướng xấu, không có lợi cho hoạt động kinh doanh của các Ngân hàng thương mại dẫn đến rủi ro cho vay là điều không thể tránh khỏi. Vì vậy cần phải phòng tránh rủi ro. Loại bỏ rủi ro là không thể nhưng phòng ngừa và hạn chế nó thì các nhà kinh doanh Ngân hàng hoàn toàn có thể làm được. Việc phòng ngừa và hạn chế rủi ro giúp cho Ngân hàng thương mại bảo toàn được vốn, tăng nguồn vốn, mở rộng kinh doanh và tăng thu nhập, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng có hiệu quả sẽ nâng cao được uy tín của Ngân hàng đối với khách hàng, nhờ đó Ngân hàng có thể mở rộng kinh doanh và phát huy được vai trò của mình đối với sự phát triển của nền kinh tế.
1.3. Quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại Ngân hàng thương mại Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
1.3.1. Khái niệm quản trị rủi ro trong cho vay
Bất cứ hoạt động kinh doanh nào khi xảy ra rủi ro đều kéo theo những ảnh hưởng khó lường và hậu quả cũng không dễ dàng khắc phục. Với rủi ro trong hoạt động cho vay cũng vậy. Nền kinh tế thị trường nếu không chấp nhận rủi ro thì không thể tạo ra các cơ hội đầu tư và kinh doanh mới. Do đó, quản trị rủi ro là một nhu cầu tất yếu đặt ra trong quá trình tồn tại và phát triển của Ngân hàng thương mại.
Quản trị rủi ro trong cho vay là hoạt động trong đó những biện pháp, phương pháp quản trị có mối quan hệ lẫn nhau được thực hiện nhằm đảm bảo rủi ro trong phạm vi ngân hàng có thể chấp nhận được. Quản trị rủi ro trong cho vay là quá trình xây dựng và thực thi các chính sách và biện pháp quản lý vốn vay nhằm đạt mục tiêu an toàn, hiệu quả và phát triển bền vững với các hoạt động cơ bản: Nhận diện, đo lường và kiểm soát rủi ro. Kết quả của khâu trước sẽ là tiền đề cho việc thực hiện các khâu sau.
1.3.2. Vai trò của quản trị rủi ro trong cho vay
- Đối với nền kinh tế
Rủi ro cho vay xảy ra đồng nghĩa với khoản đầu tư của người vay tiền không có hiệu quả tức là không có lợi ích đầu tư của người vay tiền đối với ngân hàng và xã hội. Hoạt động ngân hàng là một lĩnh vực hết sức nhạy cảm và có tính xã hội hóa cao, có nhiều mối quan hệ phức tạp với nhiều chủ thể. Khi một ngân hàng bị thua lỗ, phá sản sẽ gây tâm lý hoang mang lan rộng gây ảnh hưởng xấu tới hoạt động ngân hàng, trường hợp xấu nhất có thể gây đổ vỡ hàng loạt của các ngân hàng. Điều này cũng làm cho nguồn cung vốn của các tổ chức kinh tế, cá nhân bị giảm sút, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bị hạn chế, về lâu về dài sẽ làm cho hàng hóa trở nên khan hiếm,…gây những biến động xấu cho nền kinh tế. Bên cạnh đó, các doanh nghiệp làm ăn không hiệu quả đồng nghĩa với việc họ có thể cắt giảm nhân công và hạn chế tuyển thêm lao động, gây nên tình trạng thất nghiệp cho một bộ phận không nhỏ người lao động trong xã hội. Quản trị rủi ro cho vay góp phần làm giảm thiểu đến mức thấp nhất rủi ro kinh doanh của ngân hàng cũng như bình ổn nền kinh tế.
- Đối với ngân hàng cho vay Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Rủi ro cho vay xảy ra sẽ dẫn đến phát sinh các khoản nợ khó thu hồi, gây ảnh hưởng làm ứ đọng vốn dẫn đến làm giảm vòng quay vốn ngân hàng. Từ việc tăng lãi suất của các khoản nợ quá hạn sẽ làm cho những khoản chi phí quản lý, giám sát lớn hơn thu nhập. Mặt khác ngân hàng vẫn phải trả lãi cho khoản tiền huy động được…tất cả làm cho lợi nhuận của ngân hàng giảm sút.
Các khoản vay không được thanh toán đầy đủ, đúng hạn dẫn đến sự không cân đối giữa hai dòng tiền vào và ra trên bảng cân đối kế toán của ngân hàng. Trong khi các khoản tiền gửi của khách hàng vẫn phải thanh toán đúng hạn thì các khoản tiền vay của khách hàng lại không được hoàn trả đúng thời hạn. Nếu tình trạng khó khăn thanh khoản của ngân hàng cứ tiếp diễn và bị tiết lộ ra công chúng sẽ kéo theo uy tín của ngân hàng sẽ bị giảm sút trên thị trường. Khi đã bị mất niềm tin thì ngân hàng khó có thể lấy lại hình ảnh ban đầu của mình. Ngân hàng hoạt động dựa trên lợi thế kinh tế về quy mô nên đến một thời điểm nào đó khi không quản lý tốt được rủi ro cho vay, ngân hàng có thể bị phá sản. Do vậy, mở rộng năng lực quản trị rủi ro cho vay là tiền đề cho việc tăng lợi nhuận cho ngân hàng.
- Đối với doanh nghiệp đi vay
Lãi vay ngân hàng được hạch toán vào chi phí sản xuất của doanh nghiệp, khi phát sinh nợ quá hạn sẽ dẫn tới chi phí của doanh nghiệp tăng lên, gia tăng nguy cơ không trả được nợ cho ngân hàng, dẫn tới việc doanh nghiệp buộc phải phát mại tài sản thế chấp và có thể bị phá sản. Ngân hàng không thu được nợ của khách hàng là biểu hiện hoạt động kinh doanh của khách hàng gặp khó khăn, khách hàng muốn vay ngân hàng những lần sau đó sẽ gặp khó khăn. Đồng thời bạn hàng của khách hàng cũng do dự khi thiết lập quan hệ với họ, các chủ nợ cũng dồn dập tới đòi nợ khách hàng và uy tín của doanh nghiệp trên thị trường bị giảm sút.
Tóm lại, quản trị rủi ro cho vay giúp ngân hàng vững vàng trong xử lý mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng và lợi nhuận, qua đó tránh được thiệt hại và đem lại lợi ích cho bản thân và mọi đối tượng khác có liên quan đến hoạt động cho vay. Quản trị rủi ro tốt sẽ làm giảm tổn thất cho bản thân ngân hàng và nền kinh tế, lành mạnh hóa hệ thống tài chính, tăng cường cạnh tranh, giúp tăng trưởng kinh tế.
1.3.3. Quy trình quản trị rủi ro cho vay Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
- Sơ đồ 1.1. Quy trình quản trị rủi ro cho vay
Theo sơ đồ 1.1, quy trình quản trị rủi ro cho vay bao gồm 4 bước: Nhận diện rủi ro, đo lường rủi ro, kiểm soát rủi ro, tài trợ rủi ro.
- Nhận diện rủi ro
Nhận dạng rủi ro là quá trình xác định liên tục, có hệ thống nhằm theo dõi, xem xét, nghiên cứu môi trường hoạt động và quy trình cho vay để thống kê các dạng RRTD, xác định nguyên nhân gây ra rủi ro trong từng thời kỳ và dự báo được những nguyên nhân tiềm ẩn có thể gây ra RRTD. Để nhận dạng rủi ro, nhà quản trị phải lập được bảng liệt kê tất cả các dạng rủi ro đã, đang và sẽ có thể xuất hiện bằng các phương pháp: lập bảng câu hỏi nghiên cứu, tiến hành điều tra, phân tích các hồ sơ cho vay, đặc biệt quan tâm điều tra các hồ sơ đã có vấn đề, phương pháp nhận biết các dấu hiệu cảnh báo khoản cho vay có vấn đề.
Ngân hàng có thể nhận biết các khoản vay có vấn đề qua khả năng thanh toán, hiệu quản hoạt động, các chỉ số về khả năng sinh lời, việc chậm thanh toán nợ gốc và lãi, dư tiền gửi giảm sút hay trong phương pháp quản lý của ngân hàng …Từ đó nhà quản trị ngân hàng sẽ có cái nhìn tổng quát và rõ nét về tình hình hoạt động của ngân hàng ở hiện tại và tương lai; những rủi ro cho vay có thể gặp phải để có chính sách phù hợp nhằm hạn chế rủi ro cho vay có thể xảy ra cho ngân hàng.
- Đo lường mức độ rủi ro trong cho vay thông qua một số chỉ tiêu tài chính
Đo lường rủi ro cho vay là một yêu cầu tất yếu để có thể xác định các mức độ rủi ro của các gói cho vay, đảm bảo an toàn cho hoạt động của ngân hàng và đem lại lợi nhuận cao. Để đo lường rủi ro cho vay, các Ngân hàng thương mại thường sử dụng các phương pháp phân tích định tính và định lượng như phân tích 6C, sử dụng các chỉ tiêu đo lường rủi ro cho vay, các mô hình xếp hạng tín nhiệm…
- Phân tích định tính bằng phân tích 6C
Ngân hàng phân tích 6C để xét xem liệu người vay có thiện chí và khả năng thanh toán các khoản vay khi đến hạn hay không. 6C là viết tắt của 6 yếu tố cần phân tích sau: Character (Tư cách người đi vay), Capaciy (Năng lực hoạt động), Cash (Thu nhập), Collateral (Bảo đảm tiền vay), Conditions (Các điều kiện vay), Control (Kiểm soát)
Việc sử dụng mô hình này tương đối đơn giản, song hạn chế của nó là nó phụ thuộc vào mức độ chính xác của nguồn thông tin thu thập, khả năng dự báo cũng như trình độ phân tích, đánh giá của cán bộ tín dụng.
- Phân tích định lượng Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Rủi ro trong cho vay đối với DNV&N được tập trung thể hiện khá rõ qua rủi ro trong giao dịch, phản ánh qua các chỉ tiêu sau:
a. Các chỉ tiêu rủi ro cho vay cơ bản
- Tình hình nợ quá hạn DNV&N
Theo Quyết định số 18/2019/QĐ-NHNN của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ban hành về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của Quy định về phần loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng ban hành kèm theo Quyết định 493/2017/QĐ-NHNN ngày 22 tháng 04 năm 2017, nợ quá hạn là khoản nợ mà một phần hoặc toàn bộ nợ gốc hoặc lãi đã quá hạn.
Để đảm bảo quản lý chặt chẽ, các khoản nợ quá hạn trong hệ thống Ngân hàng thương mại Việt Nam được phân loại thành 4 nhóm (Đối chiếu theo Quyết định 493/2017/QĐ – Ngân hàng Nhà nước về phân loại, trích lập và sử dụng dự phòng để xử lý rủi ro tín dụng trong hoạt động ngân hàng của Tổ chức tín dụng và Quyết định 18/2019/QĐ – Ngân hàng Nhà nước).
Tỷ lệ này gián tiếp cho thấy quy mô của các khoản vay có vấn đề của ngân hàng. Nếu tỷ lệ này lớn, chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là kém, ngân hàng phải xem xét lại khả năng đánh giá lại các khoản cho vay của mình, đánh giá lại quy trình thủ tục cho vay, đặc biệt xem xét khả năng thực hiện nhiệm vụ của cán bộ tín dụng.
- Tình hình nợ xấu DNV&N
Cũng theo Quyết định 493/2017/QĐ – Ngân hàng Nhà nước và Quyết định số 18/2019/QĐ – Ngân hàng Nhà nước, nợ xấu được định nghĩa như sau: “Nợ xấu là các khoản nợ thuộc các nhóm 3 (nợ dưới tiêu chuẩn), nợ nhóm 4 (nợ nghi ngờ) và nợ nhóm 5 (nợ có khả năng mất vốn)”.
Tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ phản ánh tỷ trọng của nợ xấu trong tổng dư nợ của ngân hàng. Tỷ lệ này càng cao càng phản ánh những rủi ro trong cho vay của ngân hàng lớn.Tỷ lệ này cao so với trung bình ngành và có xu hướng tăng lên là dấu hiệu cho thấy ngân hàng đang gặp khó khăn trong việc quản lý chất lượng các khoản cho vay. Ngược lại, tỷ lệ này thấp so với các năm trước cho thấy chất lượng các khoản tín dụng được cải thiện. Theo Quyết định 493/2017/QĐ – Ngân hàng Nhà nước, tỷ lệ nợ xấu không được vượt quá 2%. Có nhiều biện pháp để giải quyết nợ xấu, tùy vào tình hình thực tế của doanh nghiệp mà ngân hàng có thể đưa ra những biện pháp khác nhau từ gia hạn nợ đến phát mại tài sản đảm bảo.
- Hiệu quả sử dụng vốn Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Chỉ tiêu này phản ánh ngân hàng cho vay đối với DNV&N được bao nhiêu so với tổng nguồn vốn huy động. Từ đó có thể đánh giá được hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng. Nếu chỉ tiêu này nhỏ hơn 1 chứng tỏ ngân hàng chưa sử dụng hiệu quả nguồn vốn huy động và vẫn còn lãng phí. Còn nếu con số này lớn hơn 1 thể hiện ngân hàng đã tranh thủ được vốn huy động. Hệ số này cho thấy tỷ trọng của các khoản mục tín dụng trong tổng vốn huy động lớn thì lợi nhuận sẽ lớn nhưng đồng thời rủi ro cũng rất cao.
- Tỷ lệ nợ mất trắng
Tỷ lệ này phản ánh tổn thất trong hoạt động cho vay của ngân hàng. Tỷ lệ này càng lớn thì mức độ rủi ro càng cao, ngân hàng có nguy cơ mất một phần hoặc toàn bộ nợ không thu hồi đươc.
- Tỷ lệ trích lập dự phòng rủi ro cho vay DNV&N
Tỷ lệ này cho biết Dự phòng rủi ro trong cho vay DNV&N được trích so với Dư nợ cho vay DNV&N. Tỷ lệ này càng cao chứng tỏ chất lượng cho vay đối với DNNVV chưa tốt, vẫn phải trích lập dự phòng nhiều. Tỷ lệ này thấp chứng tỏ ngân hàng đang hoạt động cho vay có hiệu quả, khả năng chi trả cho món nợ với ngân hàng của DNV&N được cải thiện, dự phòng được trích lập thấp đảm bảo cho hoạt động kinh doanh lành mạnh của ngân hàng.
- Khả năng bù đắp rủi ro
Sự tồn tại và phát triển của ngân hàng phụ thuộc vào khả năng bù đắp rủi ro chung và rủi ro trong cho vay DNNVV nói riêng.
Nếu hệ số này <1 cho biết ngân hàng không đủ khả năng bù đắp rủi ro.
Nếu hệ số này =1, ngân hàng đủ khả năng bù đắp rủi ro trong cho vay DNNVV Nếu hệ số này >1, tức là số trích lập Dự phòng rủi ro lớn hơn số Dư nợ cho vay DNNVV đã được xử lý rủi ro.
b. Mô hình đánh giá
- Mô hình xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Xếp hạng tín nhiệm doanh nghiệp là đánh giá năng lực tài chính, tình hình hoạt động hiện tại và triển vọng phát triển trong tương lai của doanh nghiệp được xếp hạng từ đó xác định được mức độ rủi ro không trả được nợ và khả năng trả nợ trong tương lai.
Bảng 1.2 Bảng xếp hạng tín nhiệm của các Ngân hàng thương mại
- Các biện pháp kiểm soát và xử lý rủi ro trong cho vay
Kiểm soát rủi ro là sử dụng các biện pháp, các kỹ thuật, các công cụ, chiến lược, các chương trình hoạt động để ngăn ngừa, né tránh hoặc giảm thiểu những tổn thất, những ảnh hưởng không mong đợi có thể xảy ra đối với ngân hàng.
Kiểm soát rủi ro bằng việc né tránh rủi ro là giải pháp đơn giản, khá triệt để, chi phí thấp, ngân hàng không phải chịu những tổn thất tiềm ẩn mà rủi ro có thể gây ra. Để né tránh rủi ro một cách hiệu quả nhất thì việc các ngân hàng thẩm định kỹ các khoản cho vay để đánh giá được mức độ tin cậy của dự án đầu tư mà khách hàng đã lập và nộp cho ngân hàng khi làm thủ tục vay vốn, nhờ đó có thể đánh giá được mức độ rủi ro của dự án khi cho vay.
Ngăn ngừa tổn thất là một cách để kiểm soát rủi ro nhằm hạn chế được một phần tổn thất khi rủi ro xảy ra. Thẩm định các khoản cho vay cũng là một biện pháp khá hữu hiệu trong việc ngăn ngừa, giảm thiểu rủi ro. Bên cạnh đó, làm tốt công tác kiểm tra, kiểm soát nội bộ cũng góp một phần khá lớn trong việc giảm thiểu rủi ro.
Chuyển nhượng rủi ro là cách nhằm hạn chế rủi ro cho ngân hàng. Trong đó bảo hiểm là biện pháp khá phổ biến hiện nay để tài trợ rủi ro trong cho vay tại các Ngân hàng thương mại.
Ngoài ra, ngân hàng còn có cách tự khắc phục khi có rủi ro. Với biện pháp này, các Ngân hàng thương mại tự chấp nhận, tự khắc phục những tổn thất mà rủi ro gây ra bằng cách lập quỹ dự phòng rủi ro nhằm mục đích bù đắp, giải quyết hậu quả khi rủi ro cho vay xảy ra. Tuy nhiên, không phải ngân hàng nào cũng có đủ dự trữ về tài chính để bù đắp những rủi ro với tổn thất khổng lồ vì vậy, Ngân hàng thương mại cần vận dụng linh hoạt các biện pháp nhằm hạn chế và phòng tránh rủi ro.
Đa dạng hóa danh mục cho vay là biện pháp tốt nhất, chủ động nhất trong việc phân tán rủi ro cho vay. Điều này vừa mở rộng được phạm vi hoạt động cho vay của ngân hàng, khuếch trương thanh thế, vừa đạt được mục đích phân tán rủi ro, tạo lập một tỷ lệ thích hợp giữa cho vay bằng VNĐ và cho vay bằng ngoại tệ đảm bảo đáp ứng được nhu cầu vay vốn của khách hàng tránh được rủi ro tín dụng do sự thay đổi tỷ giá hối đoái.
1.3.4. Sự cần thiết phải thực hiện công tác quản trị rủi ro trong cho vay Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Rủi ro cho vay làm giảm khả năng thanh toán của ngân hàng, gây khó khăn trong việc hoàn trả tiền gửi của ngân hàng. Rủi ro cho vay có thể làm cho kinh tế suy thoái, giá cả tăng cao, lạm phát, thất nghiệp, thậm chí là phát sinh tệ nạn xã hội. Nếu tình trạng này kéo dài và không khắc phục được, ngân hàng sẽ bị phá sản, gây hậu quả nghiêm trọng cho hệ thống ngân hàng nói riêng và nền kinh tế nói chung. Với những ảnh hưởng nghiêm trọng của rủi ro trong cho vay như vậy, các nhà quản trị ngân hàng nhận ra sự cần thiết phải xây dựng công tác quản trị rủi ro là đúng đắn.
- Quản trị rủi ro trong cho vay đảm bảo sự tồn tại và phát triển bền vững của Ngân hàng thương mại
Hoạt động cho vay là chức năng chính của Ngân hàng thương mại với việc trao quyền sử dụng vốn cho người vay và người vay cam kết sẽ hoàn trả đủ gốc và lãi sau một thời gian nhất định. Như vậy, bản thân khi khoản tiền vay xuất ra khỏi ngân hàng đã tiềm ẩn rủi ro không có khả năng thu hồi, một khi kinh doanh của khách hàng vay vốn gặp rủi ro thì ngay lập tức khoản vốn cho vay của Ngân hàng thương mại cũng bị ảnh hưởng. Hoạt động cho vay vẫn là hoạt động chính của ngân hàng và mang lại thu nhập chính cho sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, nhưng đi liền bên cạnh là rủi ro cho vay cũng mang lại hậu quả thiệt hại thu nhập, thậm chí làm cho ngân hàng bị phá sản, và ở mức cao có thể gây khủng hoảng cả hệ thống tài chính ngân hàng. Để chấp nhận một mức rủi ro và đạt được lợi nhuận tối đa Ngân hàng thương mại cần phải tổ chức quản trị tốt rủi ro cho vay.
- Mức độ rủi ro trong hoạt động cho vay ngày càng gia tăng
Tính cấp thiết của quản trị rủi ro cho vay không chỉ xuất phát từ tính chất phức tạp và nguy cơ rất lớn của rủi ro cho vay mà còn do xu hướng kinh doanh của ngân hàng ngày nay càng trở nên rủi ro hơn. Một số nguyên nhân chủ yếu làm cho rủi ro trong hoạt động kinh doanh ngân hàng ngày càng gia tăng:
Thứ nhất, do quá trình tự do hóa, nới lỏng qui định trong hoạt động ngân hàng trên phạm vi toàn thế giới. Trong những thập kỷ gần đây, xu hướng toàn cầu hoá, tự do hoá kinh tế, đề cao cạnh tranh đã trở thành phổ biến. Khi gia tăng cạnh tranh cũng đồng nghĩa với rủi ro và phá sản gia tăng. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
Thứ hai, hoạt động kinh doanh của ngân hàng ngày càng theo xu hướng đa năng phức tạp, với công nghệ ngày càng phát triển, cùng với xu hướng hội nhập cạnh tranh gay gắt vừa tăng thêm mức độ rủi ro và nguy cơ rủi ro mới. Các sản phẩm cho vay dựa trên cơ sở của sự phát triển công nghệ như thẻ tín dụng, cho vay cá thể…luôn chứa dựng rủi ro mới. Với sự đa dạng phức tạp của sản phẩm cho vay cũng như rủi ro cho vay càng đòi hỏi quản trị rủi ro cho vay phải được chú trọng nâng cấp tương xứng.
Thứ ba, đối với các nước đang phát triển, nhất là các nước đang trong quá trình chuyển đổi như Việt Nam, thì môi trường kinh tế không ổn định, hệ thống pháp luật đang xây dựng, mức độ minh bạch của thông tin thấp, thì hoạt động ngân hàng càng trở nên rủi ro hơn, vì vậy việc bắt tay ngay từ đầu thực hiện tốt công tác quản trị rủi ro cho vay là một công việc tối quan trọng.
- KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Chương 1 của khóa luận đã khái quát cho chúng ta những vấn đề lý luận cơ bản về công tác quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ tại ngân hàng thương mại. Khái niệm hoạt động cho vay, rủi ro đối với hoạt động cho vay và vai trò quản trị rủi ro trong cho vay đối với doanh nghiệp vừa và nhỏ… Qua đó, chương 1 cũng cho thấy rủi ro trong cho vay luôn tiềm ẩn và tác động ngoài mong đợi đến các Ngân hàng thương mại nhưng lại không thể tách rời với các hoạt động kinh doanh của ngân hàng, Ngân hàng không thể loại bỏ mà chỉ có thể đối mặt với nó để có thể tìm cách quản trị tốt những rủi ro này. Các nội dung trình bày trong chương 1 sẽ là cơ sở để đưa ra cách thức nghiên cứu thực trạng rủi ro cho vay và các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác quản trị rủi ro cho vay sẽ được trình bày ở chương tiếp theo. Khóa luận: Quản trị rủi ro trong cho vay đối với DN tại Agribank.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank


Pingback: Khóa luận: Giải pháp rủi ro cho vay đối với với DN tại Agribank