Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014 cho các bạn.
MỞ ĐẦU
1. Tính cấp thiết của đề tài
Sự xuất hiện của Công ty cổ phần (CTCP) trong đời sống xã hội là một dấu mốc khẳng định cho sự phát triển của một loại hình doanh nghiệp hiện đại. Thiết kế này đã tạo ra sức sống mạnh mẽ cho công ty trong việc huy động vốn nhàn rỗi từ công chúng và trong việc đẩy mạnh sự phát triển của nền kinh tế xã hội. Ở Việt Nam, từ cuối thập niên 80 đến nay, công cuộc đổi mới, mở rộng thị trường, phát triển nền kinh tế đã được khởi xướng và triển khai một cách nhất quán. Điều này đã mở ra cơ hội, tạo điều kiện cho các cá nhân, tổ chức phát huy khả năng tổ chức kinh doanh, qua đó, các hình thức công ty, mà đặc biệt là Công ty cổ phần được hình thành và ngày càng phổ biến, chứng minh được vai trò tích cực của mình trong nền kinh tế.
Công ty cổ phần là loại hình công ty có khả năng huy động vốn mạnh mẽ trên thị trường thông qua việc phát hành chứng khoán, đặc tính này khiến cho Công ty cổ phần không bị hạn chế về số lượng cổ đông và bất kì người nào cũng có thể mua cổ phiếu để trở thành cổ đông của công ty. Chính sự không hạn chế về vốn đã khiến cho Công ty cổ phần có sức ảnh hưởng không nhỏ đến sự sống còn của nền kinh tế mỗi quốc gia. Để phát huy thế mạnh của mình cũng như giảm thiểu những rủi ro có thể xảy đến gây thiệt hại đến đời sống kinh tế, trước hết trong nội tại Công ty cổ phần phải được tổ chức chặt chẽ và vận hành hiệu quả mà trong đó, vấn đề được quan tâm hàng đầu là cơ chế phân quyền, kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quyền lực trong nội bộ công ty. Bởi lẽ, sự khác biệt mang tính chất bản chất giữa Công ty cổ phần và các loại hình doanh nghiệp khác là sự tách bạch quyền sở hữu và quyền quản lý điều hành, muốn tạo cho cổ đông lòng tin đối với công ty và đảm bảo cho công ty phát triển một cách ổn định vững mạnh thì cần thiết lập một cơ chế vừa đảm bảo cho cổ đông được thực hiện quyền sở hữu công ty, vừa đảm bảo cho cơ quan quản lý điều hành quyền thiết thực để quản lý kinh doanh có hiệu quả. Đó chính là lý do cho sự cần thiết phải xây dựng cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ công ty cổ phần. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Cùng với quá trình đổi mới và hội nhập kinh tế dưới sự chỉ đạo của Đảng và Nhà nước, nhiều đạo luật đã được ban hành nhằm điều chỉnh hoạt động của các chủ thể kinh doanh trên thị trường. Trong quá trình phát triển hoàn thiện, pháp luật Việt Nam đã có những bước tiến đáng kể trong nhận thức và thực tiễn thi hành pháp luật. Trải qua nhiều thời kì sửa đổi, đến năm 2014, Luật doanh nghiệp số 68/2014/QH13 được ban hành và có hiệu lực từ ngày 1 tháng 7 năm 2015, đây là đạo luật duy nhất hiện hành điều chỉnh việc thành lập, tổ chức quản lý, hoạt động tổ chức lại và giải thể của các loại hình doanh nghiệp ở nước ta. Đối với những quy định về Công ty cổ phần, pháp luật đã từng bước tiếp cận và phát triển, giải quyết được nhiều yêu cầu đặt ra trong thực tiễn tổ chức và hoạt động của loại hình công ty này. Tuy nhiên, bên cạnh những bước tiến bộ, những quy định pháp luật trực tiếp liên quan đến cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ công ty vẫn còn bộc lộ nhiều vấn đề cần hoàn thiện. Trong thực tiễn, các vụ tranh chấp nội bộ công ty ngày càng phổ biến hiện nay có nguyên nhân chủ yếu do sự đầu tư chưa đúng mức tới cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ công ty, nhiều hành vi lợi dụng quyền lực để trục lợi làm thiệt hại lợi ích của cổ đông cũng như công ty vẫn xảy ra thường xuyên mà một trong những nguyên nhân từ những bất cập và thiếu sót của pháp luật. Luật Doanh nghiệp 2014 mặc dù có nhiều đổi mới tiến bộ so với Luật Doanh nghiệp 2005 nhưng vẫn còn nhiều vấn đề cần hoàn thiện, nhiều điểm còn bất cập tại Luật Doanh nghiệp 2005 vẫn chưa được giải quyết triệt để, đặc biệt hiện nay vẫn chưa có những văn bản hướng dẫn chi tiết liên quan đến các vấn đề này.
Xuất phát từ những đòi hỏi của lý luận và thực tiễn, nhận thấy được tầm quan trọng của cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Công ty cổ phần tại Việt Nam, với mong muốn đóng góp những hiểu biết và ý kiến vào quá trình xây dựng và phát triển pháp luật về Công ty cổ phần, người viết đã lựa chọn đề tài “Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần theo Luật Doanh nghiệp 2014” làm đề tài khoá luận tốt nghiệp.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
2. Tình hình nghiên cứu của đề tài
Ở Việt Nam, việc nghiên cứu các quy định của pháp luật liên quan đến cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần cũng được nhiều nhà nghiên cứu quan tâm, được đề cập ở một số luận án, luận văn, tạp chí, sách, báo, bài viết nghiên cứu, v.v và chủ yếu được nhắc đến dưới góc nhìn quản trị công ty cổ phần. Có thể kể đến như:
Luận án Tiến sĩ Luật học “Nghiên cứu so sánh quản lý công ty cổ phần theo pháp luật CHXHCNVN và Pháp luật cộng hoà Nhân dân Trung Hoa” của Ngô Viễn Phú Khoa Luật – ĐHQGHN (2005). Trong Luận án này, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về quản lý Công ty cổ phần, nêu ra một số mô hình quản lý Công ty cổ phần trên thế giới, phân tích mối quan hệ quyền lực giữa ba cơ quan chủ chốt trong Công ty cổ phần là Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát trong sự so sánh với Pháp luật Trung Quốc, chỉ ra một số thực trạng quản lý Công ty cổ phần ở Việt Nam và Trung Quốc từ đó gợi mở một số phương án giải quyết nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản lý Công ty cổ phần.
Luận án Tiến sĩ Luật học “Tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trần Trí Trung, Học viện Khoa học xã hội (2016). Trong Luận án này, tác giả đã nghiên cứu các vấn đề lý luận về tranh chấp và giải quyết tranh chấp trong nội bộ công ty, đồng thời khảo sát phân tích một số vụ việc thực tế, khái quát thực trạng tranh chấp nội bộ giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty ở nước ta hiện nay và phần nào khẳng định những nguyên nhân phát sinh những tranh chấp này xuất phát từ cơ chế quản lý lỏng lẻo, tuỳ tiện hoặc thiếu cơ chế kiểm soát nhằm đảm bảo tính hiệu quả, hiệu lực của hoạt động nội bộ công ty. Thông qua đó, tác giả đề xuất các giải pháp hoàn thiện pháp luật hiện hành về tranh chấp và giải quyết tranh chấp giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty.
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Pháp luật về quản lý nội bộ trong công ty cổ phần ở Việt Nam” của Lưu Tiến Ngọc, Khoa luật – ĐHQGHN (2002). Trong luận văn này, tác giả tập trung nghiên cứu một số vấn đề pháp lý về cơ cấu quản trị nội bộ, vốn, cổ đông theo Luật doanh nghiệp 1999 trên cơ sở so sánh đối chiếu với pháp luật ở một số nước trên thế giới từ đó kiến nghị hoàn thiện pháp luật. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Chế độ pháp lý về quản trị công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp” của Trần Lương Đức, Khoa luật – ĐHQGHN (2006). Luận văn tập trung làm rõ các vấn đề lý luận và thực tiễn của quy định pháp luật về quản trị Công ty cổ phần Việt Nam theo quy định của Luật doanh nghiệp 2005, có sự so sánh giữa LDN 2005 và Luật doanh nghiệp 1999, phân tích điểm mới của Luật doanh nghiệp 2005, nêu ra những bất cập và đề xuất giải pháp hoàn thiện.
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Ban kiểm soát trong quản trị nội bộ công ty cổ phần theo pháp luật Việt Nam hiện nay” của Trần Thành Long, Khoa luật – ĐHQGHN (2012). Luận văn tập trung làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn quy định pháp luật về vị trí, vai trò của Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần, so sánh Ban kiểm soát với các cơ quan tương đương theo pháp luật của một số nước trên thế giới, nêu ra thực trạng áp dụng pháp luật và đề xuất giải pháp hoàn thiện pháp luật về Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần tại Việt Nam.
Luận văn Thạc sỹ Luật học “Hoàn thiện pháp luật Việt Nam về quản trị công ty cổ phần” của Hoàng Thị Mai, Khoa Luật – ĐHQGHN (2015). Luận văn tập trung làm rõ vấn đề lý luận và thực tiễn quy định pháp luật doanh nghiệp Việt Nam về cơ cấu quản trị Công ty cổ phần, so sánh các mô hình quản trị công ty trên thế giới và có phần đề cập đến vấn đề kiểm soát trong nội bộ công ty.
Bài viết “Một số so sánh về công ty cổ phần theo Luật công ty Nhật Bản và Luật doanh nghiệp Việt Nam” của Nguyễn Lan Hương, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Luật học số 25 (2009); bài viết “Về hoạt động giám sát của Ban kiểm soát trong công ty cổ phần” của Nguyễn Lan Hương, Tạp chí khoa học ĐHQGHN, Luật học 27 (2011); bài viết “Vai trò của thành viên hội đồng quản trị độc lập trong các công ty cổ phần” của Mạn Đình, Tạp chí khoa học và đào tạo ngân hàng số 163 (2015); bài viết “Chế độ kiểm soát nội bộ công ty”, Nguyễn Ngọc Bích, Thời báo kinh tế Sài Gòn; bài viết “Vấn đề kiểm soát ban điều hành trong quản trị công ty”, Đoàn Tranh; v.v.
Nhìn tổng thể, các vấn đề được các tác giả nêu ra tại các bài nghiên cứu trên đã ít nhiều đề cập đến vấn đề phân chia và kiểm soát quyền lực trong công ty. Tuy nhiên, các nghiên cứu chỉ mới đề cập ở một vài khía cạnh nhất định, chưa có sự đánh giá cụ thể, mang tính hệ thống, toàn diện đối với các chế định, quy định pháp luật liên quan đến cơ chế kiểm soát quyền lực trong nội bộ Công ty cổ phần. Trong khoá luận này, chúng tôi sẽ tiếp cận một cách có hệ thống, đi sâu vào nghiên cứu các vấn đề lý luận và thực tiễn liên quan đến cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần theo pháp luật doanh nghiệp Việt Nam hiện nay.
3. Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu của đề tài
Mục đích: Mục đích của khoá luận nhằm nghiên cứu, đánh giá các quy định của pháp luật hiện hành và thực tiễn áp dụng pháp luật liên quan đến cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần tại Việt Nam, tìm hiểu và so sánh với các mô hình phân quyền kiểm soát của các nước trên thế giới, thông qua đó đề xuất các giải pháp, cơ chế để có thể khắc phục những hạn chế, phát huy những tiến bộ đã được thực hiện. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Nhiệm vụ: Để thực hiện được các mục đích trên, người viết đã thực hiện một số nhiệm vụ cơ bản sau:
Một là, nghiên cứu lý luận về cơ chế kiểm soát nội bộ Công ty cổ phần thông qua tìm hiểu các mô hình phân quyền kiểm soát điển hình tại một số quốc gia trên thế giới.
Hai là, nghiên cứu một cách có hệ thống các quy định của pháp luật trong nước, có so sánh với nước ngoài liên quan đến cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Ba là, chỉ ra những vấn đề pháp lý còn tồn tại và thực tiễn áp dụng trong hoạt động công ty.
Bốn là, đưa ra các giải pháp pháp lý và giải pháp kinh tế nhằm tháo gỡ khó khăn, tạo nền tảng cho quá trình xây dựng và áp dụng pháp luật về Công ty cổ phần.
4. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
Khoá luận nghiên cứu làm rõ những vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần thông qua việc tìm hiểu các mô hình phân quyền kiểm soát điển hình theo pháp luật tại một số quốc gia trên thế giới và so sánh đối chiếu với pháp luật Việt Nam. Khoá luận tập trung nghiên cứu vấn đề dưới góc độ khoa học pháp lý, các khía cạnh pháp lý của vấn đề này nằm trong khuôn khổ các quy định của Luật doanh nghiệp 2014 và một số văn bản hướng dẫn thi hành, chỉ ra những bất cập còn tồn tại từ đó đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện pháp luật Việt Nam.
5. Phương pháp nghiên cứu
Khoá luận được nghiên cứu dựa trên cơ sở lý luận của Chủ nghĩa Mác – Lênin về Nhà nước và pháp luật, những quan điểm của Đảng và Nhà nước về hoạt động doanh nghiệp nói chung và kiểm soát Công ty cổ phần nói riêng. Khoá luận đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu khác nhau như: phương pháp phân tích và tổng hợp; phương pháp diễn giải, quy nạp; phương pháp luật học so sánh; phương pháp thống kê; v.v. để thực hiện những nhiệm vụ đã đặt ra trong quá trình nghiên cứu, đánh giá và đưa ra kết luận cho một số quan điểm liên quan đến cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần tại Việt Nam hiện nay.
6. Kết cấu của khoá luận
Khoá luận được kết cấu gồm: Phần Mở đầu, ba (03) Chương và phần Kết luận.
- Chương 1: Những vấn đề lý luận về cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần.
- Chương 2: Thực trạng pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần theo Luật doanh nghiệp 2014.
- Chương 3: Đề xuất phương hướng hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần tại Việt Nam.
CHƯƠNG 1. NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ KIỂM SOÁT TRONG NỘI BỘ CÔNG TY CỔ PHẦN
1.1. Khái niệm kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
1.1.1. Khái quát về công ty cổ phần
Dọc theo lịch sử hình thành và phát triển các loại hình công ty trên thế giới [4,tr.31], đi từ thương nhân đơn lẻ đến các hình thức công ty, có thể thấy Công ty cổ phần là một hình thức phát triển cao nhất cho đến nay để huy động được nhiều vốn nhất trong kinh doanh, từ đó làm cho nền kinh tế mỗi quốc gia phát triển. Để đưa ra một định nghĩa hoàn hảo về loại hình công ty này là điều không dễ dàng. Người ta chỉ có thể nhận biết mô hình này dựa trên những đặc điểm nổi bật của nó. Có thể nhận thấy Công ty cổ phần có những đặc điểm sau [6, tr.218]: Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
“Thứ nhất, Công ty cổ phần là loại công ty đối vốn, thuộc chế độ trách nhiệm hữu hạn. Đối với hình thức công ty này, người ta không coi trọng nhân thân của các thành viên công ty mà coi trọng cổ phần. Vì thế người ta xem đây là hình thức công ty đối vốn điển hình. Có những công ty có tới hàng triệu cổ đông ở rải rác khắp nơi trên thế giới mà họ không hề quen biết nhau. Thậm chí họ không quan tâm tới sinh hoạt nội bộ công ty bởi sự chuyển nhượng cổ phần rất dễ dàng, do đó dẫn đến một cơ cấu tách biệt công việc quản trị công ty.
Thứ hai, Công ty cổ phần có cơ cấu tổ chức quản trị chặt chẽ mà trong đó mỗi cơ quan đều có quyền hạn riêng. Cơ cấu này cần được thiết kế nhằm bảo vệ quyền lợi cho các chủ sở hữu công ty và thúc đẩy công ty hoạt động có hiệu quả, đồng thời ngăn cản sự tác động xấu của công ty tới xã hội. Vì những lý do đó, nhà làm luật thường can thiệp sâu vào việc quản trị Công ty cổ phần so với các hình thức công ty khác.
Thứ ba, Công ty cổ phần được phép phát hành chứng khoán để thu hút vốn. Vốn được chia thành các phần nhỏ nhất bằng nhau và được chuyển nhượng một cách tự do, điều này giúp Công ty cổ phần có được lợi thế hơn nhiều so với các hình thức công ty khác về việc huy động vốn dài hạn. Công ty cổ phần có thể phát hành các loại chứng khoán khác nhau để huy động vốn.
Thứ tư, các thành viên hay những người quản trị công ty đều không có tư cách thương nhân. Bản thân công ty mới là thương nhân. Những người có thẩm quyền giao dịch với bên ngoài chỉ là những người đại diện công ty. Thông thường tư cách thương nhân được trao cho thành viên chịu trách nhiệm vô hạn trong một công ty. Nhưng với Công ty cổ phần, các thành viên của nó đều chịu trách nhiệm hữu hạn. Chỉ công ty mới chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của mình.”
Qua các đặc điểm trên, có thể thấy việc chia vốn của công ty thành các cổ phần được tự do chuyển nhượng là “hạt nhân lý luận căn bản” của hình thức công ty này [6, tr.219].
Một trong những đặc điểm của Công ty cổ phần đó là cơ cấu quản trị chặt chẽ mà trong đó mỗi cơ quan có quyền hạn riêng. Bản chất của Công ty cổ phần là công ty đối vốn, mặt khác Công ty cổ phần có thể có rất nhiều cổ đông nên họ không thể “trực trị” như thành viên công ty trách nhiệm hữu hạn. Các thành viên phải họp lại với nhau, tạo nên Đại hội đồng cổ đông, rồi chọn ra một số người thay mình quản lý điều hành, kiểm soát công ty, thực chất là uỷ quyền cho họ thay mặt mình quản trị công ty. Quản trị Công ty cổ phần có thể hiểu theo nghĩa rộng, hẹp khác nhau. Theo nghĩa rộng nhất, nó bao gồm tất cả các mối quan hệ liên quan tới việc ra quyết định của công ty: mối quan hệ giữa cổ đông, các chủ nợ, mối quan hệ với người lao động, người cung cấp nguyên liệu, mối quan hệ với khách hàng, giữa nhà nước với công ty [6, tr.242].
Liên quan đến cấu trúc tổ chức quản trị, kiểm soát nội bộ Công ty cổ phần, trên thế giới hiện nay có nhiều cấu trúc quản trị Công ty cổ phần khác nhau, trong đó nổi bật lên hai mô hình quản trị chủ yếu: Mô hình quản trị đơn cấp (đơn lớp), mô hình quản trị song cấp (song lớp).
Cấu trúc quản trị nội bộ trong Công ty cổ phần theo mô hình đơn cấp gồm có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị. Gọi là mô hình quản trị đơn cấp vì các vấn đề quản lý, giám sát điều hành trong nội bộ công ty chỉ do một bộ phận đảm nhiệm đó là Hội đồng quản trị. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Mọi vấn đề của công ty đều đặt vào tay Hội đồng quản trị theo sự uỷ nhiệm của Đại hội đồng cổ đông. Trách nhiệm chủ yếu của Hội đồng quản trị là bảo vệ sự đầu tư của các cổ đông, báo cáo đến Đại hội đồng cổ đông tiến trình hoạt động và những thành tựu trong hoạt động của công ty [27 (2)]. Hội đồng quản trị chủ yếu thực hiện chức năng giám sát, đề ra quyết sách quản lý; chức năng quản lý điều hành thường nhật được giao cho Ban giám đốc công ty (BĐG). Cấu trúc quản trị nội bộ theo mô hình quản trị đơn cấp có trong luật công ty của hầu hết các nước thuộc hệ thống thông luật (common law) nhu Mỹ, Anh, Australia, New Zealand, Canada v.v. cũng như không ít các nước thuộc dòng họ luật thành văn (civil law).
Khác với mô hình quản trị nội bộ công ty đơn cấp, cấu trúc quản trị nội bộ trong Công ty cổ phần theo mô hình song cấp gồm: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng giám sát (HĐGS) và Hội đồng điều hành. Hoạt động quản lý, giám sát điều hành trong nội bộ công ty cổ phần được phân chia cho hai cơ quan là Hội đồng giám sát (Aufsichtsrat) và Hội đồng điều hành (nói cách khác là Hội đồng quản trị) như một thiết chế hai tầng mà ở đó, Hội đồng giám sát nằm ở tầng trên. Quyền giám sát chuyên trách thuộc về Hội đồng giám sát, HĐGS không thực hiện chức năng quản lý điều hành. Nếu như Công ty cổ phần theo mô hình quản trị đơn cấp thường tập trung vào bảo vệ nhà đầu tư, chủ yếu là cổ đông thì mô hình quản trị song cấp thường hướng vào việc bảo vệ cả người lao động và chủ nợ. Các Công ty cổ phần ở Châu Âu mà điển hình là Đức, Hà Lan thường sử dụng mô hình song cấp trong hoạt động quản trị công ty mình.
Ngoài hai mô hình trên, mô hình quản trị Công ty cổ phần ở Nhật Bản cũng thu hút nhiều sự quan tâm. Mô hình quản trị Công ty cổ phần của Nhật Bản không hoàn toàn là mô hình hội đồng đơn, nhưng cũng không hẳn là mô hình hội đồng kép. Tổ chức nội bộ Công ty cổ phần truyền thống ở Nhật Bản thiết lập ra ba cơ quan chủ chốt: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát (BKS). Ban kiểm soát trong Công ty cổ phần có thể được thiết lập hoặc không bắt buộc. Bên cạnh mô hình có Ban kiểm soát, Nhật Bản đã du nhập mô hình Công ty cổ phần có thiết lập các Uỷ ban thuộc Hội đồng quản trị, trong đó có Uỷ ban giám sát [13, tr.91]. Việc giám sát hoạt động quản lý, điều hành chủ yếu giao cho Ban kiểm soát hoặc Uỷ ban giám sát. Dường như cấu trúc quản trị nội bộ Công ty cổ phần tại Nhật Bản có sự pha trộn giữa hai mô hình quản trị của Đức và Mỹ, điều này được thể hiện trong Bộ luật thương mại Nhật Bản 1993 và gần đây là Đạo luật Công ty 2005 (The company code 2005).
Có thể thấy, việc tìm hiểu về các đặc điểm của Công ty cổ phần và sự đa dạng trong mô hình quản trị nội bộ của nó đã chứng minh rằng Công ty cổ phần là loại hình công ty phức tạp về cơ cấu tổ chức và hoạt động, sự phức tạp này tồn tại bởi do những tính chất vốn có của nó. Tính chất đặc biệt của loại hình công ty này thể hiện ở việc nó không chỉ giới hạn được trách nhiệm của các thành viên góp vốn mà khả năng huy động vốn và chuyển nhượng vốn không bị giới hạn. Là loại công ty đối vốn điển hình, nên Công ty cổ phần có thể có tới hàng triệu cổ đông. Đặc điểm này làm cho Công ty cổ phần trở nên phức tạp, có tầm ảnh hưởng rất lớn tới nền kinh tế hơn các loại hình công ty khác. Do vậy đòi hỏi chức năng của các cơ quan trong nội bộ công ty phải được phân định riêng biệt và có cơ chế kiểm soát chặt chẽ.
1.1.2. Khái niệm kiểm soát nội bộ Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Cùng với sự hiện diện và tham gia của những thiết chế bên ngoài, một trong những nội dung cơ bản để có thể đảm bảo những sự cố khó có cơ hội xảy ra trong doanh nghiệp và tổ chức đó là kiểm soát nội bộ. Chủ sở hữu và những nhà quản lý luôn nỗ lực tìm ra những phương cách để có thể kiểm soát doanh nghiệp của mình. Hoạt động kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm giúp doanh nghiệp đạt được mục tiêu mà chủ sở hữu đã đề ra cũng như tuân thủ tôn chỉ hoạt động của doanh nghiệp, giảm thiểu những yếu tố xảy ra bất ngờ gây tác động xấu tới hoạt động doanh nghiệp, chủ sở hữu công ty.
Khái niệm kiểm soát nội bộ (KSNB) trước đây được hiểu rất khác nhau đối với nhiều người, đặc biệt là các nhà kinh doanh, các nhà nghiên cứu. Dần dần vấn đề kiểm soát nội bộ sau đó ngày càng được quan tâm dựa trên các sự kiện về tài chính và chính trị ở nước Mỹ thời bấy giờ như vụ Watergate (1973) dẫn đến sự ra đời của Luật chống hối lộ nước ngoài (1977); Hiệp hội kế toán viên công chứng Mỹ (AICPA) đã thành lập một Uỷ ban đặc biệt về kiểm soát nội bộ (1979), Uỷ ban chứng khoán Mỹ (SEC) đưa ra quy định bắt buộc các Giám đốc phải đưa báo cáo về hệ thống kiểm soát nội bộ đối với công tác kế toán ở doanh nghiệp (1979); AICPA ban hành hướng dẫn bổ sung về tác động của việc xử lý máy tính bằng Kiểm soát nội bộ. COSO (The Committee of Sponsoring Organizations of the Treadway Commisssion) là một Uỷ ban thuộc Hội đồng quốc gia Hoa Kỳ về chống gian lận khi lập báo cáo tài chính. Theo sau các sự kiện bê bối về tài chính và chính trị nước Mỹ, COSO đã đưa một định nghĩa về Kiểm soát nội bộ trong một báo cáo vào năm 1992, một cách hiểu chung được chấp nhận rộng rãi về khái niệm Kiểm soát nội bộ và cũng nhằm giúp các nhà quản lý doanh nghiệp thực hiện kiểm soát tốt hơn doanh nghiệp của mình. Báo cáo COSO định nghĩa về Kiểm soát nội bộ như sau [26]: “Kiểm soát nội bộ là một quá trình bị chi phối bởi nhà quản lý, giám đốc, và các nhân viên của đơn vị, được thiết kế để cung cấp một sự đảm bảo hợp lý nhằm đạt được các mục tiêu: Mục tiêu về sự hữu hiệu và hiệu quả hoạt động; Mục tiêu về sự tin cậy của báo cáo tài chính; Mục tiêu về sự tuân thủ các luật lệ và quy định”. Trên thực tế, Báo cáo COSO 1992 về vấn đề kiểm soát nội bộ là một tài liệu được chấp nhận khá rộng rãi trên thế giới. Tuy nhiên, báo cáo này không mang tính bắt buộc (như một chuẩn mực) mà chủ yếu mang tính hướng dẫn. Do vậy, dựa trên chỉ dẫn theo báo cáo COSO 1992, khi nhận thức về vấn đề “kiểm soát nội bộ” công ty, cần khẳng định rằng vấn đề này có thể đi theo những hướng tiếp cận khác nhau. Mặt khác, khi nhìn lại khái niệm về quản trị công ty theo quan điểm của OECD [21, tr.12], ta nhận thấy rằng quản trị công ty không chỉ liên quan đến các vấn đề quản lý điều hành hoạt động công ty mà còn liên quan đến các vấn đề kiểm soát công ty. Quản trị nội bộ Công ty cổ phần không chỉ hướng đến định hướng điều hành mà còn hướng đến hoạt động kiểm soát nhằm giúp công ty vận hành có hiệu quả, thực hiện mục tiêu cốt yếu là bảo vệ quyền lợi của cổ đông cùng những người có liên quan.
Với định hướng tiếp cận như vậy, khái niệm Kiểm soát nội bộ trong Công ty cổ phần trong đề tài này được tiếp cận như một khía cạnh của vấn đề quản trị công ty, xem xét Kiểm soát nội bộ trong phạm vi nội bộ công ty. Đi theo hướng tiếp cận trên, khái niệm kiểm soát nội bộ có thể được hiểu theo cả nghĩa rộng và nghĩa hẹp. Theo nghĩa rộng, kiểm soát nội bộ bao gồm tất cả các hoạt động kiểm tra, giám sát nội bộ, biểu hiện dưới mọi hình thức và được thực hiện bởi công ty hoặc chủ thể nhân danh công ty. Theo nghĩa hẹp, Kiểm soát nội bộ là hoạt động gắn liền với quá trình tổ chức phân chia quyền lực bao gồm quyền sở hữu, quản lý, điều hành trong nội bộ công ty, đó là các hoạt động kiểm tra giám sát quá trình thiết lập, phân chia và vận hành quyền lực nội bộ, được xây dựng và tổ chức thực hiện bởi thành viên, chủ sở hữu công ty nhằm đảm bảo cho các chủ thể thực hiện đúng, đủ và mẫn cán quyền hạn nhiệm cụ của mình. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
1.1.3. Sự cần thiết của kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Công ty cổ phần luôn được đặc trưng bởi sự phân tách giữa quyền sở hữu, quyền quản lý điều hành. Do vậy, cấu trúc quản trị nội bộ Công ty cổ phần thường phức tạp và đòi hỏi sự kiểm soát chặt chẽ. Trong công trình nghiên cứu về học thuyết công ty (Theory of the firm), William H. Meckling và Michael C. Jensen đã chỉ ra rằng liên quan đến quan hệ đại diện giữa chủ sở hữu (the principal (s)) và người đại diện (the agent), nếu cả hai bên trong mối quan hệ giữa cổ đông và người quản lý công ty đều muốn tối đa hoá lợi ích của mình, thì có cơ sở để tin rằng người quản lý công ty sẽ không luôn luôn hành động vì lợi ích tốt nhất cho người chủ sở hữu (tức các cổ đông) [25, tr.310]. William và Michael C. Jensen cho rằng, với những phúc lợi ít ỏi mà chủ sở hữu dành cho người đại diện, hay nói cách khác, nếu chi phí cho sự đại diện của họ không được đền đáp một cách thích đáng, thì người quản lý công ty được cho là luôn có xu hướng tư lợi, không đủ siêng năng mẫn cán và có thể tìm kiếm những lợi ích cá nhân cho mình hay người thứ ba chứ không phải cho bản thân công ty hay chủ sở hữu. Những đặc tính tự nhiên trong mối quan hệ đại diện cho thấy sự cần thiết trong việc giám sát hoạt động của những người đại diện, thay mặt chủ sở hữu quản lý công ty. Việc này cần được thực hiện bởi chính những cổ đông bởi điều này liên quan trực tiếp đến lợi ích của họ. Các cổ đông cần có những cơ chế thích hợp để hạn chế sự phân hoá, chênh lệch lợi ích giữa họ và người quản lý công ty bằng việc thiết lập những chế độ đãi ngộ phù hợp, cơ chế giám sát thông tin hiệu quả để hạn chế những hành vi không bình thường và tư lợi của người quản lý công ty.
Một thực trạng khá phổ biến hiện nay là phương pháp quản trị của nhiều Công ty cổ phần còn lỏng lẻo, khi các công ty nhỏ được quản trị theo kiểu gia đình, còn những công ty lớn lại phân quyền điều hành cho cấp dưới mà thiếu sự kiểm tra đầy đủ. Hoạt động quản trị nội bộ công ty đều dựa trên sự tin tưởng cá nhân, còn thiếu những quy chế thông tin, việc kiểm tra sao chép giữa các bộ phận để phòng ngừa gian lận.
KSNB là hoạt động cần thiết giúp chủ sở hữu bảo đảm quyền kiểm soát của mình đối với hoạt động công ty, giúp nhà quản lý trong việc đảm bảo tuân thủ, thực hiện có hiệu quả mục tiêu đặt ra của đơn vị. Thiết lập một hoạt động kiểm soát nội bộ chính là xác lập một cơ chế kiểm soát sự phân chia và vận hành quyền lực mà ở đó công ty không quản lý bằng lòng tin, mà bằng những quy định, chính sách rõ ràng nhằm:
- Bảo vệ tài sản của công ty, Kiểm soát nội bộ kiểm soát quá trình bảo vệ tài sản nhằm giảm bớt tổn thất do các hành vi trộm cắp, hoả hoạn, sử dụng sai mục đích hoặc bất hợp pháp và thẩm tra vạch trần các hành vi vi phạm này.
- Bảo đảm độ tin cậy của các thông tin, nhà quản lý căn cứ vào các thông tin kinh tế, tài chính do bộ phận kế toán tổng kết và cung cấp để đưa ra những quyết định quan trọng. Nếu thông tin không kịp thời, phản ánh không đúng đắn thực trạng công ty thì sẽ dẫn đến những quyết định sai lầm.
- Bảo đảm thực hiện các chế độ pháp lý, Kiểm soát nội bộ giúp hỗ trợ nhà quản lý giám sát quá trình tuân thủ các chính sách, kế hoạch, thủ tục, pháp luật và các quy định có ảnh hưởng quan trọng tới hoạt động sản xuất kinh doanh.
Bảo đảm hiệu quả hoạt động và năng lực quản lý. Hoạt động Kiểm soát nội bộ góp phần tăng cường việc sử dụng tiết kiệm, có hiệu quả các nguồn lực, giảm thiệu sự lãng phí, hoàn thiện bộ máy quản lý bằng cách cung cấp thêm các thông tin về quá trình hoạt động của các bộ phận, ví dụ như các bộ phận khác nhau của chu trình kiểm tra giám sát hoạt động như thế nào, từ đó đưa ra các biện pháp sử dụng hợp lý tài sản, quản lý hiệu quả nguồn lực của đơn vị.
1.2. Cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
1.2.1 Khái niệm cơ chế kiểm soát nội bộ
Cơ chế là một thuật ngữ có thể hiểu theo nhiều nghĩa, tuỳ vào hoàn cảnh và lĩnh vực. Cơ chế có thể hiểu là “máy móc, bộ máy, cơ cấu”; chẳng hạn, cơ chế nhà nước (bộ máy nhà nước). Theo từ điển Tiếng việt, “Cơ chế là cách thức, sắp xếp tổ chức để làm đường hướng, cơ sở theo đó mà thực hiện’’. Theo quan điểm của nhà Triết học Phạm Ngọc Quang: “Cơ chế là khái niệm dùng để chỉ một chuỗi những khâu liên kết với nhau theo một logic nhất định, nhờ vậy mục tiêu được thực hiện”.
Như vậy, cơ chế theo cách hiểu chung nhất là tập hợp các phương thức để thực hiện một hay nhiều chức năng, mục tiêu nhất định. Nếu như Kiểm soát nội bộ là một quá trình thì cơ chế Kiểm soát nội bộ là phương tiện, cách thức để thực hiện quá trình đó.
Nói một cách đơn giản hơn, cơ chế Kiểm soát nội bộ chính là hệ thống các quy tắc, thiết chế tổ chức phân chia quyền lực do chủ sở hữu, thành viên công ty xác lập và thi hành, nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quản lý điều hành trong nội bộ công ty, kiểm soát hoạt động của công ty từ bên trong, tạo điều kiện cho các chủ thể kiểm soát lẫn nhau, giúp các chủ thể hiểu đúng và thực hiện tốt quyền hạn nghĩa vụ của mình, vì lợi ích của chính công ty và các cổ đông, từ đó, giúp công ty vận hành có hiệu quả, gia tăng giá trị doanh nghiệp.
1.2.2 Vai trò của cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Như đã nêu tại phần 1.1.3, do đặc thù phân tách giữa chủ sở hữu và quản lý, sở hữu và điều hành trong công ty cổ phần nên không phải tất cả người đầu tư (người góp vốn) đều có thể tham gia quản lý điều hành để trực tiếp sử dụng vốn và tài sản của mình tại doanh nghiệp. Trong một công trình nghiên cứu về quan hệ đại diện (Agency Problems), John Armour, Henry Hansmann, Reinier Kraakman cho rằng có ba vấn đề xung đột liên quan phát sinh trong nội bộ công ty cổ phần [26, tr.644]:
Thứ nhất, xung đột giữa chủ sở hữu công ty và những người được uỷ quyền quản lý. Xung đột này xuất phát từ nhu cầu của chủ sở hữu cần được đảm bảo rằng mọi hành động của nhà quản lý nhằm đáp ứng quyền lợi của chủ sở hữu chứ không phải theo đuổi lợi ích cá nhân của riêng họ. Cốt lõi của những khó khăn nằm ở chỗ, những người thay mặt chủ sở hữu quản lý công ty thường có thông tin tốt hơn về các sự kiện có liên quan hơn là chủ sở hữu, các cổ đông không thể dễ dàng đảm bảo rằng hành động của người quản lý là trung thực và mẫn cán như đã hứa. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Thứ hai, xung đột giữa cổ đông đa số hay những cổ đông trực tiếp nắm quyền kiểm soát công ty và cổ đông thiểu số, những người không trực tiếp nắm quyền kiểm soát. Vấn đề đặt ra là, làm thế nào để đảm bảo rằng các chủ sở hữu đa số không sử dụng quyền kiểm soát của họ để tước đoạt quyền lợi của cổ đông thiểu số? Nếu cổ đông thiểu số hưởng quyền phủ quyết liên quan đến những quyết định cụ thể, nó có thể giải quyết mâu thuẫn liên quan?
Thứ ba, vấn đề liên quan đến xung đột giữa công ty mà trong đó đặc biệt là chủ sở hữu với những chủ thể khác có liên quan (như chủ nợ, nhân viên, khách hàng, v.v). Khó khăn trong xung đột này là làm thế nào để đảm bảo rằng những người quản lý công ty không hành xử một cách đầy cơ hội đối với bên thứ ba – chẳng hạn như chiếm đoạt tài sản của chủ nợ, bóc lột sức lao động của nhân viên hoặc gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng, v.v.
Trong một công trình nghiên cứu liên quan đến cơ chế giải quyết tranh chấp nội bộ, khi đề cập đến cơ chế quản lý công ty, tác giả Trần Trí Trung cũng đã chỉ ra rằng, cơ chế quản lý công ty hình thành và hoạt động gắn liền với quan hệ uỷ quyền. Các thành viên công ty với tư cách chủ sở hữu đã uỷ quyền cho người khác quản lý, điều hành công ty, bảo toàn và phát triển phần vốn góp của mình. Trong khi đó, quan hệ uỷ quyền luôn có xu hướng phát sinh sự lạm quyền nếu thiếu kiểm soát hoặc kiểm soát không hiệu quả. Trong những trường hợp như vậy, những người quản lý công ty có thể gia tăng quyền lợi của mình bằng cách gây tổn thất cho các thành viên công ty, thực hiện sự đối xử không bình đẳng giữa các thành viên, dẫn đến những tranh chấp giữa các thành viên, giữa thành viên với công ty. Từ đó, tác giả đã khẳng định cần phải có sự kiểm soát nhằm hạn chế sự tha hoá và sai lệch của quan hệ uỷ quyền. Quản trị nội bộ lúc này không còn thuần tuý là các định chế và thoả thuận chỉ tồn tại bên trong nội bộ công ty, chúng cần được kiểm soát cả từ trong nội bộ công ty bởi các thành viên và từ phía các cơ quan bảo vệ pháp luật, từ hệ thống luật pháp [21].
Chính vì vậy, để đảm bảo sự linh hoạt trong hoạt động quản lý kinh doanh, thì nhất thiết phải tồn tại một cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các cơ quan quản lý trong nội bộ Công ty cổ phần để từ đó kịp thời điều chỉnh những lệch lạc của nhà quản lý khi mà cổ đông không trực tiếp, thường xuyên tham gia hoạt động công ty.
Thông qua các cơ chế kiểm soát, các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ công ty sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến việc cung cấp cho các cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ một sự đảm bảo thích hợp rằng công việc kinh doanh của công ty được kiểm soát, giám sát thích đáng. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó là một trong các yếu tố giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không.
1.2.3. Các yếu tố cấu thành cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
1.2.3.1. Hệ thống các quy phạm nội bộ về tổ chức quản lý công ty cổ phần
Cần phải khẳng định rằng, cơ chế kiểm soát nội bộ trước hết phát sinh trong hoạt động nội bộ công ty. Nó ra đời, tồn tại xuất phát từ những đòi hỏi, nhu cầu của nhà đầu tư trong quá trình kinh doanh nhằm hướng tới đầu tư có lợi và an toàn, nó được thiết lập hoàn toàn tự chủ, theo ý chí của các thành viên. Dựa trên nguyên tắc tự do ý chí trong kinh doanh, trong quá trình xây dựng và vận hành công ty mình, các thành viên sẽ tự đàm phán với nhau, tự quyết định cơ chế kiểm soát phân chia quyền lực nội bộ sao cho phù hợp với đặc thù doanh nghiệp mình. Không đi ngược lại các giá trị đã được ghi nhận trong hệ thống luật pháp quốc gia, trật tự công cộng và đạo đức xã hội, các thoả thuận của đồng chủ sở hữu công ty (bao gồm cả thoả thuận về phân quyền kiểm soát) sẽ được xây dựng thành hệ thống quy phạm nội bộ công ty. Mỗi công ty đều có một hệ thống quy phạm về tổ chức quản trị nội bộ phù hợp với lĩnh vực và nhu cầu hoạt động của mình. Các quy phạm nội bộ này thường bao gồm: điều lệ công ty, nghị quyết, quy chế, nội quy công ty, v.v. Đây là các văn bản có tính bắt buộc trong từng doanh nghiệp, đặc biệt là bản điều lệ công ty, nó được xem như “bản hiến pháp” của công ty, do các cổ đông công ty thoả thuận sáng lập ra, bao hàm những vấn đề quan trọng nhất liên quan đến tổ chức và hoạt động công ty, nó được xem là cơ sở pháp lý rất quan trọng trong việc xác định và thực thi quyền sở hữu, quyền quản lý điều hành của mỗi thành viên, chủ thể trong công ty. Bởi về nguyên tắc, các quy phạm này có giá trị ưu tiên hơn luật. Khi xảy ra tranh chấp, các quy phạm nội bộ được ưu tiên đưa ra xem xét trước. Có thể nói, cùng với các quy phạm pháp luật hiện hữu, hệ thống các quy phạm nội bộ về tổ chức quản lý Công ty cổ phần là yếu tố cơ sở cho việc xây dựng và vận hành của cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Trên cơ sở quy phạm pháp luật và hệ thống quy phạm nội bộ công ty, các thành tố khác của cơ chế Kiểm soát nội bộ được thiết lập và hoạt động. Theo các mô hình quản trị công ty hiện hữu, cơ cấu tổ chức quyền lực của một công ty cổ phần chủ yếu bao gồm: Chủ sở hữu (cổ đông); Hội đồng quản trị (HĐQT) ; tuỳ vào mô hình quản trị khác nhau mà Công ty cổ phần có thể có hoặc không có Hội đồng giám sát, Ban kiểm soát (BKS) hoặc các Uỷ ban. Về hình thức, cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty cổ phần được xác định và hoạt động dựa trên mối quan hệ quyền lực giữa các cơ quan quản trị này trong công ty.
1.2.3.2. Đại hội đồng cổ đông
ĐHĐCĐ là cơ quan quyết định cao nhất, bao gồm các cổ đông, thông qua cơ quan này, các cổ đông thực hiện quyền kiểm soát của mình thông qua việc quyết định các vấn đề quan trọng và yêu cầu thành viên Hội đồng quản trị có trách nhiệm giải trình về các vấn đề công ty. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Đối với công ty cổ phần có mô hình quản trị song cấp thì Đại hội đồng cổ đông có thể thành lập cơ quan khác như Ban kiểm soát, Hội đồng giám sát nằm ngoài Hội đồng quản trị, giúp Đại hội đồng cổ đông giám sát các cơ quan quản lý khác.
1.2.3.3. Hội đồng quản trị hoặc Hội đồng giám sát.
HĐQT thực hiện chức năng điều hành công việc kinh doanh hàng ngày của công ty thông qua Ban giám đốc do mình thiết lập. Đến lượt mình, Hội đồng quản trị thực hiện quyền giám sát đối với Ban giám đốc điều hành, một mặt Hội đồng quản trị có quyền đưa ra các quyết định quản lý, giữ quyền bổ nhiệm, miễn nhiệm, cách chức giám đốc và các cán bộ quản lý khác, mặt khác có quyền giám sát phê chuẩn các quyết định của Ban giám đốc.
Trong mô hình quản trị song cấp, cấu trúc quản trị Công ty cổ phần tồn tại một cơ quan giám sát độc lập với Hội đồng quản trị là Hội đồng giám sát. Trong mô hình này, Hội đồng quản trị chỉ có chức năng quản lý điều hành. Hội đồng giám sát có thẩm quyền chọn, bổ nhiệm, cách chức các thành viên của Hội đồng quản trị. Đồng thời, Hội đồng giám sát tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty, giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị. Các thành viên của Hội đồng quản trị cùng nhau chịu trách nhiệm về việc điều hành, phát triển chiến lược kinh doanh của công ty trong mối liên hệ báo cáo thường xuyên với Hội đồng giám sát.
1.2.3.4. Ban kiểm soát (Uỷ ban kiểm soát)
Mô hình thành lập Ban kiểm soát là một cấu trúc phố biến ở Nhật bản cũng như Việt Nam, với ba cơ quan chủ chốt: Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Ban kiểm soát. Theo Luật công ty Nhật Bản, quyền giám sát hoạt động của người quản lý, điều hành công ty, được giao cho những thiết chế khác nhau phụ thuộc vào từng loại hình Công ty cổ phần. Đối với những Công ty cổ phần bắt buộc phải thiết lập chế định Ban kiểm soát thì thẩm quyền này được giao cho Ban kiểm soát. Đối với những công ty có thiết lập Uỷ ban thì quyền giám sát được giao cho Uỷ ban giám sát.
1.2.4. Nội dung hoạt động của cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Nội dung của cơ chế kiểm soát nội bộ chính là sự phân định quyền hạn nghĩa vụ nhằm kiểm soát đối trọng lẫn nhau giữa các cổ đông cũng như các cơ quan quản lý.
1.2.4.1. Kiểm soát của Đại hội đồng cổ đông Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Các cổ đông là chủ sở hữu đối với Công ty cổ phần, với tỷ lệ sở hữu tương ứng với phần vốn góp (cổ phần) mà họ nắm giữ trong công ty. Các cổ đông cung cấp vốn với mong muốn sẽ thu được các lợi ích tài chính từ hoạt động công ty và gia tăng giá trị công ty. Các lợi ích của cổ đông nằm ở chỗ giá trị phần vốn của công ty có được phát triển tối đa hay không và các rủi ro trong hoạt động kinh doanh có được phân tán hay không.
ĐHĐCĐ là một cơ chế pháp lý đặc trưng quan trọng để qua đó các cổ đông thực hiện các quyền cơ bản của mình bao gồm quyền kiểm soát nội bộ công ty cổ phần.
Quyền kiểm soát của các cổ đông (chủ sở hữu), về bản chất là việc thực hiện quyền sở hữu trong điều kiện tài sản của người góp vốn được chuyển giao cho công ty sử dụng và định đoạt [14, tr.153]. Do đặc thù phân tách giữa sở hữu và quản lý, điều hành nên không phải tất cả người sở hữu cổ phần đều có thể tham gia quản lý, điều hành việc trực tiếp sử dụng vốn và tài sản công ty. Các cổ đông có thể thực hiện quyền kiểm soát công ty một cách trực tiếp hoặc gián tiếp.
Theo pháp luật, điều lệ và các quy định khác của các Công ty cổ phần, các cổ đông thường có các quyền cơ bản bao gồm quyền đề cử, bổ nhiệm, bãi miễn các thành viên của Hội đồng quản trị, Ban kiểm soát, các kiểm toán viên; đề xuất phê chuẩn hay bác bỏ các thay đổi quan trọng đối với công ty, như thay đổi vốn, sáp nhập, hợp nhất hay tái cơ cấu công ty, v.v. Cơ chế đăng ký và chuyển nhượng cổ phần đặc trưng trong Công ty cổ phần cũng giúp các cổ đông (đặc biệt cổ đông thiểu số) có quyền mua, sở hữu, bán và chuyển nhượng cổ phiếu, từ đó có hoặc từ bỏ các quyền biểu quyết khi công ty làm ăn phát đạt hay thua lỗ. Các quyền và cơ chế nêu trên chính là những biểu hiện thể hiện quyền trực tiếp kiểm soát trong nội bộ công ty của các cổ đông.
Bên cạnh việc kiểm soát trực tiếp, các cổ đông cũng có thể thực hiện quyền kiểm soát nội bộ công ty một cách gián tiếp thông qua tổ chức được uỷ quyền thực hiện. Tổ chức này chính là Hội đồng quản trị. Bên cạnh đó, tuỳ vào các mô hình quản trị công ty mà Đại hội đồng cổ đông có thể thiết lập thêm Hội đồng giám sát hay Ban kiểm soát.
1.2.4.2. Kiểm soát của cơ quan Hội đồng quản trị.
Trong Công ty cổ phần, Hội đồng quản trị là cơ quan đại diện cho các cổ đông trong Công ty cổ phần và phải chịu trách nhiệm trước các cổ đông, theo quy định pháp luật, điều lệ và các quy định khác của công ty. Hội đồng quản trị là trung tâm của hệ thống quản lý nội bộ trong công ty, là cầu nối giữa các cổ đông với bộ máy quản lý trong công ty, giữa bộ máy quản lý với những người có lợi ích liên quan khác, và với bên ngoài. Hội đồng quản trị độc lập với hoạt động quản lý hàng ngày (công việc này thường do bộ máy quản lý đảm nhiệm). Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Theo nguyên tắc phân công hợp tác, Hội đồng quản trị có thể phân tách quyền lực thành các loại, như quyền đại diện công ty, quyền quyết sách quản trị, quyền chấp hành kinh doanh, quyền giám sát, v.v. [18, tr.100]. Quyền giám sát là quyền thực hiện giám sát đối với các thành viên nội bộ và đội ngũ giám đốc. Hoạt động kiểm soát của Hội đồng quản trị được tiến hành thường xuyên đối với bộ máy quản lý (BGĐ), nhằm kiểm tra, xem xét quyết định của bộ máy quản lý. Thông qua hoạt động kiểm soát thường xuyên, Hội đồng quản trị sẽ phát hiện, ngăn chặn kịp thời các hành vi vi phạm, kiến nghị xử lý kịp thời đối với những chủ thể có hành vi vi phạm. Hội đồng quản trị thay mặt các cổ đông của công ty thực hiện giám sát hoạt động của bộ máy quản lý điều hành thường xuyên, ngăn ngừa các mâu thuẫn và xung đột lợi ích giữa các cổ đông và ban lãnh đạo công ty, nhằm bảo vệ quyền lợi, đồng vốn của các cổ đông về bản chất Hội đồng quản trị không can thiệp vào hoạt động hàng ngày mà chỉ tư vấn giám sát hoạt động của bộ máy quản lý thường xuyên, dựa trên các chiến lược kinh doanh đã được Hội đồng quản trị đề ra và được Đại hội đồng cổ đông thông qua.
Trong văn bản Các nguyên tắc của quản lý công ty của Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế của Liên hợp quốc (OEDC), OEDC đã đề xuất bản giải nghĩa một cách sáng tạo và toàn diện đối với quyền lực của Hội đồng quản trị cũng như sự vận hành của nó. Theo văn bản này, ngoài chức năng chỉ đạo sách lược của công ty, chức trách của Hội đồng quản trị chủ yếu là hoạt động kiểm soát, cụ thể là: i) theo dõi và giám sát hiệu quả hoạt động kinh doanh, phòng ngừa những xung đột về lợi ích và cân bằng các yêu cầu giữa các chủ thể lợi ích. Hội đồng quản trị còn phải hoàn thành những chức trách đặc biệt trọng yếu bao gồm: ii) thẩm tra và chỉ đạo chiến lược của công ty, kế hoạch hành động trọng yếu, chính sách mạo hiểm, dự toán hàng năm và kế hoạch kinh doanh; iii) xây dựng mục tiêu vận hành; iv) giám sát việc thi hành các kế hoạch và quá trình vận hành của công ty; v) giám sát việc chi ra, thu hoạch và định hướng đầu tư của các khoản vốn tư bản trọng yếu; v.v. [22, tr.24]. Rõ ràng, chức năng cơ bản của Hội đồng quản trị đã không còn nghiêng về công việc quản lý kinh doanh, nó đã đứng ở một địa vị giám sát và khống chế.
Tuỳ vào các mô hình quản trị công ty khác nhau phổ biến trên thế giới, mà dẫn đến sự khác nhau trong việc phân định quyền hạn trách nhiệm của Hội đồng quản trị. Đối với những Công ty cổ phần theo mô hình quản trị hai cấp tiêu biểu như Đức và Hà Lan thường có sự tách rời giữa chức năng quản lý và giám sát, hình thành hai cơ quan riêng biệt nhau là Hội đồng quản trị và Hội đồng giám sát. Đối với các công ty cổ phần có học hỏi hình thức quản trị theo Luật của Anh – Mỹ thì một điều chắc chắn rằng trong Công ty cổ phần không có Hội đồng giám sát mà chỉ có sự song hành tồn tại của Đại hội đồng cổ đông và Hội đồng quản trị, tức là không có một cơ quan chuyên trách làm nhiệm vụ giám sát những người quản lý – điều hành công ty như Ban kiểm soát trong Luật doanh nghiệp Việt Nam và Luật công ty Nhật Bản hay như Hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng song cấp của Đức.
Ở Đức, Hội đồng quản trị là cơ quan quản lý điều hành công ty. Nhưng xét về địa vị pháp lý thì đứng dưới Hội đồng giám sát. Bởi vì theo quy định của Luật công ty cổ phần Đức (1998), Hội đồng giám sát có hai vai trò chính là: bổ nhiệm và bãi miễn các thành viên của Hội đồng quản trị; và giám sát quản lý. Hội đồng giám sát thực hiện chức năng giám sát chứ không thực hiện chức năng quản lý điều hành, trong đó giám sát các hoạt động của Hội đồng điều hành [11, tr.33,34]. Giám sát ở đây không phải chỉ giám sát các hoạt động kinh doanh hàng ngày mà giám sát những trường hợp theo Điều lệ công ty hoặc theo những quy định của pháp luật trao cho Hội đồng giám sát. Chẳng hạn, với một số giao dịch của công ty, nếu không có sự chấp thuận tham gia của Hội đồng giám sát thì vô hiệu. Như vậy, Hội đồng giám sát còn tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong quản trị công ty. Dưới cơ chế vừa là cơ quan giám sát, đồng thời là cơ quan lãnh đạo của Hội đồng quản trị, Hội đồng giám sát có quyền lực rất lớn. Thành viên Hội đồng giám sát cùng nhau họp bàn, ra quyết định và chỉ thị cho Hội đồng quản trị, giám sát hoạt động kinh doanh của chính công ty. Trong khi đó, Hội đồng quản trị chỉ có trách nhiệm báo cáo công tác trước Hội đồng giám sát [15, tr.25,26]. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Trong các Công ty cổ phần ở Mỹ, quyền lực của Đại hội đồng cổ đông đã được pháp luật giới định rõ ràng, các quyền lực không thuộc về Đại hội đồng cổ đông là thuộc phạm vi quyền hạn của Hội đồng quản trị. Do vậy, Hội đồng quản trị có quyền lực to lớn, nó tập trung toàn bộ các chức năng quản lý kinh doanh vào thẩm quyền của mình. Nói cụ thể hơn, Hội đồng quản trị là cơ quan tập trung các chức năng như quyết sách, điều hành, kiểm soát và đại diện đối ngoại. Để phân công các chức năng rõ ràng và nề nếp, Hội đồng quản trị trong nội bộ đã phải thành lập các Uỷ ban chuyên trách, ví dụ như uỷ ban chấp hành, uỷ ban kiểm toán, uỷ ban tiền tương, uỷ ban đề bạt [18, tr.30].
HĐQT theo mô hình đơn cấp bao gồm các thành viên điều hành và không điều hành. Các thành viên điều hành (executive directors) là thành viên thực hiện chức năng quản lý kinh doanh thường nhật của công ty. Các thành viên không điều hành (non-executive directors) là những thành viên không làm việc thường nhật ở công ty, quyền và nghĩa vụ của họ là tham gia cuộc họp của Hội đồng quản trị, giám sát và đánh giá hoạt động kinh doanh của các thành viên điều hành và Ban giám đốc (Tổng giám đốc), đề xuất ý kiến và kiến nghị cho công ty. Các thành viên không điều hành thường là những chuyên gia có tiếng trong xã hội như tổng giám đốc đã về hưu, luật sư, nhà kế toán, nhà kinh tế học, nhà chính trị đã về hưu, v.v. Những thành viên loại này có khi còn được gọi là thành viên độc lập không điều hành (independent non – executive directors) [18, tr.105, 106]. Đa số các thành viên (trên 80%) của Uỷ ban kiểm toán là các thành viên độc lập, họ có nhiệm vụ thực hiện giám sát hoạt động quản lý kinh doanh của uỷ ban chấp hành. Uỷ ban kiểm toán có quyền thuê nhiệm kiểm toán viên độc lập, xác định phạm vi kiểm toán và đánh giá kết quả kiểm toán, kiểm soát tài chính công ty,v.v. [18, tr. 30].
Trong các công ty lớn, đặc biệt là các công ty niêm yết, xu hướng đa số thành viên của Hội đồng quản trị là thành viên độc lập không điều hành đang thắng thế. Xu hướng này cũng được khuyến nghị bởi các tổ chức quốc tế hàng đầu như Ngân hàng thế giới (World Bank) và Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (Organization for Economic Co-operation and Development – OECD), các cơ quan quản lý thị trường chứng khoán như Uỷ ban Chứng khoán (Securities àn Exchange Commission – SEC) của Hoa Kỳ, ASX (Áustralian Stock Exchange) của Australia; cũng như các uỷ ban độc lập của chính phủ nghiên cứu về quản trị công ty (corporate governance) như các Uỷ ban Cadbury và Hampel của Anh, Bosch của Úc v.v.. [12]. Sự hiện diện của các thành viên độc lập (như là các chuyên gia cao cấp không điều hành) trong cơ cấu Hội đồng quản trị của công ty là rất quan trọng và cần thiết. Các thành viên độc lập được đánh giá cao hơn những thành viên khác trong Hội đồng quản trị vì họ có khả năng thực hiện công việc với quan điểm vì lợi ích chung của công ty. Theo học thuyết người đại diện (agency theory), các thành viên Hội đồng quản trị độc lập không điều hành có khả năng thực hiện vai trò giám sát hoạt động của ban điều hành với hiệu quả cao bởi hoạt động giám sát của họ độc lập với hoạt động điều hành doanh nghiệp [10, tr.2]. Các thành viên độc lập không điều hành của Hội đồng quản trị sẽ đảm nhiệm chức năng xem xét, đánh giá một cách độc lập về các quyết sách quản trị của Hội đồng quản trị và giám sát hoạt động của bộ phận điều hành. Các thành viên này có vai trò giám sát nhằm làm giảm xung đột lợi ích, giảm nguy cơ lạm dụng quyền hạn của những người quản lý công ty (bao gồm cả Hội đồng quản trị và Ban giám đốc), qua đó giúp bảo vệ an toàn đồng vốn của cổ đông, đặc biệt bảo vệ lợi ích của những cổ đông nhỏ và có thể bao gồm các nhóm lợi ích khác liên quan tới công ty. Hơn nữa, khi có nhiều hơn sự độc lập trong tư tưởng của từng cá nhân thành viên Hội đồng quản trị, các cổ đông cảm thấy yên tâm hơn với Hội đồng quản trị và ban điều hành, những người đang đại diện và sử dụng đồng vốn của họ tại công ty. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Như vậy, có thể thấy, các công ty kiểu đơn cấp cũng thực hiện sự tách biệt chức năng quản lý điều hành với chức năng kiểm soát, tức là, các thành viên điều hành chuyên trách công việc quản lý kinh doanh, trong khi các thành viên không điều hành thì có quyền và nhiệm vụ giám sát hoạt động quản lý kinh doanh. Đối với hai chế độ tổ chức quản lý này, quan trọng nhất là cần thiết phải phân định rõ chức trách của hai nhóm người của từng loại. Việc hoàn thiện sự phân định này có thể sẽ khuyến khích các nhà đầu từ từ các nước thành viên khác nhau cùng thành lập công ty và hơn nữa, đẩy mạnh tiến trình hoà hợp của các công ty. Tuy nhiên, thực tế sự giám sát của một nhóm thành viên trong Hội đồng quản trị đối với các thành viên khác thường được cho là thiếu tính khách quan và hiệu quả. Bởi vậy, sự giám sát này có thể thiếu tính độc lập và kém tin cậy hơn so với hoạt động của một cơ quan giám sát độc lập như trong cấu trúc quản trị hội đồng song cấp, cũng như trong mô hình quản trị của Nhật Bản.
1.2.4.3. Kiểm soát của Ban kiểm soát
BKS là cơ quan giám sát tồn tại trong mô hình quản trị nội bộ công ty theo pháp luật công ty Nhật bản và Việt Nam. Nhìn chung, vai trò của Ban kiểm soát trong mô hình tại Nhật Bản giống vai trò Hội đồng giám sát theo mô hình quản trị song cấp theo pháp luật Đức. Ban kiểm soát là tổ chức nội bộ do Đại hội đồng cổ đông bầu ra, được pháp luật trao cho quyền giám sát hoạt động của người quản lý điều hành công ty. Tuy nhiên, Ban kiểm soát khác với Hội đồng giám sát trong mô hình hội đồng song cấp là không tham gia trực tiếp vào việc đưa ra các quyết định quan trọng trong việc quản trị công ty mà chủ yếu thiên về giám sát các hoạt động của Hội đồng quản trị.
Trong mô hình quản lý Công ty cổ phần tại Nhật Bản, Ban kiểm soát giữ quyền và nhiệm vụ giám sát và kiểm toán hoạt động kinh doanh của Hội đồng quản trị, điều tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật hoặc không hợp lý nghiêm trọng. Pháp luật Nhật Bản khi quy định về bổ nhiệm thành viên Ban kiểm soát có một điểm khác biệt so với Luật Doanh nghiệp Việt Nam, đó là: Ban kiểm soát phải có kiểm soát viên (KSV) thường trực. Luật Thương Mại sửa đổi 1993 đã quy định các Công ty cổ phần có quy mô lớn phải có Kiểm soát viên ít nhất 03 người và thành lập Ban kiểm soát. Trong số đó, ít nhất một người là Kiểm soát viên độc lập. Đối với những Công ty cổ phần nhỏ, thì chỉ cần một Kiểm soát viên, trách nhiệm của họ chủ yếu là giám sát tài chính công ty [18, tr. 33]. Mặc dù chế độ Kiểm soát viên bên ngoài được du nhập vào Luật công ty Nhật Bản nhưng chế độ này đã được đánh giá là chưa hiệu quả bởi kiểm soát viên bên ngoài nếu so sánh với Kiểm soát viên bên trong thì họ có ít hiểu biết về hoạt động công ty, hơn nữa thành viên này lại có khả năng kiêm nhiệm hoạt động của công ty khác nên không có nhiều thời gian giám sát. Ngoài ra, tuy sự giám sát của Kiểm soát viên bên ngoài là cần thiết nhưng thực tế, thành viên Hội đồng quản trị và người lao động lại ít cung cấp các thông tin cho Kiểm soát viên bên ngoài. Trong nhiều Công ty cổ phần, Ban kiểm soát không kiểm tra giám sát đúng đắn hoạt động quản lý điều hành thành viên Hội đồng quản trị. Thực tế Kiểm soát viên thường là cấp dưới của người quản lý công ty, là người chủ sử dụng lao động cũ nên việc giám sát khách quan rất khó được thực hiện [13, tr.90]. Bên cạnh việc thiết lập loại hình Công ty cổ phần có Ban kiểm soát độc lập với Hội đồng quản trị thì Luật công ty Nhật Bản cũng thiết lập loại hình Công ty cổ phần có Uỷ ban kiểm soát là một trong ba Uỷ ban trực thuộc Hội đồng quản trị, có chức năng giám sát hoạt động quản lý điều hành của các thành viên Hội đồng quản trị, người điều hành; soạn thảo báo cáo giám sát; đề xuất bổ nhiệm và bãi miễn người quản lý điều hành được thuê. Ngoài ra, Uỷ ban có quyền yêu cầu đình chỉ hành vi vi phạm đối với người điều hành, có quyền khởi kiện thành viên Hội đồng quản trị vi phạm pháp luật [13, tr.90]. Cơ chế thiết lập Uỷ ban kiểm soát theo pháp luật công ty Nhật Bản đã góp phần làm cho cổ đông tin tưởng hơn vào Hội đồng quản trị, nhanh chóng phát hiện những vi phạm trong hoạt động quản lý điều hành hoạt động kinh doanh công ty, tránh tình trạng lạm quyền của Hội đồng quản trị, cũng như tình trạng quyền giám sát chỉ trên danh nghĩa của Ban kiểm soát. Quy định trên về loại hình Công ty cổ phần tại Nhật Bản đã giúp phát huy hiệu quả của cơ chế kiểm soát phân quyền giữa những thiết chế nội bộ trong công ty.
Có thể thấy, trong mỗi mô hình quản trị của loại hình Công ty cổ phần, điều quan trọng nhất là cần có sự thể hiện cơ chế phân quyền chế ước. Khi xây dựng mô hình quản trị công ty, không chỉ cần đảm bảo cho các cơ quan quản lý điều hành có đầy đủ thẩm quyền để nó có thể thực hiện chức trách một cách năng động và tích cực mà còn luôn luôn phải chú trọng đến một cơ chế kiểm soát đắc lực để thực hiện chức năng giám sát mọi hoạt động của các cơ quan quản lý điều hành.
Thế nhưng, câu hỏi đặt ra là: Cơ quan quản lý điều hành – Ban giám đốc, ngoài quyền quản lý điều hành, có quyền hạn giám sát gì trong nội bộ Công ty cổ phần không? Trong mối quan hệ phân quyền chế ước lẫn nhau, Hội đồng quản trị giám sát hoạt động của Ban giám đốc mà ít khi có sự giám sát ngược. Bởi lẽ, Ban giám đốc do Hội đồng quản trị thiết lập ra, Hội đồng quản trị giữ chức trách và nhiệm vụ nặng về quyết sách và giám sát, cho nên nó sẽ phải chịu trách nhiệm về quyết sách và giám sát; trong khi Ban giám đốc nói chung hay Tổng giám đốc nói riêng, là người điều hành kinh doanh, nó sẽ chịu trách nhiệm về quản lý kinh doanh. Có chăng, Ban giám đốc chỉ có thể thực hiện giám sát đối với những quyết sách của Hội đồng quản trị thông qua quyền kiến nghị, đề xuất. Quyền quản lý kinh doanh của Ban giám đốc thông thường chỉ có hai quyền năng: quyền quản lý điều hành và quyền đại diện. Quyền quản lý điều hành nghĩa là tổng giám đốc có quyền quản lý kinh doanh và xử lý nghiệp vụ trong phạm vi được uỷ quyền. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Quyền đại diện có nghĩa là Ban giám đốc có quyền nhân danh công ty để xác lập và kí kết hợp đồng với bên ngoài [18, tr. 44]. Nhưng nhìn chung lại, bất kể là quyền hạn gì, cũng đều xuất phát từ sự uỷ quyền của Hội đồng quản trị, cho nên bản chất pháp lý các quyền này của Ban giám đốc đều là quyền đại diện. Xét về quyền nhân danh công ty để xác lập giao dịch và ký kết hợp đồng với bên ngoài, ở khía cạnh này, nó phản ánh mối quan hệ pháp luật bên ngoài nhiều hơn mối quan hệ giữa người uỷ quyền và người được uỷ quyền trong công ty. Do đó, người uỷ quyền (công ty) không được phép từ chối nhận kết quả mà Ban giám đốc đã giao dịch với bên thứ ba, cho dù Ban giám đốc vượt quá quyền hạn được giao. Chính điều này đã dẫn đến một thực tế không thể tránh khỏi đó là, Ban giám đốc mà đặc biệt là tổng giám đốc nắm thực quyền cao hơn Hội đồng quản trị, trái với nguyên tắc TGĐ do Hội đồng quản trị bổ bổ nhiệm và chịu trách nhiệm trước Hội đồng quản trị. Như vậy, rõ ràng các xung đột về lợi ích giữa các chủ thể trong nội bộ Công ty cổ phần về cơ bản phát sinh trong hoạt động quản lý điều hành của cơ quan này. Do đó, đề cao giám sát đối với hoạt động của Ban giám đốc là một trong những nội dung thiết yếu của cơ chế Kiểm soát nội bộ.
Rõ ràng, “cách quản trị tạo nên kiểm soát nội bộ” [5]. Sự phân quyền và chế ước lẫn nhau trong cơ cấu quản trị công ty cổ phần hiện đại đã làm nên đặc trưng của loại hình công ty này là nhằm hướng tới một cơ chế kiểm soát lẫn nhau giữa các chủ thể quản trị trong công ty. Thông qua cơ chế kiểm soát nội bộ, các chủ thể quản trị công ty có ý thức tôn trọng, thực hiện một cách nghiêm ngặt các quy chế quản lý, thủ tục pháp lý được đề ra, bảo đảm tính hợp lý, hợp pháp trong các quyết định tạo lập, sử dụng vốn và tài sản cơ quan của người có thẩm quyền trong quản lý, điều hành nội bộ công ty. Cơ chế Kiểm soát nội bộ công ty ra đời nhằm bảo vệ tài sản của doanh nghiệp, lợi ích chủ sở hữu, chủ nợ.
1.2.5. Các nguyên tắc pháp lý trong việc xác lập và vận hành cơ chế kiểm soát nội bộ trong công ty cổ phần
Bất kể hoạt động nào trong đời sống kinh tế – xã hội dù diễn ra dưới hình thức nào và nhằm mục đích gì cũng đều được đặt trong khuôn khổ của những giá trị đạo đức và nguyên tắc pháp luật. Các nguyên tắc pháp luật không kìm hãm hành vi hay ý chí mà nó là những chuẩn mực giúp định hướng hành vi, xử sự của mỗi con người trong cộng đồng, từ đó thiết lập trật tự kinh tế – xã hội.
Cơ chế Kiểm soát nội bộ mặc dù được thiết lập theo ý chí của các thành viên trong công ty nhưng nó chỉ đạt được hiệu quả nếu được nhận thức và vận dụng đúng đắn trong khuôn khổ của pháp luật. Cơ chế kiểm soát nội bộ không tách rời các quy tắc pháp luật mà phải chịu sự điều chỉnh, tác động của các quy tắc pháp luật. Nếu cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty là điều kiện cần để hoạt động Công ty cổ phần đạt được hiệu quả thì các nguyên tắc pháp luật chính là điều kiện đủ, làm nền tảng để cơ chế kiểm soát được xây dựng có hiệu lực và vận hành hiệu quả.
Nhìn chung, cơ chế kiểm soát nội bộ chịu sự tác động, điều chỉnh của các nguyên tắc pháp lý cơ bản sau đây:
1.2.5.1. Nguyên tắc tự do ý chí Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Cơ chế Kiểm soát nội bộ phát sinh trong hoạt động quản trị nội bộ công ty. Các thành viên công ty khi thiết lập các mô hình quản trị công ty cũng đồng thời thiết lập cơ chế Kiểm soát nội bộ của mình, hoạt động này được xây dựng hoàn toàn tự chủ, theo ý chí của các thành viên. Hạt nhân lý luận của tự do ý chí là con người chỉ bị ràng buộc bởi ý chí của chính mình, và con người có quyền tự do định đoạt những gì thuộc về mình [6, tr. 51]. Nền kinh tế thị trường diễn ra năng động và linh hoạt, do vậy, tự do ý chí, tự do kinh doanh là nhân tố cốt lõi giúp các nhà đầu tư chủ động thích ứng trước những đòi hỏi của thị trường đồng thời cũng thoả mãn nhu cầu kinh doanh. Cơ chế Kiểm soát nội bộ ra đời, tồn tại xuất phát từ những đòi hỏi, nhu cầu nhà đầu tư muốn hướng tới những hoạt động đầu tư có lợi và an toàn. Do đó, việc lựa chọn cơ chế Kiểm soát nội bộ theo mô hình tổ chức nào, có phù hợp hay không là quyền của họ. Pháp luật không thể ràng buộc ý chí của các chủ thể trong những trường hợp này.
1.2.5.2. Nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu
Một trong những yếu tố làm nên đặc trưng cơ bản của Công ty cổ phần đó là sự tách biệt giữa quyền sở hữu và quyền quản lý công ty. Do chủ sở hữu (cổ đông) đa phần không tham gia vào hoạt động quản lý công ty nên vấn đề bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu công ty là một yêu cầu rất quan trọng. Đặc tính tự nhiên trong mối quan hệ giữa người chủ sở hữu và người quản lý điều hành đó là người quản lý điều hành thường có xu hướng có những hành động tư lợi, không đủ siêng năng mẫn cán và tìm kiếm những lợi ích cho mình hoặc người thứ ba mà không vì lợi ích công ty hay lợi ích của cổ đông. Do vậy, nguyên tắc bảo vệ quyền lợi của chủ sở hữu là nguyên tắc quan trọng làm nền tảng để định hướng xây dựng cơ chế kiểm soát phù hợp, từ đó giúp đảm bảo cho lợi ích chính đáng của các cổ đông (nhà đầu tư), đồng thời, chứng minh được tính hấp dẫn của chính các CTCP đối với nhà đầu tư bên ngoài, giúp gia tăng giá trị doanh nghiệp, đồng thời phát triển nền kinh tế trong nước.
1.2.5.3. Nguyên tắc đảm bảo đối xử bình đẳng giữa các cổ đông
CTCP là loại mô hình công ty đối vốn đặc thù mà có thể có tới hàng triệu cổ đông. Trong Công ty cổ phần thường xuất hiện xung đột lợi ích giữa cổ đông thiểu số và cổ đông đa số. Xây dựng một cơ chế Kiểm soát nội bộ phải đảm bảo đối xử bình đẳng, công bằng giữa các cổ đông, bất kì cổ đông nào cũng có các quyền cơ bản của chủ sở hữu công ty, do đó bất kì cổ đông nào cũng có quyền kiểm soát công ty. Cơ chế Kiểm soát nội bộ được xây dựng phải đảm bảo cho tất cả các cổ đông có quyền kiểm soát đó. Thực tế cho thấy rằng, các cổ đông đa số thường nắm số cổ phần lớn và có quyền chi phối và quản trị công ty, lẽ tự nhiên họ thường điều khiển hoạt động công ty theo hướng có lợi cho bản thân họ và dùng chính những chi phí đầu tư của cổ đông thiểu số để phục vụ mục đích hoạt động của mình. Các cổ đông thiểu số chỉ có thể trông cậy vào công cụ pháp luật để bảo vệ quyền lợi của họ một khi có bằng chứng xác đáng rằng quyền lợi của họ bị xâm phạm. Nguyên tắc pháp lý này là nguyên tắc cần thiết giúp xây dựng một cơ chế kiểm soát nội bộ công ty mà trong đó tất cả các cổ đông đều có quyền kiểm soát thích hợp.
1.2.5.4. Nguyên tắc đảm bảo tính hiệu quả trong hoạt động kiểm soát nội bộ
Cơ chế Kiểm soát nội bộ được thiết lập nhằm mục đích phòng ngừa rủi ro trong hoạt động quản lý điều hành kinh doanh công ty; nó được xây dựng nhằm hướng tới sự trung thực, sự tuân thủ, và sự hiệu quả trong quy trình hoạt động của các bộ máy quản lý điều hành, từ đó nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp. Cơ chế Kiểm soát nội bộ giúp mang lại sự yên tâm rằng các thông tin về tài chính và quản lý công ty là đáng tin cậy, kịp thời và đầy đủ, rằng các bộ máy quản lý doanh nghiệp đang vận hành đúng, tuân thủ các luật lệ và quy chế khác nhau. Trên thực tế, cơ chế Kiểm soát nội bộ nhiều khi được xây dựng mang tính hình thức và chưa thực sự hiệu quả. Do đó, Công ty cổ phần phải đảm bảo xây dựng và vận hành cơ chế Kiểm soát nội bộ có hiệu quả với đầy đủ thẩm quyền, sự tôn trọng lẫn nhau, sự độc lập, phân quyền rõ ràng và chế ước lẫn nhau. Có như thế mới giảm thiểu và phòng ngừa mọi rủi ro có thể xảy ra, đem lại những lợi ích tốt nhất cho công ty.
1.2.5.5. Nguyên tắc đảm bảo sự quản lý của Nhà nước Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
Quyền tự do ý chí trong việc xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ đi theo mô hình quản trị kinh doanh nào và vận hành chúng như thế nào là quyền của công ty. Tuy nhiên, đây không phải là quyền tuyệt đối mà cần được đặt dưới sự quản lý của Nhà nước. Doanh nghiệp nói chung và Công ty cổ phần nói riêng là một chủ thể pháp lý do đó nó không nằm ngoài sự quản lý của Nhà nước. Đối với doanh nghiệp, mặc dù không có sự can thiệp sâu vào hoạt động cụ thể nhưng Nhà nước cần phải có thái độ quản lý rõ ràng, bởi ta nhận thức được rằng “mọi hoạt động kinh doanh đều có sự tiềm ẩn của lợi ích công cộng và sự định hướng điều tiết” [20, tr.65], nên hoạt động kiểm soát nội bộ công ty không nằm ngoài sự điều tiết ấy. Đảm bảo sự quản lý của Nhà nước là cơ sở pháp lý quan trọng cho việc xây dựng cơ chế kiểm soát nội bộ diễn ra một cách hợp lý và có trật tự. Cơ chế Kiểm soát nội bộ phải được xây dựng nhằm những mục đích thích đáng và phù hợp, đảm bảo sự công bằng giữa các chủ thể, xét ở khía cạnh này, sự quản lý của nhà nước là cần thiết giúp hoạt động này diễn ra lành mạnh, đảm bảo lợi ích xã hội nói chung và bản thân công ty nói riêng.
1.2.5.6. Nguyên tắc đảm bảo công khai minh bạch
Cơ chế Kiểm soát nội bộ phải được thiết lập sao cho các vấn đề quan trọng liên quan đến công ty bao gồm các vấn đề về tài chính, tình hình hoạt động kinh doanh, sở hữu, quản lý điều hành công ty phải được công khai một cách đầy đủ, chính xác và kịp thời. Nguyên tắc này là cần thiết và quan trọng, đặc biệt đối với các Công ty cổ phần niêm yết và chưa niêm yết trên thị trường chứng khoán. Việc công khai minh bạch là một nhu cầu bình thường trong đời sống kinh tế và là nhu cầu chính của công ty nhằm hút thêm vốn đầu tư cho công ty. Cơ chế Kiểm soát nội bộ hướng tới sự công khai minh bạch trong hệ thống thông tin, giúp đem lại sự trung thực trước các nhà đầu tư, tránh nguy cơ dẫn đến sự lừa dối do thiếu thông tin, đồng thời bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số.
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1 Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
CTCP là loại hình công ty có cấu trúc tổ chức và quản lý phong phú, đa dạng. Sự phân quyền và chế ước lẫn nhau trong cơ cấu quản trị Công ty cổ phần hiện đại đã làm nên nhu cầu cần hướng tới một cơ chế kiểm soát trong nội bộ công ty.
KSNB là hoạt động cần thiết giúp chủ sở hữu bảo đảm quyền kiểm soát hoạt động công ty, giúp nhà quản lý trong việc đảm bảo thực hiện có hiệu quả mục tiêu đặt ra của đơn vị. Kiểm soát nội bộ có thể được xem xét ở nhiều góc độ, theo những mục tiêu khác nhau dưới góc nhìn của các chủ thể khác nhau.
Chương này đã tiếp cận cơ chế Kiểm soát nội bộ trong Công ty cổ phần như một khía cạnh của vấn đề quản trị công ty, phân tích vấn đề theo các mô hình quản trị điển hình khác nhau, xem xét Kiểm soát nội bộ dưới góc độ gắn liền với quá trình tổ chức phân chia quyền lực bao gồm quyền sở hữu, quản lý, điều hành nội bộ, đó là các hoạt động kiểm tra giám sát quá trình thiết lập, phân chia và vận hành quyền lực nội bộ, được xây dựng và tổ chức thực hiện bởi thành viên, chủ sở hữu công ty nhằm đảm bảo cho các chủ thể thực hiện đúng, đủ và mẫn cán quyền hạn nhiệm vụ của mình.
Cơ chế Kiểm soát nội bộ chính là hệ thống các quy tắc, thiết chế tổ chức phân chia quyền lực do công ty xác lập và thi hành, nhằm kiểm tra, giám sát hoạt động của các chủ thể quản lý điều hành trong nội bộ công ty, kiểm soát hoạt động của công ty từ bên trong, tạo điều kiện cho các chủ thể kiểm soát lẫn nhau.
Thông qua đó, các cơ quan có thẩm quyền trong nội bộ công ty sẽ thực hiện tốt các nhiệm vụ liên quan đến việc cung cấp cho các cổ đông, nhà đầu tư, chủ nợ một sự đảm bảo thích hợp rằng công việc kinh doanh của công ty nằm trong tầm kiểm soát, giám sát của họ. Điều này có ý nghĩa rất quan trọng, nó là một trong các yếu tố giúp nhà đầu tư đưa ra quyết định có nên đầu tư vào doanh nghiệp hay không. Khóa luận: Cơ chế kiểm soát trong nội bộ Công ty cổ phần.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Thực trạng PL về cơ chế kiểm soát trong nội bộ công

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com

Pingback: Khóa luận: Hoàn thiện pháp luật về cơ chế kiểm soát trong nội bộ