Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Một số biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

Lời mở đầu

Ngày nay ngành Ngân hàng được coi là ngành kinh tế huyết mạch, có tầm quan trọng đặc biệt góp phần thúc đẩy tăng trưởng kinh tế đất nước, để thực hiện tốt đặt ra với ngành ngân hàng là phải xây dựng được hệ thống đủ mạnh trên tất cả các lĩnh vực, thực thi chính sách, năng lực điều hành, quản lý kinh doanh, nhiệm vụ trọng tâm mà đảng và nhà nước giao cho một trong những vấn đề cấp bách độ công nghệ, kỹ thuật hiện đại thích ứng với cơ chế thị trường. Nền kinh tế hàng hóa vận hành theo cơ chế thị trường đòi hỏi sự luân chuyển vốn nhanh.

Trong bối cảnh tình hình kinh tế thế giới và trong nước biến động rất phức tạp, khó lường, nó đang vận động theo những xu hướng trái chiều, hoạt động kinh doanh của Ngân hàng TMCP Hải phòng gặp rất nhiều khó khăn. Đặc biệt là hoạt động tín dụng ngắn hạn.Ngân hàng đã đưa ra hàng loạt chính sách, chiến lược nhằm ổn định lại hoạt động kinh doanh nhưng do bị tác động lớn quá Vietcombank Hải Phòng đã không hoàn thành mục tiêu đã đặt ra.

Tín dụng ngắn hạn là hoạt động chiếm tỷ trọng lớn trong cơ cấu hoạt động tín dụng của ngân hàng, cũng là hoạt động mang lại lợi nhuận lớn cho ngân hàng.Trong giai đoạn này hoạt động tín dụng hoạt động chưa hiệu quả, tốc độ tăng trưởng thấp ảnh hưởng đến kết quả kinh doanh của hệ thống ngân hàng. Muốn hệ thống ngân hàng ổn định và phát triển thì đòi hỏi chất lượng hoạt động tín dụng ngắn hạn cũng phải ổn định và hiệu quả. Vì vậy, việc nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Vietcombank Hải phòng là cần thiết. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Từ thực tế ở Ngân hàng TMCP Ngoại thương Hải phòng và sau thời gian học tập nghiên cứu những vấn đề mang tính lý luận của công tác kinh doanh em chọn đề tài “Một số biện pháp nâng cao chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng”. Nhằm mục đích đưa ra những biện pháp có căn cứ khoa học và thực tiễn góp phần giải quyết những vấn đề còn hạn chế để nâng cao hơn nữa chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Vietcombank Hải Phòng.

Nội dung đề tài bao gồm 3 chương:

  • Chương I: Lý luận về tín dụng và chất lượng tín dụng ngắn hạn trong hoạt động kinh doanh của NHTM.
  • Chương II: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương chi nhánh Hải Phòng.
  • Chương III: Giải pháp và kiến nghị nhằm nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn tại Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam – Chi nhánh Hải Phòng.

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN VỀ TÍN DỤNG VÀ CHẤT LƯỢNG TÍN DỤNG NGẮN HẠN TRONG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA NHTM.

1.1 Tín dụng Ngắn hạn và vai trò của tín dụng ngắn hạn trong nền KT

1.1.1. Khái niệm và đặc trưng của tín dụng.

1.1.1.1. Khái niệm.

Qua nhiều giai đoạn tồn tại và phát triển, ngày nay tín dụng được hiểu theo định nghĩa cơ bản sau: Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ kinh tế trong đó cá nhân (hay tổ chức) nhường quyền sử dụng một khối lượng giá trị hay hiện vật cho cá nhân (hay tổ chức) khác với những ràng buộc nhất định như: thời hạn hoàn trả (cả gốc lẫn lãi) lãi suất, cách thức vay mượn và thu hồi. Nhưng chính nó lại là động lực quan trọng thúc đẩy nền kinh tế hàng hoá phát triển lên giai đoạn cao hơn. Tồn tại và phát triển qua nhiều hình thái kinh tế – xã hội, đã có nhiều khái niệm khác nhau về tín dụng được đưa ra. Song khái quát lại có thể hiểu tín dụng theo định nghĩa cơ bản sau:

Tín dụng là một phạm trù kinh tế phản ánh mối quan hệ giao dịch giữa hai chủ thể, trong đó một bên chuyển giao một lượng giá trị sang cho bên kia được sử dụng trong một thời gian nhất định, đồng thời bên nhận được phải cam kết hoàn trả theo thời hạn đã thoả thuận.” Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

  • Trong mối quan hệ giao dịch này thể hiện các nội dung sau:

Người cho vay chuyển giao cho người đi vay một lượng giá trị nhất định. Giá trị này có thể dưới hình thái tiền tệ hoặc dưới hình thái hiện vật như: hàng hoá, máy móc, thiết bị, bất động sản.

Người đi vay chỉ được sử dụng tạm thời trong một thời gian nhất định, sau khi hết thời hạn sử dụng theo thoả thuận, người đi vay phải hoàn trả cho người cho vay.

Giá trị hoàn trả thông thường lớn hơn giá trị lúc cho vay ban đầu hay nói cách khác người đi vay phải trả thêm phần lợi tức (lãi vay).

1.1.1.2. Đặc trưng của tín dụng ngân hàng

Sự tín nhiệm: tín dụng thực chất là sự cung cấp một lượng giá trị dựa trên cơ sở lòng tin. Ở đây, người cho vay tin tưởng người đi vay sẽ sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả, có khả năng trả nợ và có thiện chí trả nợ ngân hàng trong tương lai khi hợp đồng tín dụng đến hạn.

  • Tín dụng là sự chuyển nhượng một lượng giá trị có thời hạn.

Thời hạn cho vay là một trong những nội dung không thể thiếu trong bất kì hợp đồng tín dụng nào. Việc xác định thời hạn cho vay phụ thuộc vào chu kỳ sản xuất, kinh doanh, chu kỳ luân chuyển vốn, thời hạn thu hồi vốn của dự án đầu tư, khả năng trả nợ của khách hàng và nguồn vốn ngân hàng sử dụng để cho vay.

Tính hoàn trả: tín dụng là sự chuyển nhượng tạm thời một lượng giá trị trên nguyên tắc hoàn trả cả gốc và lãi. Đây là thuộc tính riêng của nghiệp vụ tín dụng. Trong quan hệ tín dụng ngân hàng, tiền vay được cấp trên cơ sở cam kết hoàn trả vô điều kiện. Điều này có nghĩa là bên đi vay phải hoàn trả vô điều kiện cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán.

1.1.1.3. Phân loại tín dụng ngân hàng.

Phân loại tín dụng là việc sắp xếp các khoản vay theo nhóm dựa trên một số tiêu thức nhất định. Phân loại tín dụng một cách khoa học sẽ giúp cho nhà quản trị lập một quy trình tín dụng thích hợp, giảm thiểu rủi ra tín dụng. Trong quá trình phân loại có thể dụng nhiều tiêu thức để phân loại, song thực tế các nhà kinh tế học thường phân loại tín dụng theo các tiêu chí sau đây.

  • Phân loại theo thời gian cấp tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới 1 năm và được sử dụng để bổ sung sự thiếu hụt tạm thời về vốn lưu động của doanh nghiệp và phục vụ các nhu cầu sinh hoạt của các cá nhân. Với loại tín dụng này, ít có rủi ro cho ngân hàng vì trong thời gian ngắn có ít biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng cũng có thể dự tính được. Cụ thể là ở những dạng như: chiết khấu các chứng từ có giá, ứng trước theo hợp đồng, khấu trừ chi qua tài khoản vãng lai…

Tín dụng trung hạn: Là loại tín dụng có thời hạn từ 1 năm đến 5 năm và chủ yếu được sử dụng để mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất và xây dựng các công trình nhỏ, có thời hạn thu hồi vốn nhanh. Loại tín dụng này có mức động rủi ro không cao vì ngân hàng có khả năng dự đoán được những biến động có thể xảy ra.

Tín dụng dài hạn: Là loại tín dụng có thời hạn trên 5 năm, được sử dụng để cấp vốn cho xây dựng cơ bản, đầu tư xây dựng các xí nghiệp mới, các công trình thuộc cơ sở hạ tầng ( đường xá, bến cảng, sân bay…), cải tiến và mở rộng sản xuất với quy mô lớn. Loại tín dụng này có mức độ rủi ro rất lớn vì trong thời gian dài thì có những biến động xảy ra không thể lường trước được.

  • Phân loại theo đồng tiền được sử dụng trong cho vay.

Cho vay bằng đồng nội tệ: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng VND. Nước ta quy định, cho vay để thanh toán trong nước thì chỉ được vay bằng VND.

Cho vay bằng ngoại tệ: là loại tín dụng mà ngân hàng cấp tiền cho khách hàng bằng đồng ngoại tệ. Nước ta quy định, cho vay bằng ngoại tệ chỉ phục vụ cho nhập khẩu đối với khách hàng thu mua hàng xuất khẩu thì ngân hàng cho vay bằng ngoại tệ nhưng phải bán luôn cho ngân hàng và dùng VND đi mua hàng xuất khẩu.

  • Phân loại theo mức độ đảm bảo.

Tín dụng có bảo đảm: là loại tín dụng dựa trên cơ sở các bảo đảm như thế chấp, cầm cố, hoặc có sự bảo lãnh của người thứ ba. Hình thức này được áp dụng đối với những khách hàng không có uy tín cao với ngân hàng. Mặc dù là có tài sản đảm bảo nhưng hình thức tín dụng này vẫn có độ rủi ro cao vì tài sản có thể bị mất giá hay người bảo lãnh không thực hiện nghĩa vụ của mình.

Tín dụng không có bảo đảm: là loại tín dụng không có tài sản thế chấp, cầm cố, hoặc không có sự bảo lãnh của người thứ ba. Việc cấp tín dụng chỉ dựa vào uy tín của bản thân khách hàng. Mặc dù không có tài sản đảm bảo nhưng đây là một loại tín dụng ít rủi ro cho ngân hàng vì khách hàng có uy tín rất lớn và khả năng trả nợ rất cao thì mới được cấp tín dụng mà không cần đảm bảo.

  • Phân loại theo đối tượng hoàn trả.

Cho vay đáp ứng yêu cầu về tài sản lưu động: là loại tín dụng được sử dụng để bù đắp vốn lưu động thiếu hụt tạm thời. Đây là loại tín dụng có mức động rủi ro thấp vì vốn lưu động của doanh nghiệp là vốn luân chuyển trong chu kì sản xuất kinh doanh.

Cho vay để đáp ứng yêu cầu về tài sản cố định: là loại tín dụng được sử dụng để đầu tư mua sắm tài sản cố định, cải tiến và đổi mới kỹ thuật, mở rộng sản xuất, xây dựng các xí nghiệp và các công trình mới. Hình thức tín dụng này thường có mức độ rủi ro cao vì khả năng thu hồi vốn chậm hơn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

  • Phân loại theo phương thức hoàn trả:

Cho vay hoàn trả một lần: là cho vay sẽ được hoàn trả duy nhất một lần vào thời gian xác định trong hợp đồng tín dụng, lãi vay có thể hoàn trả theo thỏa thuận trong hợp đồng.

Cho vay hoàn trả nhiều lần: là cho vay trong đó việc hoàn trả sẽ được tiến hành theo định kỳ, các khoản này có thể bằng nhau hoặc không tùy theo thỏa thuận và được thực hiện theo nguyên tắc trả dần trong suốt thời gian thực hiện hợp đồng.

  • Theo mục đích sử dụng tiền vay của người vay.

Tín dụng đối với người sản xuất và lưu thông hàng hóa: Là loại cấp tín dụng cho các đơn vị kinh doanh để tiến hành sản xuất, lưu tồn hàng hóa. Nguồn trả nợ của hoạt động này là kết quả hoạt động kinh doanh. Vì vậy Ngân hàng cần phải có đầy đủ các thông tin cần thiết về khách hàng của mình, về phương án kinh doanh của họ.

Cho vay bất động sản: là loại hình cho vay liên quan đến việc mua sắm và xây dựng các bất động sản như nhà ở, đất đai, bất động sản trong các lĩnh vực công nghiệp, thương mại, dịch vụ.

Tín dụng tiêu dùng: là loại tín dụng cho các cá nhân để đáp ứng nhu cầu tiêu dùng như mua sắm nhà cửa, xe cộ, các loại hàng hóa lâu bền như máy giặt, điều hòa, tủ lạnh… ở đây, nguồn trả nợ là thu nhập trong tương lai của người vay.

Ngoài ra tín dụng còn được phân chia theo các cách sau:

  • Theo xuất xứ của tín dụng: tín dụng trực tiếp và tín dụng gián tiếp.
  • Theo đối tượng được cho vay: Tín dụng cho doanh nghiệp, tổ chức tài chính khác vay và tín dụng cho nhà nước vay.

1.1.2.  Tín dụng ngắn hạn và vai trò của tín dụng ngắn hạn trong nền KT

1.1.2.1. Khái niệm tín dụng ngắn hạn.

Theo quyết định 324 của thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam tín dụng ngắn hạn là hình thức mà tổ chức tín dụng cho khách hàng vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu vốn sản xuất, kinh doanh, dịch vụ và đời sống.

Cho vay ngắn hạn là các khoản cho vay có thời hạn tối đa 12 tháng. Ngân hàng cho vay ngắn hạn nhằm đáp ứng nhu cầu về vốn sản xuất, kinh doanh dịch vụ, phục vụ đời sống của khách hàng

1.1.2.2. Đặc điểm của tín dụng ngắn hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Rủi ro tín dụng ngắn hạn thấp: Do khoản vay chỉ cấp trong thời gian ngắn (< 1 năm) có ít biến động xảy ra và nếu có xảy ra thì ngân hàng cũng có thể dự tính và kiểm soát được. Ngoài ra các khoản vay được cấp theo hình thức chiết khấu chứng từ có giá, dựa trên tài sản đảm bảo, bảo lãnh chắc chắc sẽ có khoản thu bù đắp trong tương lai vì vậy rủi ro mang đến thường thấp.

Quy mô tín dụng ngắn hạn nhỏ hơn các khoản tín dụng trung dài hạn. Do đó ngân hàng có thể thu hồi vốn nhanh hơn, vốn có thể quay vòng nhiều hơn và tổn thất mang lại cũng ít hơn.

Lợi nhuận thu được từ tín dụng ngắn hạn: Lợi nhuận thu về là lớn, Ngân hàng có thể dễ dàng thu hồi được khoản tín dụng của mình khi doanh nghiệp kết thúc một chu kỳ sản xuất kinh doanh.

Thời gian sử dụng vốn ngắn, tốc độ luân chuyển vốn nhanh, bổ sung vào nguồn vốn lưu động, mua hàng hóa dự trữ, vay phục vụ tiêu dùng nên những khoản tín dụng hạn thường được sử dụng rộng rãi mang tính chất mùa vụ, vốn luôn luân chuyển và tài trợ tạm thời cho các khoản chi phí sản xuất.

Hình thức phong phú: Nhằm đáp ứng nhu cầu rất đa dạng của khách hàng, phân tán rủi ro đồng thời tăng sức cạnh tranh trên thị trường tín dụng.

  • Lãi suất cho vay của các khoản tín dụng ngắn hạn này không

1.1.2.3. Phân loại tín dụng ngắn hạn.

  • Căn cứ vào mục đích sử dụng tiền vay, cho vay ngắn hạn bao gồm:

Cho vay kinh doanh: Ngân hàng cho vay nhằm đáp ứng nhu cầu vốn kinh doanh ngắn hạn cho các doanh nghiệp, hộ sản xuất kinh doanh, chủ yếu là bổ sung vốn lưu động thiếu hụt của khách hàng.

Cho vay tiêu dùng: nhằm đáp ứng nhu cầu tiêu dùng của các gia đình, cá nhân như chi tiêu thường xuyên, chi sửa chữa nhà cửa, chi mua sắm tài sản…

Căn cứ vào phương pháp cho vay, cho vay ngắn hạn bao gồm:

  • Cho vay từng lần.
  • Cho vay theo hạn mức tín dụng.
  • Cho vay khác: cho vay theo hạn mức thấu chi, cho vay theo hạn mức dự phòng…
  • Căn cứ vào loại tiền cho vay, cho vay ngắn hạn bao gồm: Cho vay nội tệ và Cho vay ngoại tệ.

Căn cứ vào bảo đảm tiền vay, cho vay ngắn hạn bao gồm:

  • Cho vay có đảm bảo bằng tài sản: cầm cố, thế chấp, bảo lãnh bằng tài sản của người thứ ba, bảo đảm bằng tài sản hình thành từ vốn vay Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.
  • Cho vay không có tài sản đảm bảo: tín chấp, bảo lãnh tín chấp…

Căn cứ vào tính chất của việc cấp vốn, cho vay ngắn hạn bao gồm:

  • Cho vay bổ sung vốn: Việc cho vay mang tính chất cấp thêm vốn cho khách hàng như: bổ sung vốn lưu động.
  • Cho vay trên tài sản: Ngân hàng cho vay dựa trên một loại tài sản của khách hàng. Việc cho vay này làm thay đổi hình thái vốn của khách hàng sang tiền, như: chiết khấu, bao thanh toán…

Căn cứ vào phương thức thanh toán, cho vay ngắn hạn bao gồm:

  • Cho vay hoàn trả một lần: Người vay trả gọn một lần cả gốc và lãi.
  • Cho vay hoàn trả nhiều lần: trả không đều hay trả góp.

Căn cứ vào đối tượng sử dụng vốn, cho vay ngắn hạn bao gồm:

  • Cho vay trực tiếp: tiền vay được phát trực tiếp cho người sử dụng.
  • Cho vay gián tiếp: Ngân hàng phát tiền vay gián tiếp thông qua một tổ chức trung gian, sau đó chuyển cho người sử dụng.

1.1.2.4. Vai trò của tín dụng ngắn hạn trong nền kinh tế thị trường.

Tín dụng đã trở thành một phần không thể thiếu trong cuộc sống của mỗi chúng ta. Tín dụng đã góp phần làm ổn định và phát triển sản xuất của nền kinh tế, các tổ chức và mỗi cá nhân. Cũng như các loại tín dụng khác, tín dụng ngắn hạn có vai trò cực kì quan trọng. Đặc biệt, trong bối cảnh Việt Nam là một nước trong giai đoạn đang phát triển thì tín dụng ngắn hạn càng có vai trò quan trọng. Là đòn bẩy mạnh mẽ thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế và góp phần điều hành nền kinh tế thị trường.

  • Đối với nền kinh tế.

Tín dụng ngân hàng góp phần vào quá trình vận động liên tục của nguồn vốn, làm tăng tốc độ chu chuyển tiền tệ trong nền kinh tế tạo cơ chế phân phối vốn một cách hiệu quả.Thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn cho sản xuất.

Ngân hàng đáp ứng nhu cầu để duy trì quá trình sản xuất được liên tục đồng thời góp phần đầu tư phát triển kinh tế. Việc phân phối vốn tín dụng đã góp phần điều hòa vốn trong toàn bộ nền kinh tế, tạo điều kiện cho quá trình sản xuất được liên tục. Do đặc điểm tuần hoàn vốn nên trong quá trình sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp luôn có sự không ăn khớp về thời gian và khối lượng giữa lượng tiền cần thiết để dự trữ vật tư hàng hóa cho quá trình sản xuất kinh doanh trước đó. Vì vậy, luân chuyển tiền tệ của doanh nghiệp lúc thừa lúc thiếu vốn. Nguồn vốn doanh nghiệp tạm thời nhàn rỗi cùng với các nguồn tiết kiệm dân cư, nguồn kết dư từ ngân sách… được ngân hàng thương mại huy động và sử dụng để đầu tư cho các doanh nghiệp tạm thời thiếu vốn, nhu cầu tiêu dùng tạm thời,cũng như nhu cầu chi của ngân sách nhà nước khi chưa có nguồn thu.

Thông qua cơ chế sàng lọc, giám sát Ngân hàng thương mại sẽ chỉ cho vay các dự án có tính khả thi cao, khả năng thu hồi vốn lớn. Điều này tạo nên một cơ chế phân phối vốn hiệu quả. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

  • Tín dụng ngân hàng góp phần hỗ trợ các chiến lược kinh tế và các chính sách tiền tệ.

Trong nền kinh tế thị trường, việc chú trọng phát triển lưu thông hàng hóa phải luôn gắn liền với ổn định lưu thông tiền tệ. Do tính ưu việt của mình, tín dụng ngân hàng đóng vai trò quyết định tới sự ổn định lưu thông tiền tệ. Trước hết ngân hàng là kênh quan trọng để đưa tiền vào lưu thông, có khả năng kiểm soát được khối lượng tiền lưu thông phù hợp với lưu thông hàng hóa. Nếu tín dụng ngân hàng hoạt động có hiệu quả thì khi cho vay sẽ đảm bảo cung ứng lượng tiền vào lưu thông là phù hợp.

Một trong những đặc điểm quan trọng của ngân hàng thương mại là khả năng tạo tiền thông qua hoạt động tín dụng và thanh toán. Khi nhà nước muốn tăng khối lượng tiền cung ứng thì ngân hàng nhà nước có thể tăng hạn mức tín dụng của các ngân hàng thương mại đối với nền kinh tế và ngược lại. Do vậy thông qua hình thức tín dụng ngân hàng nhà nước có thể kiểm soát được khối lượng tiền cung ứng trong lưu thông.

  • Tín dụng ngân hàng góp phần thúc đẩy quá trình mở rộng mối quan hệ giao lưu kinh tế quốc tế.

Trước xu thế quốc tế hóa, sự giao lưu kinh tế giữa các nước luôn được đặt ra. Trong nền kinh tế mở thì các doanh nghiệp không chỉ có quan hệ mua bán với các thành phần khác trong nền kinh tế mà còn có những quan hệ xuất nhập khẩu với các doanh nghiệp nước ngoài.Ngân hàng thương mại có thể thúc đẩy mối quan hệ này thông qua hình thức bảo lãnh, cho vay… đối với các doanh nghiệp để từ đó nâng cao uy tín của doanh nghiệp trên trường quốc tế.

Như vậy, tín dụng ngân hàng có vai trò quan trọng đối với sự phát triển kinh tế xã hội của một đất nước, nó thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển.

  • Là công cụ điều tiết vĩ mô của nhà nước.

Như ta đã biết cơ cấu kinh tế được quyết định bởi cơ cấu đầu tư mà tín dụng lại quyết định đến cơ cấu đầu tư. Nhà nước thông qua hoạt động của các ngân hàng thương mại, chủ yếu là hoạt động tín dụng để điều chỉnh cơ cấu kinh tế.

  • Đối với ngân hàng.

Hoạt dộng tín dụng nói chung và hoạt động tín dụng ngắn hạn nói riêng đã đảm bảo nguồn thu chủ yếu cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Đó là công cụ để tạo nên lợi nhuận và phòng chống rủi ro của ngân hàng.

Trong quá trình hoạt động, các nhà quản trị luôn quan tâm tới vấn đề phải tạo được thu bù đắp được các chi phí, mặt khác phải đảm bảo khả năng thanh toán của ngân hàng. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp các nhà quản trị điều này.

  • Đối với các doanh nghiệp.

Tín dụng ngắn hạn bổ sung vốn, tạo điều kiện cho doanh nghiệp mở rộng hoạt động sản xuất kinh doanh.

Ngân hàng với tư cách là một trung gian tài chính. Thông qua các hoạt động cho vay của mình ngân hàng đã đảm bảo cho các doanh nghiệp nói chung, doanh nghiệp nhà nước nói riêng không chỉ duy trì sản xuất kinh doanh mà còn tái sản xuất mở rộng.

Tín dụng ngắn hạn là hình thức tốt nhất để đáp ứng nhu cầu vốn lưu động hoặc sử dụng nguồn vốn tạm thời nhàn rỗi của doanh nghiệp bởi tính linh hoạt của nó. Tín dụng ngắn hạn không chỉ còn là nguồn vốn bổ sung nữa mà đã dần trở thành một nguồn vốn chủ yếu, quan trọng trong hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp. Tín dụng ngắn hạn giúp cho các doanh nghiệp không bỏ lỡ thời vụ làm ăn, duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh liên tục, quá trình lưu thông được thông suốt, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong toàn xã hội. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Mở rộng sản xuất kinh doanh, đổi mới thiết bị công nghệ, nâng cao chất lượng sản phẩm, tăng khả năng cạnh tranh, chiếm lĩnh được thị trường để thực hiện được các khoản đầu tư đó doanh nghiệp không chỉ cần có vốn lưu động tạm thời mà còn phải có một lượng vốn cố định và ổn định lâu dài. Tín dụng ngắn hạn có thể giúp cho các doanh nghiệp thoả mãn nhu cầu vốn phục vụ cho các hoạt động đầu tư mở rộng sản xuất kinh doanh đó.

  • Tín dụng ngắn hạn giúp các doanh nghiệp tăng cường quản lý và sử dụng vốn kinh doanh có hiệu quả.

Bản chất của tín dụng ngắn hạn không phải là hình thức cung ứng vốn mà là hoàn trả cả gốc và lãi sau một thời hạn qui định. Do đó, các doanh nghiệp sau khi sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh không chỉ cần thu hồi vốn là đủ mà còn phải tìm ra nhiều biện pháp để sử dụng vốn có hiệu quả, tiết kiệm, tăng nhanh vòng quay của vốn, đảm bảo tỷ suất lợi nhuận lớn hơn lãi suất ngân hàng thì doanh nghiệp mới có thể trả được nợ và thu lãi.

Do ngân hàng chỉ cấp tín dụng cho các doanh nghiệp có phương án khả thi, lợi nhuận đủ cao để có thể trả nợ ngân hàng. Vậy nên doanh nghiệp muốn có được vốn vay ngân hàng thì phải hoàn thiện năng lực tổ chức quản lý sản xuất kinh doanh để đảm bảo kinh doanh có hiệu quả. Mặt khác, trong thời hạn của hợp đồng tín dụng, ngân hàng sẽ thực hiện quy trình giám sát, kiểm tra, kiểm soát chặt chẽ trong và sau khi cho vay, buộc các doanh nghiệp phải thực hiện đúng như đã thoả thuận trong hợp đồng, sử dụng vốn đúng mục đích để đem lại hiệu quả cao nhất.

Quyền lợi của ngân hàng luôn gắn chặt với quyền lợi của khách hàng, nên ngân hàng sẽ sẵn sàng hợp tác với doanh nghiệp để tháo gỡ những khó khăn trong phạm vi cho phép, tư vấn cho doanh nghiệp về các vấn đề có liên quan, tạo điều kiện giúp doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh có hiệu quả.

  • Tín dụng ngắn hạn tác động tích cực đến nhịp độ phát triển, thúc đẩy cạnh tranh.

Trong điều kiện nền kinh tế thị trường, hoạt động của các doanh nghiệp chịu sự tác động mạnh mẽ của các quy luật kinh tế khách quan: quy luật giá trị, quy luật cung cầu, quy luật cạnh tranh, sản xuất phải trên cơ sở đáp ứng nhu cầu thị trường, thoả mãn nhu cầu thị trường trên mọi phương diện, không những thoả mãn về phương diện giá cả, khối lượng, chất lượng, chủng loại hàng hoá mà còn đòi hỏi thoả mãn cả trên phương diện thời gian, địa điểm. Để có thể đáp ứng tốt nhất các yêu cầu cạnh tranh của thị trường, doanh nghiệp không những cần nâng cao chất lượng lao động, củng cố và hoàn thiện cơ chế quản lý kinh tế, chế độ hạch toán kế toán, mà còn phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, dây chuyền công nghệ, tìm tòi sử dụng vật liệu mới, mở rộng qui mô sản xuất một cách thích hợp. Giải quyết vấn đề này, doanh nghiệp có thể tìm đến ngân hàng xin vay vốn thoả mãn nhu cầu đầu tư của mình. Thông qua hoạt động tín dụng, ngân hàng là chiếc cầu nối doanh nghiệp với thị trường, nguồn vốn tín dụng ngắn hạn cấp cho các doanh nghiệp đóng vai trò quan trọng trong việc nâng cao chất lượng mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh, giúp doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu thị trường, theo kịp với nhịp độ phát triển chung, từ đó tạo cho doanh nghiệp một chỗ đứng vững chắc trong cạnh tranh. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

1.1.2.5. Các hình thức tín dụng ngắn hạn.

Tín dụng trả góp: Tín dụng trả góp là hình thức cấp tín dụng mà khách hàng được trả dần số tiền theo quy định đã thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng. Thông thường nghiệp vụ này gắn liền với cho vay tiêu dùng. Do đó, nó có mối quan hệ chặt chẽ với việc mua bán hàng hóa. Tín dụng trả góp thường được áp dụng đối với những người có thu nhập ổn định.

  • Tín dụng chữ ký.

Tín dụng chấp nhận: Tín dụng chấp nhận là việc Ngân hàng đứng ra thực hiện nghiệp vụ chấp nhận thương phiếu cho khách hàng. Tức là xác nhận việc đảm bảo thanh toán của người trả tiền thương phiếu. Người phát hành thương phiếu sau khi được ngân hàng chấp nhận có thể sử dụng thương phiếu làm phương tiện chi trả hoặc chiết khấu tại ngân hàng. Ở nghiệp vụ này, Ngân hàng là chủ thể cho mượn uy tín của mình để khách hàng vay vốn.

Tín dụng chứng từ: Tín dụng chứng từ vừa là phương thức thanh toán quốc tể vừa là nghiệp vụ tín dụng, vì khi ngân hàng mở thư tín dụng cho khách hàng của mình là nhà nhập khẩu thì nhà xuất khẩu ở nước ngoài đã nhận được sự cam kết thanh toán của Ngân hàng khi họ xuất trình những chứng từ thanh toán phù hợp với những quy định trong thư tín dụng.

Tín dụng bảo lãnh: Tín dụng bảo lãnh là sự cam kết của ngân hàng sẽ thực hiện nghiệp vụ thay cho người được đảm lãnh nếu người này không thực hiện nghĩa vụ. Điều này được thực hiện bằng văn bản do ngân hàng phát hành gọi là chứng từ thư bảo lãnh. Hiện nay, có rất nhiều loại bảo lãnh như: bảo lãnh dự thầu, bảo lãnh thanh toán, bảo lãnh thuế quan…

Tín dụng thời vụ: Hoạt động thời vụ là hoạt động sản xuất được thực hiện ở một thời điểm nào đó trong năm khi việc tiêu thụ lại được thực hiện ở một thời điểm khác hoặc ngược lại việc sản xuất được rải đều trong năm để tránh chi phí đột biến tăng cao và dàn đều tổng chi phí trong khi việc tiêu thụ lại được thực hiện trong thời gian rất ngắn. Trong trường hợp này doanh nghiệp có nhu cầu thời vụ để tài trợ vốn lưu động và nó được thỏa mãn bằng tín dụng thời vụ.

  • Tín dụng ngân quỹ: Là nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn trong đó Ngân hàng cho khách hàng vay để đảm bảo sự cân đối ngân quỹ hàng ngày của khách hàng và được thực hiện chủ yếu bằng 2 hình thức:

Tín dụng ứng trước: Tín dụng ứng trước là một thể thức cho vay được thực hiện trên cơ sở hợp đồng tín dụng, trong đó khách hàng sử dụng một mức cho vay trong một thời hạn nhất định.

Thấu chi: Thấu chi là nghiệp vụ tín dụng trong đó khách hàng được ngân hàng cho phép sử dụng số tiền vượt quá số dư thực có trên tài khoản tiền gửi trong một giới hạn thỏa thuận có ghi trong hợp đồng tín dụng.

Chiết khấu thương phiếu: Chiết khấu thương phiếu là một nghiệp vụ tín dụng ngắn hạn được thực hiện dưới hình thức khách hàng chuyển quyền sở hữu thương phiếu chưa đáo hạn cho ngân hàng để nhận được một số tiền bằng mệnh giá của thương phiếu trừ đi lãi suất chiết khấu và hoa hồng phí. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Bao thanh toán: Bao thanh toán là nghiệp vụ do một công ty “Factor” của ngân hàng đưa ra nhằm giúp các doanh nghiệp bán đi những khoản nợ hiện có của mình để thu tiền. Những khoản nợ mà “Factor” mua thường theo nguyên tắc miễn truy đòi. “Factor” sẽ có trách nhiệm đối với việc kiểm soát toàn bộ tín dụng, thu hồi nợ và công việc kế toán bán hàng.

  • Theo mục đích vay vốn, các khoản vay NH được sử dụng với các mục đích:

Cho vay mua hàng dự trữ: Doanh nghiệp kinh doanh chưa thu được tiền bán hàng, họ cần có vốn để mua hàng mới, do đó phải vay vốn ngân hàng. Đây là các khoản vay truyền thống của ngân hàng, hiện nay chiếm 50% giá trị doanh mục cho vay của các ngân hàng thương mại.

Cho vay vốn lưu động: Những khoản vay ngắn hạn này thường được doanh nghiệp sử dụng đáp ứng nhu cầu sử dụng trong thời kỳ cao điểm của chu kỳ sản xuất kinh doanh. Doanh nghiệp dùng để mua hàng dự trữ, trả lương công nhân, nộp thuế…

Cho vay ngắn hạn các công trình xây dựng: Phục vụ hoạt động xây dựng, trong quá trình chờ giải ngân vốn, doanh nghiệp thường phải đi vay vốn ngắn hạn để thuê nhân công, mua thiết bị xây dựng, nguyên vật liệu. khi giai đoạn xây dựng kết thúc doanh nghiệp sử dụng vốn giải ngân để trả các khoản ngắn hạn hoặc sử dụng công trình đó để vay thế chấp dài hạn.

Cho vay kinh doanh chứng khoán: Ngân hàng cho vay ngắn hạn với khách hàng kinh doanh chứng khoán chính phủ và chứng khoán tư nhân. Những khoản vay kinh doanh chứng khoán chính phủ thường được ngân hàng sẵn sàng cho vay bởi đây là khoản vay có chất lượng cao,đảm bảo bằng chính các chứng khoán chính phủ mà nhà kinh doanh nắm giữ. Thời hạn của khoản vay này rất ngắn có khi chỉ là vay qua đêm hoặc vài ngày.

Cho vay kinh doanh bán lẻ: là những người kinh doanh hàng hóa lâu bền như ô tô, đồ dùng gia đình…Ngân hàng cho vay thông qua hỗ trợ người tiêu dùng mua trả góp hàng hóa các hợp đồng trả góp sẽ được ngân hàng mua lại.

Cho vay trực tiếp: như cho vay theo hạn mức, cho vay thấu chi, cho vay luân chuyển, cho vay từng lần.

1.2. Chất lượng tín dụng, các chỉ tiêu đánh giá và nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

1.2.1. Khái niệm chất lượng tín dụng.

Chất lượng tín dụng, giá cả và chất lượng hàng hóa là ba chỉ tiêu quan trọng để đánh giá sức mạnh và khả năng của doanh nghiệp. Để có thể đứng vững trong hoạt động kinh doanh thì việc cải thiện chất lượng sản phẩm là điều thiết yếu. Các nhà kinh tế nói đến chất lượng bằng nhiều cách khác nhau: Chất lượng là “ Sự phù hợp với mục đích và sử dụng” là “ một trình độ dự kiến trước về độ đồng đều và độ tin cậy với chi phí thấp và sự phù hợp với thị trường” hay chất lượng là “năng lực của một sản phẩm hoặc một dịch vụ nhằm thỏa mãn những nhu cầu của người sử dụng”.

Chất lượng tín dụng: ”Là sự đáp ứng yêu cầu tín dụng của khách hàng phù hợp với sự phát triển kinh tế xã hội đảm bảo sự tồn tại và phát triển của ngân hàng, hay chất lượng tín dụng là kết quả tổng hợp của những thành tựu hoạt động tín dụng thể hiện ở sự phát triển ổn định, vững chắc của nền kinh tế quốc dân”.

Chất lượng tín dụng có thể được nhìn nhận dưới các góc độ kinh tế khác nhau, từ phía ngân hàng, từ phía khách hàng, từ phía nền kinh tế – xã hội.

Đối với khách hàng: Chất lượng tín dụng được thể hiện ở chỗ số tiền mà ngân hàng cho vay phải có lãi suất và kỳ hạn hợp lý, thủ tục đơn giản, thuận lợi, thu hút được nhiều khách hàng nhưng vẫn đảm bảo được nguyên tắc tín dụng. Đối với các doanh nghiệp thì quan trọng nhất là tín dụng ngân hàng đáp ứng được yêu cầu vay vốn và làm cho đồng vốn sử dụng có hiệu quả.

Từ phía ngân hàng : Chất lượng tín dụng thể hiện ở phạm vi mức độ, giới hạn tín dụng phải phù hợp với khả năng, thực lực theo hướng tích cực của bản thân ngân hàng, đảm bảo nguyên tắc hoàn trả đúng hạn và có lãi . Đối với một ngân hàng nhỏ thì nên cấp tín dụng với mức độ và trong phạm vi nhất định để thỏa mãn một cách tốt nhất khách hàng của mình.

Xét từ góc độ nền kinh tế – xã hội : Chất lượng tín dụng được thể hiện ở việc tín dụng phục vụ sản xuất và lưu thông hàng hóa, góp phần giải quyết công ăn việc làm, khai thác khả năng tiềm tàng trong nền kinh tế thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung sản xuất.Tín dụng ngân hàng phản ánh sự năng động của nền kinh tế khi chuyển sang cơ chế thị trường. Tín dụng phải huy động mức tối đa vốn tiền tệ tạm thời nhàn rỗi trong nền kinh tế xã hội để cung ứng cho các doanh nghiệp, hỗ trợ các doanh nghiệp phát triển.

Chất lượng tín dụng thể hiện ở tính an toàn cao của hệ thống ngân hàng. Tín dụng ngân hàng đảm bảo được chất lượng thì khả năng thanh toán chi trả cao, tránh được rủi ro hệ thồng. Nâng cao chất lượng tín dụng làm cho hệ thống ngân hàng lớn mạnh, đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế vĩ mô, thúc đẩy nền kinh tế phát triển hòa nhập với cộng đồng quốc tế.

Tóm lại, chất lượng tín dụng là một khái niệm vừa cụ thể vừa trìu tượng, là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp. Để có chất lượng tín dụng thì hoạt động tín dụng phải có hiệu quả và quan hệ tín dụng phải được thiết lập trên cơ sở tin cậy và uy tín của ngân hàng. Hiểu đúng bản chất và phân tích, đánh giá đúng chất lượng tín dụng, cũng như xác định chính xác các nguyên nhân tồn tại của chất lượng tín dụng sẽ giúp ngân hàng tìm được giải pháp quản lý thích hợp để có thể đứng vững trong nền kinh tế thị trường có sự cạnh tranh gay gắt hiện nay.

1.2.2. Các chỉ tiêu đánh giá chất lượng tín dụng ngắn hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

1.2.2.1. Các chỉ tiêu định tính.

Thái độ phục vụ của nhân viên tín dụng cũng như nhân viên toàn ngân hàng nhiệt tình và thân thiện, có trình độ chuyên môn và đạo đức nghề nghiệp.

Quy trình thủ tục làm hồ sơ vay vốn nhanh chóng, dễ hiểu. Ngân hàng luôn tạo cho khách hàng sự thoải mái, tin cậy và an toàn khi được sử dụng nguồn vốn ngắn hạn của ngân hàng.

Công tác quản trị, kiểm tra giám sát rủi ro của ngân hàng đã tốt chưa?có cần nâng cao nhằm hạn chế rủi ro có thể xảy ra ở mức thấp nhất.

Ngân hàng chấp hành nghiêm chỉnh quy định pháp luật, quy chế về tín dụng ngắn hạn của chính phủ và Ngân hàng nhà nước.

Quy trình nghiệp vụ cho vay linh hoạt, sáng tạo phù hợp với từng loại khách hàng. Chế độ đảm bảo tiền vay được thực hiện nghiêm túc, công tác quản lý nguồn vốn chặt chẽ.

Việc thẩm định năng lực và khả năng trả nợ của khách hàng được ngân hàng coi trọng, nguồn thông tin được thu thập từ nhiều khía cạnh, đảm bảo ngân hàng nắm rõ được năng lực kinh doanh, tình hình hoạt động của khách hàng từ đó tìm ra được những khách hàng tiềm năng trong tương lai. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Mức cho vay hợp lý phù hợp với nhu cầu sản xuất kinh doanh, dự trữ hàng hóa và hoạt động tiêu dùng với thời hạn và lãi suất hợp lý.

Hoạt động kiểm tra, giám sát trước, trong và sau khi vay được thực hiện tốt đảm bảo phát hiện và xử lý kịp thời các khoản tín dụng ngắn hạn có vấn đề.

Cơ sở hạ tầng đáp ứng tốt điều kiện làm việc cũng như nhu cầu của khách hàng trong môi trường làm việc ngày càng cạnh tranh khốc liệt.

Công tác thu hồi nợ nhanh chóng, hiệu quả.

Uy tín của ngân hàng và các mối quan hệ với khách hàng truyền thống cũng góp phần làm nên chất lượng tín dụng của ngân hàng.

Khách hàng có thiện chí trả nợ.

Như vậy, dựa trên các chỉ tiêu định tính có thể đánh giá được phần nào chất lượng tín dụng của các ngân hàng thương mại.

1.2.2.2. Các chỉ tiêu định lượng.

1. Chỉ tiêu dư nợ, doanh số cho vay ngắn hạn.

Chỉ tiêu doanh số cho vay phản ánh kết quả về việc phát triển, mở rộng hoạt động cho vay và tốc độ tăng trưởng tín dung ngân hàng. Nếu như các nhân tố khác cố định thì doanh số cho vay càng cao phản ánh việc mở rộng hoạt động cho vay của ngân hàng càng tốt và ngược lại.

  • Tỷ lệ dư nợ tín dụng ngắn hạn = Dư nợ ngắn hạn/Tổng dư nợ
  • Doanh số cho vay ngắn hạn
  • Tỷ lệ doanh số cho vay NH =
  • Tổng doanh số cho vay

Hai chỉ tiêu này cho biết cơ cấu dư nợ và cơ cấu doanh số cho vay của tín dụng ngắn hạn trong tổng dư nợ và tổng doanh số cho vay. Từ đó có thể so sánh hiệu quả hoạt động tín dụng ngắn hạn với các hoạt động tín dụng trung dài hạn.

Phản ánh tổng dư nợ cho vay ngắn hạn của ngân hàng tại một thời điểm nhất định, thường là cuối kỳ kinh doanh. Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn cao và tăng trưởng nhìn chung phản ánh một phần hiệu quả hoạt động tín dụng và ngược lại thì ngân hàng không có khả năng mở rộng hoạt động tín dụng cho vay hay mở rộng thị phần, khả năng tiếp thị của ngân hàng kém.

Một số trường hợp, tổng dư nợ tín dụng cao chưa hẳn đã phản ánh hiệu quả tín dụng của ngân hàng cao vì nó biểu hiện sự tăng trưởng nóng của hoạt động tín dụng, vượt quá khả năng về vốn cũng như khả năng kiểm soát rủi ro của ngân hàng, hoặc mức dư nợ cao, hoặc tốc độ tăng trưởng nhanh do mức lãi suất cho vay của ngân hàng thấp so với thị trường dẫn đến tỷ suất lợi nhuân giảm. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

2. Chỉ tiêu tỷ lệ thu nợ ngắn hạn.

Chỉ tiêu này đánh giá hiệu quả sử dụng vốn tín dụng ngắn hạn trong việc thu hồi nợ của ngân hàng. Nó phản ánh trong một kỳ nào đó, với doanh số cho vay nhất định thì ngân hàng sẽ thu về được bao nhiêu đồng vốn. Tỷ lệ càng cao càng tốt.

  • Doanh số thu nợ ngắn hạn
  • Tỷ lệ thu hồi nợ =
  • Doanh số cho vay ngắn hạn

3. Chỉ tiêu nợ quá hạn, nợ xấu.

Nợ quá hạn là những khoản nợ mà thời gian tồn tại của nó vượt quá thời gian cho vay theo thỏa thuận giữa ngân hàng và khách hàng cộng với thời gian đã được gia hạn thêm nếu khách hàng yêu cầu. Nợ quá hạn có thể do nhiều nguyên nhân khác nhau từ phía doanh nghiệp, hay do khách quan… Các ngân hàng luôn mong muốn giảm thấp tỷ lệ nợ quá hạn bởi nó làm giảm lợi nhuận của ngân hàng.

  • Tổng dư nợ quá hạn ngắn hạn
  • Tỷ lệ nợ quá hạn =
  • Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

Tỷ lệ nợ quá hạn cho biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ quá hạn. Tỷ lệ nợ quá hạn cao chứng tỏ chất lượng tín dụng thấp.

Các tỷ lệ này càng nhỏ thì phản ánh chất lượng hoạt động của ngân hàng đó là hiệu quả, không có rủi ro mất vốn. Còn nếu các tỉ lệ này càng lớn thì ngân hàng sẽ gặp khó khăn trong kinh doanh, có thể từ việc mất khả năng thanh toán hoặc tệ hơn nữa là phá sản.

  • Tổng Nợ xấu ngắn hạn
  • Tỷ lệ nợ xấu ngắn hạn =
  • Tổng dư nợ cho vay ngắn hạn

Chỉ tiêu này phản ánh các khoản nợ đã quá thời hạn gia hạn nợ mà khách hàng vẫn còn nợ ngân hàng. Cùng với chỉ tiêu nợ quá hạn, chỉ tiêu này thể hiện chất lượng tín dụng tốt hay xấu. Tỷ lệ này càng cao biểu hiện cho dấu hiệu của một khoản tín dụng xấu. Tốt nhất nên hạn chế ở mức 5%. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Tỷ lệ nợ xấu cho ta biết trong một đồng dư nợ có bao nhiêu đồng là nợ xấu. tỷ lệ nợ xấu trên tổng dư nợ là tỷ lệ đánh giá chất lượng tín dụng của tổ chức tín dụng. Nợ xấu có độ rủi ro cao, khả năng thu hồi vốn tương đối khó, khoản vốn của ngân hàng lúc này không còn là rủi ro nữa mà đã gây thiệt hại cho ngân hàng. Đây là kết quả trực tiếp biểu hiện chất lượng của khoản tín dụng cấp cho khách hàng. Một ngân hàng có tỷ lệ nợ xấu cao chứng tỏ chất lượng tín dụng của ngân hàng là rất thấp và lúc cần xem xét lại toàn bộ hoạt động tín dụng của mình nếu không hậu quả khó lường trước được.

4. Chỉ tiêu vòng quay vốn tín dụng.

Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn của ngân hàng được sử dụng cho vay mất mấy lần trong năm.

  • Doanh số thu nợ ngắn hạn
  • Vòng quay vốn tín dụng ngắn hạn(vòng)=
  • Dư nợ ngắn hạn bình quân

Sự quay vòng vốn nhanh hay chậm của loại tín dụng này, khả năng tổ chức, quản lý vốn tín dụng, đồng thời thể hiện chất lượng cho vay của ngân hàng trong việc sử dụng hiệu quả nguồn vốn cho vay và đáp ứng nhu cầu của khách hàng, để có thể đánh giá chính xác chất lượng tín dụng, hoặc được quy đổi đồng nhất trong việc áp dụng cho từng loại vay cụ thể.

Chỉ tiêu này càng lớn càng tốt, nó chứng tỏ nguồn vốn ngân hàng đã luân chuyển nhanh, tham gia vào nhiều chu kỳ sản xuất kinh doanh.

5. Chỉ tiêu hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn.

Chỉ tiêu này rất quan trọng vì nó đánh giá hiệu quả sử dụng vốn của ngân hàng, liệu ngân hàng đã sử dụng hết khả năng của mình trong cho vay ngắn hạn hay chưa?

Hiệu suất sử dụng vốn ngắn hạn= Dư nợ ngắn hạn/Nguồn vốn ngắn hạn

6. Chỉ tiêu về thu nhập.

  • Tỷ trọng thu nhập =
  • Thu nhập từ hoạt động tín dụng ngắn hạn
  • Thu nhập của ngân hàng

Chỉ tiêu này cho biết mức độ đóng góp của hoạt động tín dụng ngắn hạn vào toàn bộ kết quả kinh doanh của ngân hàng. Tỷ lệ này cao tức thu nhập tín dụng ngắn hạn lớn, chất lượng cao.

1.2.3. Các nhân tố ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng ngắn hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

1.2.3.1. Các nhân tố thuộc về phía ngân hàng.

  • Chính sách tín dụng của ngân hàng.

Chính sách tín dụng là định hướng cơ bản. Là kim chỉ nam cho hoạt động tín dụng của ngân hàng. Nó có ý nghĩa quyết định đến sự thành công hay thất bại của ngân hàng. Để đảm bảo và nâng cao chất lượng tín dụng, ngân hàng cần phải có chính sách tín dụng phù hợp với đường lối phát triển kinh tế đồng thời kết hợp được lợi ích của người gửi tiền, của ngân hàng và của người vay tiền.

Một chính sách đúng đắn sẽ thu hút được nhiều khách hàng, đảm bảo khả năng sinh lời từ hoạt động tín dụng trên cơ sở hạn chế rủi ro, tuân thủ phương pháp đường lối, chính sách của nhà nước và bảo đảm công bằng xã hội. Điều đó cũng có nghĩa chất lượng tín dụng phụ thuộc rất nhiều vào việc xây dựng chính sách tín dụng của ngân hàng thương mại có đúng đắn hay không. Bất cứ Ngân hàng nào muốn có chất lượng tín dụng tốt cũng đều phải có chính sách tín dụng khoa học phù hợp với thực tế của ngân hàng cũng như thị trường.

  • Chất lượng của công tác thẩm định dự án.

Thẩm định là công việc đòi hỏi nhiều thời gian và kỹ thuật tính toán phức tạp. Do công việc này là cơ sở để quyết định có cấp tín dụng hay không cho nên chất lượng của công tác này sẽ ảnh hưởng rất lớn tới chất lượng hoạt động tín dụng. Nếu chất lượng của công tác thẩm định không cao tức là nhân viên tín dụng không xác định thực chất dự án có hiệu quả hay không thì những khoản tín dụng mà ngân hàng đã cấp sẽ gặp những rắc rối trong việc thu hồi các món nợ của mình. Chính vì vậy công tác thẩm định đòi hỏi các nhân viên thẩm định có trình độ cao và sự kết hợp một cách có hiệu quả giữa các phòng ban trong ngân hàng.

  • Quy trình tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Quy trình tín dụng là trình tự tổ chức thực hiện các bước kỹ thuật nghiệp vụ cơ bản, chỉ rõ cách làm, trình tự các bước khi bắt đầu đến kết thúc một giao dịch thuộc chức năng nhiệm vụ của cán bộ tín dụng và lãnh đạo ngân hàng có liên quan. Quy trình tín dụng là yếu tố quan trọng, nếu nó được tổ chức khoa học, hợp lý sẽ cho phép đảm bảo thực hiện các khoản cho vay có chất lượng. Trong quy trình này nếu các khâu được thực hiện tốt nó sẽ giúp cho ngân hàng lựa chọn được các dự án tốt để cấp tín dụng, cũng như tạo uy tín trong lòng khách hàng.

Quy trình tín dụng của Ngân hàng thương mại không mang tính cứng nhắc. Đối với mỗi khách hàng khác nhau, ngân hàng có thể chủ động, linh hoạt, thực hiện các bước trong quy trình tín dụng cho phù hợp. Ngân hàng phải kiểm tra, giám sát việc sử dụng vốn để có những biện pháp điều chỉnh, can thiệp khi cần thiết, sớm ngăn ngừa rủi ro có thể xảy ra nhằm nâng cao chất lượng tín dụng. Như vậy, công tác tổ chức thực hiện hoạt động tín dụng có thể hỗ trợ đắc lực cho nhân viên tín dụng thực hiện công việc của mình và nó có ảnh hưởng quan trọng đến chất lượng hoạt động tín dụng của ngân hàng thương mại.

  • Chất lượng của đội ngũ nhân sự.

Yếu tố mang tính quyết định đến việc nâng cao hay suy giảm chất lượng tín dụng lại chính là nguồn nhân lực của ngân hàng. Một ngân hàng với một đội ngũ lãnh đạo tốt sẽ đưa ra được những chính sách hợp lý và phương thức phát triển phù hợp với khuynh hướng phát triển của nền kinh tế. Ngân hàng có một đội ngũ cán bộ tín dụng giỏi, được đào tạo có hệ thống, an hiểu và có kiến thức phong phú về thị trường đặc biệt trong lĩnh vực đầu tư vốn, nắm vững văn bản pháp luật có liên quan đến hoạt động tín dụng sẽ giúp ngân hàng có được những khoản cho vay với chất lượng cao nhất.

Cán bộ tín dụng phải có tiêu chuẩn về đạo đức và sự liêm khiết, bởi lẽ nếu cán bộ tín dụng thiếu trách nhiệm hay cố tình vi phạm có thể gây tổn thất rất lớn cho ngân hàng.

  • Công nghệ ngân hàng, trang thiết bị kỹ thuật.

Đây cũng là một nhân tố tác động tới chất lượng ngắn hạn của ngân hàng, nhất là trong thời đại khoa học kĩ thuật phát triển như vũ bão hiện nay. Một ngân hàng sử dụng công nghệ hiện đại được trang bị các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ tạo điều kiện đơn giản hóa các thủ tục, rút ngắn thời gian giao dịch, đem lại sự tiện lợi tối đa cho khách hàng vay vốn. Đó là tiền đề để ngân hàng thu hút thêm khách hàng, mở rộng tín dụng. Sự hỗ trợ của các phương tiện kỹ thuật chất lượng cao sẽ giúp cho việc thu thập thông tin nhanh chóng, chính xác, công tác lập kế hoạch, xây dựng chính sách tín dụng cũng có hiệu quả hơn.

  • Kiểm soát nội bộ. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Thông qua kiểm soát nội bộ giúp cho nhà lãnh đạo ngân hàng nắm được tình hình hoạt động kinh doanh đang diễn ra, phát hiện những thuận lợi, khó khăn, sai trái từ đó đề ra các biện pháp giải quyết kịp thời, tạo điều thuận lợi cho nâng cao chất lượng tín dụng.

Chất lượng tín dụng phụ thuộc vào việc chấp hành những quy định thể lệ, chính sách và mức độ phát hiện kịp thời các sai sót cũng nguyên nhân dẫn đến những lệch lạc trong quá trình thực hiện một khoản tín dụng.

  • Tình hình huy động vốn.

Tình hình huy động vốn ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng. Vốn huy động ngắn hạn là nguồn chủ yếu để cho vay ngắn hạn, vốn huy động trung dài hạn là nguồn vốn để cho vay trung dài hạn, đôi khi do chính sách tín dụng ngân hàng cũng có thể lấy vốn đó cho vay ngắn hạn. Vốn huy động càng lớn, ngân hàng thương mại càng có khả năng cho vay, mở rộng tín dụng. Nếu ngân hàng không có sự phù hợp về kỳ hạn giữa nguồn vốn huy động và cho vay mà không dự kiến được nguồn bù đắp thì rủi ro thanh khoản sẽ xảy ra.

1.2.3.2. Các nhân tố thuộc về khách hàng.

Khách hàng là người lập phương án, dự án xin vay và khi được ngân hàng chấp nhận, khách hàng là người trực tiếp sử dụng vốn vay để kinh doanh. Vì vậy, khách hàng cũng ảnh hưởng đến chất lượng tín dụng.

  • Năng lực, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của khách hàng.

Chất lượng tín dụng phụ thuộc rất lớn vào năng lực tổ chức, kinh nghiệm quản lý kinh doanh của người vay. Đây chính là tiền đề tạo ra khả năng kinh doanh có hiệu quả của khách hàng, là cơ sở cho khách hàng thực hiện cam kết hoàn trả đúng hạn nợ ngân hàng cả gốc và lãi. Nếu trình độ của người quản lý còn bị hạn chế về nhiều mặt như học vấn, kình nghiệm thực tế… thì doanh nghiệp rất dễ bị thua lỗ, dẫn đến khả năng trả nợ kém, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng của ngân hàng.

  • Uy tín, đạo đức của khách hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Đạo đức của người vay là một yếu tố quan trọng của quy trình thẩm định, được đánh giá bằng phẩm chất đạo đức và qua những kết quả hoạt động kinh doanh trong quá khứ, hiện tại và chiến lược phát triển trong kinh doanh.

Tuy nhiên tính chân thật và khả năng chi trả của người vay có thể thay đổi sau khi món vay được thực hiện. Khách hàng có thể lừa đảo ngân hàng thông qua việc gian lận về số liệu, giấy tờ, quyền sở hữu tài sản, sử dụng vốn vay không đúng mục đích, không đúng đối tượng kinh doanh, phương án kinh doanh… Việc khách hàng gian lận tất yếu dẫn đến rủi ro cho ngân hàng.

Uy tín của khách hàng cũng là một yếu tố đáng qua tâm, uy tín khách hàng là tiêu chí để đánh giá sự sẵn sàng trả nợ và kiên quyết thực hiện các nghĩa vụ cam kết trong hợp đồng từ phía khách hàng. Uy tín của ngân hàng thể hiện ở các khía cạnh: chất lượng, giá cả hàng hóa dịch vụ, sản phẩm, mức độ chiếm lĩnh thị trường, chu kỳ sống của sản phẩm, các quan hệ kinh tế tài chính, vay vốn, trả nợ với khách hàng…Uy tín được khẳng định và kiểm nghiệm bằng kết quả thực tế trên thị trường qua thời gian càng dài càng chính xác. Do đó, ngân hàng cần phân tích các số liệu và tình hình trong suốt quá trình phát triển của khách hàng để đưa ra kết luận chính xác.

  • Rủi ro trong công việc kinh doanh của khách hàng.

Trong sản xuất kinh doanh, rủi ro phát sinh dưới nhiều hình thái khác nhau: do thiên tai, hỏa hoạn, do năng lực sản xuất kinh doanh yếu kém, là nạn nhân của sự thay đổi chính sách của nhà nước. do bị lừa đảo, trộm cắp… Ví dụ như giá bán nguyên vật liệu tăng vọt nhưng giá bán sản phẩm thì không thay đổi sẽ là lợi nhuận của doanh nghiệp giảm, ảnh hưởng đến việc trả nợ ngân hàng. Nếu doanh nghiệp tăng giá sản phẩm lên thì sẽ bị khó khăn trong việc tiêu thụ sản phẩm, khả năng thu hồi vốn chậm, dễ dàng vi phạm việc trả nợ Ngân hàng về mặt thời hạn.

  • Tài sản đảm bảo.

Quyền sở hữu tài sản là một trong những tiêu chuẩn để được cấp tín dụng (có thể là tài sản đảm bảo hoặc tín chấp). Hiện nay có rất nhiều tài sản của các pháp nhân và cá nhân không có giấy chứng nhận sở hữu. Tài sản cố định phần lớn là nhà xưởng, máy móc, thiết bị bị lạc hậu không đủ tiêu chuẩn thế chấp. Trong khi đó nhu cầu vay vốn ngân hàng là rất lớn. Như vậy nếu cho vay theo đúng chế độ thì hầu hết các doanh nghiệp không đủ điều kiện để cho vay hoặc được cho vay nhưng không đáng kể.

1.2.3.3. Các nhân tố thuộc về môi trường.

  • Môi trường kinh tế.

Tính ổn định về kinh tế và chính sách kinh tế của mỗi quốc gia luôn có tác động trực tiếp đến hoạt động kinh doanh và hiệu quả kinh doanh trên thị trường. Tính ổn định về kinh tế mà trước hết và chủ yếu là ổn định về tài chính quốc gia, ổn định tiền tệ, khống chế lạm phát mà những điều mà các doanh nghiệp kinh doanh rất quan tâm và ái ngại vì nó liên quan trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp. Nền kinh tế ổn định sẽ là điều kiện, môi trường thuận lợi để các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh và thu được lợi nhuận cao, từ đó góp phần tạo nên sự thành công trong kinh doanh của ngân hàng. Trong trường hợp ngược lại, sự bất ổn cũng bao trùm đến các hoạt động của ngân hàng, làm ảnh hưởng tới chất lượng tín dụng, gây tổn thất cho ngân hàng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

  • Môi trường chính trị.

Môi trường chính trị đang và sẽ tiếp tục đóng vai trò quan trọng trong kinh doanh, đặc biệt đối với các hoạt động kinh doanh ngân hàng. Tính ổn định về chính trị trong nước sẽ là một trong những nhân tố thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động kinh doanh có hiệu quả. Nếu xảy ra các diễn biến gây bất ổn chính trị như: chiến tranh, xung đột đảng phái, cấm vận, bạo động… có thể dẫn đến nhiều thiệt hại cho doanh nghiệp và cả nền kinh tế nói chung (làm tê liệt sản xuất, lưu thông hàng hóa đình trệ..) và như vậy, những khoản tiền doanh nghiệp vay ngân hàng sẽ khó được hoàn trả đầy đủ và đúng hạn, ảnh hưởng xấu đến chất lượng tín dụng.

  • Môi trường pháp lý.

Một trong những bộ phận của môi trường bên ngoài ảnh hưởng đến hoạt động của doanh nghiệp nói chung và NHTM nói riêng là hệ thống pháp luật. Với một môi trường pháp lý chưa hoàn chỉnh, thiết tính đồng bôn, thống nhất giữa các luật, văn bản dưới luật, đồng thời với nó là sự sắc nhiễu của các cơ quan hành chính có liên quan sẽ khiến cho doanh nghiệp gặp phải những khó khăn, thiếu đi tính linh hoạt cần thiết, vốn đưa vào kinh doanh dễ bị rủi ro. Do đó, xây dựng môi trường pháp lý lành mạnh sẽ tạo thuận lợi cho việc nâng cao hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp trong đó có ngân hàng.

  • Môi trường cạnh tranh.

Có thể nói đây là yếu tố tác động mạnh mẽ đến chất lượng tín dụng nói riêng và hoạt động kinh doanh chung của NHTM. Sự tác động đó diễn ra theo hai chiều hướng: thứ nhất, để chiếm ưu thế trong cạnh tranh ngân hàng luôn phải quan tâm đầu tư trang thiết bị tốt, tăng cường đội ngũ nhân viên có trình độ, củng cố, khuyếch trương uy tín và thế mạnh của ngân hàng. Hướng tác động này đã tạo điều kiện nâng cao chất lượng tín dụng. Tuy nhiên, ở hướng thứ hai, dưới áp lực cạnh tranh gay gắt các ngân hàng có thể bỏ qua những điều kiện tín dụng cần thiết khiến cho độ rủi ro tăng lên, làm giảm chất lượng tín dụng.

  • Môi trường tự nhiên.

Những biến động bất khả kháng xảy ra trong môi trường tự nhiên như thiên tai (hạn hán, lũ lụt, động đất…) hỏa hoạn làm ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của khách hàng, đặc biệt là trong các ngành có liên quan đến nông nghiệp, thủy sản, hải sản. Vì vậy khi môi trường tự nhiên không thuận lợi thì doanh nghiệp sẽ gặp khó khăn từ đó làm giảm chất lượng tín dụng của ngân hàng thương mại.

1.2.4. Giải pháp nâng cao chất lượng tín dụng ngắn hạn. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

1. Xây dựng chiến lược kinh doanh

Chiến lược kinh doanh của một Ngân hàng luôn là sự thể hiện các mục tiêu dài hạn cơ bản của Ngân hàng, sự lựa chọn đường lối hoạt động và phân bổ các nguồn lực cần thiết để đạt được các mục tiêu này.Để theo đuổi mục tiêu này Ngân hàng nên thực hiện đồng thời các biện pháp sau:

Củng cố và phát triển khách hàng truyền thống. Là những khách hàng có quan hệ tín dụng thường xuyên từ trước đến nay, giữa Ngân hàng và khách hàng có mối quan hệ khăng khít, gắn bó mật thiết lẫn nhau, hiểu rõ nhau.

Mở rộng có chọn lọc đối với khách hàng mới, khách hàng có tiềm năng trong tương lai. Đồng thời thiết lập và nâng cao hiệu quả xử lý thông tin tín dụng trên cơ sở Ngân hàng phải lựa chọn khách hàng bằng nhiều biện pháp cần thiết để mở rộng thị phần khách hàng đối với các tổ chức kinh tế cũng như khách hàng cá nhân.

2. Đa dạng hoá hình thức huy động vốn.

Đối với tiền gửi doanh nghiệp: Ngân hàng cần phải nâng cao hiệu quả nhanh chóng, an toàn của các công cụ thành toán để hấp dẫn việc thanh toán qua Ngân hàng đối với khách hàng.

Đối với tiền gửi tiết kiệm: Đa dạng hoá các hình thức huy động: Ngoài tiền gửi không kỳ hạn, có kỳ hạn Ngân hàng có những hình thức huy động khác như: Tiết kiệm điện tử, tiết kiệm tại nhà.

Đối với các công cụ nợ: Ngân hàng cần tăng cường phát hành các công cụ nợ với hình thức đa dạng hơn.

3. Đa dạng hoá hoạt động tín dụng.

Đa dạng hoá phương thức cho vay: Ngân hàng nên mở rộng cung ứng cho vay bằng hình thức chiết khấu thương phiếu. Đây là một nghiệp vụ ít rủi ro vì chiết khấu cho phép Ngân hàng có quyền được truy đòi khi không thu được nợ của người phát hành.

Đa dạng hoá về lĩnh vực cho vay của Ngân hàng: thương mại dịch vụ, xây dựng cơ bản…

4. Thực hiện có hiệu quả quy trình nghiệp vụ tín dụng. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

Để cho vay đạt hiệu quả cao khi cho vay, cần thực hiện đầy đủ và chặt chẽ quy trình cho vay, đặc biệt làm tốt công tác thẩm định dự án vay vốn, nắm bắt được các thông tin về khách hàng, tình hình sản xuất kinh doanh của khách hàng, mục đích sử dụng vốn, làm tốt công tác thẩm tra trong mỗi công đoạn của quá trình cho vay nhằm nâng cao chất lượng cho vay, giảm rủi ro cho Ngân hàng, thúc đẩy sản xuất phát triển bởi nếu phương án dự án vay vốn khả thi, khách hàng sử dụng vốn vay có hiệu quả thì khả năng trả nợ cho Ngân hàng gần như chắc chắn. Mức độ trong các khâu kiểm định, kiểm tra, kiểm soát càng cao thì khả năng thu hồi vốn của Ngân hàng càng lớn và điều này đảm bảo chất lượng tín dụng của Ngân hàng. Do vậy, việc hoàn thiện về nghiệp vụ trong quá trình tín dụng là một việc hết sức cần thiết.

5. Tăng cường công tác kiểm tra, kiểm soát đối với các khoản tín dụng.

Kiểm tra trước khi vay: Kiểm tra tính hợp lệ, hợp pháp của các khoản vay, cán bộ tín dụng và cán bộ lãnh đạo có liên quan thực hiện quy trình vay có đúng quy định không, có thiếu sót gì không.

Kiểm tra trong khi cho vay: Kiểm tra khách hàng vay có đúng và phù hợp với mục đích xin vay hay không, có đủ căn cứ pháp lý hợp lệ hay không, cán bộ tín dụng phải lưu hồ sơ vay vốn và các văn bản giấy tờ bổ sung khác trong quá trình theo dõi thu nợ cho đến khi thu hết nợ và chuyển lưu trữ hồ sơ theo quy định.

Kiểm tra sau khi cho vay và thu hồi nợ: Ngân hàng kiểm tra, theo dõi chặt chẽ với khách hàng vay vốn sẽ làm giảm ý muốn sử dụng vay vốn sai mục đích của khách hàng.

6. Xử lý tốt các khoản nợ quá hạn.

Ngân hàng cần có biện pháp theo dõi chặt chẽ tình hình hoạt động của người vay nhằm phát hiện sớm khả năng phát sinh nợ quá hạn để có biện pháp can thiệp hoặc giúp đỡ người đi vay có thể trả nợ đúng hạn. Dấu hiệu cho thấy khả năng phát sinh nợ quá hạn đó là : Doanh nghiệp trì hoãn nộp báo cáo tài chính, chậm trễ trong việc dàn xếp các cuộc kiểm tra nhà máy, số dư tiền gửi giảm sút, xuất hiện séc rút số dư hoặc bị trả lại, sự gia tăng bất thường số hàng hoá tồn kho…

Khi có dấu hiệu cho thấy người vay không có khả năng trả được nợ đúng hạn, việc đầu tiên của cán bộ tín dụng cần làm là đánh giá mức độ nghiêm trọng của vấn đề và áp dụng các biện pháp để điều chỉnh tình huống nhằm bảo vệ lợi ích của Ngân hàng và khôi phục lại năng lực của người đi vay. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

7. Giải pháp về nhân tố con người.

Thực tế cho thấy rằng: Nếu một Ngân hàng nào đó có đội ngũ cán bộ giỏi nghiệp vụ, vững về chuyên môn, nhanh nhạy tạo trong công việc có tinh thần tập thể vì lợi ích Ngân hàng thì Ngân hàng đó chắc chắn đứng vững và phát triển trong cơ chế thị trường.

Vấn đề tuyển dụng và bồi dưỡng cán bộ tín dụng có tư tưởng lập trường vững vàng, đạo đức nghề nghiệp, chuyên môn nghiệp vụ giỏi, nhanh nhạy linh hoạt sáng tạo trong công việc, nắm chắc các quy định pháp luật.

Vấn đề sắp xếp, bố trí cán bộ hợp lý: Hầu hết các ngân hàng có bộ máy tổ chức quá cồng kềnh lại chậm cải tổ, đổi mới hoạt động chưa hiệu quả. Cán bộ tín dụng hiện nay vừa làm công tác tiếp nhận hồ sơ, thẩm định, giải ngân, thu nợ, xử lý nợ. Do vậy, nảy sinh nhiều tiêu cực gây rủi ro cho hoạt động tín dụng Ngân hàng. Do đó cần phải phân tích, chuyên môn hoá quyền hạn của cán bộ tín dụng theo một số hướng công việc chuyên môn. Đồng thời ngân hàng đưa ra các chính sách đãi ngộ cán bộ tín dụng để khuyến khích tinh thần trách nhiệm, ý thức vươn lên hoàn thành nhiệm vụ của mỗi cán bộ.

Các giải pháp khác.

  • Lập quỹ dự phòng rủi ro

Trong hoạt động tín dụng, Ngân hàng sẽ không tránh khỏi rủi ro trong hoạt động kinh doanh. Do vậy, Ngân hàng cần tăng giá trị cho quỹ dự phòng bằng cách trích lập dự phòng rủi ro. Rủi ro trong hoạt động Ngân hàng gồm nhiều lĩnh vực trong đó đáng kể là rủi ro tín dụng. Việc trích lập quỹ dự phòng rủi ro phải thực hiện nghiêm túc theo quy định của chính phủ và ngân hàng Nhà nước.Ngân hàng phát triển hình thức bảo hiểm quá trình sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank.

  • Nâng cao chất lượng tín dụng bằng việc áp dụng công nghệ thông tin trong sản phẩm vốn lưu động và bảo lãnh.
  • Ngân hàng nên cung cấp dịch vụ tư vấn kinh doanh cho khách hàng
  • Ngân hàng nên thành lập bộ phận phân tích thông tin tín dụng và xử lý rủi ro tín dụng.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng chất lượng tín dụng ngắn hạn Vietcombank

One thought on “Khóa luận: Chất lượng tín dụng Ngắn hạn tại Vietcombank

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp chất lượng tín dụng ngắn hạn Vietcombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537