Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Tính cấp thiết của đề tài

Vốn là nhân tố quan trọng hàng đầu và không thể thiếu được trong hoạt động sản xuất kinh doanh, là nền tảng cho sự tồn tại và phát triển của mọi doanh nghiệp, đóng vai trò quyết định đến sự tăng trưởng và phát triển kinh tế đất nước. Để đáp ứng nguồn vốn cho nền kinh tế, nước ta cần có biện pháp và chính sách nhằm huy động tối đa nguồn vốn nhàn rỗi trong nền kinh tế. Ở nước ta hiện nay, thị trường chứng khoán đang còn gặp nhiều gặp khó khăn do vậy lượng vốn huy động được bằng con đường tài chính trực tiếp thông qua phát hành cổ phiếu, trái phiếu và các giấy tờ có giá khác còn rất nhỏ so với nhu cầu vốn của nền kinh tế. Chính vì vậy, quá trình truyền vốn trên thị trường chủ yếu được thực hiện thông qua các NHTM, có thể nói ở Việt Nam phần lớn lượng vốn trong nền kinh tế là do hệ thống ngân hàng cung cấp. Do đó, vai trò của NHTM trong hoạt động huy động vốn cho nền kinh tế là cực kỳ quan trọng.

Cùng với sự phát triển chung của nền kinh tế nhu cầu về vốn ngày càng tăng và đòi hỏi phải được đáp ứng nhanh chóng kịp thời đồng thời việc tăng cường huy động vốn và sử dụng vốn hợp lý cũng giúp cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng được an toàn và hiệu quả hơn. Do vậy, trong thời gian tới để phát huy hơn nữa vai trò mình và đáp ứng cho sự phát triển của nền kinh tế cũng như cho chính bản thân hệ thống ngân hàng, việc huy động vốn cho nền kinh tế trong tương lai chắc chắn sẽ đặt lên hàng đầu đối với các NHTM.

Xuất phát từ vai trò to lớn của vốn ngân hàng trong nền kinh tế nói chung và trong hoạt động của ngân hàng nói riêng đồng thời qua một thời gian học tập và nghiên cứu tình hình thực tế tại Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ Thương Việt Nam – chi nhánh Hải Phòng – Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên em xin đi sâu nghiên cứu đề tài: “ Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên” với hy vọng sẽ đưa ra được những ý kiến đóng góp nhỏ bé của mình cho lời giải bài toán huy động vốn tại ngân hàng.

2. Mục đích nghiên cứu của đề tài

Hệ thống hóa lý luận về huy động vốn của NHTM. Trên cơ sở lý luận được hệ thống hóa, tiến hành phân tích, đánh giá thực trạng hoạt động huy động vốn của Techcombank Thủy Nguyên nhằm đánh giá những kết quả đạt được và những mặt còn tồn tại. Từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm tăng cường hoạt động huy động vốn tại Techcombank Thủy Nguyên.

3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • Đối tượng nghiên cứu của luận văn là huy động vốn và giải pháp nâng cao hiệu quả huy động vốn.
  • Phạm vi nghiên cứu: Số liệu thu thập và phân tích của Techcombank Thủy Nguyên trong giai đoạn từ 2023 – 2025.

4. Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

Đề tài được nghiên cứu nhằm mục đích phân tích và áp dụng những vấn đề lý thuyết về huy động vốn của NHTM vào thực tế hoạt động tại Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên, trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp tăng cường huy động vốn tại ngân hàng.

5. Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, mục lục và danh mục tài liệu tham khảo, nội dung chính của luận văn gồm 3 chương:

  • Chương 1: Lý luận chung về công tác huy động vốn của NHTM
  • Chương 2: Thực trạng công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên
  • Chương 3: Giải pháp nâng cao hiệu quả công tác huy động vốn tại Phòng giao dịch Techcombank Thủy Nguyên

CHƯƠNG I: LÝ LUẬN CHUNG VỀ CÔNG TÁC HUY ĐỘNG VỐN CỦA NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI

1.1 Khái quát về Ngân hàng thương mại

1.1.1 Khái niệm về Ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại (NHTM) đã hình thành, tồn tại và phát triển gắn liền với sự phát triển của kinh tế hàng hoá. Sự phát triển của hệ thống NHTM đã có tác động rất lớn và quan trọng đến quá trình phát triển của nền kinh tế hàng hoá, ngược lại kinh tế hàng hoá phát triển mạnh mẽ đến giai đoạn cao của nó – kinh tế thị trường – thì NHTM cũng ngày càng được hoàn thiện và trở thành những định chế tài chính không thể thiếu được. NHTM là định chế tài chính trung gian quan trọng vào loại bậc nhất trong nền kinh tế thị trường. Nhờ hệ thống định chế này mà các nguồn tiền vốn nhàn rỗi sẽ được huy động, tạo lập nguồn vốn tín dụng to lớn để có thể cho vay phát triển kinh tế.

Bản chất, chức năng và các hoạt động nghiệp vụ của ngân hàng hầu như là giống nhau song quan niệm về NHTM lại không đồng nhất giữa các nước trên thế giới. Sở dĩ như vậy là do hoạt động NHTM rất đa dạng, các thao tác trong từng nghiệp vụ của NHTM lại phức tạp và vấn đề này luôn biến động theo sự thay đổi chung của nền kinh tế.

Mặc dù có rất nhiều quan niệm khác nhau về NHTM nhưng về cơ bản đều phản ánh hoạt động của NHTM là kinh doanh tiền tệ – tín dụng, dịch vụ ngân hàng. Có thể khái quát lại như sau:

“Ngân hàng thương mại là doanh nghiệp đặc biệt, kinh doanh trong lĩnh vự tiền tệ, tín dụng. Một tổ chức cung ứng vốn chủ yếu và hữu hiệu của nền kinh tế. Việc tạo lâp, tổ chức, quản lý vốn của NHTM là một trong những vấn đề được quan tâm hàng đầu không chỉ riêng đối với các NHTM mà còn vì sự phát triển của toàn bộ nền kinh tế”.

1.1.2 Chức năng và vai trò của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.1.2.1 Chức năng của NHTM

  • Chức năng trung gian tài chính

Đây là chức năng quan trọng nhất của NHTM quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng. Nhờ có thị trường tài chính và cơ chế chuyển giao vốn năng động trên thị trường tài chính mà trong đó NHTM giữ vai trò chủ đạo, NHTM hoạt động như một chiếc cầu nối giữa khả năng cung ứng vốn và nhu cầu về vốn tiền tệ trong xã hội, là trung gian tín dụng ngân hàng đóng vai trò là người môi giới giữa một bên là người có tiền cho vay và một bên là những người có nhu cầu chi tiêu cần đi vay vốn. Thông qua cơ chế thị trường, bằng những biện pháp, chính sách và áp dụng những phương pháp kỹ thuật theo hướng hiện đại ngân hàng có khả năng thu hút hầu hết những nguồn tiền tệ nhàn rỗi trong xã hội để phân bổ vốn cho nhu cầu sản xuất kinh doanh. Với chức năng này, ngân hàng đã biến vốn nhàn rỗi không hoạt động thành vốn hoạt động, kích thích quá trình luân chuyển vốn thúc đẩy sản xuất kinh doanh.

Như vậy, với chức năng trung gian tài chính, NHTM đã góp phần tạo ra lợi ích cho tất cả các bên trong quan hệ giữa người gửi tiền, ngân hàng, người đi vay và đảm bảo lợi ích cho nền kinh tế.

  • Chức năng trung gian thanh toán

Ngân hàng làm chức năng trung gian thanh toán khi nó thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng như trích tiền từ tài khoản tiền gửi của họ để thanh toán tiền hàng hoá dịch vụ hoặc nhập tiền vào tài khoản tiền gửi của khách hàng tiền thu bán hàng và các khoản thu khác theo lệnh của họ. Việc nhận tiền gửi và theo dõi các khoản thu chi trên tài khoản tiền gửi của khách hàng là tiền đề để ngân hàng thực hiện vai trò là trung gian thanh toán. Mặt khác, việc thanh toán trực tiếp bằng tiền mặt giữa các chủ thể trong nền kinh tế có nhiều hạn chế đó là rủi ro phải vận chuyển tiền, chi phí thanh toán lớn, đặc biệt là với khách hàng ở cách xa nhau đã tạo nên nhu cầu thanh toán qua ngân hàng.

Chức năng trung gian thanh toán có ý nghĩa quan trọng đối với hoạt động kinh tế. Trước hết thanh toán không dùng tiền mặt qua ngân hàng góp phần tiết kiệm chi phí lưu thông tiền mặt và đảm bảo thanh toán an toàn. NHTM sẽ cung cấp cho khách hàng nhiều hình thức thanh toán nhanh chóng và thuận tiện như: séc, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ…cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán mà theo họ là hiệu quả và an toàn nhất. Điều này góp phần tăng nhanh tốc độ lưu thông hàng hoá, tốc độ luân chuyển vốn và hiệu quả của quá trình tái sản xuất xã hội. Mặt khác, chức năng này còn góp phần tăng thu nhập cho ngân hàng thông qua việc thu phí thanh toán làm tăng uy tín của ngân hàng và tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút nguồn vốn tiền gửi.

Chu chuyển tiền tệ hiện nay chủ yếu thông qua hệ thống NHTM nên các NHTM không ngừng đổi mới và cải tiến công nghệ để nâng cao chất lượng thanh toán đáp ứng nhu cầu của khách hàng ngày càng tốt hơn.

  • Chức năng tạo tiền Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Chức năng tạo tiền là chức năng cực kỳ quan trọng của NHTM. Chức năng này được thể hiện trong quá trình NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế và hoạt động đầu tư của NHTM, trong đó mối quan hệ với ngân hàng trung ương đặc biệt trong quá trình thực hiện chính sách tiền tệ mà mục tiêu của chính sách tiền tệ là ổn định giá trị đồng tiền. Từ một lượng tiền cơ sở do NHTƯ phát hành qua hệ thống NHTM sẽ được tăng lên gấp bội khi NHTM cấp tín dụng cho nền kinh tế. Khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng được tính theo công thức: D = m.MB

  • khối lượng tiền qua hệ thống ngân hàng MB: khối lượng tiền cơ sở
  • m = 1/rd: hệ số nhân tiền
  • rd: tỷ lệ dự trữ bắt buộc

Ngân hàng trung ương có thể điều tiết khối lượng tiền cung ứng bằng cách thay đổi lượng tiền tỷ lệ dự trữ bắt buộc để tăng hoặc giảm khả năng tạo tiền của NHTM từ đó ảnh hưởng đến khả năng cấp tín dụng cho nền kinh tế do đó đạt được hiệu quả mà mục tiêu chính sách tiền tệ đặt ra.

  • Chức năng cung cấp các dịch vụ tài chính

Ngoài các dịch vụ truyền thống là huy động và cho vay, NHTM ngày nay còn cung cấp một danh mục dịch vụ khá đa dạng và phong phú: dịch vụ thanh toán, dịch vụ môi giới, bảo lãnh, tư vấn, bảo hiểm… Cùng với sự phát triển của khoa học kỹ thuật, các loại dịch vụ ngân hàng cũng phát triển và mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Đồng thời, việc phát triển các dịch vụ này cũng làm tăng hiệu quả sử dụng vốn, tăng chu chuyển vốn trong nền kinh tế, làm giảm lượng tiền mặt trong lưu thông do đó tiết kiệm được chi phí in ấn kiểm đếm tiền.

Ngày nay, trong điều kiện cạnh tranh rất khốc liệt giữa các ngân hàng việc đưa ra các dịch vụ mới làm tăng tiện ích cho khách hàng là một yếu tố để cạnh tranh. Chính vì vậy mà các ngân hàng tích cực đầu tư trang bị cơ sở vật chất, áp dụng công nghệ tin học, khoa học kỹ thuật vào hoạt động của mình. Nếu các NHTM có thể đáp ứng tốt nhu cầu của khách hàng về dịch vụ, tạo được uy tín với khách hàng thì đây cũng là một biện pháp, một yếu tố để tăng khả năng huy động vốn.

1.1.2.2 Vai trò của NHTM

  • NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế

Khi nhắc tới vai trò của NHTM thì không thể không nhắc tới vai trò cung ứng vốn đáp ứng nhu cầu sản xuất kinh doanh của các chủ thể trong nền kinh tế. Để có thể tiến hành hoạt động sản xuất kinh doanh điều đầu tiên các chủ doanh nghiệp phải quan tâm đó là vốn. Nếu không có vốn thì doanh nghiệp sẽ bị mất cơ hội đầu tư, mất đi lợi nhuận mà lẽ ra có thể thu được.

Do nhược điểm của thị trường tài chính dẫn đến ảnh hưởng tới tính liên tục của chu trình tài chính như sự không khớp nhịp giữa cung vốn và cầu vốn qua vấn đề thời gian và lượng vốn, rủi ro đạo đức, rủi ro mất khả năng thanh toán… NHTM với tư cách là một chủ thể kinh doanh trên lĩnh vực tài chính tiền tệ có thể khắc phục được những nhược điểm trên. NHTM chính là người đứng ra tiến hành khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế.

Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM đã tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng mở rộng sản xuất kinh doanh cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trước sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mỗi quốc gia. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường

Để có thể tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận các doanh nghiệp cần phải quan tâm tới thị trường đầu vào của mình mà yếu tố đầu vào quan trọng nhất chính là vốn, đây luôn là mối quan tâm hàng đầu của các nhà kinh doanh vì nó đặt nền tảng đầu tiên cho mọi hoạt động của doanh nghiệp. Các doanh nghiệp không thể chỉ trông chờ vào vốn tự có mà phải biết khai thác các nguồn vốn khác tài trợ cho hoạt động của mình. Nguồn vốn tín dụng của NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn đó. Như vậy, ngân hàng chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường giúp doanh nghiệp tìm kiếm được đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh làm cho nó phát huy hiệu quả một cách tốt nhất trên thị trường, giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian.

  • NHTM là công cụ để Nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế

Nếu ngân hàng trung ương có nhiệm vụ xây dựng và thực thi chính sách tiền tệ thông qua các công cụ như: thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,… thì các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp của các cộng cụ này mặt khác nó còn tham gia điều tiết gián tiếp vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Nói cách khác, thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại ngân hàng trung ương, giúp ngân hàng trung ương có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.

  • NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia và nền tài chính quốc tế

Trong nền kinh tế thị trường, khi các mối quan hệ hàng hoá, tiền tệ ngày càng được mở rộng thì nhu cầu giao lưu kinh tế – xã hội giữa các quốc gia trên thế giới ngày càng trở nên cần thiết và cấp bách. Việc phát triển kinh tế ở các quốc gia luôn gắn liền với sự phát triển của nền kinh tế thế giới và là một bộ phận cấu thành nên sự phát triển đó.Vì vậy, nền tài chính của mỗi quốc gia cũng phải hoà nhập với nền tài chính quốc tế và NHTM với các hoạt động của mình đã đóng góp vai trò vô cùng quan trọng trong sự hoà nhập này. Với các nghiệp vụ như thanh toán, nghiệp vụ hối đoái và các nghiệp vụ khác NHTM tạo điều kiện thúc đẩy hoạt động ngoại thương phát triển. Thông qua hoạt động thanh toán, kinh doanh ngoại hối, quan hệ tín dụng với các NHTM nước ngoài NHTM đã thực hiện vai trò điều tiết nền tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế.

NHTM ra đời và ngày càng phát triển dựa trên cơ sở nền sản xuất lưu thông hàng hoá phát triển và nền kinh tế càng phát triển càng cần đến sự hoạt động của NHTM. Với vai trò quan trọng của mình NHTM trở thành một bộ phận quan trọng trong nền kinh tế quốc dân.

1.1.3 Các nghiệp vụ cơ bản của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.1.3.1 Nghiệp vụ huy động vốn

Nghiệp vụ huy động nguồn vốn là hoạt động tiền đề có ý nghĩa đối với bản thân ngân hàng cũng như đối với xã hội. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng thương mại được phép sử dụng những công cụ và biện pháp cần thiết mà luật pháp cho phép để huy động các nguồn tiền nhàn rỗi trong xã hội làm nguồn vốn tín dụng để cho vay đối với nền kinh tế.

Thành phần nguồn vốn của ngân hàng thương mại gồm: Vốn điều lệ; Các quỹ dự trữ; Vốn huy động; Vốn đi vay; Vốn tiếp nhận; Vốn khác.

Vốn điều lệ, các quỹ của ngân hàng được gọi là vốn tự có của ngân hàng là nguồn vốn khởi đầu và được bổ sung trong quá trình hoạt động.

Vốn điều lệ của ngân hàng trước hết được dùng để: Xây dựng nhà cửa, văn phòng làm việc, mua sắm tài sản, trang thiết bị nhằm tạo cơ sở vật chất đảm bảo cho hoạt động của ngân hàng, số còn lại để đầu tư, liên doanh, cho vay ttrung và dài hạn.

Các quỹ dự trữ của ngân hàng: Đây là các quỹ bắt buộc phải trích lập trong quá trình tồn tại và hoạt động của ngân hàng, các quỹ này được trích lập theo tỷ lệ qui định trên số lợi nhận ròng của ngân hàng, bao gồm:

  • Quỹ dự trữ : Được trích từ lợi nhuận ròng hằng năm để bổ sung vốn điều lệ
  • Quỹ dự phòng tài chính: Quỹ này để dự phòng bù đắp rủi ro, thu lỗ trong hoạt động của ngân hàng
  • Quỹ phát triển kỹ thuật nghiệp vụ
  • Quỹ khen thưởng phúc lợi.
  • Lợi nhuận để lại để phân bổ cho các quỹ. Chênh lệch tỷ giá, đánh giá lại tài sản, nguồn vốn đầu tư xây dựng cơ bản.

Vốn tự có của ngân hàng là yếu tố tài chính quan trọng bậc nhất, nó vừa cho thấy qui mô của ngân hàng vừa phản ánh khả năng đảm bảo các khoản nợ của ngân hàng đối với khách hàng Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Vốn huy động: Ðây là nguồn vốn chủ yếu của các ngân hàng thương mại, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà ngân hàng tạm thời quản lý và sử dụng nhưng phải có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời, đầy đủ khi khách hàng yêu cầu. Nguồn vốn huy động là nguồn tài nguyên to lớn nhất, bao gồm:

  • Tiền gửi không kỳ hạn của các tổ chức, cá nhân
  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn
  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn
  • Tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu
  • Các khoản tiền gửi khác

Ðối với tiền gửi của cá nhân và đơn vị, ngoài lãi suất, thì nhu cầu giao dịch với những tiện lợi nhanh chóng và an toàn là yếu tố cơ bản để thu hút nguồn tiền này. Ðối với tiền gửi tiết kiệm, tiền phát hành kỳ phiếu, trái phiếu thì lãi suất là yếu tố quyết định và người gửi tiết kiệm hay mua kỳ phiếu đều nhằm mục đích kiếm lời. Vốn đi vay: Nguồn vốn đi vay có vị trí quan trọng trong tổng nguồn vốn của NHTM. Thuộc loại này bao gồm:

  • Vốn vay trong nước:

Vay ngân hàng trung ương: Ngân hàng trung ương sẽ tiếp vốn cho NHTM thông qua biện pháp chiết khấu, tái chiết khấu nếu các hồ sơ tín dụng cùng các chứng từ xin tái chiết khấu có chất lượng. Làm như vậy, ngân hàng trung ương sẽ trở thành chỗ dựa và là người cho vay cuối cùng đối với NHTM.

Vay các NHTM khác thông qua thị trường liên ngân hàng + Vốn vay ngân hàng nước ngoài

Vốn tiếp nhận: Ðây là nguồn tiếp nhận từ các tổ chức tài chính ngân hàng, từ ngân sách nhà nước… để tài trợ theo các chương trình, dự án về phát triển kinh tế xã hội, cải tạo môi sinh… nguồn vốn này chỉ được sử dụng theo đúng đối tượng và mục tiêu đã được xác định.

Vốn khác: Ðó là các nguồn vốn phát sinh trong quá trình hoạt động của ngân hàng (đại lý, chuyển tiền, các dịch vụ ngân hàng…)

1.1.3.2 Nghiệp vụ sử dụng vốn

Nghiệp vụ cho vay và đầu tư là nghiệp vụ sử dụng vốn quan trọng nhất, quyết định đến khả năng tồn tại và hoạt động của NHTM. Ðây là các nghiệp vụ cấu thành bộ phận chủ yếu và quan trọng của tài sản Có của ngân hàng. Thành phần tài sản Có của ngân hàng bao gồm: Dự trữ; Cho vay; Ðầu tư; Tài sản Có khác Dự trữ : Hoạt động tín dụng của ngân hàng nhằm mục đích kiếm lời, song cần phải bảo đảm an toàn để giữ vững được lòng tin của khách hàng. Muốn có được sự tin cậy về phía khách hàng, trước hết phải bảo đảm khả năng thanh toán: đáp ứng được nhu cầu rút tiền của khách hàng. Muốn vậy các ngân hàng phải để dành một phần nguồn vốn không sử dụng nó để sẵng sàng đáp ứng nhu cầu thanh toán. Phần vốn để dành này gọi là dự trữ. Ngân hàng trung ương được phép ấn định một tỷ lệ dự trữ bắt buộc theo từng thời kỳ nhất định, việc trả lãi cho tiền gửi dự trữ bắt buộc do chính phủ qui định. Dự trữ bao gồm: Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • Dự trữ sơ cấp: bao gồm tiền mặt, tiền gửi tại ngân hàng trung ương, tại các ngân hàng khác

Dự trữ thứ cấp (cấp hai) là dự trữ không tồn tại bằng tiền mà bằng chứng khoán, nghĩa là các chứng khoán ngắn hạn có thể bán để chuyển thành tiền một cách thuận lợi. Thuộc loại này gồm: Tín phiếu kho bạc; Hối phiếu đã chấp nhận; Các giấy nợ ngắn hạn khác, gọi là dự trữ thứ cấp bởi nó chỉ được sử dụng khi các khoản mục dự trữ sơ cấp bị cạn kiệt. Khi quản lý dự trữ bắt buộc, ngân hàng trung ương có thể áp dụng 1 trong 3 phương pháp.

Phương pháp phong toả: Theo đó toàn bộ mức dự trữ bắt buộc phải gửi vào một tài khoản tại ngân hàng TW và sẽ bị phong toả để đảm bảo thực hiện đúng mức dự trữ.

Phương pháp bán phong toả: Theo đó một phần của mức dự trữ bắt buộc sẽ được quản lý và phong toả tại một tài khoản riêng ở NHTW.

Phương pháp không phong toả: Theo phương pháp này tiền dự trữ được tính và thực hiện hàng ngày trên cơ sở số dư thực tế về tiền gửi không kỳ hạn và tiền gửi có kỳ hạn. Toàn bộ mức dự trữ sẽ không bị phong toả, nó có thể tồn tại dưới hình thức tiền mặt hay tiền gửi NHTW hay dưới dạng chứng khoán ngắn hạn là tuỳ NHTM, tuy nhiên đến cuối mỗi tháng, NHTW sẽ kiểm tra việc thực hiện dự trữ bắt buộc, nếu các NHTM không thực hiện đúng dẽ bị phạt (cảnh cáo, phạt tiền nếu tái phạm)

Cấp tín dụng: Số nguồn vốn còn lại sau khi để dành một phần dự trữ, các ngân hàng thương mại có thể dùng để cấp tín dụng cho các tổ chức, cá nhân bao gồm:

Cho vay : là nghiệp vụ tín dụng của NHTM. Trong đó NHTM sẽ cho người đi vay vay một số vốn để sản xuất kinh doanh, đầu tư hoặc tiêu dùng. Khi đến hạn người đi vay phải hoàn trả vốn và tiền lãi. Ngân hàng kiểm soát được người đi vay, kiểm soát được quá trình sử dụng vốn. Người đi vay có ý thức trả nợ cho nên bắt buộc họ phải quan tâm đến việc sử dụng làm sao có hiệu quả để hoàn trả nợ vay.

Trong cho vay thì mức độ rủi ro rất lớn, không thu hồi được vốn vay hoặc trả không hết hoặc không đúng hạn…do chủ quan hoặc khách quan. Do đó khi cho vay các ngân hàng cần sử dụng các biện pháp bảo đảm vốn vay: thế chấp, cầm cố …

Chiết khấu: Ðây là nghiệp vụ cho vay (gián tiếp) mà ngân hàng sẽ cung ứng vốn tín dụng cho một chủ thể và một chủ thể khác thực hiện việc trả nợ cho ngân hàng. Các đối tượng trong nghiệp vụ này gồm hối phiếu, kỳ phiếu, trái phiếu và các giấy nợ có giá khác. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Cho thuê tài chính : Là loại hình tín dụng trung, dài hạn. Trong đó các công ty cho thuê tài chính dùng vốn của mình hay vốn do phát hành trái phiếu để mua tài sản, thiết bị theo yêu cầu của người đi thuê và tiến hành cho thuê trong một thời gian nhất định. Người đi thuê phải trả tiền thuê cho công ty cho thuê tài chính theo định kỳ. Khi kết thúc hợp đồng thuê người đi thuê được quyền mua hoặc kéo dài thêm thời hạn thuê hoặc trả lại thiết bị tho bên cho thuê.

Bảo lãnh ngân hàng: Trong loại hình nghiệp vụ này khách hàng được ngân hàng cấp bảo lãnh cho khách hàng nhờ đó khách hàng sẽ được vay vốn ở ngân hàng khác hoặc thực hiện hợp đồng kinh tế đã ký kết.

Ðầu tư : Khoản mục đầu tư có vị trí quan trọng thứ hai sau khoản mục cho vay, nó mang lại khoản thu nhập lớn và đáng kể của ngân hàng thương mại. Trong nghiệp vụ này, ngân hàng sẽ dùng nguồn vốn của mình và nguồn vốn ổn định khác để đầu tư dưới các hình thức như:

Góp vốn mua cổ phần, cổ phiếu của các Công ty; góp vốn mua cổ phần chỉ được phép thực hiện bằng vốn của ngân hàng

Mua trái phiếu chính phủ, chính quyền địa phương, trái phiếu công ty… Tất cả hoạt động đầu tư chứng khoán đều nhằm mục đích mang lại thu nhập, mặt khác nhờ hoạt động đầu tư mà các rủi ro trong hoạt động ngân hàng sẽ được phân tán, mặt khác đầu tư vào trái phiếu chính phủ thì mức độ rủi ro sẽ rất thấp.

Tài sản Có khác: Những khoản mục còn lại của tài sản Có trong đó chủ yếu là tài sản lưu động nhằm: Xây dựng hoặc mua thêm nhà cửa để làm trụ sở văn phòng, trang thiết bị, máy móc, phương tiện vận chuyển, xây dựng hệ thống kho quỹ…ngoài ra còn các khỏan phải thu, các khoản khác…

1.1.3.3 Các hoạt động cung cấp dịch vụ tài chính

Là nghiệp vụ của ngân hàng thực hiện các dịch vụ cho khách hàng thông qua đó nhận được các khoản thu dưới hình thức hoa hồng. Các hoạt động trung gian này có độ rủi ro thấp hơn hoạt động cho vay và đầu tư trong khi vẫn mang lại nguồn thu lớn cho ngân hàng. Nền kinh tế càng phát triển thì dịch vụ này càng mở rộng, bao gồm:

  • Tiến hành chuyển tiền cho khách hàng, thanh toán hộ khách hàng về các khoản tiền mua bán dịch vụ thông qua việc thu hộ, chi hộ khách hàng bằng hình thức séc, ủy nhiệm thu. ủy nhiệm chi, thư tín dụng …
  • Đóng vai trò làm trung gian trong việc mua bán hộ cho khách hàng
  • Làm đại lý phát hành và bán chứng khoán cho công ty.
  • Liên kết hợp tác với các công ty bảo hiểm để bán các sản phẩm của mình kèm theo yếu tố bảo hiểm.
  • Tiến hành các hoạt động bảo lãnh, cho thuê các thiết bị trung và dài hạn, ủy thác, tư vấn, môi giới chứng khoán …

Như vậy, NHTM là một doanh nghiệp đặc biệt kinh doanh trên lĩnh vực tiền tệ thông qua nghiệp vụ huy động vốn để cho vay, đầu tư và thực hiện các nghiệp vụ tài chính khác. Thông qua các nghiệp vụ, NHTM đã chứng tỏ được sự cần thiết của hệ thống ngân hàng trong phát triển nền kinh tế thị trường, là đòn bẩy của nền kinh tế.

1.2 Huy động vốn trong hoạt động kinh doanh của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Huy động vốn là hoạt động cơ bản của NHTM, ngân hàng huy động tiền nhàn rỗi từ các tầng lớp kinh tế và dân cư sau đó thực hiện chức năng phân phối vốn tiền tệ, tác động tới sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế. Huy động vốn do đó được coi là đặc trưng cơ bản nhất của hoạt động ngân hàng, là tiêu thức để phân biệt ngân hàng với tổ chức tài chính khác. Kinh doanh ngân hàng chính là thực hiện mua bán quyền sử dụng vốn tiền tệ, giá cả chính là mức lãi suất mà ngân hàng phải trả cho người “cho vay” và đổi lại từ người mà ngân hàng cho vay vốn, phần chênh lệch giữa hai loại lãi suất này là nguồn chủ yếu hình thành nên lợi nhuận của ngân hàng.

1.2.1 Sự cần thiết của vốn huy động trong hoạt động kinh doanh ngân hàng

Trong tổng nguồn vốn của một ngân hàng, vốn chủ sở hữu chỉ chiếm một phần rất nhỏ, còn đại bộ phận là nguồn vốn huy động từ các đối tượng khác nhau. Phải có vốn huy động ngân hàng mới có thể hoạt động bình thường và phát triển bởi chức năng chủ yếu của nguồn vốn chủ sở hữu là bảo vệ an toàn và điều chỉnh hoạt động ngân hàng. Như vậy trong quá trình hoạt động kinh doanh các ngân hàng dựa vào nguồn vốn chủ sở hữu để đưa ra các quyết định kinh tế cho phù hợp với các quy định của luật pháp. Còn nguồn vốn được sử dụng vào các hoạt động kinh doanh sinh lời của một ngân hàng chính là từ vốn huy động. Nguồn vốn huy động càng nhiều ngân hàng càng có khả năng cung ứng vốn kịp thời cho nền kinh tế từ đó thúc đẩy sự tăng trưởng cũng như làm giàu cho ngân hàng. Như vậy chỉ với vốn huy động ngân hàng mới có thể làm tốt chức năng trung gian tín dụng – chức năng quyết định sự duy trì và phát triển của ngân hàng, đồng thời là cơ sở để thực hiện các chức năng còn lại.

1.2.2 Vai trò của vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

NHTM là trung gian tài chính với chức năng cơ bản là “đi vay để cho vay”. Dù bất kì hình thức nào các NHTM luôn đặt lợi nhuận lên hàng đầu. Để đạt được điều đó thì công cụ cần thiết mà các NHTM phải có là vốn. Nguồn vốn huy động dồi dào giúp cho các NHTM đa dạng hoạt động kinh doanh, nhằm phân tán rủi ro và thu được lợi nhuận cao. Vì vậy vốn huy động có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.

1.2.2.1 Nguồn vốn huy động giúp Ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh

Trong nền kinh tế thị trường, bất kì doanh nghiệp nào muốn sản xuất kinh doanh thì đều cần phải có vốn vì vốn phản ánh năng lực chủ yếu để quyết định khả năng kinh doanh của doanh nghiệp. Riêng đối với NHTM là một doanh nghiệp kinh doanh một loại hàng hóa đặc biệt là tiền tệ thì nguồn vốn huy động có vai trò rất quan trọng đối với hoạt động kinh doanh của NHTM.

Một Ngân hàng không thể hoạt động kinh doanh tốt nếu các hoạt động nghiệp vụ của nó hoàn toàn phụ thuộc vào vốn đi vay: vay để cho vay, vay để đầu tư, vay để thanh toán. Ngược lại một Ngân hàng với nguồn vốn huy động dồi dào sẽ hoàn toàn tự quyết trong hoạt động kinh doanh của mình, không bỏ lỡ cơ hội kinh doanh. Nguồn vốn huy động dồi dào cũng làm tăng khả năng của Ngân hàng chủ động đa dạng hoá các hoạt động kinh doanh nhằm phân tán rủi ro thu được lợi nhuận cao nhất, đạt mục tiêu cuối cùng là an toàn sinh lời.

1.2.2.2 Nguồn vốn huy động quyết định quy mô của hoạt động tín dụng và các hoạt động khác

Vốn huy động có ảnh hưởng to lớn đến việc mở rộng hay thu hẹp khối lượng tín dụng cũng như các hoạt động khác. Thông thường so với các Ngân hàng nhỏ, các Ngân hàng lớn có khoản mục đầu tư, cho vay đa dạng hơn, phạm vi và khối lượng cho vay của các Ngân hàng này cũng lớn hơn. Trong khi các Ngân hàng lớn cho vay ở thị trường trong nước thậm chí quốc tế thì các Ngân hàng nhỏ lại giới hạn phạm vi hoạt động chủ yếu trong cộng đồng. Thêm vào đó, do khả năng vốn hạn hẹp nên các Ngân hàng nhỏ không phản ứng nhạy bén được với sự biến động của lãi suất, gây ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn đầu tư từ các tầng lớp dân cư và các thành phần kinh tế. Nếu khả năng vốn của Ngân hàng đó dồi dào thì chắc chắn Ngân hàng sẽ mở rộng và đáp ứng được nhu cầu vay vốn, có đủ điều kiện để mở rộng thị trường tín dụng, tăng khả năng thanh toán và các dịch vụ Ngân hàng.

1.2.2.3 Nguồn vốn huy động quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của Ngân hàng trên thị trường.

Trong nền kinh tế thị trường, để tồn tại và mở rộng quy mô hoạt động đòi hỏi Ngân hàng phải coi uy tín trên thị trường là điều quan trọng. Uy tín đó trước hết phải thể hiện ở khả năng sẵn sàng thanh toán chi trả cho khách hàng. Mà khả năng thanh toán của Ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của Ngân hàng càng lớn. Với tiềm năng vốn lớn, nguồn huy động dồi dào, Ngân hàng có thể hoạt động kinh doanh với quy mô ngày càng mở rộng, tiến hành cạnh tranh có hiệu quả vừa giữ chữ tín vừa nâng cao thanh thế của Ngân hàng trên thị trường. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.2.2.4 Nguồn vốn huy động là một trong những nhân tố quyết định năng lực cạnh tranh của Ngân hàng

Thực tế đã chứng minh: quy mô trình độ nghề nghiệp, phương tiện kĩ thuật hiện đại của Ngân hàng là tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn. Khả năng vốn lớn là điều kiện thuận lợi đối với Ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời gian gia hạn cho vay thậm chí quyết định mức lãi suất vừa phải cho khách hàng, điều này sẽ thu hút ngày càng nhiều khách hàng, doanh số hoạt động của Ngân hàng tăng lên nhanh chóng và Ngân hàng có điều kiện thuận lợi hơn trong kinh doanh.

Hơn nữa vốn của Ngân hàng lớn sẽ giúp cho Ngân hàng có đủ khả năng tài chính, kinh doanh đa năng trên thị trường, không chỉ đơn thuần là cho vay mà còn mở rộng hình thức liên doanh, liên kết, kinh doanh dịch vụ thuê mua… Và chính những hình thức kinh doanh đa năng này sẽ góp phần phân tán rủi ro trong hoạt động kinh doanh và tạo thêm nguồn vốn cho Ngân hàng, đặc biệt là tăng sức cạnh tranh của Ngân hàng trên thị trường.

1.2.3 Các hình thức huy động vốn của NHTM

Vốn huy động là những giá trị tiền tệ do ngân hàng huy động thông qua các nghiệp vụ chủ yếu như: nghiệp vụ tiền gửi, nghiệp vụ phát hành giấy tờ có giá và các nghiệp vụ trung gian khác.Vốn huy động là nguồn vốn mà ngân hàng có thể chủ động tìm kiếm hoặc bị động trong việc tạo nguồn.

Vốn huy động chiếm một tỷ trọng rất lớn trong tổng nguồn vốn kinh doanh của ngân hàng thường ở mức 70 – 80%, đây chính là nguồn chủ yếu đáp ứng nhu cầu tín dụng của khách hàng và cũng là nguồn mang lại thu nhập chủ yếu cho ngân hàng. Vì vậy, ngân hàng thông qua các công cụ tài chính với mức lãi suất khác nhau, thời hạn hoàn trả khác nhau để có thể huy động tới mức tối đa nguồn tiền tạm thời nhàn rỗi của khách hàng. Các NHTM phải làm sao thu hút được nhiều tiền của người tiêu dùng và các doanh nghiệp dù ngân hàng phải trả lãi cho loại tiền gửi này song việc thu hút nhanh và biết sử dụng vẫn mang lại nguồn lợi lớn cho ngân hàng.

Bản chất của vốn huy động là tài sản thuộc các sở hữu khác nhau, ngân hàng chỉ có quyền sử dụng mà không có quyền sở hữu và phải có trách nhiệm hoàn trả cả gốc lẫn lãi khi đến hạn hoặc khi khách hàng có nhu cầu rút vốn để chi trả trước hạn. Vì vậy ngân hàng không được phép sử dụng hết số vốn đó vào hoạt động kinh doanh mà phải dự trữ với một tỷ lệ hợp lý để đảm bảo khả năng thanh toán cho ngân hàng. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Sơ đồ 1.1: Các nguồn vốn huy động của NHTM

1.2.3.1 Huy động thông qua tài khoản tiền gửi

Tiền gửi của ngân hàng là nguồn tài nguyên quan trọng nhất của NHTM. Khi một ngân hàng bắt đầu hoạt động nghiệp vụ đầu tiên là mở các tài khoản tiền gửi để giữ hộ và thanh toán hộ cho khách hàng, bằng cách đó ngân hàng huy động tiền của các doanh nghiệp, tổ chức và dân cư. Để gia tăng tiền gửi trong môi trường cạnh tranh và để có được nguồn tiền có chất lượng ngày càng cao các ngân hàng đã đưa ra và thực hiện nhiều hình thức huy động khác nhau do đó cũng có nhiều loại tiền gửi khác nhau.

  • Tiền gửi không kì hạn:

Tiền gửi không kì hạn (còn gọi là tiền gửi giao dịch hay tiền gửi thanh toán), là loại tiền gửi mà người gửi tiền được quyền rút tiền ra bất kì lúc nào trong thời gian ngân hàng làm việc. Tiền gửi không kì hạn bao gồm: tiền gửi của các tổ chức kinh tế, cá nhân, các tổ chức đoàn thể – xã hội.

Chủ tài khoản tiền gửi không kì hạn gửi tiền vào ngân hàng không nhằm mục đích thu lãi, mà để phục vụ cho nhu cầu giao dịch, thanh toán. Chính vì vậy, ngân hàng nào cung cấp dịch vụ ngân quỹ và thanh toán tốt nhất sẽ có điều kiện để thu hút nguồn vốn này nhiều hơn. Tiền gửi không kì hạn có mức lãi suất thấp nhất, vì vậy đây là nguồn vốn kinh doanh mang lại hiệu quả cao, tuy nhiên do tính chất không kì hạn nên nguồn vốn này thường biến động theo diễn biến của tình hình kinh tế tài chính, nói cách khác, nguồn vốn tiền gửi không kì hạn có mức độ rủi ro thanh khoản rất cao, cần lưu ý khi khai thác và sử dụng nguồn vốn này.

Tùy theo mục đích gửi tiền mà người ta phân chia thành tiền gửi thanh toán và tiền gửi không kì hạn thuần túy:

Tiền gửi thanh toán: Đây là khoản tiền gửi thanh toán của các doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng trước hết được sử dụng để thanh toán, chi trả cho các hoạt động hàng hóa, dịch vụ, và các khoản chi phí khác phát sinh trong quá trình kinh doanh một cách thường xuyên, an toàn và thuận tiện. Khi sử dụng các tiện ích thanh toán, chủ tài khoản phải trả cho ngân hàng một khoản phí.

Tiền gửi thanh toán thường được bảo quản tại ngân hàng trên hai loại tài khoản: tài khoản tiền gửi thanh toán và tài khoản vãng lai. Đối với tài khoản tiền gửi thanh toán, việc rút tiền hoặc chi trả cho bên thứ ba thường được thực hiện bằng séc hay chuyển khoản. Khách hàng mở tài khoản này nhằm mục đích thanh toán, và sử dụng dễ dàng, thuận tiện đồng vốn khi cần. Tài khoản vãng lai là tài khoản có lúc dư nợ, có lúc dư có. Với tài khoản này, khách hàng còn có thể được ngân hàng đáp ứng nhu cầu tín dụng trong một khoảng thời gian nhất định và một giới hạn nhất định được gọi là hạn mức thấu chi.

Tiền gửi không kì hạn thuần túy: Đây là khoản tiền gửi của doanh nghiệp, tổ chức, cá nhân gửi vào ngân hàng trong khi chưa có kế hoạch sử dụng cụ thể nhằm mục đích đảm bảo an toàn tài sản, và khi cần có thể dử dụng ngay. Không mang tính chất phục vụ thanh toán. Khi cần khách hàng có thể đến rút ra để chi tiêu. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • Hình thức tiền gửi này không được ngân hàng cho phép phát hành séc.

Nói chung, tài khoản tiền gửi của khách hàng tại ngân hàng phản ánh mối quan hệ kinh tế, pháp lý giữa ngân hàng với người gửi tiền nên giữa ngân hàng với người gửi tiền phải tuân thủ quy chế mở và sử dụng tiền gửi do Thống đốc NHNN ban hành và các văn bản quy phạm pháp luật khác có liên quan, đồng thời chủ tài khoản phải làm thủ tục mở tài khoản và đăng kí chữ kí mẫu đối với khách hàng là cá nhân, mẫu chữ kí chủ tài khoản và kế toán trưởng, mẫu con dấu đối với khách hàng là doanh nghiệp, tổ chức xã hội tại các ngân hàng mở tài khoản. Ngân hàng được từ chối thanh toán nếu khách hàng vi phạm quy định quản lý tài khoản thanh toán và chứng từ chế độ kế toán ngân hàng.

Đứng trên góc độ ngân hàng, tiền gửi không kì hạn là một khoản nợ mà ngân hàng luôn phải chủ động trả cho khách hàng vào bất cứ lúc nào. Tuy nhiên, trong mỗi ngân hàng có sự không khớp nhịp giữa xuất và nhập trên mỗi tài khoản tiền gửi thanh toán, hay giữa các tài khoản của các doanh nghiệp làm cho nhập lớn hơn xuất, tạo nên tồn khoản. Khi đã đảm bảo khả năng thanh toán của mình, ngân hàng có thể sử dụng tồn khoản vào làm vốn kinh doanh.

  • Tiền gửi có kỳ hạn:

Tiền gửi có kỳ hạn là những giá trị tiền tệ tạm thời chưa sử dụng mà khách hàng gửi vào ngân hàng dưới hình thức ký thác có kỳ hạn. Theo nguyên tắc thì khách hàng không được phép rút tiền trước thời hạn. Tuy nhiên, trên thực tế, do áp lực cạnh tranh nên các ngân hàng thường cho phép khách hàng rút ra trước hạn với điều kiện là người gửi không được trả lãi suất hoặc chịu một mức phạt nào đó tùy thuộc chính sách huy động vốn của ngân hàng và loại tiền gửi định kỳ. Mục đích chính của người gửi tiền là tìm kiếm lợi tức vì lãi suất mà ngân hàng chi trả cho loại này cao hơn lãi suất chi trả cho tiền gửi không kỳ hạn. Ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này vì tính chất ổn định của nguồn vốn. Tiền gửi có kỳ hạn từ một năm trở lên chủ yếu được dùng để đầu tư cho vay trung và dài hạn.

Các NHTM thường đưa ra nhiều loại kỳ hạn khác nhau nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người gửi tiền: 1 tháng, 3 tháng, 6 tháng, 9 tháng, 12 tháng, 2 năm… Mức lãi suất phụ thuộc vào thời hạn gửi tiền, thông thường kỳ hạn càng dài

lãi suất càng cao để khuyến khích hàng gửi tiền theo kỳ hạn dài. Ngân hàng có thể áp dụng lãi suất cố định hoặc thả nổi. Nếu áp dụng lãi suất thả nổi thì lấy lãi suất thị trường liên ngân hàng làm cơ sở cho việc xác định lãi suất.

  • Tiền gửi tiết kiệm: Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi của các tầng lớp dân cư trong xã hội với mục đích tích luỹ và hưởng lãi.Về hình thức, người gửi tiền được cấp một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm, trên sổ này ghi rõ số tiền gửi, kì hạn và lãi suất mà khách hàng thống nhất với ngân hàng.

Tiền gửi tiết kiệm chia thành hai loại là: tiết kiệm không kỳ hạn, tiết kiệm có kỳ hạn.

  • Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn:

Theo hình thức này, khách hàng có thể gửi tiền nhiều lần và rút ra theo nhu cầu sử dụng vào bất cứ thời điểm nào. Tuy nó là tiền gửi không kỳ hạn nhưng không phải là tiền gửi thanh toán nên người gửi tiền không được hưởng các tiện ích thanh toán, bù lại họ thường được nhận mức lãi suất cao hơn lãi suất tiền gửi thanh toán. Nguồn vốn này cũng thường xuyên biến động, ngân hàng phải chủ động trong việc chi trả cho khách hàng nên nhìn chung lãi suất của loại tiền gửi này vẫn thấp.

  • Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

Khác với tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn, người gửi tiết kiệm có kỳ hạn chỉ được rút cả gốc và lãi khi đáo hạn. Tuy nhiên để tăng sức cạnh tranh, thu hút tiền gửi các ngân hàng vẫn cho phép khách hàng rút tiền trước hạn, khi đó tiền lãi mà khách hang được hưởng sẽ bị khấu trừ một phần hoặc khách hàng chỉ hưởng lãi theo mức lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn. Mục đích gửi tiền của họ là an toàn và hưởng lãi vì khách hàng đã xác định trước và có kế hoạch chi tiêu cụ thể đối với khoản tiền này. Khoản tiền gửi có kỳ hạn càng dài thì lãi suất càng cao bởi vì ngân hàng có thể chủ động sử dụng nó cho hoạt động kinh doanh của mình đặc biệt là để cho vay trung, dài hạn.

Là sản phẩm huy động truyền thống với các hình thức phong phú và kỳ hạn đa dạng nên tiền gửi tiết kiệm rất phù hợp với dân cư, đáp ứng được nhu cầu người gửi, khả năng huy động của ngân hàng từ nguồn vốn này là rất tiềm năng. Tuy nhiên ngân hàng cần chú ý đến chính sách lãi suất huy động, nghiên cứu để đưa ra các hình thức huy động hấp dẫn, phù hợp với tính năng phong phú và phức tạp của đối tượng dân cư.

1.2.3.2 Huy động thông qua các thị trường

Đây là nguồn vốn mà ngân hàng có được nhờ quan hệ vay mượn giữa NHTM với NHNH, giữa các NHTM với nhau và với các tổ chức tín dụng khác. Nguồn vốn này ngân hàng phải chịu vay với chi phí cao hơn, vì vậy chỉ trong trường hợp ngân hàng thiếu vốn kinh doanh trong thời gian ngắn thì ngân hàng mới đi vay.

Vay NHTW: NHTW sẽ tiếp vốn (cho vay) đối với các NHTM thông qua nghiệp vụ chiết khấu và tái chiết khấu thương phiếu hoặc các chứng từ có giá trị hoặc cho vay lại theo hồ sơ tín dụng mà NHTM xuất trình. Điều kiện tiếp vốn của NHTW với NHTM khắt khe hay dễ dàng phụ thuộc vào mục tiêu của chính sách tiền tệ trong từng thời kì, uy tín và chất lượng hoạt động tín dụng của mỗi NHTM. Vay NHTW gồm có: Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • Vay cầm cố chứng từ có giá
  • Vay lại theo hồ sơ tín dụng
  • Vay chiết khấu và tái chiết khấu
  • Vay thanh toán

Vay các tổ chức tín dụng khác: Các NHTM có thể cho vay lẫn nhau thông qua thị trường liên ngân hàng. Nếu là thị trường Liên ngân hàng có tổ chức thì đây là trường hợp các ngân hàng có tình trạng vốn khả dụng thiếu sẽ được vay trên thị trường liên ngân hàng theo sắp xếp, tổ chức của NHNN Việt Nam, khi có các ngân hàng khác có lượng vốn khả dụng dư thừa. Trường hợp thị trường Liên ngân hàng tự do, các ngân hàng có thể cho vay trực tiếp lẫn nhau để tự giải quyết tình trạng dư thừa và thiếu hụt nguồn vốn khả dụng.

1.2.3.3 Huy động thông qua phát hành chứng từ có giá

Các giấy tờ có giá là các công cụ nợ do ngân hàng chủ động phát hành để huy động vốn trên thị trường, nhằm phục vụ cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Ưu thế của hình thức huy động này là ngân hàng huy động được đúng số lượng vốn cần thiết và có thời hạn đáp ứng nhu cầu sử dụng vốn của ngân hàng. Lãi suất của loại này phụ thuộc vào sự cấp thiết của việc huy động vốn nên thường cao hơn lãi suất tiền gửi có kỳ hạn thông thường. Có các loại giấy tờ có giá như:

  • Chứng chỉ tiền gửi (CDs)

CDs là công cụ vay nợ do NHTM bán cho người gửi tiền với lãi suất nhất định và được lưu thông khi chưa đến hạn thanh toán. Khả năng chuyển nhượng trên thị trường của CDs là rất cao. Người sở hữu CDs có thể được hoàn trả hết toàn bộ số tiền gửi cộng với lãi hoặc có thể bán CDs trên thị trường thứ cấp. CDs là công cụ mang lãi suất, lãi suất của nó được tính toán trên cơ sở 360 ngày và được trả theo mệnh giá và thời hạn.

  • Trái phiếu:

Trái phiếu là một chứng thư xác nhận một khoản nợ của tổ chức phát hành đối với người sở hữu, trong đó cam kết sẽ hoàn trả nợ kèm lãi trong một thời gian nhất định. Kỳ hạn của trái phiếu thường là trên một năm. Thông qua phát hành trái phiếu, ngân hàng có thể thu hút được nguồn vốn trung và dài hạn để cho vay mở rộng sản xuất kinh doanh và đầu tư. Việc phát hành trái phiếu chỉ được thực hiện khi ngân hàng đã có kế hoạch sử dụng vốn để cho vay trung dài hạn.

  • Kỳ phiếu:

Kỳ phiếu là chứng chỉ huy động vốn có mục đích, có thời hạn, có lãi suất tương ứng với từng loại kỳ hạn hoặc phương thức trả lãi trước hoặc sau. Đây là giấy tờ có giá ngắn hạn vì thời hạn của nó thường dưới một năm. Ngân hàng thường phát hành kỳ phiếu khi cần huy động vốn ngắn hạn.

Ở nước ta hiện nay các hình thức huy động qua phát hành công cụ nợ còn thấp so với nguồn huy động khác. Tuỳ theo từng thời kỳ, khi nào cần thì ngân hàng mới huy động. Sử dụng nguồn này ngân hàng chủ động được thời gian sử dụng, số lượng và giá cả của vốn. Tuy ngân hàng phải trả mức lãi suất cao hơn mức lãi suất huy động vốn, nhưng có tác dụng kiềm chế lạm phát và góp phần cho sự hình thành và phát triển của thị trường chứng khoán.

1.3 Hiệu quả huy động vốn của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.3.1 Quan điểm về hiệu quả huy động vốn của NHTM

  • Hiệu quả huy động vốn được thể hiện ở những nội dung sau:

Lượng vốn huy động tăng trưởng cao hàng năm, tốc độ tăng trưởng được duy trì và tăng dần theo mục tiêu đã định. Theo đó kế hoạch huy động vốn phải được thực hiện thành công, mức vốn đạt được phải bằng hoặc vượt mức kế hoạch.

Chi phí cho việc huy động vốn phải ở mức chấp nhận được. Lãi suất huy động phải được xác định dựa trên mối quan hệ với lãi suất cho vay để người vay vốn chấp nhận được lãi vay và ngân hàng vẫn có lợi nhuận.

Chất lượng nguồn vốn huy động phải đảm bảo, mang những tính chất như: hợp pháp, ổn định, lâu dài…để đảm bảo hiệu quả cho các hoạt động khác của ngân hàng.

Cơ cấu nguồn vốn phải hợp lý theo mục tiêu, chiến lược huy động vốn mà ngân hàng đã đề ra. Sự hợp lý trong cơ cấu nguồn cũng là điều kiện để ngân hàng có cơ sở thực hiện, triển khai các kế hoạch hoạt động kinh doanh của mình theo chiều hướng có lợi hơn.

1.3.2 Ý nghĩa của việc nâng cao hiệu quả huy động vốn của NHTM

Huy động vốn là một hoạt động hết sức quan trọng của các NHTM vì nó là kênh cung cấp đầu vào trong hoạt động của NHTM. Có thể nói rằng hoạt động kinh doanh của ngân hàng có phát triển tốt hay không phụ thuộc rất nhiều vào việc huy động vốn. Ngoài ý nghĩa hết sức quan trọng trong hoạt động kinh doanh của NHTM thì nghiệp vụ huy động vốn còn có một số ý nghĩa khác như:

  • Huy động vốn đảm bảo nhu cầu đầu tư phát triển của nền kinh tế

Đây là một vấn đề quan trọng trong sự nghiệp phát triển kinh tế của bất kỳ quốc gia, dân tộc nào trên thế giới. Để thực hiện được điều đó thì quan trọng hơn cả là nguồn vốn đầu tư. Càng có nhiều nguồn vốn thì cơ hội để phát triển nền kinh tế càng lớn. Vì vậy, nghiệp vụ huy động vốn góp phần không nhỏ đảm bảo nhu cầu phát triển của nền kinh tế quốc dân.

Huy động vốn tạo điều kiện cần bằng cung cầu tiền tệ, giảm lạm phát: Lạm phát là khi mà lượng tiền lưu thông vượt quá nhu cầu cần thiết làm cho chúng bị mất giá, làm cho giá cả của các loại hàng hoá không ngừng tăng lên. Trong khi đó nếu nghiệp vụ huy động vốn của NHTM hoạt động không hiệu quả thì lượng tiền nhàn rỗi trong xã hội còn cao dễ dẫn đến nguy cơ xảy ra lạm phát. Vì thế nghiệp vụ HĐV của Ngân hàng đã góp phần làm giảm lạm phát, ổn định tiền tệ và ổn định nền kinh tế.

  • Huy động vốn tạo điều kiện đưa tiền nhàn rỗi vào lưu thông, làm cho chúng có thể sinh lời.

Thực tế khi huy động vốn thì chắc chắn NHTM sẽ phải trả một khoản lãi suất theo quy định tương ứng với số vốn huy động cho người sở hữu số vốn đó.

Như vậy nghiệp vụ huy động vốn của NHTM không những có thể đưa tiền nhàn rỗi trong xã hội vào lưu thông mà còn góp phần làm cho đồng tiền có khả năng sinh lời và làm tăng thu nhập cho người sở hữu vốn.

1.3.3 Các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Nguồn vốn huy động từ bên ngoài của NHTM bao gồm nhiều bộ phận khác nhau như nguồn tiền gửi, tiền vay và các nguồn khác. Mỗi thành phần có đặc trưng về quy mô, cơ cấu, chi phí lãi suất phải trả, tính ổn định, khả năng thanh toán và rủi ro lãi suất khác nhau.

1.3.3.1 Chỉ tiêu đánh giá quy mô, tốc độ tăng trưởng vốn huy động

Để đánh giá khả năng huy động vốn của NHTM, trước hết người ta sử dụng chỉ tiêu quy mô và tốc độ tăng trưởng vốn huy động.

Quy mô là chỉ tiêu phản ánh khối lượng nguồn vốn huy động của NHTM. Quy mô nguồn vốn huy động càng tăng sẽ hỗ trợ vốn cho Ngân hàng hoạt động, phát triển và mở rộng phạm vi hoạt dộng của mình. Quy mô nguồn vốn huy động thể hiện tính ổn định và tăng tiềm lực của khách hàng.

1.3.3.2 Chỉ tiêu đánh giá cơ cấu nguồn vốn huy động

Cơ cấu nguồn vốn huy động là tỷ trọng từng loại nguồn vốn huy động trong tổng nguồn vốn huy động.

Chỉ tiêu này được sử dụng để nghiên cứu sự thay đổi theo thời gian, đánh giá tính hợp lý của xu hướng biến động của cơ cấu nguồn vốn huy động để phát hiện được mặt mạnh, mặt yếu của ngân hàng trong kinh doanh. Nếu ngân hàng nào có tỷ trọng tiền gửi không kỳ hạn cao thì ngân hàng đó có nhiều thuận tiện trong việc tạo lợi nhuận bởi vì đầu vào của nguồn vốn huy động này rẻ nhưng ngân hàng đó phải tính toán kỹ khi cho vay để tránh rủi ro thanh toán. Ngược lại, ngân hàng nào có tỷ lệ nguồn vốn có kỳ hạn cao thì sẽ gặp nhiều khó khăn trong việc giải quyết đầu ra của nguồn vốn vì lãi suất trả cho loại tiền gửi này cao nhưng đổi lại nguồn vốn ổn định do đó ngân hàng có thể sử dụng nguồn vốn này để mở rộng cho vay trung và dài hạn. Nhìn vào đây các NHTM xác định rõ cơ cấu nguồn vốn huy động cho hợp lý từ đó giúp NHTM hạn chế rủi ro và tối thiểu hoá chi phí đầu vào.

1.3.3.3 Chỉ tiêu phản ánh khả năng đáp ứng nhu cầu kinh doanh (sự phù hợp giữa huy động vốn và sử dụng vốn)

Các nguồn vốn huy động được phân chia vào danh mục tài sản của ngân hàng như: Tiền mặt, tiền gửi ngân hàng khác, cho vay, mua chứng khoán,… Danh mục tài sản của ngân hàng cũng cần được xem xét dưới giác độ cấu trúc kỳ hạn để xác định sự phù hợp với nguồn vốn. Thông thường các ngân hàng vẫn sử dụng một phần vốn có thời hạn ngắn để đầu tư vào các tài sản có thời hạn dài hơn nhưng chỉ một tỷ lệ nhất định vì nếu lớn hơn nữa, tức là sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay thời hạn dài thì ngân hàng đến một thời điểm nào đó sẽ chịu sức ép về khả năng thanh toán. Ngược lại, nếu ngân hàng sử dụng nguồn vốn dài hạn để cho vay ngắn hạn thì sẽ khó đảm bảo chênh lệch lãi suất và không hiệu quả vì nguồn vốn dài hạn có chi phí cao hơn trong khi lãi suất cho vay ngắn hạn thường thấp hơn lãi suất cho vay trung và dài hạn. Mô hình cấu trúc kỳ hạn giúp chúng ta phân tích sự phù hợp giữa nguồn vốn và sử dụng vốn. Dựa vào đó ngân hàng tiến hành điều chỉnh cơ cấu nguồn vốn (bao gồm cơ cấu vốn theo ngắn hạn và trung hạn, dài hạn, cơ cấu vốn theo nội tệ và ngoại tệ, theo tiền gửi dân cư và tiền gửi doanh nghiệp) và danh mục tài sản để vừa nâng cao hiệu suất sử dụng vốn, tăng doanh lợi đồng thời duy trì khả năng thanh toán (trường hợp thiếu dự trữ), đầu tư thêm tài sản sinh lời (trường hợp thừa vốn) hoặc chuẩn bị tái đầu tư cho một số tài sản sắp đến hạn.

Để so sánh khả năng cho vay và khả năng huy động vốn của ngân hàng đồng thời xác định hiệu quả của một đồng vốn huy động người ta dùng chỉ số: Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Số lượng vốn được sử dụng trong tổng nguồn vốn huy động càng tăng thì hệ số sử dụng vốn càng lớn điều này cho thấy số vốn huy động được quay vòng nhanh và có hiệu quả từ đó làm cho lợi nhuận thu được cũng tăng theo vì vậy hệ số sử dụng vốn cũng là môt phần quan trọng khi đánh giá hiệu quả huy động vốn. Nhưng đồng thời nó phản ánh rủi ro tín dụng càng lớn. Do vậy để sử dụng có hiệu quả nguồn vốn huy động thì phải lựa chọn khách hàng để giảm thiểu rủi ro.

1.3.3.4 Chỉ tiêu về chi phí huy động vốn

Do tiền gửi của khách hàng giống như món nợ của ngân hàng đối với khách hàng nên ngân hàng cần phải trả lãi đó chính là chi phí huy động vốn của ngân hàng (lãi suất huy động). Lãi suất huy động càng cao thì càng khuyến khích khách hàng gửi tiền vào ngân hàng, tuy nhiên nếu lãi suất đầu vào cao thì sẽ ảnh hưởng đến lãi suất đầu ra và cũng ảnh hưởng đến lợi nhuận của ngân hàng. Do vậy, đòi hỏi ngân hàng phải tìm ra được mức lãi suất hợp lý để có thể tối thiểu hóa chi phí trong khi vẫn hoàn thành được kế hoạch nguồn vốn và đem lại lợi nhuận cho ngân hàng.

Chi phí huy động vốn là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất để đánh giá hiệu quả huy động vốn của NHTM, chi phí huy động vốn được đánh giá qua chỉ tiêu lãi suất huy động bình quân, lãi suất huy động từng nguồn.

Lãi suất huy động từng nguồn = Lãi trả cho nguồn huy động + chi phí huy động khác

Chỉ tiêu này cho phép đánh giá sự hợp lý trong cơ cấu huy động hay chất lượng nguồn vốn huy động của ngân hàng từ đó tới chất lượng của tài sản, đòi hỏi tính nhạy bén của nhà quản lý ngân hàng. Ngân hàng cần phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến quy mô và cấu trúc nguồn huy động , để xác định lãi suất và các chi phi huy động khác. Định giá huy động cần tính toán kỹ lưỡng yếu tố lãi và phi lãi, cân nhắc lợi thế của mỗi yếu tố trong những trường hợp cụ thể.

1.3.3.5 Một số chỉ tiêu khác

  • Chỉ tiêu lợi nhuận

Lợi nhuận của Ngân hàng là chỉ tiêu được xác định thông qua doanh thu và chi phí của Ngân hàng. Lợi nhuận càng cao càng chứng tỏ Ngân hàng có hoạt động hiệu quả, có thể bỏ ra chi phí ít mà hiệu quả thu lại cao. Muốn vậy Ngân hàng cần có các kênh huy động hiệu quả với chi phí thấp nhưng sao cho vẫn đáp ứng được nhu cầu sử dụng vốn của mình.

  • Mức độ thuận tiện của khách hàng:

Được đánh giá qua các thủ tục gửi tiền, rút tiền, các dịch vụ kèm theo của ngân hàng. Tiết kiệm thời gan và chi phí cho khách hàng.

  • Thời gian để huy động một lượng vốn nhất định.
  • Quản lý các rủi ro liên quan đến huy động vốn.

Trên đây là một số chỉ tiêu dùng để đánh giá hiệu quả công tác huy động vốn. Tuy nhiên, sử dụng một chỉ tiêu thì không thể phản ánh đầy đủ được, mà cần phải kết hợp nhiều chỉ tiêu thì mới đánh giá đúng và thực chất hiệu quả công tác huy động vốn tại một NHTM. Trong điều kiện cụ thể sẽ có từng hệ thống chỉ tiêu riêng phù hợp với đặc điểm kinh doanh của mỗi ngân hàng.

1.4 Các nhân tố ảnh hưởng đến hiệu quả huy động vốn của NHTM Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Trong xu hướng quốc tế hoá hiện nay đòi hởi các doanh nghiệp nói chung và các tổ chức trung gian tài chính nói riêng phải không ngừng nâng cao năng lực cạnh tranh của mình, mà yêu cầu quan trọng là năng lực tài chính. Ðể đánh giá nãng lực tài chính của NHTM có nhiều tiêu chí nhý: quy mô vốn điều lệ, quy mô tài sản có, tỷ lệ nợ xấu, quy mô lợi nhuận, tỷ lệ vốn tự có trên tổng tài sản. Do đó cho thấy việc nghiên cứu các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tạo vốn của NHTM là một việc làm hết sức cấp thiết. Các nhân tố ảnh hưởng đến vấn đề tạo vốn của mỗi ngân hàng bao gồm các nhân tố khách quan và các nhân tố chủ quan.

1.4.1 Các nhân tố khách quan

Đây là các yếu tố mà khi tác động đến ngân hàng sẽ không thể chống được, đó là các rủi ro không thể tránh. Ngân hàng chỉ có thể nhận thức, dự báo và tìm cách giảm thiểu các rủi ro khi nó xảy ra.

1.4.1.1 Môi trường pháp lý và các chính sách vĩ mô

Kinh doanh ngân hàng là một trong những ngành chịu sự giám sát chặt chẽ của pháp luật và các cơ quan chức năng của chính phủ. Hoạt động ngân hàng được điều chỉnh rất chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật. Môi trường pháp lý đem lại cho ngân hàng hàng loạt các cơ hội và thách thức. Ví dụ như việc dỡ bỏ các hạn chế về huy động vốn tièn gửi nội tệ sẽ mở đường cho các ngân hàng nước ngoài phát triển các sản phẩm để huy động tiền gửi nội tệ và các sản phẩm về cho vay nội tệ.

Ngoài ra ngân hàng còn chịu sự điều chỉnh của rất nhiều bộ luật : luật các tổ chức tín dụng, luật kinh tế, luật dân sự, các quy định của chính phủ… Do đó hoạt động huy động vốn của ngân hàng cũng bị ảnh hưởng bởi chính sách pháp luật của nhà nước, chính sách của ngân hàng trung ương như: chính sách tiền tệ, lãi suất, tài chính, tín dụng… Sự thay đổi của những chính sách này sẽ ảnh hưởng đến khả năng thu hút vốn và chất lượng nguồn của NHTM.

1.4.1.2 Môi trường kinh tế – chính trị – xã hội Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Bất kì một NHTM nào cũng chịu sự tác động của môi trường kinh tế, chính trị, xã hội.

Các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô như: Tốc độ tăng trưởng, tỷ lệ lạm phát, tỷ lệ thất nghiệp,… có ảnh hưởng trực tiếp đến các hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Mức tăng trưởng của nền kinh tế quyết định đến thu nhập của người lao động. Khi nền kinh tế phát triển, tỷ lệ thất nghiệp giảm xuống làm cho thu nhập của người lao động tăng lên; khi đó, họ sẽ có các khoản tiền nhàn rỗi phát sinh sau khi đã trang trải đủ cho các nhu cầu sinh hoạt, từ đó họ sẽ nghĩ tới khả năng gửi tiền để tích luỹ cho các nhu cầu tài chính cho tương lai. Ngược lại, nếu nền kinh tế phát triển không ổn định, thường xuyên có lạm phát hoặc khủng hoảng kinh tế; khi đó, người dân sẽ thích đầu tư vào vàng, bất động sản hay các loại ngoại tệ mạnh khác hơn là gửi tiền vào ngân hàng. Lúc này, ngân hàng sẽ phải bỏ ra một khoản chi phí lớn hơn bằng cách tăng lãi suất huy động để có thể thu hút được các khoản tiền nhàn rỗi từ dân cư.

Môi trường chính trị – xã hội cũng có sự tác động đáng kể đến hoạt động huy động vốn của NHTM. Sự ổn định chính trị – xã hội một mặt giúp các quốc gia thu hút được các nguồn đầu tư trong và ngoài nước, thúc đẩy kinh tế phát triển, tạo điều kiện cho ngân hàng thu hút nhiều vốn.

1.4.1.3 Tâm lý và thói quen tiêu dùng của khách hàng

Thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân ảnh hưởng rất nhiều đến quá trình huy động vốn của ngân hàng. Ở nơi nào mà người dân có thói quen tiết kiệm chi tiêu ở hiện tại để phục vụ cho nhu cầu trong tương lai thì ngân hàng sẽ dễ dàng hơn trong việc thu hút các nguồn tiền nhàn rỗi đó và ngược lại. Bên cạnh đó, thói quen tiêu dùng cũng ảnh hưởng đáng kể đến hoạt động huy động vốn của ngân hàng. Nếu như ở những vùng dân cư quen sử dụng tiền nhàn rỗi dưới hình thức cất trữ thì công tác huy động vốn của các ngân hàng cũng sẽ gặp rất nhiều khó khăn. Tuy nhiên, cùng với sự phát triển không ngừng của nền kinh tế thì trình độ dân trí của người dân ngày càng được nâng cao. Họ bây giờ gửi tiền vào ngân hàng không chỉ với mục đích hưởng lãi mà còn có mục đích sử dụng các dịch vụ do ngân hàng cung cấp như các dịch vụ thanh toán, chuyển tiền, séc, thẻ tín dụng, thẻ rút tiền,…Và khi thói quen sử dụng các dịch vụ ngân hàng của người dân được hình thành thì các NHTM sẽ có cơ hội lớn hơn trong việc huy động vốn từ dân cư.

1.4.1.4 Đối thủ cạnh tranh

Trong nền kinh tế thị trường cạnh tranh là hiện tượng phổ biến và khách quan. Ngành ngân hàng là một trong những ngành có mức độ cạnh tranh cao và ngày càng phức tạp. Trong những năm qua, thị trường tài chính ngày càng trở nên sôi động hơn do sự tham gia của nhiều loại hình ngân hàng và các tổ chức tài chính phi ngân hàng. Do đó, cạnh tranh có xu hướng gia tăng mạnh, làm mất đi tính độc quyền của hệ thống ngân hàng và ảnh hưởng đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Các ngân hàng cạnh tranh nhau chủ yếu bằng hình thức lãi suất và cung cấp dịch vụ, hiện nay chủ yếu ở nước ta cạnh tranh giữa các ngân hàng chủ yếu là hình thức lãi suất do đó ngân hàng phải xây dựng mức lãi suất như thế nào là hợp lý nhất, hấp dẫn nhất kết hợp với uy tín để tăng thêm nguồn vốn huy động. Điều này rất khó khăn vì nếu lãi suất cao hơn đối thủ cạnh tranh thì lãi suất cho vay cũng phải tăng lên để đảm bảo ngân hàng vẫn có lãi, nếu lãi suất thấp hơn thì không hấp dẫn được khách hàng. Các ngân hàng mang lại cho người gửi tiền nhiều lợi ích hơn sẽ thu hút được nhiều khách hơn đến với ngân hàng của mình, và điều này sẽ làm giảm đi đáng kể lượng vốn huy động được từ các ngân hàng khác.

1.4.2 Các nhân tố chủ quan Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

  • Là các nhân tố bên trong, nằm trong sự kiểm soát của Ngân hàng.

1.4.2.1 Chiến lược kinh doanh của Ngân hàng

Mỗi Ngân hàng phải tự hoạch định cho mình một chiến lược kinh doanh riêng biệt, phù hợp với các điều kiện bên trong và bên ngoài Ngân hàng. Chiến lược kinh doanh có tính quyết định tới hiệu quả hoạt động của Ngân hàng. Ngân hàng cần phải xác định vị trí hiện tại của mình trong hệ thống, thấy được điểm mạnh, điểm yếu, thấy được những cơ hội và thách thức. Trên cơ sở đó dự đoán sự thay đổi của môi trường để xây dựng được chiến lược kinh doanh phù hợp mà trong đó chiến lược phát triển qui mô và chất lượng nguồn vốn là một bộ phận quan trọng trong chiến lược tổng thể của Ngân hàng. Trong từng thời kỳ, dùa trên chỉ tiêu được giao về hoạt động huy động vốn , sử dụng vốn và các hoạt động khác của NHTW cùng với tình hình thực tế của từng Ngân hàng, Ngân hàng phải lập kế hoạch và lên cân đối giữa huy động vốn và sử dụng vốn. Nếu nhận thấy trong năm có những dự án tốt cần vay vốn với khối lượng lớn, thời hạn dài thì Ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động vốn để tìm kiếm được nguồn vốn tương ứng bằng cách đưa ra các loại hình huy động với lãi suất hấp dẫn, kỳ hạn đa dạng. Còn nếu nhận thấy trong năm tới Ngân hàng cần phải thu hẹp khối lượng tín dụng thì Ngân hàng sẽ có kế hoạch huy động một lượng vốn vừa đủ để tối đa hoá hiệu quả sử dụng vốn. Mặt khác, trong chiến lược kinh doanh của mình Ngân hàng cần phải đặc biệt chú trọng vào chi phí vốn mà Ngân hàng phải chịu trong khâu huy động. Phải tìm kiếm nguồn vốn rẻ, thời hạn dài thông qua việc lựa chọn các hình thức huy động khác nhau, có như vậy Ngân hàng mới chủ động trong việc tìm kiếm và sử dụng vốn.

1.4.2.2 Quy mô, uy tín của Ngân hàng

Trong thời điểm nền kinh tế thị trường phát triển mạnh mẽ, các ngân hàng phải chịu sự cạnh tranh quyết liệt trực tiếp từ các ngân hàng khác hoặc gián tiếp từ các doanh nghiệp đầu tư khác. Quy mô và uy tín của ngân hàng sẽ quyết định xem vị thế của họ trong cuộc đua.

Đó là hình ảnh của ngân hàng trong lòng khách hàng, là niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Uy tín của mỗi ngân hàng được xây dựng, hình thành trong cả một quá trình lâu dài. Người gửi tiền khi gửi thường lựa chọn những ngân hàng lâu đời chứ không phải là những ngân hàng mới thành lập. Ngân hàng lớn thường được ưu tiên lựa chọn so với các ngân hàng nhỏ. Hình thức bảo hiểm tiền gửi làm tăng độ an toàn, tăng uy tín của ngân hàng. Một điều quan trọng ở nước ta là hình thức sở hữu cũng có ảnh hưởng quan trọng tới huy động vốn. Các ngân hàng quốc doanh bao giờ cũng có độ an toàn cao hơn cho người gửi tiền, uy tín của các ngân hàng thương mại quốc doanh cao hơn so với các ngân hàng khác. Những ngân hàng có uy tín luôn chiếm được lòng tin của khách hàng là tiền đề cho việc họ huy động được những nguồn vốn lớn hơn với chi phí rẻ hơn và tiết kiệm được thời gian. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.4.2.3 Các dịch vụ ngân hàng

Trong điều kiện cạnh tranh hiện nay, việc đa dạng hoá các sản phẩm, dịch vụ ngân hàng nhằm đáp ứng tốt nhất nhu cầu của khách hàng có ảnh hưởng lớn đến hoạt động kinh doanh của ngân hàng. Với nhiều loại sản phẩm khác nhau,

khách hàng có thể lựa chọn một sản phẩm phù hợp với điều kiện khả năng của mình. Có như vậy, NHTM mới thu hút được ngày càng nhiều khách hàng đến với mình. Không những thế, ngân hàng còn phải đưa ra được các dịch vụ kèm theo tốt và đa dạng để tăng lợi thế cạnh tranh. Với nhiều tiện ích kèm theo, sẽ giúp ngân hàng thu hút được ngày càng nhiều nguồn vốn của mọi thành phần kinh tế và dân cư trong xã hội. Qua đó, tạo thêm nhiều mối quan hệ gắn bó chặt chẽ hơn giữa các ngân hàng và khách hàng.

1.4.2.4 Chính sách lãi suất

Chính sách lãi suất là một công cụ quan trọng trong hoạt động huy động vốn của NHTM, xây dựng một chính sách linh hoạt hợp lý là điều kiện giúp ngân hàng có được nguồn vốn hợp lý về quy mô và cơ cấu. Chính sách đó phải đảm bảo cho ngân hàng một mặt thu hút được nhiều vốn mặt khác vẵn phải đảm bảo cho ngân hàng kinh doanh có lãi. Ngân hàng sử dụng hệ thống lãi suất như là một công cụ quan trọng trong việc huy động và thay đổi quy mô nguồn vốn thu hút vào ngân hàng, đặc biệt là quy mô tiền gửi. Để duy trì và thu hút thêm nguồn vốn, ngân hàng cần phải ấn định mức lãi suất cạnh tranh, thực hiện ưu đãi về lãi suất cho khách hàng lớn, gửi thường xuyên.

Tuy nhiên, không phải ngân hàng cứ đưa ra lãi suất cao là thu hút được nguồn vốn nhàn rỗi của dân cư mà vấn đề là ở chỗ mức lãi suất mà ngân hàng đưa ra có đem lại lợi ích thực tế cho ngưởi gửi tiền là bao nhiêu. Đồng thời, khi quyết định đưa ra mức lãi suất nào đó còn phụ thuộc vào các yếu tố như kỳ hạn tiền gửi, mức độ rủi ro, lợi nhuận mang lại từ các khoản đầu tư khác (chi phí cơ hội), các quy định của ngân hàng nhà nước, mức lãi suất cho vay….

1.4.2.5 Hoạt động marketing ngân hàng

Marketing ngân hàng là yếu tố vô cùng quan trọng trong việc đưa hình ảnh của ngân hàng gần gũi hơn với dân chúng. Hoạt động Marketing ngân hàng tốt sẽ giúp ích nhiều trong việc đưa khách hàng đến gần hơn với các sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, từ đó có thể huy động vốn một cách hiệu quả. Các ngân hàng phải vận dụng đồng bộ chính sách Marketing hỗn hợp bao gồm chính sách giá cả, sản phẩm, phân phối… Đối với các sản phẩm dịch vụ cần phải tạo nên sự khác biệt, độc đáo, mới lạ để thu hút sự chú ý của khách hàng. Bên cạnh đó, cần phải nghiên cứu thị trường kĩ càng để có thể đưa ra chính sách Marketing đối với từng đối tượng khách hàng một cách phù hợp. Hoạt động Marketing hiệu quả sẽ nâng cao hình ảnh của ngân hàng, từ đó thu hút được nhiều đối tượng khách hàng hơn. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

1.4.2.6 Năng lực và trình độ của cán bộ công nhân viên ngân hàng

Trong bất kỳ một hoạt động nào, yếu tố nhân lực luôn đóng vai trò quan trọng hàng đầu. Dù cho những yếu tố khác đầy đủ đến đâu mà bộ phận nhân lực yếu kém thì cũng khó mà đi đến thành công. Đối với một ngân hàng cũng vậy. Chính vì thế, các ngân hàng cần chú ý để nâng cao năng lực và trình độ đội ngũ cán bộ của mình.

Trình độ cán bộ ảnh hưởng lớn tới chất lượng dịch vụ. Nếu cán bộ ngân hàng có trình độ giỏi thì sẽ thực hiện các nghiệp vụ một cách kịp thời, chính xác mà vẫn đảm bảo an toàn, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ. Họ tiếp cận nhanh đối với công nghệ hiện đại và có khả năng tư vấn phù hợp đối với khách hàng để thu hút khách hàng đến với ngân hàng. Cán bộ giỏi cũng sẽ quản lý nguồn vốn tốt, đảm bảo được an toàn vốn và có thể phân tích, đánh giá để đưa ra nhiều giải pháp hữu hiệu góp phần nâng cao hiệu quả hoạt động huy động vốn.

Thái độ trong tiếp xúc của nhân viên với khách hàng cũng rất quan trọng. Nó có thể thu hút khách hàng làm tăng nguồn vốn huy động đồng thời cũng có thể làm khách hàng rời bỏ gây ra những hậu quả vô cùng nghiêm trọng trong hoạt động của ngân hàng, trước hết là trong khâu huy động vốn. Các nhân viên ngân hàng là những người mang hình ảnh cho cả ngân hàng. Do đó, để tăng cường huy động vốn thì một điều cực kỳ quan trọng là các nhân viên ngân hàng phải có đủ những tiêu chí của một nhân viên ngân hàng chuyên nghiệp: hiểu biết khách hàng, hiểu biết nghiệp vụ, hiểu biết quy trình, hoàn thiện phong cách phục vụ.

1.4.2.7 Công nghệ ngân hàng

Trong thời đại khoa học kỹ thuật phát triển mạnh mẽ như ngày nay, các ngân hàng không thể xem nhẹ yếu tố công nghệ. Việc đầu tư trang thiết bị đầy đủ, hiện đại hóa công nghệ là một yêu cầu cấp thiết. Trình độ công nghệ ngân hàng ngày càng cao sẽ cho phép ngân hàng phát triển các sản phẩm dịch vụ đa năng, tiện lợi, nâng cao chất lượng dịch vụ, thỏa mãn nhu cầu ngày càng cao của khách hàng. Công nghệ hiện đại cũng giúp ngân hàng bảo mật tốt hơn các thông tin khiến khách hàng yên tâm hơn khi gửi tiền tại các ngân hàng hoặc khi sử dụng các dịch vụ thanh toán, rút tiền tự động. Với cùng một lãi suất huy động như nhau, ngân hàng nào cải tiến chất lượng dịch vụ tốt hơn, tạo sự thuận tiện cao hơn cho khách hàng thì sức cạnh tranh sẽ cao hơn, thu hút được nhiều khách hàng hơn.

KẾT LUẬN CHƯƠNG I:

Chương I của khóa luận tập trung nghiên cứu: Nguồn vốn của NHTM và vai trò của nguồn vốn huy động đối với hoạt động kinh doanh ngân hàng, các hình thức huy động vốn của NHTM, hiệu quả huy động vốn của NHTM, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt động huy động vốn của NHTM. Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank.

Những nội dung này giúp chúng ta có một cơ sở lý luận rõ ràng để đi phân tích thực trạng công tác huy động vốn của NHTMCP Kỹ thương Việt Nam (Techcombank) – chi nhánh Hải Phòng – Phòng giao dịch Thủy Nguyên trong giai đoạn hiện nay, để từ đó đưa ra được các giải pháp phù hợp nhằm mở rộng huy động vốn một cách có hiệu quả.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Thực trạng huy động vốn tại PGD Techcombank

One thought on “Khóa luận: Công tác huy động vốn tại PGD Techcombank

  1. Pingback: Khóa luận: Giải pháp huy động vốn tại PGD Techcombank

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537