Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam

Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam và bài học kinh nghiệm từ Hoa Kỳ cho các bạn.

3.1. THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM

3.1.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam

Sau khi nước Việt Nam dân chủ cộng hòa thành lập, thuế Thu nhập doanh nghiệp lần đầu tiên được áp dụng. Hình thức sơ khai ban đầu là thuế tính trên lợi tức kinh doanh theo biểu thuế lũy tiến từng phần với thuế suất từ 5% đến 7%, phân biệt theo mức độ cần thiết của mỗi ngành nghề. Đây là loại thuế quy định trong sắc thuế công thương nghiệp.

Năm 1956, Thủ tướng chính phủ ban hành thuế lợi tức doanh nghiệp, là một loại thuế trong sắc thuế công thương nghiệp, áp dụng cho mọi cơ sở kinh doanh. Căn cứ tính thuế lợi tức doanh nghiệp là chênh lệch giữa doanh thu với giá thành sản xuất, biểu thuế chia theo nhóm ngành, với thuế suất lũy tiến từng phần từ 8% đến 50%.

Luật thuế trong giai đoạn 1965-1990

Từ năm 1965 đến 1990, chính sách thuế lợi tức được ban hành riêng cho khu vực kinh tế quốc doanh và kinh tế ngoài quốc doanh, trong đó:

  • Khu vực kinh tế quốc doanh nộp thuế thu quốc doanh.

Thuế thu quốc doanh có cách tính khá đặc biệt. Thu quốc doanh được ấn định bằng một mức thu cố định, chỉ để lại cho doanh nghiệp công nghiệp giá thành hợp lý và lợi nhuận định mức, đối với ngành thương nghiệp chỉ để lại chi phí lưu thông và chiết khấu thương nghiệp. Sau đó, trong thời kỳ 1976-1980, thuế thu quốc doanh cũng có những thay đổi nhất định. Mức thu quốc doanh được xác định căn cứ vào chênh lệch giữa giá bán buôn công nghiệp và giá bán buôn xí nghiệp. Tiếp theo, trong thời kỳ 1981-1986, chế độ thu quốc doanh được cải tiến theo hướng trích nộp theo tỷ lệ; doanh nghiệp tích lũy được nhiều thì nộp nhiều, tích lũy ít thì nộp ít, không tích lũy được thì không phải nộp.

Ở giai đoạn 1986-1990, các quy định về thu quốc doanh cũng liên tục được thay đổi phù hợp hơn với tình hình kinh tế thời điểm đó. Năm 1986, thu quốc doanh tính theo tỷ lệ % trên giá bán buôn công nghiệp. Sau khi nộp thu quốc doanh mà lợi nhuận của xí nghiệp còn lớn hơn lợi nhuận định mức thì phải nộp thêm thu quốc doanh bổ sung. Năm 1988, thu quốc doanh tính theo tỷ lệ % trên doanh thu thực hiện. Doanh nghiệp sau khi bù đắp chi phí và nộp thu quốc doanh, lợi nhuận thực hiện để lại cho đơn vị từ 40 đến 60%, còn lại phải nộp vào ngân sách Nhà nước. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

  • Khu vực kinh tế ngoài quốc doanh nộp thuế lợi tức doanh nghiệp

Ngoài thuế lợi tức doanh nghiệp, khu vực kinh tế ngoài quốc doanh còn phải nộp thuế lợi tức bổ sung nếu kinh doanh những ngành nghề có lợi tức cao như dịch vụ ăn uống có lợi tức trên 1.500 đồng/năm. Từ năm 1981-1986, thuế lợi tức doanh nghiệp được điều chỉnh thành biểu thuế lũy tiến toàn phần để tăng mức động viên cho ngân sách Nhà nước. Từ năm 1986-1990, thuế lợi tức doanh nghiệp được điều chỉnh thành biểu thuế lũy tiến từng phần.

Như vậy, mặc dù đã có một số cải cách nhưng thuế Thu nhập doanh nghiệp trước năm 1990 còn nhiều hạn chế, chưa kích thích các doanh nghiệp hoạt động sản xuất, đồng thời chế độ phân biệt theo thành phần kinh tế chưa đảm bảo tính công bằng.

Luật thuế lợi tức ban hành năm 1990

Trong tiến trình cải cách thuế bước 1, ngày 30/6/1990, Quốc hội đã thông qua Luật thuế lợi tức, có hiệu lực thi hành từ ngày 1/10/1990, áp dụng cho tất cả loại hình doanh nghiệp, không phân biệt thành phần kinh tế. Mọi tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất kinh doanh trên lãnh thổ Việt Nam có lợi tức đều phải nộp thuế lợi tức, trừ cơ sở nộp thuế lợi tức theo Luật đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và cơ sở hoạt động sản xuất nông nghiệp thuộc diện nộp thuế nông nghiệp.

Biểu thuế được phân biệt theo 3 nhóm ngành sản xuất, kinh doanh: 25% đối với ngành công nghiệp nặng, 35% đối với các ngành công nghiệp nhẹ và 45% đối với thương nghiệp, ăn uống và dịch vụ. Ngoài ra Luật thuế lợi tức còn quy định thuế lợi tức bổ sung đối với hộ tư nhân kinh doanh, tổ chức kinh tế ngoài quốc doanh.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm  ban hành năm 1997

Trong quá trình áp dụng, Luật thuế lợi tức dần bộc lộ nhiều nhược điểm và không còn phù hợp với tình hình kinh tế Việt Nam trong giai đoạn mới, giai đoạn mở rộng quan hệ hợp tác với các nước trong khu vực và trên thế giới. Vì vậy, đến ngày 10/5/1997, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật thuế thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật thuế lợi tức nhằm đảm bảo phù hợp với yêu cầu phát triển của nền kinh tế trong giai đoạn mới. Luật này có hiệu lực thi hành từ 1/1/1999.

Sau 4 năm thực hiện, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 1997 đã khắc phục được một số nhược điểm cơ bản của Luật thuế lợi tức, nhưng vẫn bộc lộ những hạn chế như: chưa bao quát được đầy đủ đối tượng chịu thuế, thuế suất còn cao, chưa tạo điều kiện cho cơ sở kinh doanh tích lũy để tái sản xuất, phân biệt giữa nhà đầu tư trong nước và nhà đầu tư nước ngoài. Vì vậy, nhu cầu ban hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp mới phù hợp hơn với thực tiễn trở nên cấp thiết.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành năm 2003 Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Tại kỳ họp thứ 3, ngày 17/6/2003, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã ban hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp thay cho Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 1997. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 đã giảm thuế suất xuống từ 32% xuống còn 28%, áp dụng cho cả doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp nước ngoài, quy định thuế thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất và chuyển quyền thuê đất, bãi bỏ thuế Thu nhập doanh nghiệp bổ sung, bỏ thuế chuyển thu nhập ra nước ngoài, thống nhất mức thuế suất ưu đãi đối với doanh nghiệp trong nước và doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, thực hiện cải cách hành chính, đơn giản hóa thủ tục kê khai và tăng cường quyền hạn, trách nhiệm của cơ quan quản lý thuế trong việc thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 cũng đảm bảo nguồn thu đáng kể cho ngân sách Nhà nước, thể hiện qua tổng thu ngân sách Nhà nước từ thuế trong giai đoạn 2003-2007 trong biểu đồ sau:

Hình 7: Tỷ trọng thuế Thu nhập doanh nghiệp trong tổng thu ngân sách Nhà nước của Việt Nam giai đoạn 2003-2007

Tuy nhiên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 biểu hiện nhiều hạn chế trong quá trình áp dụng. Mức thuế suất 28% chưa thực sự cạnh tranh trong thu hút đầu tư nước ngoài do các nước trong khu vực đã có sự điều chỉnh giảm, chẳng hạn, Singapore đã hạ thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 20% xuống còn 19%, Philippines giảm từ 35% xuống 30%, Trung Quốc giảm mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 33% xuống 25%. Bên cạnh đó, các ưu đãi thuế còn dàn trải, phức tạp, chưa phát huy hiệu quả phân bổ nguồn lực trong đầu tư để đáp ứng yêu cầu về phát triển kinh tế theo vùng và lãnh thổ, nhất là thu hút đầu tư vào các địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn. Một số nội dung của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 đã được chuyển sang điều chỉnh tại luật khác như Luật quản lý thuế, Luật thuế Thu nhập cá nhân. Vì vậy, việc ban hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp mới, sửa đổi những hạn chế của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 là rất cần thiết.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành năm 2008

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 được ban hành trong  lộ trình cải cách hệ thống thuế đến năm 2010 của chính phủ, được xác định là “hoàn thiện theo hướng giảm mức thuế suất, giảm diện miễn, giảm thuế; thống nhất các mức thuế suất và ưu đãi thuế giữa các thành phần kinh tế để khuyến khích đầu tư và đảm bảo bình đẳng trong cạnh tranh(Quyết định số 201/2004/QĐ-TTg) .

Việc sửa đổi bổ sung Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 được thực hiện theo các mục tiêu sau: thứ nhất là tiếp tục tạo môi trường đầu tư và kinh doanh thuận lợi, bảo đảm công bằng, bình đẳng trong cạnh tranh; thực hiện giảm mức thuế suất chung để doanh nghiệp có thêm nguồn lực tài chính, tăng tích lũy, tích tụ đổi mới thiết bị, đẩy mạnh đầu tư phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh. Hai là, cải cách ưu đãi thuế nhằm chuyển biến trong phân bổ nguồn lực, khuyến khích và thu hút đầu tư có chọn lọc để phát triển các vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và một số ít ngành, lĩnh vực quan trọng theo chính sách phát triển của Nhà nước, thu hẹp diện ưu đãi theo ngành, lĩnh vực. Ba là, tuy có tác động làm giảm thu ngân sách Nhà nước trong vài năm đầu nhưng phải đảm bảo ổn định và tăng trưởng nguồn thu ngân sách Nhà nước trong trung và dài hạn.

Theo định hướng đó, tại kỳ họp thứ 3 ngày 3/6/2008, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XII đã thông qua Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 và là Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp đang được áp dụng hiện nay. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp ban hành năm 2008 gồm 4 chương, 20 điều. Ngoài các quy định chung trong chương I, các chương còn lại đề cập đến căn cứ và phương pháp tính thuế (chương II); ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp (Chương III) và điều khoản thi hành (Chương IV). Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 có sự điều chỉnh về đối tượng nộp thuế, mức thuế suất; ưu đãi thuế; căn cứ tính thuế…Cùng với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008, Chính phủ còn ban hành Nghị định 124/2008  ngày 11/12/2008 và Bộ tài chính ban hành Thông tư 130/2008/TT-BTC ngày 26/12/2008 hướng dẫn thi hành Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008.

CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ

===>>> Viết Thuê Khóa Luận Tốt Nghiệp Ngành Luật

3.1.2.  Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp được quy định trong Điều 2, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 (sau đây gọi tắt là Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp) và quy định chi tiết trong Điều 2 Nghị định 124/2008 (sau đây gọi tắt là Nghị định 124) và Thông tư 130/2008/TTBTC (sau đây gọi tắt là Thông tư 130). Cụ thể, đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp là các doanh nghiệp có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập chịu thuế, gồm có các đối tượng sau:

Doanh nghiệp thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam dưới các hình thức: công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh, doanh nghiệp tư nhân, công ty Nhà nước, các bên trong hợp đồng hợp tác kinh doanh, các bên trong hợp đồng phân chia sản phẩm dầu khí, xí nghiệp liên doanh dầu khí, công ty điều hành chung.

Doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam.

Doanh nghiệp thành lập theo quy định của pháp luật nước ngoài (doanh nghiệp nước ngoài) có cơ sở thường trú hoặc không có cơ sở thường trú tại Việt Nam.

Cơ sở thường trú của doanh nghiệp nước ngoài là cơ sở sản xuất, kinh doanh mà thông qua cơ sở này, doanh nghiệp nước ngoài tiến hành một phần hoặc toàn bộ hoạt động sản xuất, kinh doanh tại Việt Nam mang lại thu nhập; gồm có chi nhánh, văn phòng điều hành, nhà máy, công xưởng, địa điểm xây dựng, công trình xây dựng, lắp đặt, đại lý, đại diện tại Việt Nam… Doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam và thu nhập chịu thuế phát sinh ngoài Việt Nam liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú đó.

Ngoài ra, doanh nghiệp nước ngoài có cơ sở thường trú tại Việt Nam còn phải nộp thuế với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam mà khoản thu nhập này không liên quan đến hoạt động của cơ sở thường trú. Doanh nghiệp nước ngoài không có cơ sở thường trú tại Việt Nam nộp thuế đối với thu nhập chịu thuế phát sinh tại Việt Nam.

  • Các tổ chức thành lập và hoạt động theo Luật hợp tác xã.
  • Các đơn vị sự nghiệp công lập, ngoài công lập có sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ có thu nhập trong tất cả các lĩnh vực. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.
  • Các tổ chức khác có hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thu nhập chịu thuế.

So với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003, Luật thuế mới ban hành năm 2008 có sự thay đổi trong đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp. Theo quy định của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 thì đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp là  “tổ chức, cá nhân sản xuất, kinh doanh hàng hóa dịch vụ có thu nhập”. Đối tượng nộp thuế này đã thu hẹp lại trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008, chỉ còn bao gồm doanh nghiệp và các tổ chức thuộc các thành phần kinh tế có hoạt động sản xuất, kinh doanh có thu nhập. Đối tượng là cá nhân và hộ gia đình chuyển sang nộp thuế Thu nhập cá nhân từ ngày 1/1/2009 theo quy định của Luật thuế Thu nhập cá nhân (Quốc hội thông qua ngày 21/11/2007).

3.1.3. Căn cứ tính thuế thu nhập doanh nghiệp

3.1.3.1. Quy tắc chung

Căn cứ tính thuế là thu nhập tính thuế trong kỳ và thuế suất, theo công thức sau:

Nếu doanh nghiệp có trích quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp được xác định như sau:

Kỳ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp được xác định theo năm dương lịch hoặc năm tài chính, và doanh nghiệp phải đăng ký với cơ quan thuế trước khi thực hiện. Theo Điều 6, Nghị định 124, thu nhập tính thuế trong kỳ được xác định như sau: 

Thu nhập  Thu nhập Thu nhập được Các khoản lỗ được kết  tính thuế = chịu thuế miễn thuế + chuyển theo quy định Thu nhập tính thuế trong kỳ được xác định bàng thu nhập chịu thuế trừ đi thu nhập miễn thuế và các khoản lỗ được kết chuyển từ các năm trước theo quy định.

So với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 thì quy định về căn cứ tính thuế đã thay đổi. Theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 thì căn cứ tính thuế Thu nhập doanh nghiệp là thu nhập chịu thuế và thuế suất. Thu nhập chịu thuế được tính bằng doanh thu trừ (-) chi phí hợp lý cộng (+) thu nhập khác. Tuy nhiên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 không có quy định về các khoản thu nhập được miễn thuế nên việc so sánh giá trị của các khoản thu nhập chịu thuế giữa Luật thuế cũ và Luật thuế mới là không hợp lý.

3.1.3.2. Thu nhập tính thuế

3.1.3.2.1.  Xác định thu nhập chịu thuế

  • Công thức xác định thu nhập chịu thuế Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Thu nhập từ hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa dịch vụ bằng doanh thu của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ trừ đi (-) chi phí được trừ của hoạt động sản xuất kinh doanh hàng hóa, dịch vụ đó. Doanh nghiệp có nhiều hoạt động kinh doanh áp dụng mức thuế suất khác nhau thì doanh nghiệp phải tính riêng thu nhập của từng hoạt động kinh doanh nhân với thuế suất tương ứng.

Riêng thu nhập từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản phải hạch toán riêng để kê khai và nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp, không được bù trừ với thu nhập hoặc lỗ từ các hoạt động kinh doanh khác. Đây là một sửa đổi bổ sung của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 so với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003, sự sửa đổi này hoàn toàn phù hợp với tình hình thực tế. Theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003, thu nhập chịu thuế từ thu nhập chuyển quyền sử dụng đất ngoài việc phải nộp thuế theo thuế suất 25% còn phải nộp thuế theo biểu thuế lũy tiến từng phần từ 0% đến 25% theo tỷ suất thu nhập còn lại trên chi phí. Lý do là trước đây, các doanh nghiệp được giao đất để kinh doanh nhà, cơ sở hạ tầng theo giá thấp nhưng giá bán nhà, cơ sở hạ tầng cùng với việc chuyển quyền sử dụng đất theo giá thị trường nên có lợi nhuận siêu ngạch, việc nộp thuế như vậy là hợp lý. Nhưng từ năm 2005, khi Luật đất đai năm 2003 có hiệu lực, các trường hợp được giao đất để kinh doanh bất động sản phải thực hiện đấu giá quyền sử dụng đất hoặc đấu thầu dự án, nộp tiền sử dụng đất cho Nhà nước theo giá đất sát giá thị trường, đồng thời nghiêm cấm việc phân lô, bán nền, chuyển nhượng đất thô để xây nhà ở nên doanh nghiệp không còn lợi nhuận siêu ngạch từ chuyển quyền sử dụng đất. Mặt khác, hoạt động kinh doanh bất động sản bao gồm cả việc bán nhà, tài sản gắn liền với việc chuyển quyền sử dụng đất nên khó có thể xác định riêng thu nhập từ chuyển quyền sử dụng đất với thu nhập từ bán tài sản trên đất. Vì vậy, để phù hợp với thực tế, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 đã bỏ quy định thu bổ sung đối với chuyển quyền sử dụng đất mà áp dụng chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản. Tuy nhiên, doanh nghiệp phải kê khai riêng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để nộp thuế theo thuế suất chung (25%), nhưng nếu doanh nghiệp được hưởng ưu đãi đầu tư thì khoản thu nhập này không được ưu đãi thuế và nếu có lỗ thì chỉ được bù trừ với lãi từ hoạt động này trong 5 năm tiếp theo mà không được bù trừ với lãi từ các hoạt động kinh doanh khác.

  1. Xác định doanh thu

Những quy tắc về việc xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế được quy định chi tiết trong Mục III, Phần C,  Thông tư 130. Theo đó, doanh thu để tính thu nhập chịu thuế là toàn bộ tiền bán hàng hóa, tiền gia công, tiền cung cấp dịch vụ bao gồm cả khoản trợ giá, phụ thu, phụ trội mà doanh nghiệp được hưởng không phân biệt đã thu được tiền hay chưa thu được tiền.

  • Đối với doanh nghiệp nộp thuế giá trị gia tăng (GTGT) theo phương pháp khấu trừ thuế là doanh thu chưa bao gồm thuế GTGT. Đối với doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp trực tiếp thì doanh thu là doanh thu bao gồm cả thuế GTGT. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.
  • Thời điểm xác định doanh thu để tính thu nhập chịu thuế đối với hoạt động bán hàng hóa là thời điểm chuyển giao quyền sở hữu, quyền sử dụng hàng hóa cho người mua ; đối với cung ứng dịch vụ là thời điểm hoàn thành việc cung ứng dịch vụ cho người mua hoặc thời điểm lập hóa đơn cung ứng dịch vụ.
  • Doanh thu để tính thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp được xác định quy định cụ thể trong Khoản 3, Điều 8, Nghị định 124Khoản 3, Mục III, Phần C, Thông tư 130.
  • Chi phí được trừ

 Theo Điều 9, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp được trừ các khoản chi phí, nếu đáp ứng đủ hai điều kiện :

  • Khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp
  • Khoản chi có đủ hóa đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật.

Riêng với các trường hợp: mua hàng hóa là nông, lâm, thủy sản của người sản xuất, đánh bắt trực tiếp bán ra, mua sản phẩm thủ công mua sản phẩm thủ công làm bằng đay, cói, tre, nứa, lá, song, mây, rơm, vỏ dừa, sọ dừa hoặc nguyên liệu tận dụng từ sản phẩm nông nghiệp của người sản xuất thủ công không kinh doanh trực tiếp bán ra; mua đất, đá, cát, sỏi của người dân tự khai thác trực tiếp bán ra; mua phế liệu của người trực tiếp thu nhặt; mua đồ dùng, tài sản của hộ gia đình, cá nhân đã qua sử dụng trực tiếp bán ra và một số dịch vụ mua của cá nhân không kinh doanh phải có chứng từ thanh toán chi trả tiền cho người bán và Bảng kê thu mua hàng hóa, dịch vụ do người đại diện theo pháp luật hoặc người được ủy quyền của doanh nghiệp ký và chịu trách nhiệm.

Bên cạnh việc quy định các điều kiện để các chi phí được trừ để xác định thu nhập chịu thuế, Luật thuế còn liệt kê một số chi phí không được trừ. Các chi phí không được trừ gồm những chi phí không đáp ứng các điều kiện nêu trên, ngoài ra còn bao gồm các khoản phạt do vi phạm hành chính; các khoản chi được bù đắp bởi nguồn kinh phí khác; chi vượt mức theo quy định pháp luật về chi dự phòng; chi phí nguyên liệu, vật liệu, nhiên liệu, hàng hóa vượt mức tiêu hao đã đăng ký; trích khấu hao tài sản cố định không theo quy định của pháp luật; khoản trích trước vào chi phí không đúng quy định; tiền lương, tiền công của chủ doanh nghiệp tư nhân; thù lao trả cho sáng lập viên không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất; chi phí quảng cáo tiếp thị, khuyến mại, hoa hồng môi giới vượt quá mức 10% tổng số chi được trừ, riêng đối với doanh nghiệp thành lập mới là phần chi phí vượt quá 15% trong 3 năm đầu kể từ khi được thành lập; các khoản tài trợ, trừ tài trợ cho giáo dục, y tế, khắc phục hậu quả thiên tai và làm nhà tình nghĩa cho người nghèo…

Như vậy, cách quy định về chi phí được trừ của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 cũng khác so với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 liệt kê các khoản chi phí được trừ, trong khi Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 chỉ nêu ra điều kiện để xác định khoản chi được trừ và liệt kê cụ thể các khoản chi không được trừ. Theo cách này thì doanh nghiệp được trừ mọi khoản chi nếu đáp ứng điều kiện quy định và không nằm trong những khoản chi không được trừ (có liệt kê cụ thể) khi xác định thu nhập chịu thuế.

Ngoài ra, trong quy định về tỷ lệ giới hạn tối đa 10% đối với chi phí quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, tiếp khách, môi giới trong chi phí được trừ khi xác định thu nhập chịu thuế cũng có thay đổi so với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003. Mặc dù Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 vẫn giữ nguyên mức giới hạn 10% đối với các loại chi phí này như Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003, nhưng nâng mức giới hạn lên 15% trong 3 năm đầu kể từ khi thành lập đối với doanh nghiệp thành lập mới.   

  • Các khoản thu nhập khác Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Theo Điều 3, Nghị định 124, thu nhập khác gồm có các khoản thu nhập sau:

  • Thu nhập từ chuyển nhượng vốn, bao gồm thu nhập từ chuyển nhượng một phần hoặc toàn bộ số vốn đã đầu tư vào doanh nghiệp, kể cả trường hợp bán doanh nghiệp, chuyển nhượng chứng khoán, và các hình thức chuyển nhượng vốn khác theo quy định của pháp luật.
  • Thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản
  • Thu nhập từ chuyển quyền sở hữu, quyền sử dụng tài sản bao gồm cả tiền thu về bản quyền dưới mọi hình thức, thu về quyền sở hữu trí tuệ, thu nhập từ chuyển giao công nghệ, cho thuê tài sản dưới mọi hình thức.
  • Thu nhập từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản (trừ bất động sản), các loại giấy tờ có giá
  • Thu nhập từ lãi tiền gửi, lãi cho vay vốn, bán ngoại tệ bao gồm: lãi tiền gửi tại các tổ chức tín dụng, lãi cho vay vốn dưới mọi hình thức theo quy định của pháp luật, phí bảo lãnh tín dụng và các khoản phí khác trong hợp đồng vay vốn. Thu nhập từ bán ngoại tê.
  • Hoàn nhập các khoản dự phòng, các khoản trích trước vào chi phí nhưng không sử dụng hoặc sử dụng không theo kỳ hạn trích lập.
  • Khoản nợ khó đòi đã xóa nay đòi được
  • Khoản nợ phải trả không xác định được chủ nợ.
  • Khoản thu nhập từ kinh doanh của những năm trước bị bỏ sót phát hiện ra
  • Chênh lệch giữa thu về tiền phạt, tiền bồi thường do vi phạm hợp đồng kinh tế trừ khoản phạt, trả bồi thường do vi phạm hợp đồng theo quy định của pháp luật.
  • Các khoản tài trợ bằng tiền hoặc hiện vật nhận được, trừ khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hóa, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.
  • Chênh lệch do đánh giá lại tài sản theo quy định của pháp luật để góp vốn, điều chuyển khi chia, tách, sáp nhập, hợp nhất, chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, trừ trường hợp đánh giá lại tài sản khi chuyển doanh nghiệp Nhà nước thành công ty cổ phần.
  • Thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất, kinh doanh ở ngoài Việt Nam.
  • Các khoản thu nhập khác theo quy định của pháp luật.

Thu nhập chịu thuế trong một số trường hợp Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Theo Khoản 3. Điều 6 Nghị định 124, thu nhập chịu thuế trong một số hoạt động sản xuất, kinh doanh được quy định như sau:

  • Đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn (trừ chuyển nhượng chứng khoán) được xác định bằng tổng số tiền thu theo hợp đồng chuyển nhượng, trừ đi giá mua phần vốn được chuyển nhượng, trừ chi phí liên quan.
  • Đối với thu nhập từ chuyển nhượng chứng khoán được xác đinh bằng giá bán trừ giá mua của chứng khoán chuyển nhượng, trừ chi phí liên quan đến chuyển nhượng chứng khoán.
  • Đối với thu nhập từ bản quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ được xác định bằng tổng số tiền thu được trừ (-) giá vốn hoặc chi phí tạo ra quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ được chuyển giao, trừ (-) chi phí duy trì, nâng cấp, phát triển quyền sở hữu trí tuệ, công nghệ được chuyển giao và các chi phí được trừ khác.
  • Đối với thu nhập về cho thuê tài sản được xác định bằng doanh thu cho thuê trừ (-) các khoản trích khấu hao cơ bản, chi phí duy tu, sửa chữa, bảo dưỡng tài sản, chi phí thuê tài sản để cho thuê lại (nếu có) và các chi phí khác được trừ liên quan đến việc cho thuê tài sản.
  • Thu nhập từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản (trừ bất động sản) bằng số tiền thu từ chuyển nhượng, thanh lý tài sản trừ (-) giá trị còn lại của tài sản ghi trên sổ sách kế toán tại thời điểm chuyển nhượng, thanh lý và các khoản chi phí khác được trừ liên quan đến việc chuyển nhượng, thanh lý tài sản.
  • Thu nhập từ hoạt động bán ngoại tệ bằng tổng số tiền thu từ bán ngoại tệ trừ (-) giá mua của số lượng ngoại tệ bán ra (không bao gồm chênh lệch tỉ giá hối đoái do đánh giá lại các khoản mục tiền tệ có nguồn gốc ngoại tệ cuối năm tài chính, chênh lệch tỷ giá phát sinh trong quá trình đầu tư xây dựng cơ bản giai đoạn trước hoạt động sản xuất kinh doanh).
  • Chênh lệch do đánh giá lại tài sản cố định khi góp vốn là phần chênh lệch giữa giá trị đánh giá lại với giá trị còn lại của tài sản cố định, được phân bổ theo số năm còn được trích khấu hao của tài sản cố định đánh giá lại tại doanh nghiệp góp vốn.
  • Các khoản thu nhập nhận được từ hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ ở nước ngoài là tổng các khoản thu nhập trước thuế.

3.1.3.2.2. Khấu trừ thu nhập chịu thuế

Theo công thức xác định thu nhập tính thuế, thì các khoản khấu trừ thu nhập chịu thuế để tính thuế tính thuế gồm có thu nhập miễn thuế các khoản lỗ được kết chuyển.

Thu nhập  Thu nhập Thu nhập được Các khoản lỗ được kết  tính thuế = chịu thuế miễn thuế + chuyển theo quy định

  • Thu nhập miễn thuế

Thu nhập được miễn thuế là quy định mới của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008, vì Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 chỉ có đối tượng không chịu thuế thu nhập hoặc được miễn giảm thuế thu nhập, không có quy định về thu nhập miễn thuế. Trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008, thu nhập miễn thuế được quy định trong Điều 4 và chi tiết hơn tại Điều 4 Nghị định 124 như sau : Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

  • Thu nhập từ trồng trọt, chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản của tổ chức được thành lập theo Luật hợp tác xã
  • Thu nhập từ việc thực hiện dịch vụ kỹ thuật trực tiếp phục vụ nông nghiệp như tưới, tiêu nước; cày, bừa đất; nạo vét kênh, mương nội đồng; phòng trừ sâu, bệnh cho cây trồng, vật nuôi…
  • Thu nhập từ việc thực hiện hợp đồng nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ; thu nhập từ doanh thu bán sản phẩm trong thời kỳ sản xuất thử nghiệm và thu nhập từ doanh thu bán sản phẩm làm ra từ công nghệ mới lần đầu tiên áp dụng tại Việt Nam
  • Thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ của doanh nghiệp có số lao động là người khuyết tật, người sau cai nghiện ma tuý, người nhiễm HIV bình quân trong năm chiếm từ 51% trở lên trong tổng số lao động bình quân trong năm của doanh nghiệp
  • Thu nhập từ hoạt động dạy nghề dành riêng cho người dân tộc thiểu số, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn, đối tượng tệ nạn xã hội.
  • Thu nhập được chia từ hoạt động góp vốn, mua cổ phần, liên doanh, liên kết kinh tế với doanh nghiệp trong nước, sau khi bên nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, liên doanh, liên kết đã nộp thuế thu nhập doanh nghiệp theo quy định của Luật thuế thu nhập doanh nghiệp, kể cả trường hợp bên nhận góp vốn, phát hành cổ phiếu, bên liên doanh, liên kết được miễn thuế, giảm thuế.
  • Khoản tài trợ nhận được để sử dụng cho hoạt động giáo dục, nghiên cứu khoa học, văn hoá, nghệ thuật, từ thiện, nhân đạo và hoạt động xã hội khác tại Việt Nam.

Lỗ kết chuyển và các quy định về chuyển lỗ

Lỗ và chuyển lỗ được quy định trong Điều 16 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và Nghị định 124. Theo đó, lỗ phát sinh trong kỳ là số chênh lệch âm về thu nhập chịu thuế.

Theo Luật thuế của Việt Nam thì doanh nghiệp sau khi quyết toán thuế mà bị lỗ thì được chuyển lỗ của năm quyết toán thuế trừ vào thu nhập chịu thuế của những năm sau. Thời gian chuyển lỗ tính liên tục không quá 5 năm, kể từ  năm tiếp sau năm phát sinh lỗ. Như vậy, khác với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ, doanh nghiệp Việt Nam chỉ được chuyển lỗ về các năm tiếp theo mà không được chuyển lỗ lùi về các năm trước đó.

Quá thời hạn 5 năm kể từ năm tiếp sau năm phát sinh lỗ nếu số lỗ phát sinh chưa bù trừ hết thì sẽ không được giảm trừ tiếp vào thu nhập của các năm tiếp sau.

Ngoài ra, Luật thuế cũng có quy định về chuyển lỗ trong trường hợp doanh nghiệp chuyển đổi loại hình doanh nghiệp, chuyển đổi hình thức sở hữu, sáp nhập, hợp nhất, chia tách, giải thể, phá sản. Trong những trường hợp này, số lỗ của doanh nghiệp phát sinh trước khi chuyển đổi sở hữu, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách được tiếp tục chuyển vào thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp sau khi chuyển đổi sở hữu, sáp nhập, chia, tách, hợp nhất trong thời hạn không quá 5 năm từ năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.

Ngoài ra, lỗ từ hoạt động chuyển nhượng bất động sản chỉ được trừ vào thu nhập của hoạt động bất động sản mà không được bù trừ vào các khoản thu nhập khác. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

3.1.3.3. Thuế suất

Thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp được quy định trong Điều 10 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Cụ thể, thuế suât thuế Thu nhập doanh nghiệp là mức thuế suất cố định ở mức 25%, trừ trường hợp áp dụng cho doanh nghiệp có hoạt động tìm kiếm, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm. Với doanh nghiệp có hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm (gồm bạch kim, vàng, bạc, thiếc, wonfram, antimoan, đá quý, đất hiếm) tại Việt Nam, thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp áp dụng là từ 32% đến 50%. Mức thuế suất cụ thể áp dụng cho các doanh nghiệp này do Chính phủ quyết định, căn cứ vào vị trí khai thác, điều kiện khai thác và trữ lượng mỏ.

So với mức thuế suất cũ được quy định trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003, mức thuế suất mới 25% đã đưa thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam ngang bằng chung với khu vực. Chẳng hạn, Singapore đã hạ thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 20% xuống còn 19%, Philippines giảm từ 35% xuống 30%, Trung Quốc giảm mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp từ 33% xuống 25%. Mức thuế suất mới này góp phần tăng sức cạnh tranh của Việt Nam  trong thu hút đầu tư nước ngoài giữa các nước trong khu vực.

Bên cạnh đó, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 cũng bỏ quy định thu bổ sung theo thuế suất lũy tiến đối với thu nhập từ hoạt động chuyển quyền sử dụng đất, chuyển quyền thuê đất trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2003 mà áp dụng chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản theo hướng kê khai riêng thu nhập từ chuyển nhượng bất động sản để nộp thuế theo thuế suất chung 25%.

3.1.3.4.  Ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp 

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam có các ưu đãi về thuế suất, ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế với doanh nghiệp mới thành lập, hoạt động tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn và các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực mũi nhọn như công nghệ cao, nghiên cứu và phát triển, các lĩnh vực được xã hội hóa gồm: giáo dục – đào tạo, y tế, văn hóa – nghệ thuật, thể thao và bảo vệ môi trường.

3.1.3.4.1.  Ưu đãi về thuế suất

Ưu đãi về thuế suất được quy định trong Điều 13 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp và Điều 13 Nghị định 124 và mục II, phần H Thông tư 130. Theo đó, các mức thuế suất ưu đãi là 10% và 20%, áp dụng cụ thể như sau:

Mức thuế suất 10% được áp dụng trong thời hạn 15 năm với:

  • Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu kinh tế, khu công nghệ cao. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.
  • Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc các lĩnh vực Công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ, đầu tư phát triển sản xuất phần mềm và cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước (gồm nhà máy nước, nhà máy điện, hệ thống cấp thoát nước; cầu, đường bộ, đường sắt, cảng hàng không, cảng biển, cảng sông, sân bay, nhà ga và công tình cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng khác theo quy định của Chính phủ). Riêng với những đối tượng doanh nghiệp kể trên nếu thuộc loại có quy mô lớn, công nghệ cao hoặc mới cần đặc biệt thu hút đầu tư thì thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi 10% có thể kéo dài thêm nhưng không quá 30 năm.

Hết thời gian ưu đãi, doanh nghiệp áp dụng mức thuế suất 25%.

Mức thuế suất 10% được áp dụng trong suốt thời gian hoạt động đối với phần thu nhập của doanh nghiệp có từ hoạt động trong lĩnh vực giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường.

 Mức thuế suất ưu đãi 20% trong thời gian 10 năm áp dụng với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn. Hết thời gian ưu đãi, doanh nghiệp áp dụng thuế suất 25%.

Mức thuế suất ưu đãi 20% trong suốt thời gian hoạt động được áp dụng với Hợp tác xã dịch vụ nông nghiệp và quỹ tín dụng nhân dân.

Thời gian áp dụng thuế suất ưu đãi được tính liên tục từ năm đầu tiên doanh nghiệp có doanh thu hoạt động được hưởng ưu đãi thuế.

3.1.3.4.2.  Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế

Ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế được quy định trong Điều 14 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Điều 14 Nghị định 124 và mục III, phần H của Thông tư 130.

Miễn thuế tối đa 4 năm, giảm 50% số thuế phải nộp trong 9 năm tiếp theo đối với:

  • Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, khu tính tế, khu công nghệ cao; doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư thuộc lĩnh vực công nghệ cao, nghiên cứu khoa học và phát triển công nghệ.
  • Doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng đặc biệt quan trọng của Nhà nước như nhà máy nước, cảng hàng không, đường sắt, cảng biển… và sản xuất phần mềm.

Miễn thuế tối đa  4 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 5 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới trong lĩnh vực xã hội hóa (gồm giáo dục – đào tạo, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao và môi trường) thực hiện tại địa bàn không thuộc danh mục đại bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn hoặc đặc biệt khó khăn.

Miễn thuế tối đa 2 năm và giảm 50% số thuế phải nộp trong 4 năm tiếp theo đối với doanh nghiệp thành lập mới từ dự án đầu tư tại địa bàn có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

 Thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm đầu tiên doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế; trường hợp doanh nghiệp không có thu nhập chịu thuế trong 3 năm đầu, kể từ năm đầu tiên có doanh thu thì thời gian miễn thuế, giảm thuế được tính từ năm thứ tư.

3.1.3.4.3. Các trường hợp giảm thuế khác

Các trường hợp giảm thuế khác được quy định trong Điều 15 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp, Điều 15 Nghị định 124 và Mục III, phần H, Thông tư 130.

Doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực sản xuất, xây dựng, vận tải được giảm số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động nữ. Các đơn vị sự nghiệp, cơ quan văn phòng thuộc các Tổng công ty không trực tiếp sản xuất kinh doanh thì không giảm thuế theo điểm này.

Doanh nghiệp sử dụng lao động là người dân tộc thiểu số được giảm thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp tương ứng với số tiền thực chi thêm cho lao động là người dân tộc thiểu số.

3.1.3.4.4. Trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp

Khi doanh nghiệp có trích lập quỹ phát triển khoa học và công nghệ thì công thức tính thu nhập chịu thuế của doanh nghiệp như sau:

Tức là, doanh nghiệp được trích tối đa 10% thu nhập tính thuế hàng năm để lập Qũy phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp. Quy định này chỉ áp dụng cho doanh nghiệp thành lập, hoạt động theo quy định của pháp luật Việt Nam, và quỹ phát triển khoa học và công nghệ của doanh nghiệp chỉ được sử dụng cho đầu tư khoa học và công nghệ tại Việt Nam.

Theo Điều 17 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp thì trong thời hạn 5 năm, kể từ khi trích lập, nếu quỹ phát triển khoa học và công nghệ không được sử dụng hoặc sử dụng không hết 70% hoặc sử dụng không đúng mục đích thì doanh nghiệp phải nộp ngân sách Nhà nước phần thuế Thu nhập doanh nghiệp tính trên khoản thu nhập đã trích lập quỹ mà không sử dụng hoặc sử dụng không đúng mục đích và phần lãi phát sinh từ số thuế Thu nhập doanh nghiệp đó.

Đây là những quy định mới trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 nhằm khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư phát triển khoa học, công nghệ trong nước.

Điều kiện áp dụng ưu đãi thuế 

Theo Điều 18 Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp thì ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp chỉ được áp dụng với doanh nghiệp thực hiện chế độ kế toán, hóa đơn, chứng từ và nộp thuế theo kê khai. Ngoài ra, doanh nghiệp phải hạch toán riêng thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh được ưu đãi về thuế suât và ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế với thu nhập từ hoạt động sản xuất, kinh doanh không được ưu đãi thuế.

Ưu đãi về thuế suất và ưu đãi về thời gian miễn thuế, giảm thuế không áp dụng đối với thu nhập từ chuyển nhượng vốn, chuyển nhượng bất động sản, thu nhập từ quyền sở hữu sử dụng tài sản…; thu nhập từ hoạt động tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí và tài nguyên quý hiếm khác; thu nhập từ kinh doanh trò chơi có thưởng, cá cược; và một số trường hợp khác theo quy định của chính phủ.

3.2. ĐÁNH GIÁ THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA VIỆT NAM Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

3.2.1. Tính hiệu quả

Khác với thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ, thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam không cho phép các thực thể kinh doanh lựa chọn loại hình doanh nghiệp để tính thuế, do vậy quyết định hình thức hoạt động của doanh nghiệp không bị bóp méo bởi các quy định trong luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam, nếu có các ảnh hưởng làm bóp méo quyết định của nền kinh tế thì đó là các quy định về ưu đãi thuế. Nếu phát huy tác dụng, các chính sách ưu đãi thuế này có thể làm bóp méo quyết định của nhà đầu tư nhưng xét về hiệu quả kinh tế xã hội thì các chính sách ưu đãi này lại có ý nghĩa không nhỏ. Tuy nhiên, trên thực tế, hiệu quả kinh tế xã hội của những chính sách ưu đãi này chưa phải là tối ưu.

Các ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp thường không phải là biện pháp hiệu quả nhất về mặt chi phí, và cũng không thu được “tỷ suất lợi ích” cao nhất cho nền kinh tế so với phần thu  thuế mà Chính phủ phải từ bỏ. Rõ ràng là Chính phủ phải mất chi phí cơ hội cho những khoản thu từ thuế Thu nhập doanh nghiệp đã phải từ bỏ, vì khoản thu thuế đó đã có thể được sử dụng để cải thiện cơ sở hạ tầng, nâng cao năng lực của các cơ quan Chính phủ và các yếu tố khác tạo thuận lợi cho môi trường kinh doanh – vốn được các doanh nghiệp đánh giá là quan trọng hơn so với những quy định ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp. Theo Báo cáo Nghiên cứu chính sách của Dự án nâng cao năng lực cạnh tranh của Việt Nam (VNCI), số 2 (2005) được thực hiện dựa trên khảo sát thực tế 140 doanh nghiệp chỉ ra rằng: khi ra quyết định đầu tư các doanh nghiệp đánh giá các yếu tố liên quan đến hạ tầng, nguồn nhân lực tốt là những yếu tố quan trọng nhất, xếp xa yếu tố ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp. Nói chung, thuế Thu nhập doanh nghiệp chỉ xếp thứ 7 trong 14 yếu tố ảnh hưởng đến quyết định đầu tư được liệt kê. Chỉ có 14% doanh nghiệp được hỏi cho biết họ chủ ý thay đổi các điều kiện của dự án đầu tư của mình để có thể hưởng ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp, chủ yếu là tăng số lượng nhân công, tăng quy mô sản xuất hay di chuyển đến các khu công nghiệp. Có gần 85% doanh nghiệp nhận ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp cho rằng họ chắc chắn hoặc sẽ tiếp tục đầu tư như cũ cho dù không được hưởng ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp.

 Tóm lại, các quy định về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam có thể phát huy tác động khuyến khích đầu tư vào một số lĩnh vực, địa bàn nhưng tác động này không thực sự lớn, đặc biệt khi xét đến các lợi ích từ phần thu thuế mà Chính phủ phải từ bỏ.

3.2.2. Tính công bằng Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Việt Nam áp dụng mức thuế suất cố định cho mọi mức thu nhập tính thuế của doanh nghiệp. Về lý thuyết, quy định này không đảm bảo tính công bằng dọc của thuế. Tại Việt Nam, Chính phủ luôn nỗ lực hỗ trợ các doanh nghiệp vừa và nhỏ nâng cao năng lực cạnh tranh, tuy nhiên, mức thuế suất cố định này tuy đơn giản trong tính toán nhưng chưa tạo điều kiện tốt nhất cho doanh nghiệp nhỏ và vừa.

So với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp từ năm 2003 trở về trước, đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp đã được điều chỉnh theo hướng công bằng hơn, tức là không phân biệt đối xử các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau. Đây là xu hướng tất yếu trong quá trình hội nhập kinh tế đất nước.

3.2.3. Một số tiêu chuẩn khác

Có thể nói Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam không có nhiều quy định rắc rối, phức tạp và gây đau đầu người nộp thuế như Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ. Bên cạnh đó, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 của Việt Nam đã có nhiều thay đổi theo hướng đơn giản hóa, đặc biệt trong các quy định về ưu đãi thuế. Năm 2007, một số chuyên gia tài chính quốc tế cho rằng chế độ ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam là một trong những chế độ khuyến khích phức tạp nhất thế giới. Trong năm 2007, những vướng mắc về ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp trong quá trình áp dụng Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003 chiếm tới 25% những vướng mắc về thuế Thu nhập doanh nghiệp do doanh nghiệp gửi về cơ quan thuế. Những hạn chế này đã được khắc phục trong Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008, giúp Luật thuế của Việt Nam đơn giản hơn, minh bạch và hiệu quả hơn.   

3.3. BÀI HỌC KINH NGHIỆM TỪ HOA KỲ CHO VIỆT NAM

Từ những đặc điểm cơ bản nêu trên của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ và Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam, tác giả mạnh dạn đề xuất một số khuyến nghị, bài học kinh nghiệm cho Việt Nam như sau:

3.3.1. Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp

Cơ chế phân loại doanh nghiệp để đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ (cơ chế “check-the-box”) là quy định khá độc đáo mà Việt Nam có thể tham khảo kinh nghiệm. Cơ chế này đã hạn chế việc đánh thuế trùng đối với thu nhập từ góp vốn vào kinh doanh dưới các hình thức công ty tư nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và một số công ty cổ phần quy mô nhỏ (công ty cổ phần loại “S”). Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Bên cạnh đó, cơ chế “check-the-box” còn tạo cơ hội cho doanh nghiệp chủ động xác định hình thức đánh thuế: đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp hay Thu nhập cá nhân lên thu nhập của chủ sở hữu công ty.

Theo Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam thì công ty cổ phần, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp. Theo Luật thuế Thu nhập cá nhân của Việt Nam thì khi được chia lợi nhuận (sau khi đóng thuế Thu nhập doanh nghiệp), các cổ đông (đối với công ty cổ phần) hoặc thành viên công ty (đối với công ty hợp danh) phải nộp thuế Thu nhập cá nhân với thuế suất 5%; với cá nhân đầu tư vốn dưới hình thức doanh nghiệp tư nhân hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên thì chỉ phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp mà không phải nộp thuế Thu nhập cá nhân với khoản lợi nhuận còn lại. Như vậy, dù thu nhập của cá nhân từ đầu tư vốn dưới một số hình thức doanh nghiệp (công ty cổ phần, công ty hợp danh) được hưởng thuế suất thấp, nhưng vẫn bị đánh thuế 2 lần lên cùng khoản thu nhập. Việc đánh thuế trùng ít nhiều có ảnh hưởng không tốt đến việc khuyến khích người dân đầu tư vốn vào cơ sở sản xuất kinh doanh. Vì vậy, nếu Luật thuế của Việt Nam hạn chế việc đánh thuế trùng và tạo cho nhà đầu tư cơ hội lựa chọn hình thức đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp hay Thu nhập cá nhân lên khoản thu nhập từ đầu tư vốn của mình, quy định này chắc chắn sẽ là động lực khuyến khích cá nhân tham gia đầu tư vốn vào nền kinh tế. Mặc dù vậy, để có thể áp dụng cơ chế cho phép doanh nghiệp chủ động lựa chọn hình thức hoạt động để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp cần phải có cơ chế quản lý hiệu quả, thực thi tốt và đòi hỏi doanh nghiệp nắm rõ các quy định trong luật thuế Thu nhập doanh nghiệp.

3.3.2. Quy định về căn cứ xác định thuế thu nhập doanh nghiệp

3.3.2.1. Quy định về chi phí được khấu trừ

3.3.2.1.1. Nguyên tắc khấu trừ chi phí

So với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam năm 2003, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2008 đã có nhiều sửa đổi trong phương pháp quy định các chi phí được khấu trừ. Tuy nhiên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 chỉ đưa ra hai tiêu chuẩn mà các khoản chi phí phải thoả mãn để được khấu trừ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp, đó là: khoản chi thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, và khoản chi có đủ hoá đơn chứng từ theo quy định của pháp luật. Quy định này vẫn chưa thật chặt chẽ vì có những khoản chi phí đáp ứng đủ hai điều kiện trên nhưng lại là những khoản chi không hợp lý, cần thiết. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Vì vậy, việc bổ sung thêm quy định về nguyên tắc khấu trừ chi phí có thể hạn chế việc doanh nghiệp tận dụng các khoản chi không hợp lý để giảm số thuế phải nộp. Về nguyên tắc này, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ đã quy định rất rõ ràng: để được khấu trừ, khoản chi phí không những phải được pháp luật cho phép mà còn phải thoả mãn các điều kiện về tính thông dụng (phát sinh thường xuyên và được phép khâu trừ vào thu nhập trong kỳ) và tính hợp lý và có ích. Nguyên tắc này hạn chế việc doanh nghiệp khai vượt mức các khoản chi phí để tránh thuế.

3.3.2.1.2. Chi về tiền công

Theo Khoản 2k, Điều 9, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp quy định về các khoản chi phí không được khấu trừ khi xác định thu nhập chịu thuế gồm có “thù lao trả cho sáng lập viên doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất, kinh doanh”.  Quy định này không rõ ràng vì khó xác định thế nào là trực tiếp hay gián tiếp tham gia vào điều hành sản xuất, kinh doanh. Hơn nữa, trong thực tế, đây là khoản thực chi của doanh nghiệp có liên quan đến doanh thu, thu nhập chịu thuế mà không được coi là chi phí hợp lý. Vì vậy, nội dung này cần được làm rõ hơn.

Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ cũng có quy định tương tự về việc hạn chế khấu trừ lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động (passive loss activity) mà doanh nghiệp không “trực tiếp tham gia”. Bản chất của quy định này là hạn chế các khoản giảm trừ thuế đối với các hoạt động mà doanh nghiệp không trực tiếp tham gia điều hành sản xuất kinh doanh. Tuy nhiên, để xác định như thế nào là “thực sự tham gia”, Luật thuế của Hoa Kỳ có đưa ra những thước đo và phương pháp tính toán cụ thể, rõ ràng.

3.3.2.1.3.  Chi phí quảng cáo, tiếp thị

Như đã trình bày ở trên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp 2008 của Việt Nam quy định tỷ lệ giới hạn 10% đối với các khoản chi dành cho quảng cáo, khuyến mại, tiếp thị, tiếp khách, môi giới và đối với doanh nghiệp thành lập mới tỷ lệ giới hạn là 15% trong ba năm đầu, kể từ khi doanh nghiệp thành lập. Lý do đưa ra tỷ lệ giới hạn này là do tới đây Việt Nam phải mở cửa thị trường nhiều hơn trong khi hệ thống pháp luật về chống độc quyền, bảo đảm cạnh tranh lành mạnh còn đang tíêp tục hoàn thiện, đa số doanh nghiệp còn yếu thế trên thương trường.

Trong khi đó, Luật thuế của Hoa Kỳ không hề giới hạn tỷ lệ khấu trừ với các chi phí loại này, quy định này tỏ ra phù hợp với xu hướng phát triển của thị trường hiện nay. Ngay cả ở châu Á, cũng còn rất ít nước duy trì quy định này. Nhiều năm nay, Việt Nam đang theo đuổi chính sách thông thoáng, minh bạch và công bằng nhằm thu hút đầu tư nước ngoài hơn để đóng góp cho tăng trưởng kinh tế. Vì vậy không nên phân biệt doanh nghiệp trong nước với doanh nghiệp nước ngoài vì sẽ tạo ra một sân chơi không công bằng.

Vì vậy, trong thời gian tới, Chính phủ nên xem xét sửa bỏ tỷ lệ giới hạn 10% nêu trên và cho phép khấu trừ chi phí quảng cáo, tiếp thị, khuyến mại thực tế phát sinh liên quan đến hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp miễn là khoản chi có đủ hoá đơn, chứng từ theo quy định của pháp luật và là các khoản chi hợp lý, cần thiết.

3.3.2.2. Quy định về thuế suất  Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp mà Việt Nam đang áp dụng là thuế suất cố định, ở mức 25% cho mọi mức thu nhập của doanh nghiệp. So với thuế suất luỹ tiến theo thu nhập mà Hoa Kỳ và nhiều quốc gia khác đang áp dụng, thuế suất cố định không đảm bảo tính công bằng dọc của thuế. Điều này càng có ý nghĩa quan trọng đối với Việt Nam, vì nền kinh tế nước ta có nhiều doanh nghiệp nhỏ và vừa, quy định về thuế suất lũy tiến chắc chắn sẽ mang lại nhiều thuận lợi cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, giúp các doanh nghiệp này cạnh tranh tốt hơn trước các doanh nghiệp lớn, đặc biệt là các doanh nghiệp nước ngoài có các khoản thu nhập khổng lồ trong bối cảnh kinh tế hội nhập. Mặc dù vậy, để áp dụng thuế suất lũy tiến cần phải có cơ chế thực thi và quản lý tốt, đòi hỏi hoàn thiện bộ máy quản lý thuế của Việt Nam hiện nay.

3.3.3. Quy định về ưu đãi thuế

3.3.3.1. Miễn giảm thuế đối với doanh nghiệp mới thành lập

Việc ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp cho các doanh nghiệp mới thành lập so với các doanh nghiệp đang hoạt động có hiệu quả trong cùng lĩnh vực hoặc trên cùng địa bàn sẽ tạo nên sự thiếu công băng trong động viên thuế.

Các biện pháp khuyến khích đầu tư có thể làm méo mó thị trường hoặc thậm chí phản tác dụng. Chẳng hạn như khi các doanh nghiệp cố tình thiết lập cơ sở sản xuất mới thay vì đầu tư mở rộng cơ sở kinh doanh để có thể hưởng lợi tối đa từ những ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp. Hoặc doanh nghiệp có thể thành lập công ty mới để thay thế công ty cũ đã hết hạn ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp nhằm hội đủ điều kiện hợp pháp để hưởng các ưu đãi mới. Những ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp hiện hành còn tạo thuận lợi cho những doanh nghiệp mới thành lập so với những doanh nghiệp đã vững mạnh hoạt động trong lĩnh vực cùng ngành hay cùng địa bàn, tạo nên sự thiếu công bằng.

Một trong những kết quả của ưu đãi dành cho doanh nghiệp mới thành lập trong một số lĩnh vực là khuyến khích thành lập các doanh nghiệp mới. Chính kết quả này có thể gây tác hại khi vô tình khuyến khích doanh nghiệp chia nhỏ hay chuyển đổi vô căn cứ thành nhiều doanh nghiệp nhỏ, mà không doanh nghiệp nào trong số đó đạt được lợi ích quy mô để có thể cạnh tranh hiệu quả với các đối thủ quốc tế. Nếu tình trạng đó xảy ra thì có lẽ tốt hơn là nên điều chỉnh các ưu đãi hướng vào việc khuyến khích đầu tư vào một số hoạt động sinh lợi (bất kể đầu tư vào cơ sở sản xuất mới hay cho cơ sở sản xuất hiện có), hoặc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, hơn là việc thành lập các doanh nghiệp mới. Việc ưu đãi cho doanh nghiệp mới thành lập chỉ là việc ưu đãi hoàn toàn dựa trên kỳ vọng, chứ không phải dựa vào thực tế.

3.3.3.2. Chuyển đổi tín dụng thuế từ xây nhà cho người có thu nhập thấp

Như đã trình bày ở trên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cho phép các doanh nghiệp chuyển nhượng các khoản tín dụng thuế từ xây dựng nhà cho người có thu nhập thấp để tận dụng tối đa ưu đãi thuế này, đặc biệt trong trường hợp các doanh nghiệp có hoạt động đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp phát sinh lỗ trong nhiều năm liên tục. Đây là một quy định ưu đãi rất độc đáo của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ, có ý nghĩa khuyến khích rất lớn các doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp. Hiện nay, vấn đề xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp là một vấn đề rất nan giải với Việt Nam, do vậy, đây cũng là một kinh nghiệm rất hay mà Việt Nam có thể học tập.

3.3.3.3. Quy định về chuyển lỗ Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Quy định về chuyển lỗ của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ tuy phức tạp nhưng khá linh hoạt. Theo Luật thuế của Hoa Kỳ, lỗ không chỉ được chuyển tiếp về các năm sau mà còn được chuyển lùi về 2 năm trước. Ngoài ra, thời gian chuyển lỗ của doanh nghiệp cũng dài hơn rất nhiều so với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam: Luật thuế của Hoa Kỳ cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ lùi về 2 năm trước và chuyển lỗ về tiếp 20 năm sau, trong khi Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam chỉ cho phép chuyển lỗ về 5 năm tiếp theo. Thực ra, không chỉ Việt Nam mà Luật thuế của nhiều nước khác như Hàn Quốc, Trung Quốc… đều chỉ cho phép thời gian chuyển lỗ là 5 năm kể từ ngày phát sinh lỗ. Tuy nhiên, việc phát sinh lỗ của doanh nghiệp là hiện tượng rất phổ biến trong kinh doanh, đặc biệt là trong bối cảnh kinh tế thị trường cạnh tranh rất gay gắt. Vì vậy, các doanh nghiệp khi gặp lỗ cần được sự trợ giúp của chính phủ. Việc cho phép chuyển lỗ sang các năm trước giúp doanh nghiệp nhận được sự hỗ trợ ngay trong năm tính thuế để bù đắp cho khoản lỗ phát sinh, thay vì nhận được sự hỗ trợ cho khoản lỗ đó trong những năm tiếp theo. Do vậy, Việt Nam có thể áp dụng quy định về chuyển lỗ lùi sang các năm trước, để hỗ trợ tốt hơn cho các doanh nghiệp khi phát sinh lỗ.

3.3.4. Điều chỉnh chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp phù hợp với thông lệ quốc tế

Thực hiện chính sách khuyến khích và bảo hộ đầu tư, thúc đẩy đầu tư nước ngoài, những năm qua chính phủ Việt Nam đã tham gia ký kết Hiệp định tránh đánh thuế 2 lần với trên 50 quốc gia và vùng lãnh thổ. Kể từ ngày 11/1/2007, Việt Nam đã chính thức gia nhập vào Tổ chức Thương mại thế giới (WTO). Hội nhập kinh tế thế giới tạo cơ hội để doanh nghiệp Việt Nam đầu tư ra nước ngoài và có thu nhập từ hoạt động đầu tư này. Do vậy, trong bối cảnh đó, các quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp cần phù hợp thông lệ quốc tế. Cụ thể là:

Sự hội nhập kinh tế thế giới giúp doanh nghiệp Việt Nam có cơ hội đầu tư ra nước ngoài. Các khoản thu nhập do đầu tư ra nước ngoài của doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu thuế tại nước sở tại, do đó không phải chịu thuế tại Việt Nam nếu mức thuế đã nộp ở nước ngoài cao hơn hoặc bằng mức thuế quy định tại Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp theo thông lệ quốc tế. Cơ sở xử lý tránh đánh thuế 2 lần trên cùng một khoản thu nhập là hiệp định tránh đánh thuế 2 lần. Tuy nhiên, đối với các nước chưa ký kết, Chính phủ có quy định về việc áp dụng nguyên tắc xử lý tránh đánh thuế 2 lần đối với thu nhập nhận được ở nước ngoài. Vấn đề này cần được quy định cụ thể tại Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp để đảm bảo cơ sở pháp lý cho các quy định của Chính phủ. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Theo thông lệ quốc tế, đối tượng chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp được phân biệt thành 2 loại: đối tượng cư trú và đối tượng không cư trú để xác định phạm vi nghĩa vụ nộp thuế. Về nguyên tắc, đối tượng cư trú của một nước phải nộp thuế đối với toàn bộ thu nhập phát sinh trong năm trên toàn cầu; trong khi đối tượng phi cư trú chỉ có nghĩa vụ nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp trong phạm vi phần thu nhập phát sinh tại nước đánh thuế. Một số trường hợp đặc biệt như các hãng hàng không, các hãng vận tải biển quốc tế chỉ phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp tại nước đặt trụ sở chính. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam dù đã đề cập đến phạm vi đánh thuế nhưng chưa rõ về vấn đề cư trú, chưa phù hợp với thông lệ quốc tế. Vì vậy, trong thời gian tới cần có những quy định cụ thể về vấn đề cư trú.

Ngoài ra, để cạnh tranh và tồn tại doanh nghiệp có xu hướng phát triển theo mô hình tập đoàn hoạt động đa dạng trong các lĩnh vực nhằm tạo thành thế liên kết bền vững và hỗ trợ lẫn nhau trong khai thác và chiếm lĩnh thị trường. Việc các tập đoàn xuất hiện ngày càng nhiều sẽ là xu hướng tất yếu. Vì vậy, trong thời gian tới, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam cần có quy định cụ thể về cơ chế đối với các tập đoàn, nhóm công ty, như bù trừ thu nhập giữa các công ty con hay cơ chế ưu đãi nhằm hỗ trợ các tập đoàn Việt Nam phát triển hay thu hút các tập đoàn đa quốc gia đặt trụ sở vùng tại Việt Nam. Bộ luật thuế nội địa (IRC) của Hoa Kỳ đã dành hẳn một chương để quy định về các báo cáo tài chính hợp nhất và đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp lên các tập đoàn (IRC, Subtitle A, Chapter 6: Consolidated Returns).

Như vậy, với lợi thế của người đi sau, Việt Nam có thể học hỏi nhiều kinh nghiệm quý báu từ Hoa Kỳ để hoàn thiện Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của mình. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ không phải là một kiểu mẫu hoàn hảo, bên cạnh đó, giữa hai quốc gia còn tồn tại nhiều điểm khác biệt về kinh tế, chính trị, xã hội; tuy nhiên, việc linh động lựa chọn áp dụng những kinh nghiệm phù hợp chắc chắn sẽ góp phần hoàn thiện Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam theo hướng công bằng, hiệu quả hơn.  

KẾT LUẬN Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

Qua nghiên cứu những vấn đề lí luận, thực tiễn và các quy định của luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ và của Việt Nam, có thể rút ra những kết luận sau:

Thuế Thu nhập doanh nghiệp là loại thuế điều tiết thu nhập của các thực thể kinh doanh trong nền kinh tế, ra đời cùng với sự phát triển của kinh tế xã hội. Hiện nay, sự tồn tại của sắc thuế này vẫn là vấn đề gây tranh luận trên thế giới, tuy nhiên thuế Thu nhập doanh nghiệp vẫn được các quốc gia áp dụng và là một sắc thuế quan trọng trong hệ thống thuế của bất kỳ quốc gia nào. Thuế Thu nhập doanh nghiệp không chỉ tạo ra nguồn thu lớn cho ngân sách Nhà nước, góp phần điều hành kinh tế vĩ mô và phân phối lại thu nhập, mà còn là một công cụ được các Chính phủ áp dụng trong cuộc chạy đua để thu hút đầu tư nước ngoài.

Nhìn chung, bên cạnh các quy định về thu nhập tính thuế, khấu trừ chi phí, ưu đãi thuế… như các quốc gia khác, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ có một số điểm khác biệt: đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ được xác định theo cơ chế phân loại tự động hoặc doanh nghiệp chủ động đăng ký lựa chọn loại hình doanh nghiệp, đây là điểm tương đối độc đáo của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp chủ động lựa chọn phương thức đánh thuế thu nhập, đồng thời hạn chế phần nào hiện tượng đánh thuế trùng lên thu nhập của chủ sở hữu doanh nghiệp.  Ngoài ra, luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ áp dụng tính thuế Thu nhập doanh nghiệp theo phương pháp thông thường và phương pháp AMT với mục đích hạn chế việc người nộp thuế tận dụng nhiều khoản giảm trừ để tránh thuế. Hai phương pháp tính thuế này đòi hỏi đối tượng nộp thuế phải kê khai các khoản thu nhập và chi phí theo hai hệ thống hoàn toàn khác nhau, theo các quy định về khấu trừ chi phí, các khoản miễn giảm thuế, thuế suất khác nhau. Bên cạnh đó, quy định về chuyển lỗ và tín dụng thuế của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cũng có nhiều điểm khác biệt.

Ở nước ta, thuế Thu nhập doanh nghiệp đã trải qua nhiều thay đổi để phù hợp với từng giai đoạn phát triển. Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam có hiệu lực từ ngày 1/1/2009 đã được hoàn thiện hơn so với Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp trước đó, khắc phục được nhiều nhược điểm của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp năm 2003, mặc dù vậy, vẫn còn một số vấn đề gây tranh cãi.

Việc đề ra một chính sách thuế Thu nhập doanh nghiệp hoàn hảo là điều hết sức khó khăn, trên thế giới không có khuôn mẫu nào là hoàn hảo với việc áp dụng thuế thu nhập doanh nghiệp, cho dù đó là một sắc thuế được áp dụng lâu đời ở một nền kinh tế hàng đầu thế giới. Tuy nhiên, trên cơ sở phân tích trên, tác giả mạnh dạn đưa ra một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hơn Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.  Đó là một số kiến nghị về nguyên tắc khấu trừ chi phí, thuế suất, ưu đãi thuế cho doanh nghiệp mới thành lập, chuyển đổi tín dụng thuế cho các doanh nghiệp có hoạt động xây nhà cho người có thu nhập thấp…

Do nhiều hạn chế, khoá luận vẫn chưa trình bày chi tiết nhiều quy định liên quan đến thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cũng như đánh giá định lượng hiệu quả của sắc thuế này. Tuy nhiên, tác giả hi vọng việc nhận thức những hạn chế này có thể gợi mở những hướng nghiên cứu mới để góp phần giải quyết những vấn đề còn tồn tại, từ đó rút ra các kinh nghiệm hữu ích để hoàn thiện hơn thuế Thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam. Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Luật thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537