Trong thời gian tham khảo đề tài Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ mình nhận thức được có thể luận văn này giúp các bạn sinh viên tận dụng những kiến thức được học trong nhà trường vào thực tế, bổ sung củng cố kiến thức của bản thân, tích lũy được nhiều kinh nghiệm quý báu phục vụ cho công việc và chuyên môn sau này. Đó cũng là lý do mà mình chia sẻ Đề tài Khóa luận tốt nghiệp Thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cho các bạn.
2.1. KHÁI QUÁT VỀ HỆ THỐNG THUẾ CỦA HOA KỲ
2.1.1. Khái quát về hệ thống thuế của Hoa Kỳ.
2.1.1.1. Lịch sử hình thành phát triển của hệ thống thuế Hoa Kỳ
Qúa trình phát triển của hệ thống thuế liên bang Hoa Kỳ, hệ thống thuế của từng bang, cũng như hệ thống thuế của các địa phương gắn liền với những biến động của lịch sử cùng với những đổi thay trong vai trò của chính phủ và quá trình phát triển của nền kinh tế đất nước.
Thời kỳ sau Chiến tranh cách mạng (1775 – 1860)
Ở giai đoạn trước, thời kỳ thuộc địa, các sắc thuế chủ yếu do chính quyền thuộc địa ở mỗi địa phương đặt ra, chủ yếu là thuế giá trị gia tăng, thuế xuất nhập khẩu. Cho đến trước năm 1789, quyền lực chủ yếu tập trung ở chính quyền tiểu bang, chính phủ liên bang không có nhiều quyền lực và trách nhiệm nên chưa có hệ thống thuế toàn liên bang. Tuy nhiên, sau đó, Hiến pháp 1789 đã cho phép Quốc hội thu các loại thuế, nhưng việc tiến hành thu thuế vẫn thuộc trách nhiệm của các tiểu bang.
Đến cuối những năm 1790, để trang trải cho cuộc đối đầu với người Pháp, chính phủ liên bang đánh thuế trực thu lên chủ sở hữu nhà, đất, nô lệ và tài sản khác. Sự ra đời của thuế trực thu đóng vai trò quan trọng trong chính sách thuế của chính phủ những năm sau này. Khi Tổng thống Thomas Jefferson lên nhậm chức năm 1802, ông đã bãi bỏ các sắc thuế trực thu, chỉ còn thu thuế tiêu thụ đặc biệt.
Thời kỳ nội chiến (1861 – 1865)
Khi nổ ra cuộc nội chiến, Quốc hội đã thông qua Luật ngân sách năm 1861 (Reveune Act of 1861), theo đó tái áp đặt tất cả các loại thuế tiêu thụ đặc biệt trước đó, và đánh thuế thu nhập cá nhân. Ban đầu thuế thu nhập cá nhân đánh thuế 3% vào các khoản thu nhập từ 800 USD trở lên. Đến năm 1862, thuế suất thuế thu nhập cá nhân chuyển thành thuế lũy tiến từng phần. Luật thuế năm 1862 là một bước ngoặt quan trọng, tạo nền tảng cho các sắc thuế hiện hành: lần đầu tiên áp dụng thuế suất lũy tiến từng phần, và thực hiện nguyên tắc “thu tại nguồn” để đảm bảo thu thuế đúng tiến độ.
Sửa đổi Hiến pháp lần thứ 16 năm 1913 (The 16th Amendment)
Theo Hiến pháp cũ, Quốc hội chỉ được áp đặt các sắc thuế trực thu nếu đánh theo tỷ lệ dân số của từng tiểu bang. Vì vậy, năm 1913, 36 bang đã phê chuẩn “Sửa đổi Hiến pháp lần thứ 16”, bãi bỏ quy định đánh thuế theo tỷ lệ dân số của từng tiểu bang để hợp pháp hóa các sắc thuế thu nhập. Vào tháng 10/1913, Quốc hội đã thông qua luật thuế thu nhập cá nhân, với thuế suất bắt đầu từ 1% đến 7%, với thu nhập từ 500.000 USD trở lên. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Chiến tranh thế giới thứ I và giai đoạn trước năm 1945
Sự tham gia của Hoa Kỳ vào chiến tranh thế giới thứ I buộc Quốc hội phải ban hành luật Ngân sách năm 1916 để tăng thuế suất, giảm các khoản miễn giảm thuế và tăng phạm vi đối tượng đánh thuế. Sau đó, trong thời kỳ kinh tế phát triển mạnh những năm 1920, Quốc hội lại nhiều lần cắt giảm thuế. Nhưng để đối mặt với khủng hoảng kinh tế 1929, Quốc hội lại một lần nữa tăng thuế, và cho ra đời nhiều hoản thuế mới, trong đó có thuế an sinh xã hội (social security tax), để giải quyết trợ cấp thất nghiệp, trợ cấp cho người già, người tàng tật và một số đối tượng khác.
CÓ THỂ BẠN QUAN TÂM ĐẾN DỊCH VỤ
Giai đoạn từ sau chiến tranh thế giới thứ II đến 1986
Lại một lần nữa, Quốc hội phải tăng thuế để trang trải cho cuộc chiến tranh thế giới thứ II bằng cách ban hành 2 luật thuế để tăng thuế đánh vào cá nhân và doanh nghiệp. Tiếp sau đó, khi cuộc chiến tranh này kết thúc, chính phủ lại tiếp tục giảm thuế. Trong những năm 1960-1970, Hoa Kỳ trải qua giai đoạn lạm phát tăng nhanh chóng, trong khi đó thuế suất lại vẫn giữ nguyên nên thuế trở thành một gánh nặng quá lớn, khiến toàn bộ nền kinh tế hoạt động kém hiệu quả. Những hạn chế đó dẫn đến sự ra đời của Luật thuế phục hồi kinh tế năm 1981 (Economic Recovery Tax Act), với các thay đổi về thuế suất và quy định khấu hao.
Cải cách thuế năm 1986 (Tax Reform of 1986) đến nay.
Năm 1984, Tổng thống Reagan kêu gọi cải cách hàng loạt hệ thống thuế thu nhập theo hướng tạo phạm vi đánh thuế rộng hơn và thuế suất thấp hơn, và kết quả của những nỗ lực này là Luật thuế sửa đổi năm 1986, theo đó giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp và Thu nhập cá nhân. Bên cạnh đó, bộ luật này cũng đề ra phương pháp tính thuế tối thiếu thay thế (Alternative minimum tax – AMT).. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Năm 1997, Quốc hội thông qua luật Trợ giúp người đóng thuế (Taxpayer Relief Act), với một số quy định mới về giảm thuế thu nhập cá nhân. Đến năm 2001, dưới chính quyền của Tổng thống George W. Bush, Quốc hội tiếp tục thông qua một số đạo luật về trợ giúp thuế và kích thích tăng trưởng kinh tế (Economic Growth and Tax Relief and Reconciliation Act). Đạo luật này sửa đổi một số điều của Bộ luật thuế (Internal Revenue Code) của Hoa Kỳ, gồm thay đổi về thuế suất, miễn thuế quà tặng và thuế thừa kế, cũng như một số quy định về thuế Thu nhập cá nhân. Nhiều khoản giảm trừ thuế của đạo luật này hết hạn đến cuối năm 2010 nếu không được Quốc hội tiếp tục gia hạn.
2.1.1.2. Đặc điểm của hệ thống thuế Hoa Kỳ
Hệ thống thuế của Hoa Kỳ tương đối phức tạp vì cùng lúc tồn tại nhiều hệ thống thuế ở các cấp bậc khác nhau: liên bang, tiểu bang và địa phương. Ngoài hệ thống thuế của liên bang, các tiểu bang cũng có hệ thống thuế riêng; và ở chính quyền địa phương ở các cấp nhỏ hơn cũng có thể có các sắc thuế riêng. Đây là do đặc trưng của các chính quyền bang là có quyền tự trị, không phải là cơ cấu cấp dưới của chính phủ liên bang. Do tính đa dạng của luật thuế của từng bang, phạm vi bài nghiên cứu này chỉ giới hạn trong luật thuế liên bang Hoa Kỳ, tức là hệ thống thuế của chính phủ liên bang.
Các sắc thuế liên bang của Hoa Kỳ:
Thuế thu nhập (Income tax)
Chính phủ liên bang đánh thuế thu nhập trên thu nhập của 4 đối tượng là cá nhân, doanh nghiệp, quỹ tín thác (trust) và quỹ ủy thác di sản (estate). Chính quyền của hầu hết các tiểu bang cũng đánh thuế thu nhập, một số địa phương cấp dưới cũng có sắc thuế này đánh vào thu nhập của những người lao động làm việc hay sinh sống trong địa bàn. Thuế thu nhập là nguồn thu lớn nhất trong tổng thu từ thuế cho ngân sách Nhà nước, trong năm 2008 và 2009 thuế thu nhập đóng góp trên 50% cho tổng thu ngân sách Nhà nước từ thuế (xem hình số 3).
Thuế theo lương (Payroll tax)
Người lao động nộp thuế an sinh xã hội, các cá nhân tự kinh doanh (selfemployed individuals) thì nộp cả thuế an sinh xã hội và thuế tự doanh (selfemployment tax). Ngoài ra còn có các sắc thuế khác như thuế thất nghiệp, thuế chăm sóc y tế (Medicare tax)…
Thuế an sinh xã hội (Social security tax) được quy định trong Luật an sinh xã hội liên bang (Federal Insurance Contribution Act – FICA). Sắc thuế này nhằm động viên ngân sách để tài trợ cho việc trả lương hưu, trợ cấp cho người khuyết tật, bảo hiểm y tế… Bên cạnh đó, chủ lao động phải nộp thuế thất nghiệp (Unemployment tax) ở cả cấp liên bang và tiểu bang, nhằm đóng góp vào quỹ trợ cấp thất nghiệp của chính phủ.
Thuế mua bán (Sales tax)
Thuế mua bán là nguồn thu quan trọng cho các chính quyền tiểu bang và cấp địa phương. Thuế mua bán không đánh vào thu nhập của người nộp thuế mà đánh vào việc tiêu thụ hàng hóa của người nộp thuế, đây là một loại thuế gián thu, người kinh doanh hàng hóa dịch vụ chỉ là đối tượng thu thuế hộ cho chính phủ, người tiêu dùng cuối cùng mới là người phải chịu thuế. Loại thuế mua bán này của Hoa Kỳ tương tự như thuế giá trị gia tăng theo tên gọi của Việt Nam và một số nước khác. Tuy nhiên, ở một số tiểu bang của Hoa Kỳ, dịch vụ không phải chịu thuế mua bán; có thể xem đây là điểm khác biệt cơ bản giữa thuế mua bán của Hoa Kỳ với thuế giá trị gia tăng ở một số nước khác.
Thuế tài sản Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Thuế tài sản gồm có thuế bất động sản (real property tax) và thuế động sản (personal property tax), đánh vào giá trị của tài sản mà người sở hữu tài sản đó phải nộp vào ngân sách nhà nước. Thuế bất động sản đánh vào đất đai, vật kiến trúc gắn liền với đất đai; trong khi đó thuế động sản đánh vào một số phương tiện đi lại như ô tô, xe tải, xe máy, du thuyền, máy bay, nhà di động, và một số phương tiện đi thuê.
Thuế tiêu thụ đặc biệt (Excise tax)
Thuế tiêu thụ đặc biệt của Hoa Kỳ không đánh vào giá bán của hàng hóa như thuế mua bán (sales tax) mà đánh vào khối lượng hàng hóa, chẳng hạn như gallon xăng, hay bao thuốc,…Một số loại hàng hóa chịu thuế tiêu thụ đặc biệt như rượu, than, dầu diesel, xăng, súng, lốp xe, thuốc lá.
Thuế chuyển giao tài sản (Transfer tax)
Chuyển giao tài sản dưới hình thức tặng cho, thừa kế phải chịu thuế chuyển giao tài sản, gồm thuế quà tặng (gift tax) và thuế thừa kế (estate tax). Đối tượng nộp thuế chỉ phải nộp các loại thuế này nếu giá trị của quà tặng hay thừa kế vượt quá một giới hạn nhất định, chẳng hạn các món quà tặng trị giá dưới 13.000 USD trong năm 2010 thì không phải nộp thuế này.
Một số sắc thuế khác
Ngoài những sắc thuế quan trọng kể trên, chính phủ liên bang còn có một số sắc thuế khác như: thuế xa xỉ (luxury tax) đánh vào một số hàng hóa xa xỉ, thuế sử dụng đường xá (road usage tax), thuế đánh vào các khu nghỉ dưỡng (transient occupancy tax), thuế đánh vào một số dịch vụ liên lạc (telephone excise tax)…
Có thể thấy tỷ trọng đóng góp của một số sắc thuế chính của Hoa Kỳ trong tổng thu ngân sách từ thuế trong giai đoạn 1950-2008 qua một số biểu đồ sau:
Hình 3: Tỷ trọng đóng góp của từng sắc thuế trong tổng thu ngân sách từ thuế của chính phủ liên bang Hoa Kỳ, giai đoạn 1950-2008
Hình vẽ trên đây cho thấy thuế thu nhập (chủ yếu là thuế Thu nhập cá nhân và Thu nhập doanh nghiệp) đóng góp trên 50% tổng thu ngân sách từ thuế của chính phủ liên bang Hoa Kỳ trong suốt hơn 5 thập kỷ qua. Tiếp đó là các sắc thuế theo lương (payroll tax) cũng chiếm tỷ trọng không nhỏ. Thuế tiêu thụ đặc biệt trước đây được chính phủ liên bang ưa dùng để huy động ngân sách thì ngày nay tỷ trọng đóng góp ngày càng giảm.
2.1.2. Các loại hình doanh nghiệp của Hoa Kỳ. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Về cơ bản, các loại hình doanh nghiệp của Hoa Kỳ gồm có: công ty cổ phần, công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty tư nhân.
2.1.2.1. Công ty cổ phần (Corporation)
Công ty cổ phần (CTCP) được công nhận là pháp nhân, tồn tại độc lập với các chủ sở hữu, cổ đông Công ty cổ phần có trách nhiệm hữu hạn, giới hạn trong phạm vi vốn góp vào công ty. Các hình thức Công ty cổ phần phổ biến nhất ở Hoa Kỳ là Công ty cổ phần loại C (“C” corporation), Công ty cổ phần loại S (“S” corporation), và Công ty cổ phần phi lợi nhuận (non-profit corporation). Việc phân loại thành Công ty cổ phần loại “C” hay loại “S” căn cứ vào Luật thuế, theo đó quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp của các loại hình doanh nghiệp này lần lượt xuất hiện ở Subchapter C và Subchapter S của Bộ luật thuế vụ Hoa Kỳ (Internal Revenue Code).
CTCP loại C là hình thức phổ biến nhất, phù hợp với các doanh nghiệp thuộc mọi quy mô. Nhược điểm của loại hình này là cổ tức bị đánh thuế 2 lần, tức là Công ty cổ phần loại C phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp cho cổ tức chia cho cổ đông, và khi nhận cổ tức thì cổ đông lại phải nộp thuế Thu nhập cá nhân. Ngược lại với Công ty cổ phần loại C, Công ty cổ phần loại S phù hợp hơn với các doanh nghiệp nhỏ. Đặc trưng của Công ty cổ phần loại S là không phải là một đối tượng đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp riêng biệt mà các khoản thu nhập đều được chuyển về chủ sở hữu và nộp thuế ở cấp độ cá nhân. Công ty cổ phần loại S có không quá 100 cổ đông, cổ đông phải là cá nhân hoặc người nhập cư có quốc tịch Hoa Kỳ.
Khi hoạt động chính của Công ty cổ phần là thực hiện các mục tiêu giáo dục, từ thiện, nghiên cứu khoa học… không nhằm kiếm lợi nhuận thì hình thành Công ty cổ phần phi lợi nhuận. Thu nhập ròng của các Công ty cổ phần phi lợi nhuận này không được chia cho cổ đông, ban giám đốc hay các nhân viên, và không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp.
2.1.2.2. Công ty hợp danh (Partnership) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Đặc trưng của công ty hợp danh là các thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, và công ty hợp danh không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp. Các khoản thu nhập, lãi lỗ của công ty hợp danh được chia cho các thành viên và nộp thuế Thu nhập cá nhân; do vậy tránh được việc bị đánh thuế 2 lần. Đặc điểm này tương tự như Công ty cổ phần loại S, vì vậy 2 loại hình doanh nghiệp này còn được gọi là các thực thể chuyển thuế (conduit entity).
Công ty hợp danh gồm có công ty hợp danh trách nhiệm chung (general partnership), công ty hợp danh hữu hạn (limited partnership), và công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (limited liability partnership).
Công ty hợp danh trách nhiệm chung (general partnership) gồm ít nhất 2 thành viên là cá nhân và tất cả các thành viên đều là thành viên hợp danh, chịu trách nhiệm vô hạn với các khoản nợ của công ty. Công ty hợp danh hữu hạn (limited partnership) gồm có ít nhất 1 thành viên hợp danh chịu trách nhiệm vô hạn, ngoài ra còn có các thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm hữu hạn, theo tỷ lệ đóng góp vốn vào công ty, và không có quyền điều hành doanh nghiệp. Trong công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn (limited liability partnership), mọi thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn ở mức độ nhất định: thành viên công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn có trách nhiệm hữu hạn với các trách nhiệm theo hợp đồng (contractual obligations) của doanh nghiệp nhưng có trách nhiệm vô hạn với các hành động vi phạm pháp luật của cá nhân. Công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn được áp dụng phổ biến trong các tổ chức hợp danh nghề nghiệp như luật sư, kế toán, kiến trúc sư. Theo luật pháp của một số bang, công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn chỉ được thành lập ở những lĩnh vực này. Mỗi bang lại có quy định riêng cho loại hình doanh nghiệp này.
2.1.2.3. Công ty trách nhiệm hữu hạn (Limited liability company)
Công ty trách nhiệm hữu hạn kết hợp các ưu điểm của Công ty cổ phần (trách nhiệm hữu hạn) và công ty hợp danh (tránh đánh thuế 2 lần). Loại hình công ty này tương tự với công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn, nhưng chỉ khác ở điểm duy nhất là tất cả thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn chỉ phải chịu trách nhiệm hữu hạn, giới hạn ở mức vốn đóng góp vào công ty. Việc thành lập công ty trách nhiệm hữu hạn do luật pháp của từng bang quản lý, nên mỗi bang có thể có quy định khác nhau về loại hình doanh nghiệp này.
Công ty trách nhiệm hữu hạn có thể phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp nhưng cũng có thể là một thực thể chuyển thuế như công ty hợp danh, tức là không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp. Thay vào đó, các chủ sở hữu của công ty trách nhiệm hữu hạn phải nộp thuế Thu nhập cá nhân với phần thu nhập nhận được từ công ty trách nhiệm hữu hạn.
2.1.2.4. Công ty tư nhân 1 thành viên (Sole proprietorship)
Công ty tư nhân 1 thành viên (Sole proprietorship) chỉ có một cá nhân làm chủ sở hữu và có trách nhiệm vô hạn. Công ty tư nhân 1 thành viên không tồn tại độc lập với chủ sở hữu, do vậy khi chủ sở hữu công ty chết thì công ty cũng tự động chấm dứt tồn tại. Đây là loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất ở Hoa Kỳ, nhưng do đặc điểm trách nhiệm vô hạn nên không phổ biến ở các lĩnh vực kinh doanh có nhiều rủi ro. Công ty tư nhân 1 thành viên cũng không được coi là một đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp riêng biệt mà chủ sở hữu công ty tư nhân nộp thuế Thu nhập cá nhân cho phần thu nhập của mình từ công ty.
2.2. LUẬT THUẾ THU NHẬP DOANH NGHIỆP CỦA HOA KỲ Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
2.2.1. Khái quát về thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ
Tại Hoa Kỳ, doanh nghiệp phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp cho chính phủ liên bang, và chính quyền của các tiểu bang; tức là tồn tại đồng thời thuế Thu nhập doanh nghiệp liên bang và thuế Thu nhập doanh nghiệp của chính quyền bang. Khi nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp liên bang, doanh nghiệp sẽ được khấu trừ thuế thu nhập đã nộp cho chính quyền tiểu bang. Thuế Thu nhập doanh nghiệp của các tiểu bang chỉ áp dụng giới hạn trong phạm vi lãnh thổ của từng tiểu bang nên sẽ không được đề cập đến trong nội dung nghiên cứu của bài viết này. Thay vào đó, bài viết chỉ đề cập đến thuế Thu nhập doanh nghiệp liên bang của Hoa Kỳ.
2.2.1.1. Nguồn luật điều chỉnh thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ
Thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ chịu sự điều chỉnh của các nguồn luật sau:
Thứ nhất, nguồn luật đầu tiên phải kể đến là Hiến pháp Hoa Kỳ (United States Constitution). Tất cả các quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp đều không được vi phạm Hiến pháp.
Thứ hai, Bộ luật thuế nội địa Hoa Kỳ (Internal Revenue Code, sau đây gọi tắt là IRC), mục thứ 26 (Title 26) trong Bộ luật Hoa Kỳ (United States Code). Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp chủ yếu nằm ở Tiểu mục A (Subtitle A), Chương 1 (Chapter 1- Normal Taxes and Surtaxes); ngoài ra còn được quy định trong Chương 3 (Chapter 3 – Withholding of tax on nonresident aliens and foreign corporations) và Chương 6 (Chapter 6 – Consolidated Returns). Về nội dung và kết cấu của IRC, có thể xem thêm trong Phụ lục 2.
Bộ luật thuế nội địa Hoa Kỳ (IRC) có hiệu lực từ năm 1913 và đã trải qua nhiều lần sửa đổi, hiện tại luật áp dụng là Bộ luật thuế nội địa Hoa Kỳ (IRC) sửa đổi năm 1986 và bổ sung năm 2003. Đây là nguồn luật chính thức và có giá trị pháp lý cao. Các điều khoản trong IRC quy định chung cho thuế Thu nhập doanh nghiệp cũng như thuế Thu nhập cá nhân, và thuế thu nhập của một số thực thể khác.
Thứ ba, thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ còn được quy định trong các Nghị định (Regulation) do Sở thuế Hoa Kỳ (Internal Revenue Service – IRS) ban hành. Sở thuế Hoa Kỳ (IRS) là cơ quan trực thuộc Bộ Tài chính Hoa Kỳ (Treasury Department) chịu trách nhiệm thi hành và quản lý việc thực hiện luật thuế. Sở thuế Hoa Kỳ ban hành các Nghị định nhằm giải thích các quy định cụ thể trong Bộ luật thuế nội địa. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Các nghị định có giá trị pháp lý cao, đôi khi được áp dụng giống như Bộ luật thuế nội địa.
Thứ tư, các văn bản hướng dẫn thi hành, quy định thủ tục và các ấn phẩm do Sở thuế Hoa Kỳ (IRS) ban hành có vai trò hướng dẫn việc giải thích Bộ luật thuế nội địa (IRC). Do số lượng các văn bản hướng dẫn IRS ban hành trong năm tương đối lớn nên không được kiểm duyệt kỹ càng như các Nghị định, vì vậy giá trị pháp lý của các văn bản này thấp hơn giá trị pháp lý của các Nghị định.
Thứ năm, các phán quyết của Toà án hình thành nên các án lệ cũng là một nguồn luật có thể áp dụng trong luật thuế Thu nhập doanh nghiệp.
Thứ sáu, các Hiệp định quốc tế về thuế mà Hoa Kỳ đã ký kết với các quốc gia khác, trong đó phải kể đến các Hiệp định chống đánh thuế hai lần mà Hoa K ỳ đã ký kết với trên 50 quốc gia trên thế giới. Đây cũng là một nguồn luật quan trọng của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp.
2.2.1.2. Kê khai và nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp
Sở thuế Hoa Kỳ (Internal Revenue Service – IRS) trực thuộc Bộ tài chính Hoa Kỳ (Treasury Department) là cơ quan trực tiếp tiến hành thu thuế và quản lý hoạt động thu thuế Thu nhập doanh nghiệp của chính phủ liên bang Hoa Kỳ.
Hàng quý các doanh nghiệp phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp tạm tính nếu thu nhập ước tính của năm tính thuế vượt quá 500 USD. Sau khi kết thúc một năm tính thuế, doanh nghiệp phải nộp bản khai thuế. Ngoại trừ các doanh nghiệp được miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp (quy định trong Sec. 501), tất cả công ty cổ phần trong nước tồn tại trong năm tính thuế đều phải kê khai và nộp bản khai thuế dù có phát sinh thu nhập chịu thuế hay không.
Thông thường các công ty cổ phần kê khai thu nhập, lãi, lỗ, khấu trừ… để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp theo Form 1120 (U.S. Corporation Tax Return) (xem phụ lục 1). Doanh nghiệp có doanh thu, tổng thu nhập và tổng tài sản dưới 500.000 USD và thỏa mãn một số điều kiện có thể kê khai theo Form 1120-A (U.S. Corporation Short-Form Income Tax Return).
Các doanh nghiệp phải nộp bản kê khai trên trước ngày thứ 15 của tháng thứ 3 kể từ ngày kết thúc năm tính thuế. Doanh nghiệp giải thể phải nộp bản kê khai cho IRS trước ngày thứ 15 của tháng thứ 3 kể từ ngày doanh nghiệp giải thể. Chẳng hạn, năm tính thuế của doanh nghiệp kết thúc vào ngày 30/6 thì doanh nghiệp phải nộp bản khai thuế trước ngày 15/9. Nếu muốn gia hạn việc nộp bản kê khai thuế Thu nhập doanh nghiệp, doanh nghiệp có thể nộp Form 7004 (Application for Automatic 6-month extention of time to file certain business income tax) để được gia hạn thêm 6 tháng.
2.2.2. Đối tượng nộp thuế thu nhập doanh nghiệp Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
2.2.2.1. Quy tắc chung
Luật thuế quy định rằng đối tượng phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp gồm công ty cổ phần (trừ công ty cổ phần loại “S”) được thành lập tại Hoa Kỳ hoặc có hoạt động sản xuất kinh doanh tại Hoa Kỳ. Các thực thể khác được miễn thuế hoặc được coi là các thực thể chuyển thuế (conduit entities), chẳng hạn như công ty hợp danh, công ty cổ phần loại “S”. Cơ chế phân loại doanh nghiệp để tính thuế theo nhóm công ty cổ phần, hay nhóm các thực thể chuyển thuế khác được thực hiện thông qua cơ chế đăng ký lựa chọn loại hình doanh nghiệp (quy tắc “check-the-box”) được đề cập ở phần sau.
Tóm lại, mỗi loại hình doanh nghiệp áp dụng các quy định khác nhau về thuế Thu nhập doanh nghiệp: công ty cổ phần loại “C” phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp, công ty hợp danh không nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp mà chỉ kê khai các kết quả kinh doanh và chuyển thu nhập, lãi, lỗ xuống cho các thành viên để tính thuế Thu nhập cá nhân, công ty trách nhiệm hữu hạn có thể đăng ký lựa chọn hình thức chịu thuế áp dụng cho công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh… Các công ty cổ phần có quy mô nhỏ có thể đăng ký áp dụng Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty hợp danh.
Các thực thể chuyển thuế (conduit entities) gồm có công ty cổ phần loại S10 và công ty hợp danh. Công ty cổ phần loại S là các công ty cổ phần quy mô nhỏ đăng ký theo quy định của IRC, Sec. 1362(a), và không nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp mà chỉ kê khai thu nhập, lãi lỗ và chuyển các khoản thu nhập, lãi lỗ này cho chủ sở hữu doanh nghiệp để nộp thuế Thu nhập cá nhân. Theo IRC, Sec. 1361, để được đăng ký là công ty cổ phần loại “S”, doanh nghiệp cần thỏa mãn các điều kiện sau: là công ty cổ phần trong nước hoặc công ty trách nhiệm hữu hạn, có từ 100 cổ đông trở xuống, cổ đông phải là công dân quốc tịch Hoa Kỳ hoặc người định cư tại Hoa Kỳ, phải là cá nhân (cổ đông không được là công ty cổ phần hoặc công ty hợp danh); lợi nhuận và lỗ phải được chia theo tỷ lệ đóng góp của cổ đông. Nếu thỏa mãn các điều kiện trên, doanh nghiệp kê khai và nộp Form 2553 (Election by a Small Business Corporation) cho Sở thuế Hoa Kỳ.
Do cơ chế “check-the-box” nên quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp dành cho công ty cổ phần không chỉ áp dụng với các công ty cổ phần loại “C” mà còn áp dụng cho các hình thức doanh nghiệp khác đăng ký chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty cổ phần. IRC, Sec. 1361(a)2 định nghĩa công ty cổ phần loại “C” (sau đây gọi tắt là công ty cổ phần) bao gồm tất cả các công ty cổ phần không đăng ký là công ty cổ phần loại “S”. Nhìn chung, công ty cổ phần loại “C” và loại “S’ chỉ khác nhau ở một số khía cạnh liên quan thuế Thu nhập doanh nghiệp, các đặc điểm còn lại của hai loại hình doanh nghiệp này không có gì khác biệt. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
2.2.2.2. Cơ chế đăng ký lựa chọn loại hình doanh nghiệp
Do Luật thuế áp dụng các quy định khác nhau với các nhóm doanh nghiệp khác nhau nên sự phân loại doanh nghiệp phục vụ cho mục đích thuế là vấn đề rất quan trọng. Trước khi ban hành quy tắc phân loại doanh nghiệp để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp (thường gọi là “check-the-box”), Sở thuế Hoa Kỳ căn cứ vào 4 đặc điểm sau để phân nhóm doanh nghiệp: trách nhiệm hữu hạn, quản lý tập trung, hoạt động liên tục, chuyển giao lợi nhuận tự do. Theo đó, nếu thực thể kinh doanh có ít hơn 3 đặc điểm trên thì được xếp vào nhóm công ty hợp danh và áp dụng các quy định về thuế giành cho công ty hợp danh. Nếu thỏa mãn cả 4 yếu tố trên thì thực thể kinh doanh được áp dụng các quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty cổ phần loại “C”. Cách thức phân loại này ngày càng trở nên bất cập vì vào những năm 1980-1990, rất nhiều loại hình kinh doanh mới ra đời, chẳng hạn như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh trách nhiệm hữu hạn… việc phân loại các công ty ngày càng trở nên phức tạp.
Để đơn giản quá trình này, Sở thuế Hoa Kỳ ban hành quy định đăng ký lựa chọn loại hình doanh nghiệp, thường được gọi là cơ chế “check-the-box”, xóa bỏ việc phân loại doanh nghiệp để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp theo 4 căn cứ trên.
Việc đăng ký phân loại doanh nghiệp được quy định trong Regulation 301.7701-1 và Regulation 301.7701-3, có hiệu lực từ ngày 1/1/1997. Theo cơ chế phân loại này, các thực thể kinh doanh trong nước và nước ngoài được phân loại mặc định kết hợp với phân loại theo chế độ tự nguyện đăng ký không mặc định (check-the-box).
Theo Regulation 301.7701-2(a) và (b), các thực thể kinh doanh phải được xếp vào nhóm công ty cổ phần để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp gồm: công ty thành lập theo luật pháp liên bang hoặc tiểu bang dưới hình thức corporation, body corporate, body politic; hiệp hội (association); công ty bảo hiểm; thực thể kinh doanh thực hiện các hoạt động ngân hàng theo Luật bảo hiểm tiền gửi liên bang; thực thể kinh doanh thuộc quyền sở hữu của chính quyền bang hay chính phủ nước ngoài; các loại hình doanh nghiệp khác phải áp dụng quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp cho công ty cổ phần theo Bộ luật thuế nội địa, chẳng hạn như công ty cổ phần hợp danh (publicly traded partnership); một số thực thể kinh doanh nước ngoài khác như limited liability của Barbados, Aktieselskab của Đan Mạch…
Ngoại trừ các đối tượng được xếp vào nhóm công ty cổ phần như ở trên, doanh nghiệp có thể đăng ký theo Form 8832 hoặc Form 2553 để đăng ký lựa chọn loại hình doanh nghiệp là công ty cổ phần, công ty hợp danh, hay thực thể tồn tại phụ thuộc vào chủ sở hữu (disregarded entity). Nếu không, doanh nghiệp có thể được xếp loại theo cơ chế phân loại tự động.
Quy tắc phân loại tự động Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
- Quy tắc phân loại tự động áp dụng cho các thực thể đang hoạt động
Với các thực thể kinh doanh trong nước và nước ngoài đang hoạt động trước ngày 1/1/1997 và đã được phân nhóm doanh nghiệp để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp được tiếp tục duy trì loại hình doanh nghiệp đó mà không phải đăng ký lại.
- Quy tắc phân loại tự động áp dụng cho thực thể kinh doanh trong nước: Nếu không đăng ký phân loại theo Form 8832 thì thực thể kinh doanh trong nước được coi là:
- Công ty hợp danh nếu có trên 2 thành viên, hoặc
- Thực thể kinh doanh tồn tại phụ thuộc vào chủ sở hữu.
Các đối tượng này không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp mà các cá nhân sở hữu hoặc là thành viên công ty hợp danh nộp thuế Thu nhập cá nhân cho phần thu nhập nhận về.
Quy tắc tự động áp dụng cho thực thể nước ngoài. Nếu các thực thể nước ngoài không đăng ký theo Form 8832 thì được tự động xếp vào nhóm:
- Công ty hợp danh nếu có trên 2 thành viên và ít nhất một thành viên không có trách nhiệm hữu hạn.
- Hiệp hội (association) tính thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty trách nhiệm hữu hạn nếu tất cả các thành viên đều có trách nhiệm hữu hạn.
- Thực thể kinh doanh phụ thuộc vào chủ sở hữu (disregarded entity) nếu gồm 1 thành viên duy nhất và thành viên này không có trách nhiệm hữu hạn.
Do vậy, theo cơ chế phân loại tự động thì công ty hợp danh trách nhiệm chung (general partnership), hợp danh hữu hạn (limited partnership) hay công ty trách nhiệm hữu hạn được xếp vào nhóm công ty hợp danh nếu không đăng ký phân loại theo Form 8832.
2.2.2.3. Xác định đối tượng nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp
2.2.2.3.1. Công ty cổ phần (Corporations)
IRC, Sec. 11 quy định rằng tất cả các công ty cổ phần đều phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp. Công ty ty cổ phần gồm có các loại hình doanh nghiệp quy định trong Regulation 301.7701-2(a) và (b) như đã nêu ở trên.
Nhìn chung, quy định về thuế Thu nhập doanh nghiệp áp dụng cho các công ty cổ phần đều tương tự như nhau. Tuy nhiên, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp lại áp dụng một số quy định đặc biệt giành riêng cho một số đối tượng như ngân hàng tiết kiệm tương hỗ (mutual savings bank) kinh doanh bảo hiểm nhân thọ (quy định trong IRC, Subchapter H), công ty bảo hiểm (Subchapter L), công ty đầu tư và quỹ tín thác đầu tư bất động sản (Subchapter M) và các công ty cổ phần nước ngoài.
Kết quả kinh doanh của công ty cổ phần được khai báo để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp trên Form 1120. Chủ sở hữu của công ty cổ phần (cổ đông) phải chịu thuế thu nhập trên khoản cổ tức nhận được, các khoản cổ tức này được kê khai trên Form 1140 (U.S. Individual Income Tax Return). Thu nhập cá nhân từ cổ tức được áp dụng một số mức thuế suất ưu đãi đặc biệt để hạn chế ảnh hưởng của việc đánh thuế 2 lần lên cổ tức. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
2.2.2.3.2. Các hình thức doanh nghiệp khác đăng ký áp dụng luật thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty cổ phần
Như đã trình bày ở trên, ngoài các doanh nghiệp là công ty cổ phần, các loại hình doanh nghiệp khác có thể đăng ký theo Form 8832 hoặc Form 2553 để áp dụng Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty cổ phần, chẳng hạn như công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty hợp danh. Các loại hình doanh nghiệp này khi đã đăng ký theo Form 8832 hoặc Form 2553 nếu được chấp nhận thì sẽ được áp dụng Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty cổ phần.
2.2.3. Căn cứ xác định thuế thu nhập doanh nghiệp
Công thức tính thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ có thể được khái quát theo sơ đồ sau:
- Thu nhập chịu thuế (Tổng thu nhập đã trừ thu nhập miễn thuế)
- Trừ: Khấu trừ theo danh mục (Itemized deductions)
- Trừ: Khấu trừ đặc biệt (Special deductions)
- Thu nhập tính thuế (Taxable income)
- Thuế suất
- Thuế Thu nhập doanh nghiệp
- Trừ: Thuế trả trước (Tax prepayment)
- Trừ: Tín dụng thuế (Tax credit)
Thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp trong kỳ / Thuế Thu nhập doanh nghiệp được hoàn lại
2.2.3.1. Xác định thu nhập tính thuế
2.2.3.1.1. Thu nhập chịu thuế
- Quy tắc chung
Ngoại trừ các khoản thu nhập được Luật thuế cho phép miễn thuế, tất cả các khoản thu nhập nhận được đều phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp. Đây chính là nguyên tắc xây dựng định nghĩa tổng thu nhập của Sở thuế Hoa Kỳ (IRC, Sec. 61): “Nếu Bộ luật thuế không có quy định khác, tổng thu nhập là thu nhập hình thành từ mọi nguồn phát sinh, bao gồm (nhưng không hạn chế) các khoản sau: (1)Thu nhập từ cung cấp dịch vụ, bao gồm phí, hoa hồng và các khoản thu tương tự; (2) Tổng thu nhập phát sinh từ kinh doanh; (3) Lợi nhuận phát sinh từ mua bán tài sản; (4) Lãi suất; (5) Tiền cho thuê; (6) Thu nhập từ bản quyền; (7) Cổ tức; (8) Tiền cấp dưỡng sau ly hôn; (9) Khoản tiền nhận được đều hàng năm; (10) Thu nhập từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm có thưởng khi còn sống (endowment insurance); (11) Lương hưu; (12) Thu nhập từ việc được xóa nợ; (13) Lợi tức được phân chia từ thu nhập công ty hợp danh; (14) Thu nhập của người đã chết; (15) Thu nhập từ lợi nhuận quỹ tín thác…
Ngoại trừ các khoản thu nhập số (8) tiền cấp dưỡng sau ly hôn, (10) thu nhập từ hợp đồng bảo hiểm nhân thọ và bảo hiểm có thưởng khi còn sống, (11) lương hưu chỉ áp dụng cho việc tính thuế Thu nhập cá nhân; các khoản thu nhập còn lại được coi là thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Ngoài ra, cần nhấn mạnh quy tắc quy định rằng chỉ có các khoản thu nhập đã thực hiện mới được tính vào tổng thu nhập. Tuy trong Bộ luật thuế nội địa Hoa Kỳ không có điều khoản nào quy định rằng tổng thu nhập phải là thu nhập thực hiện, quy tắc này vẫn được các tòa án áp dụng khi phán xử các vụ kiện cần vận dụng định nghĩa về tổng thu nhập. Vì vậy, IRS đã công nhận cách hiểu này trong Regulation 1.61-1: “Tổng thu nhập là thu nhập hình thành từ mọi nguồn phát sinh, ngoại trừ các khoản thu nhập được Luật cho phép miễn thuế. Tổng thu nhập gồm các khoản thu nhập thực hiện dưới hình thức tiền mặt, tài sản, hay dịch vụ. Thu nhập có thể được thực hiện dưới các hình thức dịch vụ, bữa ăn, nhà ở, chứng khoán, tài sản khác hay tiền mặt”.
Tóm lại, tổng thu nhập được hiểu là toàn bộ thu nhập thực hiện từ mọi nguồn phát sinh, ngoại trừ các khoản thu nhập được Luật cho phép miễn thuế.
b. Các khoản thu nhập chịu thuế
Hình 4: Phần kê khai thu nhập của Form 1120 (U.S. Corporation Income Tax Return)
- Lợi nhuân gộp (Gross profit)
Lợi nhuận gộp (Gross profit) được xác định bằng tổng doanh thu (gross receipts or sales) trừ (-) các khoản giảm trừ doanh thu (returns and allowances) và giá vốn hàng bán (cost of goods sold).
Tổng doanh thu (gross receipts or sales) được xác định bằng các khoản thu từ hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, ngoại trừ các khoản thu khác được kê khai trong Form 1120 từ dòng số 4 đến dòng số 10 (cổ tức, lãi suất, thu nhập từ bản quyền…). Các khoản giảm trừ doanh thu gồm có giá trị hàng bán bị trả lại, chiết khấu thương mại…
Gía vốn hàng bán được kê khai chi tiết trong Schedule A, trang 2 của Form 1120 (xem phụ lục 1). Riêng với các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ thì không có hàng tồn kho, nên không có mục này.
- Cổ tức (Dividends)
Thu nhập từ cổ phần mà doanh nghiệp sở hữu ở công ty khác vẫn phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp, tuy nhiên, để hạn chế ảnh hưởng của việc đánh thuế trùng nhiều lần, thu nhập từ cổ tức doanh nghiệp được chia được hưởng một số ưu đãi thuế nhất định, cụ thể là được hưởng các khoản khấu trừ đặc biệt (special deductions). Chi tiết về cổ tức doanh nghiệp nhận được từ các công ty khác được kê khai ở Schedule C, Form 1120 (xem phụ lục 1).
- Lãi suất (Interest) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Thu nhập từ lãi suất từ các khoản nợ, lãi suất trái phiếu công ty, lãi suất tiền gửi ngân hàng, lãi suất các khoản cho vay thế chấp… phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, Luật thuế có quy định riêng áp dụng cho loại lãi suất từ một số khoản vay với lãi suất thấp hơn lãi suất thị trường, một số loại lãi suất miễn thuế… Các khoản thu này được kê khai chi tiết hơn ở Schedule K, Form 1120 (xem phụ lục 1).
- Cho thuê (Gross rents) và thu nhập từ bản quyền (Gross royalties) Thu nhập từ cho thuê tài sản và thu nhập từ bản quyền của doanh nghiệp phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp.
- Thu nhập ròng từ lãi vốn (Capital gain net income)
Lãi vốn (capital gains) hoặc lỗ vốn (capital loss) phát sinh khi bán hoặc chuyển nhượng các tài sản vốn. Tài sản vốn (capital asset) được định nghĩa là những tài sản không phải là khoản phải thu, hàng tồn kho, bất động sản, tài sản có thể khấu hao, sử dụng trong hoạt động sản xuất kinh doanh, hoặc một số tài sản vô hình khác như bản quyền (IRC, Sec. 64).
Các khoản thu nhập từ lãi vốn được kê khai chi tiết ở Schedule D, Form 1120. Tại Schedule D, các khoản lãi (lỗ) vốn ngắn hạn và dài hạn được kê khai chi tiết. Lỗ vốn chỉ được khấu trừ vào lãi vốn, mà không được khấu trừ vào các khoản thu nhập khác, và trong kỳ số lỗ vốn tối đa được phép khấu trừ chính bằng số lãi vốn phát sinh.
Thu nhập ròng từ lãi vốn được xác định bằng cách kết hợp giữa lãi (lỗ) vốn ngắn hạn và lãi (lỗ) vốn dài hạn trong năm. Nếu phát sinh lỗ vốn ròng (net capital loss) thì không được khấu trừ ngay trong năm mà phải chuyển về 3 năm trước hoặc chuyển đến 5 năm sau.
Theo Luật thuế của Hoa Kỳ thì doanh nghiệp phải nộp thuế trên thu nhập từ lãi vốn như các khoản thu nhập khác mà không có sự phân biệt về thuế suất hay hưởng các ưu đãi thuế khác.
- Lãi (lỗ) ròng từ việc chuyển nhượng động sản hay bất động sản sử dụng trong hoạt động kinh doanh.
Đây là phần thu nhập hình thành từ việc bán hay chuyển nhượng các tài sản không phải là tài sản vốn (capital assets) sử dụng trong hoạt động kinh doanh. Khoản thu nhập này chỉ phát sinh khi có hoạt động bán, hay chuyển nhượng tài sản sử dụng trong hoạt động kinh doanh trong kỳ.
- Thu nhập khác
Ngoài các khoản thu nhập kể trên, các khoản thu nhập sau của doanh nghiệp phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp: thu nhập từ các khoản nợ xấu đã xóa sổ nay đòi được, thu nhập từ tham gia vào công ty hợp danh, thu nhập kê khai trong Form 6478 (Alcohol and Cellulosic Biofuel Fuels Credit)…
- Thu nhập miễn thuế Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Theo Luật thuế, các khoản thu nhập sau được miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp:
- Thu nhập từ quà tặng và thừa kế (IRC, Sec. 101)
Với thu nhập từ quà tặng và thừa kế, cần lưu ý rằng bản thân giá trị quà tặng hay thừa kế không phải chịu thuế thu nhập (do đã chịu thuế quà tặng và thừa kế), nhưng các khoản thu nhập, lợi tức phát sinh từ món quà hay tài sản thừa kế vẫn phải chịu thuế thu nhập.
- Lãi suất trái phiếu bang và địa phương (IRC, Sec. 103)
Ngoài lãi suất từ trái phiếu của chính quyền bang và chính quyền địa phương của Hoa Kỳ, lãi suất trái phiếu do chính quyền các vùng lãnh thổ thuộc Hoa Kỳ phát hành như Guam, Puerto Rico cũng được miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên quy định này không áp dụng với một số loại trái phiếu bang hoặc chính quyền địa phương nhằm tài trợ cho các hoạt động phục vụ lợi ích cá nhân, trái phiếu song hành (arbitrage bond)…Còn lại, lãi suất trái phiếu công ty hay tài khoản tiết kiệm vẫn phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp.
- Thu nhập từ việc được xóa nợ (IRC, Sec. 108)
Các khoản xóa nợ mà doanh nghiệp được hưởng không chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp nếu trước và sau khi được xóa nợ, doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản, mất khả năng thanh toán, hoặc khoản nợ được xóa là nợ phát sinh trong hoạt động trồng trọt…Ngoài ra, nếu sau khi được xóa nợ, doanh nghiệp thoát khỏi tình trạng phá sản thì khoản nợ được xóa phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp.
- Gía trị tăng thêm của tài sản cho thuê do hoạt động của người đi thuê (IRC, Sec. 109)
Khi người đi thuê tu sửa, làm tăng thêm giá trị tài sản đi thuê thì phần giá trị tăng thêm này không được coi là khoản thu nhập của người cho thuê và không phải chịu thuế thu nhập. Thực tế, phần giá trị tăng thêm này được hoãn thuế cho đến khi tài sản cho thuê được thanh lý.
- Vốn góp vào công ty cổ phần (IRC, Sec. 118)
Các khoản đóng góp vào vốn của công ty cổ phần không phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, quy định này không áp dụng cho các khoản hỗ trợ xây dựng hay các khoản đóng góp khác với tư cách khách hàng hay khách hàng tiềm năng.
2.2.3.1.2. Khấu trừ thu nhập chịu thuế Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Các khoản khấu trừ thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp có thể chia làm 2 nhóm: khấu trừ theo danh mục (itemized deductions), và các khoản khấu trừ đặc biệt khác (special deductions). Việc khấu trừ thu nhập chịu thuế phải tuân thủ hai quy tắc: thứ nhất, các khoản khấu trừ phải được Luật thuế cho phép; thứ hai, các khoản khấu trừ phải thỏa mãn một số yêu cầu về tính cần thiết và thông dụng.
a. Các khoản khấu trừ theo danh mục (Itemized deductions)
- a.1.Quy tắc chung
Để được khấu trừ, một khoản chi phí không những phải được pháp luật cho phép mà còn phải thỏa mãn các điều kiện về tính thông dụng (ordinary), và cần thiết (necessary). Yêu cầu về tính thông dụng của chi phí có thể hiểu theo 2 nghĩa: chi phí đó phải là chi phí phát sinh thường xuyên trong hoạt động sản xuất kinh doanh, và là chi phí được phép khấu trừ vào thu nhập trong kỳ (chẳng hạn, chi phí vốn đầu tư vào tài sản dài hạn mang lại lợi ích trong tương lai nên không được khấu trừ vào thu nhập chịu thuế trong kỳ). Chi phí được coi là cần thiết khi “hợp lý và có ích” cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, tức là một người kinh doanh 1120 (U.S. Corporate Income Tax Return)
- a.2. Các khoản khấu trừ theo danh mục
(1) Lương và các khoản chi khác cho người lao động
Luật thuế cho phép khấu trừ các khoản chi phí hợp lý trả cho người lao động, gồm có tiền công (wage), tiền lương (salary), tiền thưởng và các khoản chi khác.
Để được khấu trừ, các khoản chi này cần thỏa mãn hai điều kiện. Thứ nhất, các khoản chi này là tiền trả công cho sức lao động mà người lao động đã bỏ ra cho doanh nghiệp. Thứ hai, giá trị các khoản chi phí này phải hợp lý. Để xác định tính hợp lý của các khoản chi này, cần xét đến những yếu tố như nghĩa vụ, trách nhiệm của người lao động; số lượng và mức độ phức tạp của công việc; thời gian làm việc; khả năng làm việc và kết quả công việc; chi phí sinh hoạt chung và chính sách trả lương của công ty.
Vấn đề xác định tính hợp lý của các khoản chi trả cho người lao động thường xuất hiện ở các doanh nghiệp nhỏ (closely-held corporation), trong trường hợp trả lương cho các bên liên quan (related party).
Luật ngân sách Omnibus (Omnibus Budget Reconciliation Act) năm 1993 đặt ra giới hạn 1.000.000 USD cho các khoản khấu trừ thuế Thu nhập doanh nghiệp đối với các khoản đền bù cho người lao động của công ty cổ phần. Mức giới hạn 1.000.000 USD này cũng được quy định trong IRC, Sec.162(m). Tuy nhiên, giới hạn 1.000.000 USD khấu trừ chỉ áp dụng cho người lao động là CEO, và 4 nhân viên cao cấp khác với mức thu nhập cao nhất trong công ty. Mặc dù vậy, các khoản tiền thưởng doanh nghiệp trả cho CEO và 4 nhân viên cao cấp với mức thu nhập cao nhất công ty sẽ được khấu trừ toàn bộ mà không chịu mức giới hạn 1.000.000 USD nếu thỏa mãn một số điều kiện nhất định đưa ra trong Luật thuế.
- Sửa chữa và bảo dưỡng Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Các chi phí doanh nghiệp bỏ ra để sửa chữa và bảo dưỡng tài sản được khấu trừ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp. Tuy nhiên, các chi phí ghi trong mục này là những chi phí không làm tăng nguyên giá tài sản hay kéo dài thời gian sử dụng của tài sản. Nếu chi phí sửa chữa làm tăng nguyên giá của tài sản dài hạn thì phải được vốn hóa và khấu trừ dần trong thời gian sử dụng của tài sản đó.
- Nợ xấu (IRC, Sec. 166)
Nếu trong kì có phát sinh các khoản nợ xấu hoàn toàn không có khả năng thu hồi thì doanh nghiệp được khấu trừ giá trị khoản nợ xấu đó. Nếu trong kì phát sinh các khoản nợ xấu không thể thu hồi từng phần thì doanh nghiệp được khấu trừ phần nợ đã xóa sổ. Doanh nghiệp kế toán theo cơ sở dòng tiền thường không được ghi nhận khoản khấu trừ này.
- Chi phí đi thuê
Chi phí đi thuê chỉ được khấu trừ khi doanh nghiệp chỉ có mục đích sử dụng tài sản mà không có ý định sở hữu tài sản đó.
Khi doanh nghiệp thuê tài sản là phương tiện đi lại với hợp đồng thuê kéo dài trên 30 ngày, số tiền thuê được khấu trừ bị giảm đi một khoản gọi là “inclusion amount”. Doanh nghiệp phải ghi giảm chi phí khấu trừ khoản “inclusion amount” trong các trường hợp:
Bảng 3: Gía trị các khoản giảm trừ “inclusion amount” khỏi chi phí đi thuê được khấu trừ khi tính thuế Thu nhập doanh nghiệp
Nguyên tắc và các công thức xác định khoản giá trị giảm bớt “inclusion amount” được quy định cụ thể trong ấn phẩm số 463 (Publication 463) của IRS.
- Một số khoản thuế phát sinh hoặc đã trả trong kỳ (IRC, Sec. 164)
Doanh nghiệp được khấu trừ một số loại thuế đã trả trong kỳ, ngoại trừ các khoản thuế sau: thuế thu nhập liên bang, thuế không đánh vào doanh nghiệp, thuế doanh thu của bang hoặc địa phương liên quan đến việc mua sắm hay chuyển nhượng tài sản (những loại thuế này được ghi tăng nguyên giá khi mua tài sản, hoặc ghi giảm giá trị thực hiện khi bán tài sản), các loại thuế khác đã được khấu trừ khi tính thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp (chẳng hạn thuế đã được phản ánh vào giá vốn hàng bán).
- Lãi suất các khoản vay (IRC, Sec. 163). Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Doanh nghiệp được khấu trừ lãi suất phải trả cho các khoản vay nợ, riêng với các ngân hàng tiết kiệm tương hỗ, hiệp hội xây dựng và vay nợ, có thể khấu trừ lãi suất phải trả cho các tài khoản tiền gửi của khách hàng (Sec. 591). Ngoài ra, một số loại lãi suất sau không được khấu trừ: lãi suất liên quan đến việc sản xuất tài sản doanh nghiệp bán hay sử dụng (khoản chi phí lãi suất này phải được vốn hóa), lãi suất trả trước của các năm khác năm tính thuế áp dụng cho doanh nghiệp kế toán theo cơ sở dòng tiền… Ngoài ra, Luật thuế còn có các quy định riêng áp dụng cho một số loại lãi suất đặc biệt khác.
- Đóng góp từ thiện (IRC, Sec. 170).
Doanh nghiệp được khấu trừ các khoản đóng góp từ thiện phát sinh trong kỳ. Các khoản đóng góp từ thiện được khấu trừ phải được cơ quan có thẩm quyền xác nhận.
Gía trị các khoản khấu trừ do đóng góp từ thiện hàng năm bị hạn chế ở mức 10% thu nhập tính thuế (chưa tính đến khấu trừ đóng góp từ thiện, chuyển lỗ, chuyển lỗ vốn, khấu trừ cổ tức nhận được). Các khoản đóng góp từ thiện phải được khấu trừ ngay trong năm hiện tại, trước khi khấu trừ các khoản đóng góp của năm khác chuyển đến. Đóng góp từ thiện nếu vượt quá giới hạn 10% thu nhập tính thuế thì được chuyển sang 5 năm tiếp theo. Nếu qua 5 năm vẫn không khấu trừ hết thì không được tiếp tục khấu trừ.
- Chi phí khấu hao tài sản cố định hữu hình và tài nguyên thiên nhiên (Depreciation and depletion) (IRC, Sec. 167).
Chi phí khấu hao tài sản được liệt kê và giải trình chi tiết trong Form 4562 và được đưa vào Form 1120.
- Chi phí quảng cáo.
Doanh nghiệp được khấu trừ toàn bộ các chi phí quảng cáo hợp lý phát sinh trong kỳ, không chịu mức giới hạn nào.
- Chương trình hưu trí, chia sẻ lợi nhuận cho người lao động
Nếu doanh nghiệp có đóng góp vào các quỹ hưu trí cho người lao động, hay có các hoạt động chia sẻ lợi nhuận cho người lao động thì phải kê khai theo Form 5500 (Annual Return/Report of Employee Benefit Plan) hoặc Form 5500-EZ (Annual Return of One-Participant Retirement Plan). Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
- Thu nhập liên quan hoạt động sản xuất trong nước (IRC, Sec. 199)
Một số hoạt động sản xuất nội địa như sản xuất hàng hóa tại Hoa Kỳ; bán và cho thuê các sản phẩm sản xuất tại Hoa Kỳ, dịch vụ xây dựng tại Hoa Kỳ… được khấu trừ một phần thu nhập chịu thuế. Tỷ lệ khoản thu nhập được khấu trừ được quy định chi tiết trong IRC, Sec. 199. Đây là một quy định mang tính bảo hộ các công ty sản xuất trong nước.
- Chi phí trước khi đi vào hoạt động (Start-up expenditure & Organisation cost)
Đây là những khoản chi phí cần thiết cho sự thành lập doanh nghiệp, đưa doanh nghiệp vào hoạt động, gồm: chi phí phân tích và điều tra thị trường tiềm năng, sản phẩm tiềm năng, chi phí quảng cáo cho việc khai trương công ty, chi phí đi lại tìm kiếm nhà cung cấp, nhà phân phối, chi phí dịch vụ pháp lý trước thành lập (soạn thảo điều lệ…), dịch vụ kế toán cần thiết, phí thành lập …
Theo nguyên tắc chung đưa ra trong Sec. 195(a), chi phí trước khi doanh nghiệp đi vào hoạt động phải được vốn hóa và chỉ được khấu trừ khi doanh nghiệp thanh lý, ngừng hoạt động. Tuy nhiên, nếu doanh nghiệp đăng ký khấu trừ chi phí thành lập doanh nghiệp theo quy định của Sec. 195(b)(1) thì doanh nghiệp được khấu trừ chi phí trước khi đi vào hoạt động ngay từ năm đầu tiên. Theo Sec. 195(b)(1) thì trong năm đầu tiên, doanh nghiệp được khấu trừ tối đa chi phí trước khi hoạt động là 5.000 USD, tuy nhiên, nếu tổng chi phí trước khi đi vào hoạt động lớn hơn 50.000 USD thì giới hạn 5.000 USD này bị giảm xuống một lượng chính bằng phần vượt quá 50.000 USD. Sau đó, doanh nghiệp tiếp tục được khấu trừ chi phí thành lập trong 180 tháng tiếp theo kể từ tháng doanh nghiệp bắt đầu đi vào hoạt động.
Chẳng hạn, doanh nghiệp X có chi phí trước khi hoạt động là 52.000 USD. Nếu đăng ký khấu trừ dần chi phí này thì doanh nghiệp được khấu trừ trong năm đầu tiên 3.000 USD (5.000 USD – (52.000 USD – 50.000 USD)). Nếu chi phí trước hoạt động là từ 55.000 USD trở lên thì doanh nghiệp sẽ được khấu trừ theo tỷ lệ trong 180 tháng kể từ tháng đầu tiên doanh nghiệp đi vào hoạt động.
Việc khấu hao chi phí trước khi hoạt động theo tỷ lệ trong 180 tháng được kê khai chi tiết vào Form 4562, chi tiết hóa phần khấu hao Form 1120.
(13) Các khoản khấu trừ khác
Ngoài những khoản chi phí được khấu trừ thu nhập chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp kể trên, doanh nghiệp còn được khấu trừ các chi phí khác như: khấu hao tài sản cố định vô hình, chi phí dọn dẹp và khắc phục hư hỏng do bão lốc tại Kansas và vùng Midwestern (Publication 4492-A và 4492-B), chi phí liên quan đến bảo vệ môi trường (Sec. 198), chi phí trồng rừng (Publication 535), chi phí bảo hiểm, chi phí ăn ở và đi lại cho người lao động khi công tác (Sec. 274), đóng góp cho quỹ “phổi đen” (Sec. 192), …
Một số chi phí không được khấu trừ Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Trong hàng loạt các án lệ trước năm 1970, Tòa án đã không cho phép khấu trừ thuế Thu nhập doanh nghiệp một số loại chi phí mà Tòa án cho rằng sẽ khuyến khích việc thực hiện các hành vi trái pháp luật, chủ yếu là các khoản tiền nộp phạt. Quan điểm của Tòa án trong các án lệ này là việc vi phạm pháp luật không phải là điều thông thường và cần thiết, do vậy những khoản tiền phạt này cũng không phải là các chi phí thông thường và cần thiết. Năm 1969, Quốc hội đã sửa đổi IRC, Sec. 162, không cho phép khấu trừ các chi phí sau: các khoản hối lộ, đút lót phi pháp trực tiếp hoặc gián tiếp cho quan chức chính phủ liên bang, tiểu bang hay địa phương; tiền phạt hay các khoản chi tương tự do vi phạm pháp luật; một số khoản bồi thường thiệt hại do vi phạm luật chống độc quyền; một số loại chi phí vận động hành lang.
b. Các khoản khấu trừ đặc biệt khác (Special deductions)
b.1. Khấu trừ cổ tức nhận được (Dividends Received Deduction)
Quy định về khấu trừ cổ tức nhận được cho doanh nghiệp nhằm hạn chế việc cổ tức bị đánh thuế trùng nhiều lần khi một công ty cổ phần là cổ đông của một công ty cổ phần khác.
Theo IRC, Sec. 243, khi doanh nghiệp nhận cổ tức từ một công ty cổ phần trong nước, sẽ được khấu trừ phần cổ tức nhận được theo quy tắc sau:
- khấu trừ 100% cổ tức nhận được từ một công ty khác thuộc cùng một tập đoàn hợp nhất (affiliated group)
- khấu trừ 100% nếu doanh nghiệp là công ty đầu tư quy mô nhỏ thành lập theo Luật Đầu tư kinh doanh quy mô nhỏ năm 1958 (Small Business Investment Act 1958)
- khấu trừ 70% nếu doanh nghiệp nắm giữ dưới 20% cổ phần; khấu trừ 80% nếu doanh nghiệp nắm giữ từ 20 – 80% cổ phần; khấu trừ 100% nếu doanh nghiệp nắm giữ từ 80-100% cổ phần của công ty chia cổ tức.
Các khoản khấu trừ cổ tức nhận được còn bị giới hạn ở mức 70 hoặc 80% thu nhập tính thuế chưa tính đến các khoản khấu trừ cổ tức nhận được, chuyển lỗ và khấu trừ thu nhập liên quan đến hoạt động sản xuất trong nước. Không áp dụng quy tắc này nếu khi tính khấu trừ theo phương pháp chung, doanh nghiệp đã phát sinh lỗ trong năm.
Có thể xét ví dụ sau: Công ty Cổ phần Hershal có các khoản thu nhập và chi phí sau phát sinh trong năm:
- Cổ tức từ công ty cổ phần X (trong đó 000 USD Hershal nắm giữ 18% cổ phần)
- Thu nhập ròng từ hoạt động kinh doanh 000 USD Trong năm, khấu trừ cổ tức nhận được của Hershal như sau:
Do Công ty cổ phần Hershal nắm giữ dưới 20% cổ phần của CT X nên tỷ lệ khấu trừ cổ tức nhận được là 70%, vậy theo quy tắc chung Hershal được khấu trừ 70.000 USD (70% x 100.000 USD).
Mặt khác, giới hạn khấu trừ cổ tức là: 91.000 USD (70% x 30.000 USD) Do 70.000 USD < 91.000 USD nên Hershal được khấu trừ toàn bộ 70.000 USD. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
b.2. Một số khoản khấu trừ cổ tức nhận được khác
Ngoài ra, doanh nghiệp còn được khấu trừ cổ tức một số loại cổ phiếu ưu đãi nhận được và cổ tức từ các công ty nước ngoài, cổ tức từ các chứng khoán nợ. Nguyên tắc xác định giá trị khấu trừ cho các loại cổ tức đặc biệt này được quy định lần lượt trong Sec. 244 và Sec. 245, 246A. Nhìn chung, quy định về giới hạn khấu trừ cũng như tỷ lệ khấu trừ áp dụng cho các loại cổ tức đặc biệt này tương tự như quy định về khấu trừ cổ tức nhận được trong Sec. 243 đã nêu ở trên.
b.3. Lỗ hoạt động ròng từ các năm khác chuyển đến (Net operating loss carryovers).
Số lỗ hoạt động ròng chuyển đến không vượt quá số thu nhập tính thuế sau khi trừ đi các khoản khấu trừ đặc biệt khác. Các quy định khác về lỗ hoạt động ròng được đề cập đến ở phần sau.
2.2.3.1.3. Phương pháp xác định thu nhập tính thuế
Ngoại trừ một số doanh nghiệp nhỏ nhất định, hầu hết các doanh nghiệp Hoa Kỳ đều phải khai đồng thời hai bản báo cáo thu nhập tính thuế: Form 1120 U.S.Corporate Income Tax Return và Form 4676 Alternative Minimum TaxCorporations. Cùng với hai bản khai thuế Thu nhập doanh nghiệp này là hai phương pháp tính thuế Thu nhập doanh nghiệp khác nhau, với quy định v ề một số khoản thu nhập và khấu trừ khác nhau, và mức thuế suất cũng không giống nhau. Doanh nghiệp phải kê khai đồng thời theo 2 mẫu, và tính thuế theo 2 cách khác nhau. Cuối cùng, số thuế Thu nhập doanh nghiệp phải nộp là giá trị lớn hơn giữa 2 cách tính này.
Thực tế, về cơ bản, cả hai phương pháp tính thuế này đều được xây dựng trên hệ thống các khoản thu nhập, khấu trừ, cũng như các quy tắc liên quan đến việc ghi nhận thu nhập, lỗ, giới hạn chuyển lỗ giống nhau. Nhìn chung, phương pháp tính thuế thông thường “hào phóng” hơn trong việc ghi nhận các khoản khấu trừ và miễn thuế, nhưng đồng thời các mức thuế suất biên cũng cao hơn. Trong khi đó, phương pháp tính thuế AMT (Alternative Minimum Tax) lại có phần “chặt chẽ” hơn trong việc ghi nhận các khoản khấu trừ và miễn thuế, nhưng đồng thời các mức thuế suất biên lại thấp hơn.
- Xác định thu nhập tính thuế theo cách thông thường (Regular income tax)
Với số liệu từ các khoản thu nhập, các khoản khấu trừ đã liệt kê ở trên, ta đã có thể xác định được thu nhập tính thuế theo cách thức thông thường, bằng cách trừ (-) khỏi tổng thu nhập (gross income) các khoản khấu trừ theo danh mục, lỗ hoạt động ròng, và một số khoản khấu trừ đặc biệt khác được liệt kê trong Form 1120.
- Xác định thu nhập tính thuế theo phương pháp AMT (Alternate income tax)
Bộ luật thuế cải cách năm 1986 (Tax Reform Act 1986) đã đưa ra phương pháp tính thuế AMT, nhằm hạn chế việc các đối tượng có thu nhập cao tránh được các khoản thuế lớn. Ngoại trừ các doanh nghiệp đi vào hoạt động trong năm đầu tiên, và doanh nghiệp có tổng doanh thu bình quân trong 3 năm gần nhất không quá 7,5 triệu USD; các đối tượng doanh nghiệp còn lại phải khai báo thuế thu nhập AMT. Ngoài ra, doanh nghiệp có thu nhập chịu thuế trước khi trừ đi lỗ hoạt động ròng và các khoản điều chỉnh khác vượt quá 40.000 USD; doanh nghiệp kê khai một số khoản tín dụng thuế cũng phải kê khái báo cáo thu nhập theo phương pháp AMT. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Khi tính thu nhập tính thuế theo AMT, phải thực hiện nhiều khoản điều chỉnh, chẳng hạn điều chỉnh lại một số khoản khấu hao theo cách tính khác (IRC, Sec. 56), thu nhập từ các hoạt động thụ động (passive activity income), lãi suất trái phiếu miễn thuế, chi phí khai thác và phát triển mỏ…Ngoài ra, phương pháp AMT cũng tính lại lợi tức điều chỉnh hiện hành (adjusted current earnings), kết hợp với các khoản điều chỉnh khác để tính ra thu nhập tính thuế theo phương pháp AMT.
Cách tính thuế theo phương pháp AMT tương đối phức tạp, và được đánh giá là thiếu công bằng, và cứng nhắc (thuế suất thuế AMT không được điều chỉnh theo lạm phát mà giữ ở mức cố định), nên vấp phải sự phản đối của nhiều chính trị gia cũng như người dân Mỹ. Hiện nay, cách tính thuế này vẫn tiếp tục được áp dụng, dù có nhiều kiến nghị sửa đổi hoặc thậm chí bãi bỏ hoàn toàn cách tính thuế phức tạp này.
2.2.3.2. Thuế suất
2.2.3.2.1. Thuế suất phương pháp tính thuế thông thường
IRS áp dụng mức thuế suất lũy tiến, theo đó thuế suất cho các năm 19942010 như sau:
Bảng 4: Thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp giai đoạn 1994 – 2010
Riêng với công ty cổ phần cung cấp dịch vụ cá nhân (personal services corporation), chẳng hạn như cung cấp dịch vụ tư vấn pháp luật, chăm sóc sức khỏe… thì áp dụng mức thuế suất cố định là 35% cho mọi mức thu nhập.
Ngoài mức thuế phải nộp theo thuế suất như trên, doanh nghiệp còn phải nộp thêm thuế đánh vào thu nhập giữ lại (accumulated earnings) vượt quá 250.000 USD với công ty cổ phần (150.000 USD với công ty cổ phần cung cấp dịch vụ cá nhân), với mức thuế suất 15%. (Sec. 531, 535)
2.2.3.2.2. Thuế suất thuế AMT
Thuế suất thuế AMT cho doanh nghiệp là mức thuế suất cố định 20% cho mọi mức thu nhập (IRC, Sec. 55).
2.2.3.3. Ưu đãi thuế Thu nhập doanh nghiệp
2.2.3.3.1. Miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp
Theo IRC, Sec. 501, các đối tượng sau được miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp:
- Doanh nghiệp thành lập theo Bộ luật quốc hội (Act of Congress), gồm Liên hiệp tín dụng liên bang (Federal Credit Union). Bản chất của các loại doanh nghiệp này là công cụ để thực hiện chính sách của Chính phủ Hoa Kỳ.
- Công ty nắm giữ và quản lý tài sản cho các tổ chức, cá nhân được miễn thuế thu nhập (Title-holding corporation for exempt organisation).
- Doanh nghiệp thành lập và hoạt động nhằm thực hiện các mục đích tôn giáo, từ thiện, nghiên cứu khoa học, văn học, hay các mục đích giáo dục, ngăn chặn bạo lực trẻ em, bạo lực với động vật… Thu nhập từ các doanh nghiệp này không được chuyển cho bất kỳ cổ đông nào của công ty. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
- Liên hiệp công dân (Civic Leagues), tổ chức phúc lợi xã hội (Social Welfare Organisations), hiệp hội người lao động địa phương (Local Associations of Employees).
- Tổ chức lao động, nông nghiệp, làm vườn (Labor, Agricultural, and Horticultural Organisations).
- Liên hiệp kinh doanh (Business League), phòng thương mại (Chambers of Commerce)…
- Hiệp hội quỹ lương hưu giáo viên (Teachers’ Retirement Fund Associations).
- Công ty bảo hiểm tương hỗ hoặc Hiệp hội bảo hiểm tương hỗ (Mutual Insurance Companies or Associations).
- Tổ chức là cựu thành viên hoặc thành viên hiện tại của Quân đội.
- Qũy hỗ trợ cho bệnh nhân mắc bệnh phổi đen (Black Lung Benefit Trusts).
- Tổ chức cựu chiến binh (Veterans Organisations) thành lập trước năm 1880
- Tổ chức chăm sóc sức khỏe cho trẻ em.
- Hiệp hội nông dân (Farmers’ Cooperative Associations).
- Doanh nghiệp tiến hành các dịch vụ tang lễ, nghĩa trang.
- Hiệp hội bảo hiểm nhân thọ từ thiện (Benevolent Life Insurance Associations)
- Một số doanh nghiệp cung cấp dịch vụ tưới tiêu nước trong nông nghiệp…
Để được miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp, các tổ chức doanh nghiệp trên phải kê khai theo mẫu thích hợp như Form 1024 (Application for Recognition of Exemption Under Section 501(a)) hoặc Form 1023 (Application for Recognition of Exemption Under Section 501(c)(3) of the Internal Revenue Code). Một số doanh nghiệp thuộc đối tượng miễn thuế Thu nhập doanh nghiệp nếu có phát sinh thu nhập từ các hoạt động nhằm mục đích sinh lời phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp cho phần thu nhập này.
2.2.3.3.2. Giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp
IRS quy định giảm thuế cho một số doanh nghiệp dưới hình thức tín dụng thuế (tax credit). Tín dụng thuế được trừ trực tiếp khỏi số thuế phải nộp (tax liability), tương tự như các khoản thuế trả trước. So với một khoản khấu trừ thuế cùng giá trị, thì tín dụng thuế có ý nghĩa lớn hơn vì số thuế tiết kiệm được sẽ nhiều hơn. Tín dụng thuế được dùng để khuyến khích các đối tượng nôp thuế tham gia vào một số hoạt động có ý nghĩa văn hóa xã hội như xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp, phục hồi di sản lịch sử…
IRS quy định giảm thuế Thu nhập doanh nghiệp dưới hình thức tín dụng thuế trong các trường hợp sau:
- Tín dụng thuế đầu tư (investment credit) (IRC, Sec. 46). Về bản chất, tín dụng thuế đầu tư giống như một khoản trợ cấp của chính phủ nhằm khuyến khích hoạt động đầu tư của doanh nghiệp trong nước, đặc biệt là các hoạt động đầu tư nhằm bảo vệ môi trường, tiết kiệm nhiên liệu…
- Doanh nghiệp tạo việc làm cho các đối tượng lao động được ưu tiên như cựu chiến binh, người khuyết tật…(IRC, Sec. 51(a)) Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
- Các hoạt động nghiên cứu (IRC, Sec. 41(a))
- Hoạt động xây nhà cho người thu nhập thấp (IRC, 42)
- Sản xuất điện tái tạo (IRC, Sec. 45)
- Đầu tư vào các thị trường mới (IRC, Sec. 45D), như các khu vực có điều kiện kinh tế xã hội khó khăn nằm trên lãnh thổ Hoa Kỳ và các vùng trực thuộc.
- Cung cấp nhà ở, việc làm cho nạn nhân bão Katrina
- Sản xuất nhiên liệu từ các nguồn lực thay thế, sản xuất năng lượng hạt nhân…
Theo IRC, Sec. 38, số tín dụng thuế doanh nghiệp được phép sử dụng trong năm được giới hạn ở một mức nhất định. Nếu trong năm không sử dụng hết, các khoản tín dụng thuế được chuyển lùi về 1 năm trước hoặc chuyển tiếp sang 20 năm sau. Trong trường hợp có sự chuyển đổi sở hữu giữa các doanh nghiệp, các khoản tín dụng thuế cũng có thể được chuyển đổi. Tức là doanh nghiệp mua lại có quyền sử dụng tín dụng thuế của doanh nghiệp bị mua lại để giảm trừ số thuế phải nộp trong năm của mình. Một số giới hạn và quy tắc chuyển tín dụng thuế khi doanh nghiệp chuyển đổi sở hữu được quy định giống như chuyển lỗ giữa các doanh nghiệp.
Ngoài ra, tín dụng thuế dành cho hoạt động xây nhà cho người có thu nhập thấp được hưởng rất nhiều ưu đãi và quy định đặc biệt. Khoản tín dụng này có thời hạn 10 năm, và có thể được mua bán giữa các doanh nghiệp. Những ưu đãi đặc biệt này nhằm khuyến khích doanh nghiệp đầu tư xây dựng nhà ở cho người có thu nhập thấp. Quy định này đã tạo ra một thị trường mua bán tín dụng thuế nhà ở cho người thu nhập thấp rất sôi động giữa các ngân hàng, và các nhà đầu tư lớn. Chẳng hạn, năm 2009 Ngân hàng Goldman Sachs đã “để mắt” đến khoản tín dụng thuế khổng lồ, trị giá hàng chục triệu USD mà công ty tài chính Fannie Mae không còn dùng đến do thua lỗ chồng chất. Tóm lại, quy định về mua bán tín dụng thuế cho hoạt động xây nhà cho người có thu nhập thấp không chỉ đạt được các mục tiêu xã hội mà còn đạt được một số hiệu quả kinh tế không nhỏ.
2.2.3.3.3. Lỗ và các quy định về chuyển lỗ
- Quy định chung
Đến cuối kỳ tính thuế, nếu giá trị các khoản khấu trừ lớn hơn thu nhập tính thuế, thì phát sinh lỗ. Khi đó, doanh nghiệp không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp và số lỗ này nếu không được khấu trừ hết sẽ được chuyển đến các năm khác để trừ vào khoản thu nhập tính thuế của năm đó. Việc chuyển lỗ cũng như khấu trừ lỗ trước hết phải căn cứ lỗ đó là lỗ hoạt động ròng (net operating loss) hay lỗ hoạt động sinh lời thụ động (passive activity loss).
- Lỗ hoạt động ròng (Net operating loss)
Lỗ hoạt động ròng là khoản lỗ theo năm, phát sinh từ các hoạt động sản xuất kinh doanh mà doanh nghiệp “thực sự tham gia” (materially participate). Lỗ hoạt động ròng phát sinh khi các khoản khấu trừ vượt quá thu nhập tính thuế trong kỳ. Quy định về chuyển lỗ không áp dụng cho công ty hợp danh, công ty TNHH và cty loại S.
b.1. Thời gian chuyển lỗ Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Luật thuế cho phép doanh nghiệp chuyển lỗ hoạt động ròng lùi về các năm trước hay chuyển lỗ sang các năm tiếp theo. Chuyển lỗ lùi tức là lỗ phát sinh trong năm hiện tại được chuyển về năm trước đó, và ghi giảm thu nhập của năm này. Vì thuế thu nhập của năm trước đã được thanh toán nên khi chuyển lỗ lùi thì doanh nghiệp được hoàn lại số thuế đã nộp ngay trong năm hiện tại. Khi chuyển lỗ sang các năm sau đó thì không được hoàn thuế ngay trong năm mà sẽ làm giảm thuế thu nhập phải nộp trong tương lai. Lỗ hoạt động ròng được chuyển lùi về 2 năm trước năm phát sinh lỗ hoặc chuyển tiếp đến 20 năm tiếp theo năm phát sinh lỗ.
Theo quy định của Luật thuế thì trước hết doanh nghiệp phải chuyển lỗ lùi về 2 năm trước trước khi chuyển tiếp về 20 năm sau. Sau 20 năm, nếu không khấu trừ hết lỗ thì doanh nghiệp không được tiếp tục chuyển lỗ.
Tuy nhiên, doanh nghiệp có thể đăng ký không áp dụng quy tắc chuyển lỗ lùi về 2 năm trước mà chỉ chuyển lỗ về 20 năm tiếp theo đó. Quy định này có lợi cho doanh nghiệp khi thu nhập của các năm trước có mức thuế suất biên thấp, trong khi doanh nghiệp dự kiến các năm tiếp theo có thu nhập cao hơn.
Ngoài ra, để đối phó với cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu năm 2008, trong gói cứu trợ năm 2009 của chính phủ Mỹ có quy định cho phép các doanh nghiệp chuyển lỗ phát sinh trong các năm 2008 và 2009 lùi về 5 năm trước đó, thay vì chỉ chuyển lỗ lùi về 2 năm như quy định. Quy định này không áp dụng cho các doanh nghiệp nhận được các khoản cứu trợ từ Chương trình giảm trừ các tài sản xấu (Troubled Asset Relief Program).
b.2. Chuyển lỗ khi có chuyển đổi sở hữu doanh nghiệp
Những quy định về chuyển lỗ liên quan đến việc mua lại doanh nghiệp là những vấn đề đang gây nhiều tranh cãi của Luật thuế, nhất là trong bối cảnh nước Mỹ vừa trải qua cuộc khủng hoảng kinh tế, mà hậu quả của nó là các khoản lỗ chồng chất của các công ty, và hoạt động mua lại công ty diễn ra rất phổ biến. Trước hết, có thể xem xét các quy định cụ thể về chuyển lỗ đối với các doanh nghiệp khi diễn ra hoạt động chuyển đổi sở hữu; được quy định cụ thể trong Sec. 381, 382, 383 và 384.
Quan điểm của IRS là muốn các khoản lỗ hoạt động ròng của doanh nghiệp nào thì doanh nghiệp đó được khấu trừ và hưởng lợi, cho nên Sec. 382 đặt ra giới hạn về số lỗ mà một doanh nghiệp được chuyển khi mua lại một doanh nghiệp khác với khoản lỗ chưa được khấu trừ hết. Hoạt động mua lại này tạo ra sự chuyển đổi sở hữu (ownership change). Khi mua lại một công ty khác với khoản lỗ hoạt động ròng chưa khấu trừ hết, thì công ty mua lại có thể sử dụng chính khoản lỗ hoạt động ròng đó để khấu trừ số thuế phải nộp trong tương lai.
Trước hết, cần tìm hiểu khái niệm về chuyển đổi sở hữu (ownership change) mà IRS đưa ra. Sec. 382(g) quy định rằng việc chuyển đổi sở hữu diễn ra khi trong 3 năm, có sự tăng lên trên 50 % trong tỷ lệ cổ tức nắm giữ của một hay nhiều cổ đông nắm giữ trên 5% cổ phần. Chẳng hạn, cổ đông A nắm giữ 25% cổ phần của Công ty cổ phần X, và trong vòng 3 năm, số cổ phần cổ đông A nắm giữ tăng thêm 51% nữa. Trong trường hợp này, có thể nói đã diễn ra sự chuyển đổi sở hữu, theo quy định của Luật thuế.
Quy định chung về giới hạn chuyển lỗ (IRC, Sec. 382)
Khi diễn ra chuyển đổi sở hữu thì lỗ được phân loại thành 2 phần: phần lỗ trước khi chuyển đổi sở hữu và lỗ sau chuyển đổi sở hữu. Phần lỗ sau chuyển đổi sở hữu thì doanh nghiệp có thể tiếp tục khấu trừ trong vòng 15 năm tiếp theo mà không bị hạn chế giá trị lỗ được chuyển. Phần lỗ trước khi chuyển đổi sở hữu vẫn được khấu trừ nhưng bị giới hạn theo quy định của Sec. 382. Theo đó, không phải toàn bộ số lỗ hoạt động ròng phát sinh trước chuyển đổi sở hữu đều được khấu trừ, mà bị hạn chế ở mức giá trị xác định bằng công thức: Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Chuyển lỗ tối đa hàng năm = A x B.
Trong đó, A là giá trị thị trường của công ty tại thời điểm chuyển đổi sở hữu
B là tỷ lệ miễn thuế liên bang dài hạn (federal long-term tax-exempt rate) trong tháng diễn ra việc chuyển đổi sở hữu.
Tỷ lệ miễn thuế liên bang dài hạn được xác định bằng lãi suất điều chỉnh liên bang cao nhất trong 3 tháng gần nhất tháng diễn ra việc chuyển đổi sở hữu. Hàng tháng, IRS ấn định các mức lãi suất cơ bản, gọi là lãi suất điều chỉnh liên bang, dùng khi áp dụng Luật thuế. Chẳng hạn, lãi suất điều chỉnh liên bang trong các tháng đầu năm 2010 lần lượt là 4,01%; 4,02%; 4,03% và 3,95% cho các tháng 1, tháng 2, 3 và tháng 4/2010. Như vậy, nếu hoạt động chuyển đổi sở hữu diễn ra vào tháng 4/2010 thì tỷ lệ miễn thuế liên bang dài hạn là 4,03%.
Nếu hoạt động chuyển đổi sở hữu diễn ra vào ngày cuối cùng của năm tính thuế, thì toàn bộ khoản lỗ hoạt động ròng phát sinh trong năm đó đều là lỗ trước chuyển đổi sở hữu và việc chuyển lỗ phải chịu mức giới hạn như đã nêu ở Sec. 382 ở trên. Tuy nhiên, nếu chuyển đổi sở hữu diễn ra trong năm, thì thu nhập cũng như lỗ của năm đó phải được chia thành lỗ trước và sau chuyển đổi sở hữu tính theo tỷ trọng số ngày/ năm tính đến ngày chuyển đổi sở hữu.
Chuyển lỗ khi có phát sinh lỗ nội tại (built-in loss) trong năm
Lỗ nội tại (built-in loss) là khoản lỗ phát sinh khi giá trị thị trường của tài sản thuộc quyền sở hữu của doanh nghiệp thấp hơn giá gốc có điều chỉnh của tài sản vào thời điểm đó. Nếu lỗ nội tại trong năm thấp hơn giá trị nhỏ hơn giữa 10.000.000 USD và 15% giá trị thị trường của tài sản vào thời điểm diễn ra hoạt động chuyển đổi sở hữu thì khoản lỗ nội tại được coi bằng 0.
Riêng đối với khoản lỗ nội tại (built-in loss) phát sinh trong vòng 5 năm từ khi chuyển đổi sở hữu, vẫn được xem như lỗ phát sinh trước chuyển đổi sở hữu và việc chuyển lỗ vẫn phải chịu giới hạn theo quy định của Sec. 382.
Có thể xem xét ví dụ sau:
Công ty cổ phần X. có khoản lỗ hoạt động ròng trị giá 15.000 USD chuyển đến năm 2000. Cũng trong năm 2000, X. phát sinh khoản lỗ 800 USD. Vào thời điểm đó, công ty được định giá là 10.000 USD, và tỷ lệ miễn thuế liên bang dài hạn là 7% Ngày 1/4/2000 công ty X. diễn ra hoạt động chuyển đổi sở hữu.
Ngày 15/4/2000 công ty X. bán đi một số tài sản và ghi nhận lỗ nội tại 350 USD.
Với các dữ kiện trên, có thể xác định: Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
- Số lỗ phát sinh trong năm 2000 của X. là 1150 USD (800 USD + 350 USD)
- Sau năm 2000, hàng năm X. được chuyển lỗ tối đa là 700 USD (10.000 USD x 7%). Như vậy, công ty X. chỉ được chuyển lỗ và khấu trừ tối đa 10.500 USD (15 năm x 700 USD/năm), trên tổng số 15.000 USD lỗ hoạt động ròng chuyển đến năm 2000 từ các năm trước đó.
- Tuy nhiên, khoản lỗ nội tại 350 USD phát sinh sau ngày 1/4/2000 vẫn được coi như khoản lỗ phát sinh trước chuyển đổi sở hữu và chịu mức giới hạn quy định trong Sec. 382. Như vậy, thực tế công ty chỉ được chuyển lỗ và khấu trừ tối đa 10.500 USD trên tổng số 15.551 USD (15.000 USD + 92/366 x 800 USD + 350 USD) lỗ hoạt động ròng phát sinh.
Đặc biệt, nếu trong vòng 2 năm từ khi chuyển đổi sở hữu, doanh nghiệp không tiến hành hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp trước chuyển đổi, hoặc không hề sử dụng một phần đáng kể tài sản của doanh nghiệp trước chuyển đổi thì mức giới hạn chuyển lỗ quy định trong Sec. 382 là 0.
Mặc dù có các quy định hạn chế việc tận dụng lỗ của doanh nghiệp bị mua lại, nhiều doanh nghiệp vẫn hưởng lợi từ chính sách này, đặc biệt trong thời kỳ khủng hoảng. Hai ngân hàng lớn của Mỹ là Bank of America và Wells Fargo sẽ không phải nộp thuế Thu nhập doanh nghiệp cho năm 2009. Trong khi Bank of America không phải nộp thuế vì làm ăn thua lỗ trong năm 2009, Wells Fargo vẫn thu được nhiều lợi nhuận nhưng không phải nộp thuế vì được khấu trừ các khoản lỗ chuyển đến từ Wachovia, khi Wells Fargo mua lại ngân hàng này khi đang trên bờ vực phá sản. Năm 2009, Wells Fargo công bố lợi nhuận 12,28 tỷ USD chưa kể cổ tức, thuế Thu nhập doanh nghiệp đáng lẽ phải nộp của công ty này là 5,3 tỷ USD, nhưng do chuyển lỗ từ ngân hàng Wachovia, Wells Fargo đã tiết kiệm được 4,1 tỷ USD tiền thuế Thu nhập doanh nghiệp trong năm 2009 (Stephen Bernard, 2010, “Wells Fargo Posts Surprise Profit In 4Q”, The Huffington Post).
Tóm lại, việc mua lại một doanh nghiệp với các khoản lỗ hoạt động ròng đáng kể và nhiều ưu đãi thuế khác chưa hẳn đã mang lại nhiều lợi nhuận, do các giới hạn về chuyển lỗ mà IRS đặt ra. Mặc dù vậy, không ít công ty đã bớt được gánh nặng thuế Thu nhập doanh nghiệp đáng kể, và hiện tượng này bị phê phán do có những công ty làm giàu trên chính sự đổ vỡ của công ty khác. Quy định về chuyển lỗ đã tạo ra một thị trường không ít sôi động, đặc biệt trong thời kì khủng hoảng kinh tế, khi các khoản lỗ chồng chất lại chính là tài sản đáng giá nhất của không ít doanh nghiệp.
- Lỗ hoạt động sinh lời thụ động
Quy định về lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động chỉ áp dụng cho doanh nghiệp là công ty cổ phần cung cấp dịch vụ cá nhân (personal service corporation), và các doanh nghiệp nhỏ (closely-held corporation), bên cạnh các đối tượng khác như cá nhân, quỹ tín thác. Công ty cổ phần loại C không áp dụng quy định này.
Hoạt động sinh lời thụ động là các hoạt động mà đối tượng nộp thuế không “thực sự tham gia” (materially participate), tức là không tham gia thường xuyên, liên tục, chẳng hạn như hoạt động cho thuê, tham gia vào công ty hợp danh với tư cách thành viên góp vốn. Tiêu chuẩn để xác định đối tượng chịu thuế có “thực sự tham gia” vào hoạt động sinh lời hay không được quy định cụ thể hơn trong ấn phẩm số 925 ( Publication 925 – Passive activity and at-risk rules) của IRS.
Nhìn chung, lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động chỉ được khấu trừ khỏi thu nhập từ hoạt động sinh lời thụ động mà không được khấu trừ khỏi thu nhập phát sinh từ các nguồn khác.
Doanh nghiệp nhỏ (closely-held corporation) có thể khấu trừ lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động vào thu nhập ròng từ hoạt động chủ động, nhưng không thể khấu trừ lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động khỏi thu nhập từ đầu tư chứng khoán. Các doanh nghiệp khai báo các khoản thu nhập và khấu trừ, lỗ từ hoạt động sinh lời thụ động trên Form 8810.
2.2.4. Đánh giá thuế thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
2.2.4.1. Tính hiệu quả
Như đã trình bày ở trên, tính hiệu quả của thuế hướng vào việc xem xét thuế có khiến đối tượng nộp thuế phải tham gia vào một số hoạt động nhất định chỉ để tránh nộp thuế hay không, nói cách khác, xét tính hiệu quả của thuế là xem xét thuế có bóp méo quyết định của đối tượng nộp thuế hay không.
Theo Hội đồng cố vấn Tổng thống về cải cách thuế liên bang thì việc đánh thuế 2 lần với cổ tức của công ty cổ phần đã ảnh hưởng đến quyết định đầu tư của nền kinh tế. Các cá nhân có xu hướng giảm đầu tư vào các công ty cổ phần và các công ty cổ phần đang tồn tại cũng có xu hướng sử dụng công cụ nợ thay vì phát hành cổ phiếu. Quy định về không đánh thuế Thu nhập doanh nghiệp với một số hình thức doanh nghiệp như công ty hợp danh, công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần loại S; trong khi công ty cổ phần loại C phải chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp đã tác động đến quyết định lựa chọn loại hình doanh nghiệp của nhà đầu tư. Văn phòng ngân sách Quốc hội (Congressional Budget Office) cho rằng đây chính là tác động của thuế Thu nhập doanh nghiệp làm bóp méo sự phân bổ nguồn lực hiệu quả (Congressional Budget Office (2005), tr. 17). Xu hướng này được thể hiện qua việc tăng mạnh số lượng các thực thể kinh doanh không chịu thuế Thu nhập doanh nghiệp như công ty TNHH, công ty cổ phần loại S.
Từ năm 1980 đến năm 2007, số lượng công ty cổ phần loại S tăng lên từ 528.000 đến 3.612.000 công ty, trong khi số công ty cổ phần loại C hầu như không đổi, năm 1980 số công ty cổ phần loại C là 2.115.000 và hiện nay là 2.190.000.
Biểu đồ trên cho thấy, phần lớn lợi nhuận kinh doanh nộp thuế dưới dạng thuế Thu nhập cá nhân từ đầu tư vào công ty cổ phần loại S, công ty tư nhân, và các thực thể chuyển thuế khác. Thu nhập ròng của các thực thể chuyển thuế lớn hơn thu nhập ròng từ các công ty cổ phần loại C.
Bên cạnh đó, tài trợ cho hoạt động của công ty cổ phần bằng công cụ nợ cũng đang được ưa chuộng hơn phát hành cổ phiếu vì doanh nghiệp được khấu trừ chi phí lãi suất phải trả, trong khi tài trợ bằng phát hành cổ phiếu thì phải nộp thuế hai lần.
Bên cạnh đó, mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cao nhất trong các nước OECD năm 2005. Lộ trình cắt giảm thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ cũng rất chậm chạp, trong khi các nước OECD đã cắt giảm trung bình 13% thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp trong giai đoạn 1998-2003 trong khi Hoa Kỳ chỉ cắt giảm 0,3% thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp. Mức thuế suất cao này đã khiến Hoa Kỳ kém hấp dẫn hơn trong mắt các nhà đầu tư, trong khi đó, với mức thuế suất thuế Thu nhập doanh nghiệp cao như vậy, tỷ trọng thu ngân sách từ thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ chỉ đứng thứ 15 trong các nước OECD (C. Atkins & S. Hodge, 2005, “The U.S. Corporate Income Tax System: Once a world leader, now a millstone around the neck of American Business”, Tax Foundation).
2.2.4.2. Tính công bằng Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ duy trì thuế suất lũy tiến theo thu nhập, do vậy về lý thuyết tính công bằng dọc của thuế được đảm bảo. Bên cạnh đó, Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp Hoa Kỳ còn có nhiều chính sách ưu đãi nhằm thực hiện một số mục tiêu xã hội như ưu đãi cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực chế tạo năng lượng thay thế, xây dựng nhà cho người có thu nhập thấp…Về lý thuyết, những ưu đãi này làm mất đi tính công bằng ngang của thuế nhưng những ưu đãi như vậy thường không thể tránh khỏi trong bất cứ hệ thống thuế nào.
Tuy nhiên, một số quy định của Luật thuế trên lý thuyết thì công bằng nhưng trong thực tế áp dụng lại nảy sinh bất bình đẳng giữa các doanh nghiệp lớn và nhỏ. Theo Hiệp hội các doanh nghiệp nhỏ Hoa Kỳ (National Small Business Association), Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ có nhiều quy định phân biệt giữa các công ty nhỏ và các công ty lớn, khiến các công ty nhỏ phải chịu nhiều “thiệt thòi” so với các công ty có quy mô lớn. Một số quy định về khấu trừ thu nhập chịu thuế trong Luật thuế tuy không trực tiếp giới hạn phạm vi áp dụng cho các doanh nghiệp có quy mô lớn, nhưng trên thực tế chỉ có các công ty lớn mới đáp ứng đủ điều kiện để khấu trừ, hoặc các quy định này đi kèm với những điều kiện rất phức tạp do đó để được hưởng các khoản khấu trừ, các công ty nhỏ phải bỏ ra một khoản chi phí trên mỗi lao động trung bình lớn hơn nhiều so với công ty lớn. Bên cạnh đó, Luật thuế còn có một số điều khoản khi áp dụng trên thực tế tỏ ra ưu đãi hơn với các công ty cổ phẩn, vốn là lựa chọn chủ yếu của các công ty quy mô lớn so với các công ty hợp danh, hay các cá nhân tự doanh.
Ví dụ, quy định về khấu trừ thu nhập chịu thuế các khoản chi nằm trong chương trình bảo hiểm nhân thọ đoàn thể (group life insurance) mà chủ doanh nghiệp dành cho người lao động. IRC, Sec. 79 quy định rằng người lao động được khấu trừ khỏi thu nhập chịu thuế Thu nhập cá nhân tối đa 50.000 USD trong chương trình bảo hiểm nhân thọ đoàn thể mà chủ lao động cung cấp. Tuy khoản khấu trừ chỉ áp dụng khi tính thuế Thu nhập cá nhân của người lao động, nhưng có giá trị không chỉ với người lao động mà còn có ý nghĩa với doanh nghiệp. Tuy nhiên, IRC, Sec. 79(d) lại đặt ra điều kiện: người lao động chỉ được khấu trừ khoản thu nhập trên nếu ít nhất 85% người lao động hưởng lợi từ chương trình bảo hiểm nhân thọ đoàn thể không phải là “chủ sở hữu” (key employee) của doanh nghiệp. Gỉa sử một doanh nghiệp có 2 chủ sở hữu, tức là người lao động của doanh nghiệp này sẽ không được hưởng ưu đãi thuế nếu doanh nghiệp có ít hơn 14 lao động. Nếu doanh nghiệp chỉ có 1 chủ sở hữu thì ít nhất doanh nghiệp phải có 7 người lao động mới được hưởng ưu đãi thuế trên.
Như vậy, quy định này rõ ràng tỏ ra “ưu ái” hơn cho các doanh nghiệp lớn.
Bên cạnh đó, một số điều khoản khác cũng thể hiện sự thiếu công bằng trong việc tính thuế Thu nhập doanh nghiệp giữa doanh nghiệp lớn và nhỏ, ví dụ như quy định liên quan đến chương trình chăm sóc sức khỏe người lao động (IRC, Sec. 105), hỗ trợ giáo dục đào tạo cho người lao động (IRC, Sec. 127), chia sẻ lợi nhuận (IRC, Sec. 421, Sec. 422)…
2.2.4.3. Các tiêu chuẩn khác Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Không ít nhà báo, các chuyên gia về thuế đã nhiều lần “ca ngợi” về tính phức tạp của hệ thống thuế thu nhập của Hoa Kỳ nói chung và thuế Thu nhập doanh nghiệp nói riêng. Vị học giả kỳ cựu Billings Learned Hand (1947, Thomas Walter Swan, Yale Law, 57, tr. 167) cũng thể hiện sự ngạc nhiên trước sự phức tạp, rắc rối và khó hiểu của Luật thuế thu nhập của Hoa Kỳ. Phóng viên Greg Woods (2008, Taxing times for U.S. taxpayers) của đài truyền hình Anh quốc BBC cũng nói về các Mẫu kê khai thuế thu nhập của Hoa Kỳ là các “tuyệt tác của sự phức tạp”. Hội đồng tư vấn của Tổng thống về cải cách thuế của Hoa Kỳ cũng cho rằng Luật thuế của Hoa Kỳ quá phức tạp, đòi hỏi ghi chép quá chi tiết, quy định dài dòng và các báo cáo, quy trình cũng rất rắc rối. Các quy định trong Luật thuế chịu ảnh hưởng của rất nhiều mục tiêu xã hội khác như quy định về mua bảo hiểm nhân thọ, tài trợ chăm sóc sức khỏe và lương hưu cho người lao động, sở hữu nhà, phát triển các nhiên liệu thay thế… do vậy tính trung lập không cao. Bên cạnh đó, mỗi mục tiêu xã hội lại có nhiều điều luật liên quan trong Luật thuế quy định, vì vậy Luật thuế nói chung rất phức tạp và có phần rời rạc. Khóa luận: Thực trạng thuế thu nhập doanh nghiệp của Hoa Kỳ.
Phương pháp tính thuế AMT được xem là một trong những quy định gây đau đầu nhất của Luật thuế Thu nhập doanh nghiệp. Theo cơ chế này thì doanh nghiệp phải hạch toán và ghi sổ theo hai hệ thống hoàn toàn mới để tính thuế Thu nhập doanh nghiệp theo 2 phương pháp: phương pháp tính thuế truyền thống và AMT. Doanh nghiệp phải ghi chép sổ sách kế toán rất phức tạp để tính lại nhiều khoản khấu trừ theo phương pháp AMT. Không chỉ gây nhiều phức tạp cho doanh nghiệp, thuế AMT còn khiến các nhà quản lý thuế đau đầu trong việc kiểm toán, thanh tra lại các số liệu mà doanh nghiệp khai báo.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Giải pháp thuế thu nhập doanh nghiệp của Việt Nam

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
