Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.
LỜI MỞ ĐẦU
Trong những năm qua cùng với sự phát triển của nền kinh tế quốc dân, ngành xây dựng cơ bản đã không ngừng phát triển và lớn mạnh. Nhất là khi nền kinh tế nước ta đã chuyển sang cơ chế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước và khi nước ta gia nhập các tổ chức như ASEAN, APTA, APEC thì công tác xây dựng cơ bản càng giữ một vị trí vô cùng quan trọng vì nó tạo ra bộ xương sống cho nền kinh tế. Chính vì vậy đòi hỏi cơ chế quản lý và cơ chế tài chính ngày càng phải được hoàn thiện ở cả tầm vĩ mô và vi mô đối với công tác xây dựng cơ bản.
Trong cơ chế thị trường hiện nay, các doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển thì các doanh nghiệp đều phải cạnh tranh lẫn nhau thông qua nhiều hình thức, trong đó chất lượng và giá cả là hai vấn đề được quan tâm nhất. Vì vậy muốn đứng vững trên thị trường, các doanh nghiệp luôn phải tìm cách hạ giá thành sản phẩm của mình một cách hợp lý để khách hàng có thể chấp nhận được. Muốn vậy doanh nghiệp phải biết chính xác giá thành sản phẩm của mình làm ra để từ đó phân tích, tìm ra biện pháp nhằm sử dụng hợp lý hơn nữa các yếu tố cấu thành nên sản phẩm xây lắp. Điều đó có nghĩa là phải tổ chức hạch toán chính xác chi phí sản xuất và tính đúng, tính đủ giá thành sản phẩm xây lắp.
Tuy nhiên công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm ở các ngành sản xuất vật chất nói chung và ngành xây dựng cơ bản nói riêng ở nước ta còn gặp nhiều khó khăn do các nguyên nhân khách quan cũng như chủ quan. Do đó công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp đóng vai trò quan trọng đối với mỗi doanh nghiệp xây dựng cơ bản nói riêng và đất nước nói chung trong việc nâng cao hiệu quả sử dụng vốn nhất là trong điều kiện đất nước ta còn nhiều khó khăn.
Nhận thức được tầm quan trọng đó, trong thời gian thực tập tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 em đã mạnh dạn đi sâu nghiên cứu đề tài: “Hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm”.
Mục đích nghiên cứu là vận dụng những lí luận về kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm vào thực tiễn kế toán tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 để từ đó đề ra một vài ý kiến đề xuất làm hoàn thiện công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là nghiên cứu công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319, lấy số liệu năm 2010 để minh họa.
Phương pháp nghiên cứu là vận dụng phương pháp thống kê, phương pháp phân tích, phương pháp so sánh, phương pháp tổng hợp lý luận và các phương pháp của kế toán để nghiên cứu.
Ngoài lời mở đầu và kết luận nội dung của bài khoá luận gồm 3 chương chính:
- Chương 1: Lý luận chung về tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong doanh nghiệp
- Chương 2: Thực trạng tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm trong tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319
- Chương 3: Một số biện pháp hoàn thiện tổ chức kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319
Trong Quá trình thực tập, em đã được sự chỉ dẫn, giúp đỡ của các thầy cô giáo trong bộ môn Quản trị kinh doanh, các cô các chú, các anh chị trong Xí nghiệp 7 và cô giáo – Thạc sỹ Lương Khánh Chi em đã hoàn thành bài khoá luận này.
Tuy nhiên, do vốn kiến thức còn hạn chế cùng với thời gian thực tế cũng chưa nhiều nên bài khoá luận của em khó tránh khỏi những thiếu sót. Em kính mong nhận được sự chỉ bảo, giúp đỡ của các thầy cô giáo để bài khoá luận của em được hoàn thiện hơn.
CHƯƠNG 1 LÍ LUẬN CHUNG VỀ TỔ CHỨC KẾ TOÁN CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TRONG DOANH NGHIỆP
1.1. Đặc điểm hoạt động xây lắp có ảnh hưởng đến hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Xây dựng cơ bản là một ngành sản xuất độc lập mang tính chất công nghiệp, nhằm tạo ra tài sản cố định, tạo ra cơ sở vật chất cho nền kinh tế quốc dân, tăng cường tiềm lực kinh tế quốc phòng cho đất nước. Vì vậy một bộ phận lớn trong thu nhập quốc dân và vốn đầu tư tài trợ từ nước ngoài được sử dụng trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. So với các ngành sản xuất khác, xây dựng cơ bản có những đặc điểm kinh tế kỹ thuật đặc trưng riêng biệt thể hiện rất rõ ở sản phẩm xây lắp và quá trình tạo ra sản phẩm. Đặc điểm rõ nét nhất trong xây dựng cơ bản là: Sản phẩm xây lắp là các công trình công nghiệp, công trình dân dụng, các vật kiến trúc… được gắn liền trên một địa điểm nhất định như: mặt đất, mặt nước, mặt biển… Thông thường có quy mô lớn, kết cấu phức tạp, mang tính đơn chiếc với thời gian sản xuất kéo dài và giá trị lớn, sản phẩm xây lắp mang tính tổng hợp về nhiều mặt kinh tế, chính trị, kỹ thuật, nghệ thuật. Chúng rất đa dạng nhưng mang lại tính độc lập với nhau, mỗi công trình thường được xây dựng theo một thiết kế kỹ thuật riêng, có giá trị dự toán riêng và tại một địa điểm riêng.
Quá trình sản xuất ở ngành xây dựng cơ bản được chia thành nhiều giai đoạn: Khảo sát, thiết kế, thi công, nghiệm thu. Quá trình thi công được chia thành nhiều khâu như: Chuẩn bị điều kiện cho thi công (giải phóng mặt bằng, chuẩn bị nguyên vật liệu…), thi công móng, trần, tường, hoàn thiện. Các công việc chủ yếu được tiến hành ngoài trời nên chịu ảnh hưởng lớn của điều kiện thời tiết như mưa, nắng, gió, bão, độ ẩm… Do đó quá trình thi công không có tính ổn định mà biến động theo thời tiết, theo địa điểm xây dựng và theo từng giai đoạn thi công.
Mỗi công trình được tiến hành thi công theo một đơn đặt hàng cụ thể, phụ thuộc vào yêu cầu của khách hàng và thiết kế kỹ thuật của công trình đó. Khi thực hiện các đơn đặt hàng của khách hàng đơn vị xây lắp phải bàn giao đúng tiến độ, đúng thiết kế kỹ thuật và phải bảo đảm chất lượng của công trình.
Tổ chức sản xuất trong các doanh nghiệp xây lắp ở nước ta hiện nay phổ biến theo phương thức “Khoán gọn” các công trình, hạng mục công trình, khối lượng hoặc công việc cho các đơn vị trong nội bộ doanh nghiệp (Đội, Xí nghiệp…) trong giá khoán gọn không chỉ có tiền lương mà có đầy đủ các chi phí về vật liệu, công cụ dụng cụ thi công, chi phí chung của bộ phận nhận khoán.
1.2. Chi phí sản xuất và giá thành sản phẩm
1.2.1. Chi phí sản xuất Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Để tạo ra sản phẩm, dịch vụ xã hội thì trong quá trình hoạt động các doanh nghiệp phải huy động, sử dụng các nguồn tài lực, vật lực ( lao động, vật tư, tiền vốn…) để thực hiện việc sản xuất, chế tạo sản phẩm, thực hiện các công việc lao vụ, thu mua dự trữ hàng hoá, luận chuẩn lưu thông sản phẩm, hàng hoá, thực hiện hoạt động đầu tư… kể cả chi cho công tác quản lý chung của doanh nghiệp. Điều đó có nghĩa là doanh nghiệp phải bỏ ra các khoản hao phí về lao động sống và lao động vật hoá cho quá trình hoạt động của mình. Như vậy đối tượng lao động, tư liệu lao động và sức lao động là ba yếu tố cơ bản của quá trình sản xuất.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của toàn bộ các hao phí về lao động sống, lao động vật hoá mà doanh nghiệp đã chi ra để tiến hành hoạt động sản xuất trong một thời kỳ nhất định.
Trong quá trình hoạt động của một doanh nghiệp xây dựng cơ bản, ngoài các khoản chi ra cho quá trình thi công tạo ra sản phẩm theo hợp đồng, doanh nghiệp còn phải chi cho các hoạt động khác như: hoạt động quản lý hay các hoạt động tài chính (cho thuê tài sản cố định…) và các hoạt động bất thường (hao hụt vật tư ngoài định mức…). Tuy nhiên chỉ những khoản chi phí của kỳ hạch toán có liên quan đến khối lượng sản phẩm sản xuất ra mới được phép hạch toán vào chi phí sản xuất trong kỳ.
Chi phí sản xuất của doanh nghiệp phát sinh thường xuyên trong suốt quá trình tồn tại của doanh nghiệp, nhưng để phục vụ cho quản lý và hạch toán kinh doanh, chi phí sản xuất phải được tính toán tập hợp theo từng thời kỳ như hàng tháng, hàng quý, hàng năm phù hợp với kỳ báo cáo. Chỉ những chi phí sản xuất mà doanh nghiệp phải bỏ ra trong kỳ mới được tính vào chi phí sản xuất trong kỳ.
1.2.2. Giá thành sản phẩm
Khái niệm: Giá thành sản phẩm (công việc, lao vụ) là chi phí sản xuất cho một khối lượng hoặc một đơn vị sản phẩm (công việc, lao vụ) do doanh nghiệp sản xuất đã hoàn thành.
Giá thành sản phẩm là một chỉ tiêu kinh tế tổng hợp, phản ánh kết quả sử dụng tài sản, vật tư, lao động và tiền vốn trong quá trình sản xuất, cũng như tính đúng đắn của các giải pháp tổ chức, kinh tế, kỹ thuật và công nghệ mà doanh nghiệp đã sử dụng nhằm nâng cao năng suất lao động, chất lượng sản xuất, hạ thấp chi phí và tăng lợi nhuận cho doanh nghiệp. Giá thành còn là một căn cứ quan trọng để định giá bán và xác định hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất.
CHƯƠNG II THỰC TRẠNG TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP 7 – CHI NHÁNH CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 319 Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
2.1. Một số nét khái quát về Xí nghiệp 7 – Chi nhánh Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319
2.1.1. Quá trình hình thành và phát triển
Công ty xây dựng 319 được thành lập ngày 07/03/1979 là đơn vị quân đội làm kinh tế kết hợp với quốc phòng giao nhiệm vụ sản xuất các mặt hàng cơ khí mộc và xây dựng các công trình dõn dụng cụng nghiệp quốc phòng, giao thụng thuỷ lợi, rà phá bom mìn, vật liệu nổ, cầu cảng,… Tên giao dịch nước ngoài là Construction Company 319. Giám đốc là ông Phùng Quang Hải. Trụ sở chính công ty tại ngõ 145/154 – phường Ngọc Lâm – quận Long Biên – Hà Nội. Công ty xây dựng 319 có 12 đơn vị thành viên:
- Xí nghiệp 7 – trụ sở tại quận Kiến An – Hải Phòng
- Xí nghiệp 359 – trụ sở tại quận Kiến An – Hải Phòng
- Xí nghiệp 9 – trụ sở quận Long Biên – Hà Nội
- Xí nghiệp 487 – trụ sở tại TP.Hạ Long – Quảng Ninh
- Xí nghiệp 11 – trụ sở tại quận Long Biên – Hà Nội
- Xí nghiệp xây lắp và dạy nghề
- Xí nghiệp 19 – trụ sở tại TP.Thái Bình – tỉnh Thái Bình
- Nhà máy xi măng Vạn Chánh – trụ sở tại huyện Kinh môn – tỉnh Hải Dương
- Xí nghiệp 29 – trụ sở tại Thanh Xuân – Hà Nội
- Trung tâm xử lý bom mìn và Phát triển hạ tầng – trụ sở tại quận Long Biên-Hà Nội
- Xí nghiệp 296 – trụ sở tại thị xã Hà Đông – tỉnh Hà Tây Chi nhánh thành phố Hồ Chí Minh – trụ sở tại Quận 10 – TP.Hồ Chí Minh.
- Xí nghiệp 7 là Xí nghiệp thành viên thuộc Công ty xây dựng 319 – Quân Khu 3 – Bộ Quốc Phòng , Xí nghiệp được thành lập ngày 20/10/1970 theo quyết định số 564-QĐ/QP ngày 22/04/1996 của Bộ Quốc phòng.
Ngày 04/03/2010 thực hiện Quyết định số 606/QĐ-BQP của Bộ trưởng Bộ quốc phòng về việc chuyển Công ty xây dựng 319 thành Công ty TNHH một thành viên, hoạt động theo Hình thức công ty mẹ – Công ty con, Công ty TNHH một thành viên 319 kế thừa toàn bộ quyền và nghĩa vụ của Công ty xây dựng 319. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Ngày 15/07/2010 thực hiện Quyết định số 02/QĐ-Công ty 319 của Chủ tịch hội đồng thành viên, Công ty TNHH một thành viên 319 về việc thành lập Chi nhánh công ty TNHH một thành viên 319 – Xí nghiệp 7 trực thuộc Công ty TNHH một thành viên 319, trên cơ sở kế thừa toàn bộ nghĩa vụ, quyền lợi, mã số thuế của Xí nghiệp 7.
- Tên doanh nghiệp: Chi nhánh Công ty TNHH một thành viên 319 – Xí nghiệp 7.
- Người đại diện theo pháp luật : Ông Bùi Đức Quảng
- Địa chỉ : Số 238 đường Lê Duẩn – phường Bắc Sơn – quận Kiến An – TP.Hải Phòng
- Đăng ký kinh doanh thay đổi lần 2 số : 0100108984-004 ngày 29/07/2010 do Sở Kế hoạch đầu tư thành phố Hải Phòng cấp.
- Mó số thuế : 0100108984-004
- Số tài khoản : 2511100037008 – Ngân hàng TMCP Quân đội chi nhánh Hải
- Điện thoại : 031.387640
- Fax : 031.3876404
Con dấu : Xí nghiệp 7 đó đăng ký và được phép sử dụng mẫu kể từ ngày 21/09/2010, kèm theo giấy chứng nhận đó đăng ký mẫu dấu số: 4259/ĐKMD ngày 12/08/2010 của phũng CSQLHC về trật tự xã hội Công an TP Hải Phòng .
- Hành nghề xây dựng theo chứng chỉ:
Số 93/BXD/CSXD ngày 04 tháng 04 năm 1977 do Bộ Xây dựng cấp Số 247/Q Đ/KH ĐT ngày 31 tháng 08 năm 1996 do Bộ Công nghiệp cấp Số 2531/CG Đ ngày 03 tháng 09 năm 1996 do Bộ Giao thông vận tải cấp Số 12/GP/NN ngày 24 tháng 04 năm 1997 do Bộ Nông nghiệp và phát triển nông thôn cấp.
Quá trình Hình thành và phát triển của Xí nghiệp 7 qua các năm như sau:
Xí nghiệp 7 tiền thân là xưởng công binh X7 thuộc quân khu tả ngạn, sau đó được tách ra thành Xưởng X7 chuyên sản xuất các mặt hàng cơ khí, mộc phục vụ sản xuất và chiến đấu.
Từ năm 1970 đến năm 1979 Xí nghiệp trực thuộc Cục kinh tế – Bộ tư lệnh – Quân khu 3 chuyên sản xuất cơ khí mộc phục vụ cho các đơn vị trong và ngoài Quân khu, đồng thời Xí nghiệp còn có chức năng xây dựng các công trình vừa và nhỏ chủ yếu là các công trình của Quân khu. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Từ năm 1980 đến năm 1990 Xí nghiệp vẫn giữ nguyên ngành nghề truyền thống đó. Trong xây dựng Xí nghiệp đó trưởng thành tham gia nhiều công trình xây dựng lớn như: Nhà máy nhiệt điện Phả Lại, Viên quân y 108, Viện 7 QK3 và công trình nhà làm việc, sở chỉ huy của các đơn vị thuộc QK3. Phân xưởng cơ khí và phân xưởng mộc đó mở rộng được sản xuất, tay nghề của công nhân được nâng cao sản xuất ra nhiều sản phẩm phù hợp với người tiêu dùng và chất lượng cao.
Từ năm 1991 đến nay do nắm bắt được cơ chế thị trường, xí nghiệp đó chuyển sang xây dựng cơ bản mở rộng ngành nghề nhưng vẫn giữ nguyên ngành nghề truyền thống là cơ khí và mộc. Đến nay xí nghiệp đó có 07 đội xây dựng và 01 phân xưởng cơ khí – mộc.
2.1.2. Đặc điểm tổ chức sản xuất kinh doanh
2.1.2.1. Chức năng, nhiệm vụ
Xí nghiệp 7 – Chi nhánh Công ty TNHHMTV 319 là đơn vị sản xuất công nghiệp, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Ngành nghề kinh doanh hiện nay là xây dựng các công trình công nghiệp, dõn dụng, giao thụng thuỷ lợi, cầu cảng, rà phỏ bom mìn, vật liệu nổ và sản xuất các mặt hàng cơ khí, mộc, vật liệu xây dựng,…
Xí nghiệp 7 là một doanh nghiệp nhà nước có tư cách pháp nhân, chế độ hạch toán độc lập, có con dấu và tự chủ trong sản xuất kinh doanh, tự chủ quan hệ tỡm kiếm việc làm, tự khai thác đầu tư, vật tư nguồn vốn và lao động. Được phép uỷ quyền của Giám đốc công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 trong việc ký kết các hợp đồng kinh tế, tiền gửi, tiền vay. Được tuyển chọn lao động hợp đồng ngắn hạn, dài hạn phù hợp với luật lao động.
- Hình thức hoạt động : Doanh nghiệp nhà nước
- Hình thức sử dụng vốn : Sở hữu nhà nước
- Có trách nhiệm thực hiện các nghĩa vụ với ngân sách Nhà nước và BQP.
- Thực hiện hạch toán kế toán độc lập và tuân thủ các nguyên tắc, chế độ kế toán của Nhà nước, của Cục Tài chính và của công ty.
Hiện nay xí nghiệp có 07 đội và 01 phân xưởng cơ khí – mộc. Các đội được biên chế đầy đủ cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật, nhân viên kế toán, nhân viên vật tư,…Từng đội nhận kinh phí của xí nghiệp và hạch toán độc lập. Mỗi đội chia thành nhiều tổ, mỗi tổ thi công một công trình. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Phạm vi hoạt động của xí nghiệp rộng khắp trên khắp các tỉnh, thành phố trong cả nước. Từ các tỉnh đồng bằng như: Hải phòng, Hải dương, Thái Bình, Nam định, Quảng ninh, Thanh hoá đến vùng sâu vùng xa như Tiên Yên ba chẽ Quảng Ninh, Lạc Thuỷ – Hoà bình đến các vùng biển đảo : Cô tô, Bạch Long Vĩ, đảo Ngọc vừng, Thanh lân, Đảo cồn cỏ Quảng trị … Dù thi công ở bất cứ tỉnh nào, địa phương nào xí nghiệp cũng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao, làm tốt công tác hậu phương quân đội, đoàn kết giúp đỡ địa phương nơi đóng quân được quần chúng nhân dân tin yêu giúp đỡ.
2.1.2.2. Đặc điểm sản phẩm
Xí nghiệp 7 là thành viên của Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 ( thuộc ngành xây dựng cơ bản), ngành sản xuất vật chất mang tính chất công nghiệp. Đặc điểm của sản phẩm xây dựng có ảnh hưởng rất lớn đến tổ chức sản xuất và quản lý kinh tế trong xây dựng, làm cho các công việc này có nhiều màu sắc khác với ngành sản xuất khác. Sản phẩm xây dựng với tư cách là một công trình xây dựng hoàn chỉnh thường có các tính chất sau:
Sản phẩm xây dựng là những công trình được xây dựng và sử dụng tại chỗ, đứng cố định tại địa điểm xây dựng và phân bố tản mạn ở nhiều nơi trên toàn lãnh thổ. Đặc điểm này làm cho sản xuất xây dựng có tính lưu động cao và thiếu ổn định.
Sản phẩm xây dựng thường có kích thước lớn, chi phí xây dựng lớn, thời gian xây dựng và sử dụng lâu dài, khó sửa đổi. Sản phẩm xây dựng có liên quan đến nhiều ngành, cả về phương diện cung cấp nguyên vật liệu và cả về sử dụng sản phẩm xây dựng làm ra. Sản phẩm xây dựng mang tính chất tổng hợp về kỹ thuật, kinh tế, xã hội, văn hoá, nghệ thuật và quốc phòng.
Cũng như bất cứ một ngành sản xuất kinh doanh nào, ngành xây dựng nói chung và xây dựng của xí nghiệp 7 nói riêng nhất thiết sản phẩm xây lắp phải được lập dự toán (Dự toán thiết kế, dự toán thi công, dự toán giá thành). Quá trình sản xuất xây lắp phải so sánh với dự toán, lấy dự toán làm thước đo.
Sản phẩm xây lắp được tiêu thụ theo giá dự toán hoặc giá thoả thuận với chủ đầu tư (giá trúng thầu), do đó tính chất hàng hoá sản phẩm xây lắp không được thể hiện rõ (vì đã quy định giá, người mua, người bán sản phẩm hình thành trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu… ).
Thời gian sử dụng sản phẩm xây lắp lâu dài đòi hỏi việc tổ chức quản lý hạch toán sao cho chất lượng công trình phải đảm bảo đúng yêu cầu kỹ thuật theo dự toán thiết kế, đảm bảo chất lượng, kỹ, mỹ thuật công trình.
2.1.2.3. Đặc điểm quy trình công nghệ sản xuất sản phẩm
Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 là một doanh nghiệp kinh doanh độc lập, hoạt động trong lĩnh vực xây dựng cơ bản. Do đặc điểm của ngành xây dựng cơ bản nên quá trình để hoàn thành một sản phẩm dài hay ngắn tuỳ thuộc vào từng công trình, hạng mục công trình có quy mô lớn nhỏ khác nhau, sản phẩm của ngành xây dựng mang tính đơn chiếc và thị trường phân tán, tổ chức sản xuất ở cấp đội được biên chế đầy đủ cán bộ chỉ huy, cán bộ kỹ thuật, nhân viên kế toán, nhân viên vật tư…Đối với một số cụng trình đặc biệt, xí nghiệp được Nhà nước và Bộ Quốc phòng chỉ định thầu thông qua công ty, cũn lại các cụng trình khác, Xí nghiệp phải thực hiện đấu thầu, khi trúng thầu xí nghiệp tiến hành ký kết hợp đồng kinh tế với chủ đầu tư, thành lập công trường chuẩn bị thi công, rồi lập phương án tổ chức thi công và bảo vệ phương án, sau đó tiến hành thi công theo kế hoạch được duyệt. Khi công trình hoàn thành sẽ được nghiệm thu khối lượng, chất lượng công trình rồi làm quyết toán bàn giao cho chủ đầu tư.
CHƯƠNG III MỘT SỐ BIỆN PHÁP HOÀN THIỆN TỔ CHỨC KẾ TOÁN TẬP HỢP CHI PHÍ SẢN XUẤT VÀ TÍNH GIÁ THÀNH SẢN PHẨM TẠI XÍ NGHIỆP 7 – CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN MỘT THÀNH VIÊN 319
3.1. Đánh giá công tác tập hợp chi phí và quản lý chi phí tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
3.1.1. Ưu điểm
Nhìn chung công tác quản lý chi phí và giá thành sản phẩm ở Xí nghiệp là tương đối và hợp lý. Trong công tác tập hợp chi phí Xí nghiệp đã xác định đối tượng tập hợp chi phí theo toàn doanh nghiệp. Theo cách tập hợp này công tác tập hợp chi phí đơn giản, dễ làm, phục vụ kịp thời cho công việc tính giá thành. Từ đó dùng phương pháp hợp lý để tính toán giá thành sản phẩm, thực hiện tốt chiến lược hạ giá thành mà vẫn đảm bảo có lợi nhuận.
Xí nghiệp đã từng bước mở rộng mạng lưới tiêu thụ sản phẩm, cũng như việc tìm kiếm những đối tác mới trong việc tạo ra sản phẩm sao cho có chất lượng cao hơn mà giá thành lại hạ. Xí nghiệp đã xây dựng nhiều chính sách ưu đãi với khách hàng, góp phần tăng doanh thu và lợi nhuận cho Xí nghiệp.
Với sự nỗ lực cố gắng của tất cả tập thể cán bộ công nhân viên trong Xí nghiệp, nên đã đạt được một số thành tích cụ thể nhưng xét trên góc độ thực tế thì giá thành sản phẩm của Xí nghiệp vẫn chưa giảm. Do đó trong công tác quản lý chi phí hoạt động kinh doanh vẫn còn những tồn tại mà Xí nghiệp cần phải được khắc phục.
3.1.2. Nhược điểm
Công tác lập kế hoạch chi phí hoạt động kinh doanh và giá thành sản phẩm chưa được coi trọng nên việc đánh giá, cũng như định giá sản phẩm còn nhiều hạn chế. Từ đó dẫn đến việc kiểm soát sự tăng giảm của chi phí rất khó khăn.
Trong yếu tố chi phí quản lý doanh nghiệp chi phí tiền lương trả cho nhân viên quản lý bao gồm cả tiền ăn trưa (theo quy định tiền ăn trưa là khoản phụ cấp trích theo lương) hoặc được trích từ quỹ phúc lợi của Xí nghiệp. Do vậy không được tính vào chi phí quản lý doanh nghiệp làm tăng giá thành sản phẩm. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Kế hoạch giá thành của Xí nghiệp còn sơ sài, do đó việc đánh giá, phân tích và xác định trọng tâm của công tác quản lý để tiết kiệm chi phí và hạ giá thành còn nhiều khó khăn. Kế hoạch giá thành là trọng tâm của công tác quản lý, vì thế phát huy tốt vai trò của kế hoạch giá thành sẽ làm cho công tác quản lý đem lại hiệu quả tốt hơn.
Trong điều kiện nền kỹ thuật thị trường hiện nay, mục tiêu tồn tại của mỗi doanh nghiệp là các hoạt động sản xuất kinh doanh phải tạo ra thu nhập từ tiêu thụ sản phẩm hàng hoá, dịch vụ đủ bù đắp chi phí đã bỏ ra có tích luỹ để tiếp tục quá trình tái sản xuất và tái sản xuất mở rộng. Sự phát triển tất yếu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải phấn đấu nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mình tức là phải chú ý tới việc ngày càng nâng cao kết quả hoạt động kinh doanh và giảm chi phí bỏ ra.
Trong nền kinh tế thị trường, kinh doanh có lãi là mục tiêu mà các doanh nghiệp đều hướng tới. Để đạt được mục tiêu này đòi hỏi các doanh nghiệp phải có sự giám sát chặt chẽ quá trình sử dụng vật tư, tài sản, tiền vốn và lao động một cách có hiệu quả trên cơ sở tổ chức ngày càng hợp lý quá trình hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm. Từ đó cung cấp một cách đầy đủ kịp thời các thông tin cần thiết cho các nhà quản lý để các nhà quản lý ra các Quyết định một cách tối ưu nhất, phấn đấu tiết kiệm chi phí sản xuất và hạ giá thành sản phẩm.
Tiết kiệm chi phí trong doanh nghiệp đồng nghĩa với việc nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng lợi nhuận của doanh nghiệp. Đồng thời yêu cầu của công tác quản lý kinh tế nói chung và công tác kế toán nói riêng đòi hỏi các doanh nghiệp phải tổ chức hạch toán chi phí sản xuất một cách chính xác. Sự chính xác này thể hiện ở tất cả các bước: Từ việc tổ chức ghi chép, phản ánh đầy đủ, trung thực các loại chi phí đến việc tính toán các chi phí đó bằng tiền đảm bảo phản ánh các chi phí dó đúng thời kỳ, đúng địa điểm chịu phí, tính đúng, tính đủ chỉ tiêu giá thành là cơ sở để xác định cơ cấu sản phẩm hợp lý, khai thác sử dụng khả năng tiềm tàng của doanh nghiệp. Đồng thời đó cũng là cơ sở để xác định, kiểm tra tình hình thực hiện định mức tiêu hao, là căn cứ xác định kết quả kinh doanh, từ đó tránh được tình trạng lãi giả, lỗ thật. Mặt khác, cùng với chất lượng sản phẩm giá thành sản phẩm luôn được coi là mối quan tâm hàng đầu. Phấn đấu hạ giá thành, đảm bảo tiến độ thi công, đảm bảo chất lượng công trình là nhân tố Quyết định tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp và thu nhập của người lao động.
Xuất phát từ những nhận thức trên, sau một thời gian tìm hiểu tình hình thực tế về công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở Xí nghiệp 7. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 em có một số ý kiến đóng góp nhằm hoàn thiện công tác hạch toán chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm xây lắp ở đơn vị như sau:
Ý kiến 1: Hoàn thiện chứng từ hạch toán chi phí nguyên vật liệu và cách tính giá trị nguyên vật liệu.
Trong tình hình thực tế hiện nay, nhu cầu xây dựng kiến thiết lại đất nước được tăng lên không ngừng, do đó nhu cầu về vật tư xây dựng trên thị trường cũng không ngừng tăng lên, giá cả vật tư không đồng bộ, luôn có sự biến động. Vật liệu cung cấp cho sản xuất thi công theo phương thức dựa trên tiến độ thi công, dựa trên kế hoạch cung ứng vật tư, cung ứng cho từng công trình cụ thể. Một số lượng lớn vật tư mua về được xuất dùng cho sản xuất ngay, nhưng mặt khác mỗi khối lượng thi công xây lắp đều có định mức khối lượng vật tư cụ thể, định mức này do Ban kế hoạch – kỹ thuật của Xí nghiệp lập nên dựa trên cơ sở các định mức trong thiết kế công trình và điều kiện thi công cụ thể từng công trình và hạng mục công trình.
Vì vậy để tạo điều kiện thuận lợi cho việc cấp phát vật tư vào sản xuất, kiểm tra được số vật liệu tiêu hao theo định mức, góp phần kiểm tra được tình hình thực hiện kế hoạch sản xuất thì Xí nghiệp nên sử dụng “Phiếu xuất vật tư theo hạn mức”.
Việc sử dụng “Phiếu xuất vật tư theo hạn mức” sẽ tạo điều kiện theo dõi, quản lý chặt chẽ hơn việc xuất dùng vật liệu ở kho công trình của kế toán viên ở phòng kế toán. Mặt khác nó cũng hạn chế được những hao hụt, mất mát vật liệu, nếu hao hụt, mất mát thì việc kiểm tra phát hiện cũng dễ dàng hơn, việc quy trách nhiệm vật chất cho các đối tượng liên quan có cơ sở xác đáng hơn. Do đó Xí nghiệp có thể khắc phục được những hạn chế khi sử dụng phiếu xuất kho bằng cách sử dụng “Phiếu xuất vật tư theo hạn mức”, việc ghi chép và sử dụng mẫu được quy định và giải thích rõ trong chế độ ghi chép ban đầu.
KẾT LUẬN Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
Thời gian thực tập tại Xí nghiệp 7 – công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 đã thực sự giúp em rất nhiều trong công việc củng cố kiến thức đã được học và việc vận dụng lý thuyết vào thực tế. Qua đó Em càng nhận thức rõ về tầm quan trọng của chi phí sản xuất kinh doanh và việc quản lý chi phí sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp hiện nay.
Nhờ sự hướng dẫn tận tình của Cô giáo – Thạc sỹ Lương Khánh Chi, sự chỉ bảo giúp đỡ của lãnh đạo Xí nghiệp đặc biệt là Phòng Tài chính kế toán, trên cơ sở những số liệu thu thập được kết hợp với kiến thức đã học, Em đã hoàn thành luận văn này.
Chuyên đề đã đề xuất những định hướng cơ bản cũng như một số giải pháp cụ thể nhằm hoàn thiện hơn công tác kế toán tập hợp chi phí sản xuất và tính giá thành sản phẩm nói riêng cũng như công tác kế toán nói chung.
Tuy đã cố gắng rất nhiều nhưng vì điều kiện còn hạn chế nên bài khoá luận chắc chắn không tránh khỏi sai sót trong nhận thức về chi phí và giá thành vốn là vấn đề rất phức tạp và sinh động. Vì vậy, Em rất mong nhận được những ý kiến đóng góp của cán bộ công nhân viên Xí nghiệp, các thầy cô giáo và bạn bè.
Một lần nữa Em xin chân thành cảm ơn sự quan tâm của Cô giáo – Thạc sỹ Lương Khánh Chi, Ban lãnh đạo cùng toàn bộ cán bộ công nhân viên tại Xí nghiệp 7 – Chi nhánh công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên 319 đã giúp em hoàn thành bài khoá luận tốt nghiệp của mình. Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Xí nghiệp.
XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:
===>>> Khóa luận: Kế toán chi phí sản xuất và tính giá thành tại Seasafico


Pingback: Khóa luận: Kế toán vốn bằng tiền tại Chi nhánh Sài Gòn Vina Star