khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng đang trở thành xu thế chủ đạo trong việc phát triển của ngành du lịch vì vậy tác giả đã lấy Đề tài khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng ở Làng Cổ Đường Lâm làm bài luận của mình. Làng cổ Đường Lâm là một ngôi làng cổ kính, tồn tại và phát triển trong suốt chặng đường dài của lịch sử đất nước. Xét về các giá trị kiến trúc, cũng như các giá trị văn hóa – lịch sử, Đường Lâm là địa danh hội tụ đầy đủ các yếu tố cần thiết để phát triển hình thức du lịch cộng đồng.Tên đề tài:”Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại Làng Cổ Đường Lâm, Hà Nội” dưới đây hy vọng sẽ giúp được các bạn trong quá trình hoàn thiện bài luận.

LỜI MỞ ĐẦU

1. Lý do chọn đề tài

Ngày nay, khi chất lượng cuộc sống ngày càng cao thì cùng với đó du lịch đã trở thành một nhu cầu không thể thiếu trong đời sống tinh thần của nhiều người. Thực tế cho thấy, du lịch là một trong những ngành kinh tế tăng trưởng nhanh nhất trên thế giới hiện nay, góp phần xóa đói giảm nghèo, cải thiện cơ sở vật chất kĩ thuật, nâng cấp các di sản văn hóa, khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, giao lưu văn hóa và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các khu vực, các quốc gia, thông qua qua đó góp phần bảo vệ và giũ gìn hòa bình thế giới. Hiện nay du lịch là một xu hướng phát triển mạnh ở các quốc gia trên thế giới trong đó có Việt Nam. Du lịch ngày càng mang lại lợi ích và đóng góp không nhỏ vào sự phát triển kinh tế – xã hội của đất nươc nói chung, từng quốc gia hay từng địa phương nói riêng.

Trong những năm gần đây du lịch cộng đồng là loại hình du lịch đang được rất nhiều du khách ưu chuộng vì du khách muốn được khám phá, trải nghiệm và tìm hiểu về phong tục tập quán của người dân địa phương tham gia mọi hoạt động sinh hoạt như du khách sẽ ăn, ngủ tại nhà dân, sinh hoạt và lao động cùng người dân với cộng đồng địa phương, thưởng thức những giá trị tự nhiên, văn hóa, tinh thần ở địa phương. Bên cạnh các loại hình trước đây du khách thường tham gia như du lịch sinh thái, du lịch xanh, du lịch mạo hiểm…thì du lịch cộng đồng hiện nay đang là một xu hướng mà du khách rất ưu thích. Bởi vì nó giúp người ta có thể trải nghiệm các giá trị văn hóa, giá trị tự nhiên nơi mà có người dân sinh sống tại địa phương. Du khách ngày càng muốn tham gia các hoạt động du lịch mà mình được trải nghiệm nhiều hơn chính vì vậy mà du lịch cộng đồng đang trở thành xu hướng phát triển hiện nay.

Việt Nam là một quốc gia có rất nhiều thuận lợi về tự nhiên và văn hóa để phát triển du lịch cộng đồng như: di tích lịch sử, di sản văn hóa, lễ hôi, ẩm thưc, làng nghề truyền thống, các phong tục tập quán, các công trình kiến trúc đặc sắc…Cùng các điều kiện tự nhiên như: Núi non, sông, hồ đã tạo nên những cảnh quan đẹp hấp dẫn du khách, giúp du khách có thể tham gia trải nghiệm cuộc sống sinh hoạt của cộng đồng địa phương để tự khám phá những nét đẹp của tự nhiên và những giá trị văn hóa bản địa độc đáo. Hiện nay số lượng khách tham gia vào loại hình du lịch cộng đồng ngày càng tăng.

Làng cổ Đường Lâm, Hà Nội là một ngôi làng cổ có rất nhiều điều kiện về   các giá trị tự nhiên, nhân văn, nơi bảo tồn các đặc sắc của nền văn minh lúa nước với nhiều ngôi nhà cổ có niên đại hàng trăm tuổi, nhiều di tích lịch sử, lễ hội, các làng nghề truyền thống…Đây là điều kiện thuận lợi để Đường Lâm phát triển du lịch cộng đồng và thu hút khách. Tuy nhiên hiện nay phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm còn gặp nhiều khó khăn và chưa thực sự mang lại hiệu quả tương xứng với tiềm năng của địa phương. Do đó em đã lựa chọn đề tài “Giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại Làng Cổ Đường Lâm, Hà Nội “ với mong muốn sẽ đề xuất được một số giải pháp nhằm khai thác hiệu quả hơn các điều kiện tại địa phương để phục vụ cho phát triển du lịch cộng đồng ngày một tốt hơn.

* Tổng quan về tình hình nghiên cứu:

Trước năm 2006: Chưa có nhiều công trình nghiên cứu về làng cổ Đường Lâm các nghiên cứu mới dừng ở mức làm rõ cội nguồn lịch sử và các di tích văn hóa.

Sau năm 2006: Khi làng Đường Lâm được nhà nước phong tặng danh hiệu Di tích lịch sử văn hóa quốc gia, các nghiên cứu đã đi sâu hơn về việc phát triển du lịch cũng như cách gìn giữu nét văn hóa cổ xưa. Sốlượng các bài nghiên cứu về Đường Lâm cũng vì thế mà tăng lên. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về Đường Lâm cũng vì thế mà tăng lên. Tuy nhiên, số lượng các công trình nghiên cứu về việc phát triển du lịch tại làng cổ Đường Lâm còn chưa nhiều, đồng thời còn chưa chuyên sâu và chưa có tính ứng dụng cao. Về phía Sở du lịch Thành phố Hà Nội và phòng du lịch thị xã Sơn Tây cũng chưa có các chiến lược phát triển rõ ràng đối với du lịch Đường Lâm dài hạn.

2. Mục tiêu và nhiệm vụ của đề tài

a. Mục tiêu:

Nâng cao nhận thức của bản thân cả về mặt lý luận cũng như thực tiễn về du lịch cộng đồng.

Qua việc tìm hiểu nghiên cứu sẽ cung cấp nguồn tư liệu nhỏ cho những ai quan tâm đến nội dung của đề tài.

Góp phần đưa ra giải pháp phát triển du lịch cộng đồng và phát triển kinh tế – xã hội của địa phương nhằm nâng cao đời sống của dân cư và bảo vệ môi trường.

b. Nhiệm vụ

Để thực hiện mục đích trên đề tài tập trung thực hiện các nhiệm vụ sau:

Nghiên cứu tổng quan lý luận về du lịch và du lịch cộng đồng và điều kiện phát triển du lịch cộng đồng.

Phân tích những lợi thế của Đường Lâm trong việc phát triển du lịch cộng đồng, chỉ ra những mặt thuận lợi, khó khăn trong phát triển du lịch tại Đường Lâm.

Nghiên cứu đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại Đường Lâm.

Đề xuất phương hướng và giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại Làng cổ Đường Lâm một cách hiệu quả hơn.

3. Phạm vi và đối tượng nghiên cứu đề tài: ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

a. Phạm vi:

Về nội dung: Đề tài tập trung tìm hiểu về đề tài về hình thức du lịch cộng đồng , từ đó đánh giá tiềm năng và thực trạng du lịch ở Đường Lâm, từ đó đưa ra biện pháp áp dụng du lịch cộng đồng vào làng cổ Đường Lâm.

Không gian nghiêncứu: Đề tài khóa luận chủ yếu tập trung nghiên cứu làng cổ Đường Lâm thuộc địa phận thị xã Sơn Tây, Hà Nội, là một điểm du lịch nổi tiếng của Hà Nội. Đây là một ngôi làng cổ đầu tiên của Việt Nam được Nhà nước trao bằng Di tích Lịch Sử Văn Hóa Quốc gia năm 2006.

Về thời gian: Đề tài nghiên cứu làng cổ Đường Lâm gắn liền với quá trình phát triển du lịch, chủ yếu trong giai đoạn 2012- 2017, với định hướng phát triển đến năm 2020.

b. Đối tượng nghiên cứu:

Du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm

4. Kết quả nghiên cứu đã đạt được ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Tìm hiểu và tổng quan đươc những lí luận cơ bản của du lịch cộng đồng.

Phân tích, đánh giá điều kiện phát triển và thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm.

Đề xuất giải pháp giải quyết thực trạng bất cập và nâng cao hiệu quả du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm, Hà Nội.

5. Phương pháp nghiên cứu

Trong khóa luận em đã sử dụng nhiều phương pháp nghiên cứu trong đó có một số phương pháp chủ yếu là:

Phương pháp thu thập và xử lí thông tin: Tìm các thông tin, số liệu tại các Sở du lịch Hà Nội, Công ty du lịch, Ủy ban nhân dân thị xã Sơn Tây… Sau đó tiến hành chọn lọc, sắp xếp ý. Phương pháp này nhằm thu thập những thông tin và các vấn đề có liên quan và xử lí chúng để đưa ra nhận xét và kết luận. Các tài liệu có được từ trong khóa luận trước đó, các bài viết, báo cáo, và các phương tiện thông tin đại chúng: báo, giấy, webstie, tivi…

Phương pháp thống kê, phân tích, đối chiếu, xử lý thông tin, số liệu về thực trạng, tình hình hoạt động du lịch tại làng cổ Đường Lâm. Qua đó sử dụng phương pháp tổng hợp thông tin để đưa ra những giải pháp nhằm khai thác hiệu quả các giá trị ở làng cổ Đường Lâm để phát triển du lịch cộng đồng.

6. Bố cục của đề tài

Ngoài phần mở đầu,kết luận, phụ lục và tài liệu tham khảo phần nội dung đề tài gồm 3 chương:

Chương 1: Tổng quan về du lịch cộng đồng.

Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm.

Chương 3: Một số giải pháp phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm.

Có thể bạn quan tâm:

→  DỊCH VỤ NHẬN VIẾT KHOÁ LUẬN TỐT NGHIỆP

CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN VỀ DU LỊCH CỘNG ĐỒNG

1.1. Một số vấn đề cơ bản về du lịch cộng đồng ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

1.1.1. Khái niệm về du lịch cộng đồng

Theo từ điển bách khoa Việt Nam cộng đồng được hiểu là “một tập đoàn người rộng lớn có những dấu hiệu, những đặc điểm xã hội nói chung về thành phần giai cấp, về nghề nghiệp, về địa bàn cư trú. Cũng như những cộng đồng xã hội bao gồm một dòng giống, một sắc tộc, một dân tộc” như vậy khi nói đến cộng đồng xã hội bao gồm mang tính khái quát nổi bật: kinh tế, địa lý, ngôn ngữ, văn hóa, tín ngưỡng, tôn giáo và lối sống.

Thuật ngữ du lịch cộng đồng xuất phát từ hình thức du lịch làng bản ngay từ những năm 1970 ở các nước khu vực châu Âu, châu Mỹ, châu Úc. Khách du lịch tham quan các làng bản, tìm hiểu về đời sống sinh hoạt, phong tục, tập quán, khám phá hệ sinh thái của vùng núi non.Các cuộc du ngoại này thường được tổ chức tại các vùng rừng núi, mang tính chất hoang dã, địa hình hiểm trở, thưa dân cư, các điều kiện đi lại, sinh hoạt gặp rất nhiều khó khăn. Những lúc như vậy du khách rất cần có sự giúp đỡ của người dân bản địa như: dẫn đường khỏi bị lạc, nơi ở qua đêm, ăn uống,…khách du lịch thường gọi những chuyến đi đó là những chuyến đi có sự hỗtrợ của người dân địa phương. Đây chính là tiền đề cho phát triển loại hình du lịch cộng đồng.

Năm 1980,một tổ chức philợi nhuận về trao đổi giáo dục có tên gọi “Cultural Homestay International” được thành lập để giúp những người có nhu cầu, đặc biệt là cá cựu học sinh đến được với các gia đình ưng ý và qua đó xúc tiến, thúc đẩy tinh thần đoàn kết, tăng cường sự hiệu biết quốc tế thông qua các chương trình homestay của họ.

Năm 1995 du lịch cộng đồng homestay tại Viêt Nam đã bắt đầu được khá nhiều người chú ý kể từ khi có chương trình tàu Thanh niên Đông Nam Á cập cảng lần đầu tiên ở thành phố Hồ Chí Minh.

Năm 1997, du lịch cộng đồng dần phát triển ở nước ta. Trải qua hơn một thập kỷ phát triển du lịch cộng đồng đã dần khẳng định được vị thế của mình trong nghành du lịch nước nhà.

Năm 2006 du lịch cộng đồng tại Việt Nam bắt đầu trở thành loại hình loại hình được đông đảo khách du lịch tham gia, mang lại lợi ích kinh tế khá cao cho ngành du lịch nước nhà và khẳng định được nhiều địa điểm du lịch được thiên nhiên ưu đãi vô cùng.

Ngày nay,du lịch cộng đồng được chính phủ, tổ chức kinh tế, xã hội của các nước quan tâm nên đã trở thành lĩnh vực mới trong ngành công nghiệp du lịch. Bên cạnh đó, các tổ chức phi chính phủ tạo điều kiện giúp đỡ và tham gia vào lĩnh vực này nên từ đó các vấn đề xã hội, văn hóa, chính trị, kinh tế và sinh thái trong khuôn viên làng bản trở thành những tác nhân tham gia cung cấp dịch vụ cho du khách và thu hút được nhiều khách du lịch đến tham quan, người dân bản xứ cũng có thu nhập từ việc cung cấp dịch vụ và phục vụ khách tham quan nên loại hình du lịch dựa vào cộng đồng ngày càng được phổ biến và có ý nghĩa không chỉ đối với khách du lịch, chính quyền sở tại mà với cả cộng đồng dân cư. Trên thực tế, du lịch cộng đồng đã được hình thành, lan rộng và tạo ra sự phong phú, đa dạng cho các loại sản phẩm dịch vụ cho các loại khách du lịch vào thập kỷ 80 và 90 của thế kỷ trước tại các nước trong khu vực châu Phi, châu Úc, châu Mỹ La Tinh, du lịch cộng đồng được phát triển thông qua các tổ chức phi chính phủ. Hội thiên nhiên Thế Giới Du lịch dựa vào cộng đồng bắt đầu phát triển mạnh ở các nước châu Á, trong đó có các nước trong khu vực ASEAN: Indonesia, Philipin, Thái Lan, các nước khu vực khác: Ấn Độ, Nepal, Đài Loan. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Đến nay, một số nhà nghiên cứu đã đưa ra các định nghĩa cho thuật ngữ du lịch cộng đồng:

Nhà ngiên cứu Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas đưa ra định nghĩa: “Du lịch cộng đồng là một hình thái du lịch trong đó chủ yêu là người dân địa phương đứng ra phát triển và quản lý. Lợi ích kinh tế có được từ du lịch sẽ đọng lại nền kinh tế địa phương” (Nicole Hausle và Wollfgang Strasdas, Community Based Sustainable Tourism A Reader,2000). Quan niệm nên nhấn mạnh đến vai trò chính của người dân địa phương trong vấn đề phát triển du lịch ngay trên địa bàn họ quản lý.

Năm 1997, Tổ chức du lịch Thái Lan – Responsible Ecological Social tour một tổ chức du lịch chịu trách nhiệm về du lịch sinh thái – xã hội đã đưa ra định nghĩa. “Du lịch cộng đồng là phương thức tổ chức du lịch đề cao sự bền vững về môi trường và văn hóa xã hội. Du lịch cộng đồng do cộng đồng sở hữu quản lý tài nguyên các hoạt động du lịch. Vì sự phát triển của cộng đồng và cho phép du khách nâng cao nhận thức cũng như học hỏi từ cộng động về những giá trị văn hóa, cuộc sống đời thường của họ.

Theo quỹ bảo tồn thiên nhiên thế giới WNF, 2004 : “Du lịch cộng đồng là loại hình du lịch mà ở đó cộng đồng địa phương có sự khảo sát và tham gia chủ yếu và sự phát triển và quản lý hoạt động du lịch và phần lớn lợi nhuận thu được từ hoạt động du lịch cho cộng đồng” (nguồn Aigul, Shadanbekova, Maketing Speacialist, Commuty- basedtonsism guidebook, 2004).

Còn quỹ quốc tế bảo vệ thiên nhiên (WWF) định nghĩa :“Du lịch dựa vào cộng đồng là một hình thức du lịch mà cộng đồng địa phương làm chủ, tham gia vào quá trình phát triển và quản lí, và phần lớn các lợi ích sẽ thuộc về cộng đồng”. Theo định nghĩa này, cộng đồng được nêu bật lên với vai trò tuyệt đối trong du lịch dựa vào cộng đồng. Họ cũng chính là nhân tố thu lợi trực tiếp từ hoạt động du lịch.

Đối với Việt Nam, vấn đề phát triển du lịch cộng đồng đầu tiên được đưa ra tại   Hội thảo được tổ chức tại Hà Nội, các chuyên gia trong và ngoài nước đã thảo luận các vấn đề cơ bản về loại hình du lịch cộng đồng tại Việt Nam. Theo Viên Nghiên cứu phát triển nông thôn và Miền Núi (thuộc hội Khoa học kĩ thuật Lâm nghiệp Việt Nam) đưa ra định nghĩa du lịch dựa vào cộng đồng “Là hoạt động du lịch nhằm bảo tồn tài nguyên du lịch tại các điểm du lịch đông khách vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn. Du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia của người dân địa phương trong du lịch và cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng”. Theo quan điểm của Viện Nghiên cứu phát triển MiềnNúi, định nghĩa này cho ta thấy cái nhìn rộng hơn về du lịch dựa vào cộng đồng, hiểu được mục tiêu của hình thức du lịch này.

Mô hình trên cho thấy mối quan hệ giữa nguồn tài nguyên và hành động của cộng đồng,có ý nghĩa rất lớn trong phát triển du lịch cộng đồng. Có tài nguyên du lịch là đối tượng thu hút khách du lịch tạo thu nhập cho cộng đồng và khách họ tham gia các hoạt động bảo tồn, bảo vệ tài nguyên môi trường và ngược lại tài nguyên môi trường tốt sẽ hấp dẫn khách du lịch tới tham quan. Nói một cách khác đây là vòng tuần hoàn trong phát triển du lịch cộng đồng.

Từ viêc nghiên cứu các định nghĩa về du lịch dựa vào cộng đồng, tiến sỹ Võ Quế đã rút ra định nghĩa Phát triển du lịch dựa vào cộng đồng trong cuốn sách của mình: “Du lịch dựa vào cộng đồng là phương thức phát triển du lịch trong đó cộng đồng dân cư tổ chức cung cấp các dịch vụ để phát triển du lịch, đồng thời tham gia bảo tồn tài nguyên thiên nhiên và môi trường, đồng thời cộng đồng được hưởng quyền lợi về vật chất và tinh thần từ phát triển du lịch và bảo tồn tự nhiên”. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Tiến sĩ – Kiến trúc sư Dương Đình Hiển – Viện nghiên cứu phát triển du lịch phân tích về du lịch cộng đồng: “Chúng ta phải hiểu ý nghĩa của du lịch cộng đồng ở cả hai khía cạnh. Thứ nhất là khai thác được các giá trị văn hóa bản địa. Thứ hai là tạo được công ăn việc làm,cải thiện thu nhập, nâng cao được đời sống của cộng đồng và có ý nghĩa trong xóa đói giảm nghèo. Để thành công được điều này, chúng ta phải quan tâm đến lợi ích cộng đồng đầu tiên, từ đó phát huy giá trị văn hóa bản địa để phục vụ du khách”.

Vì sự phát triển du lịch bền vững dài hạn, du lịch cộng đồng khuyến khích sự tham gia cộng đồng địa phương trong du lịch và có cơ chế tạo các cơ hội cho cộng đồng. Du lịch cộng đồng là một quá trình tương tác giữa cộng đồng và khách du lịch mà sự tham gia có ý nghĩa của cả hai phía, mang lại lợi ích, bảo tồn cho cộng đồng địa phương. Như vậy du lịch cộng đồng nhấn mạnh đến tính tự chủ. Vai trò chủ thể tham gia hoạt động du lịch cộng đồng địa phương. Khái niệm du lịch cộng đồng không đồng nghĩa với du lịch sinh thái. Du lịch cộng đồng nhấn mạnh đến chủ thể tham gia vào quy hoạch quản lý, quyết định các vấn đề phát triển du lịch, bảo vệ, khai thác tài nguyên và hướng từ hoạt động du lịch là cộng đồng đia phương. Trong khi đó du lịch sinh thái nhấn mạnh đến quản lý khai thác, bảo tồn tài nguyên có trách nhiệm nhưng không rõ chủ quyền sở hữu tài nguyên du lịch, cộng đồng địa phương được tham gia vào các hoạt động du lịch nhưng không trực tiếp quyết định phát triển du lịch, tham gia một cách bị động, cộng đồng địa phương chỉ được chia sẻ lợi ích từ hoạt động du lịch.

1.1.2. Đặc điểm của du lịch cộng đồng

Du lịch cộng đồng là một loại hình du lịch rất mới mẻ. Ở Việt Nam loại hình du lịch này rất được quan tâm và chú ý phát triển trong những năm gần đây. Du lịch cộng đồng được coi là hướng đi tốt ở Việt Nam, đặc biệt là ở vùng nông thôn, vùng núi, nơi có đồng bào dân tộc thiểu số sinh sống, đời sống nhân dân còn gặp nhiều khó khăn thì hoạt động du lịch sẽ từng bước cải thiện cuộc sống, tạo sinh kế mới, tạo thêm công ăn cho nhân dân. Từ đó có thể nhận thức một số đặc điểm của du lịch cộng đồng như sau:

Du lịch cộng đồng là một loài hình du lịch mới khác với các loại hình du lịch khác bởi cộng dồng dân cư là những người được tham gia ngay từ đầu, từ khâu nghiên cứu, lập kế hoạch phát triển, triển khai các hoạt động kinh doanh du lịch, cung cấp các sản phẩm du lịch dịch vụ cho khách du lịch.Họ giữ vai trò chủ đạo phát triển và duy trì các dịch vụ. Hoạt động này tính đến hiệu quả và sự điều tiết của các quy luật kinh tế thị trường.

Địa điểm tổ chức phát triển du lịch dựa vào du lịch cộng đồng diễn   ra tại nơi cư trú hoặc gần nơi cư trú của cộng đồng địa phương. Đây là những khu vực có tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhận văn phong phú, hấp dẫn có độ nhạy cảm về đa dạng sinh học,chính trị, văn hóa, xã hội và đang bị tác động của con người.

Điều kiện tiên quyết là khu du lịch hay điểm du lịch đó phải có nguồn tài nguyên du lịch đặc trưng, hấp dẫn và còn khá nguyên vẹn giá trị.

Các dịch vụ do người dân địa phương cung cấp có tính đặc trưng, đặc thù của địa phương cao và ít mang tính chuyên môn hóa.

Cộng đồng dân cư phải là người sinh sống và làm việc trong hoặc liền kề các điểm tài nguyên du lịch. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Ngoài việc phát triển du lịch, cộng đồng dân cư còn có trách nhiệm tham gia bảo vệ tài nguyên môi trường nhằm hạn chế tác động tiêu cực chinh từ việc khai thác tài nguyên du lịch của cộng đồng và hoạt động của du khách.

Khách du lịch thường không đòi hỏi dịch vụ mang tính tiện nghi hay chất lượng cao.

Khách du lịch thường có nhận thức cao, thích khám phá, tìm hiểu những điều mới lạ, những giá trị nguyên bản.

Du lịch cộng đồng đóng vai trò quan trọng trong công cuộc xóa đói giảm nghèo. Điều này được thể hiện ở du lịch cộng đồng có tác động tích cực đối với việc chuyển đổi cơ cấu kinh tế, ngành nghề và lao động. Trước khi tham gia du lịch cộng đồng người dân chủ yếu sinh sống trong điều kiện kinh tế cung tự cấp, nghề chính của họ là sản xuất nông nghiệp.

Khi du lịch cộng đồng phát triển người dân có điều kiện và các ngành nghề kinh truyền thống được duy trì và phát triển trở thành sản phẩm du lịch độc đáo. Từ đó việc tiêu thụ những sản phẩm tại chỗ được dễ dàng hơn. Thu nhập từ dịch vụ cho thuê phòng, bán hàng, chở khách, biểu diễn văn nghệ…giúp cải thiện cuộc sống của nhân dân. Cùng với cơ cấu ngành nghề lao dộng cũng có sự thay đổi, hình thành của các công việc mang tính du lịch mới.

Du lịch cộng đồng là hoạt động thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch và được hưởng lợi từ hoạt động này nên đây là loại hình có tính chuyên môn thấp. Cộng đồng địa phương mời tham gia vào hoạt động du lịch nên chuyên môn nghiệp vụ và trình độ ngoại ngữ còn hạn chế, gặp khó khăn trong việc giao tiếp và hướng dẫn khách nước ngoài.

Đặc điểm lớn nhất của du lịch cộng đồng là người tổ chức du lịch và cư dân bản địa khai thác cái sẵn có của cộng đồng địa phương đề kinh doanh du lịch.

Phát triển du lịch cộng đồng phải đảm bảo sự công bằng trong phân chia quyền lợi thu nhập cho các bên tham gia.

Phát triển du lịch cộng đồng góp phần làm đa dạng hóa các ngành kinh tế, trong khi vẫn duy trì và phát triển các ngành kinh tế truyền thống.

Du lịch cộng đồng còn bao gồm yếu tố trợ giúp, tạo điều kiện cho bên tham gia trong đó vai trò của các tổ chức chính phủ, phi chính phủ,các cấp quản lý nhà nước.

Chính do những đặc điểm trên hệ thống các sản phẩm và dịch vụ của loại hình du lich cộng đồng khá đa dạng và có những đặc trưng khác nhau ở mỗi khu vực du lịch cộng đồng riêng biệt. Điều này phụ thuộc vào đặc điểm kinh tế, xã hội, văn hóa của dân cư tại khu du lịch.

1.1.3. Vai trò của loại hình du lịch cộng đồng ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Ngành du lịch muốn khai thác tài nguyên, phát triển hoạt động du lịch tại địa phương thì lợi ích của người dân nơi đây cũng phải được đảm bảo. Chính vì thế, một trong những nguyên tắc để phát triển bền vững là không thể tách rời cộng đồng địa phương tại điểm du lịch đó ra khỏi hoạt động du lịch. Bởi chính họ mới là chủ nhân của những vùng đất, là người chủ thực sự hiểu rõ, sống cùng, gắn bó và dựa vào thiên nhiên và văn hóa bản địa. Họ là những người bảo vệ, tôn tạo các giá trị văn hóa bản địa và tự nhiên của nơi diễn ra hoạt động du lịch.

Nhìn từ góc độ kinh tế và môi trường, nếu không có sự tham gia của người dân, nguồn tài nguyên, làm cơ sở cho du lịch, sẽ có thể dần dần bị hủy hoại và không đầu tư được nữa.

Đối với cộng đồng địa phương, ít ai hiểu rõ về du lịch sinh thái, du lịch cộng đồng như thế nào. Hầu hết, vì cuộc sống mưu sinh và vô tình họ trở thành một trong những phần quan trọng của hoạt động du lịch.

Du lịch cộng đồng góp phần xóa đói giảm nghèo, tạo việc làm cho cộng đồng địa phương, cải thiện đời sống

Cải thiện cơ sở vật chất kĩ thuật, phát triển kinh tế địa phương, nâng cấp các di sản văn hóa, khuyến khích phát triển kinh tế – xã hội, giao lưu văn hóa và tăng cường hiểu biết lẫn nhau giữa các khu vực, các quốc gia, thông qua qua đó góp phần bảo vệ và giữ gìn hòa bình thế giới.

Bảo tồn các giá trị tự nhiên, môi trường tại địa phương

Việc huy động tối đa sự tham gia của người dân địa phương vào các hoạt động du lịch sẽ tạo thêm việc làm, tăng thu nhập cho cộng đồng địa phương từ đó cuộc sống của người dân sẽ ít bị phụ thuộc hơn vào khai thác tự nhiên.

Để người dân nhận thấy lợi ích của việc bảo vệ các nguồn tài nguyên để dễ dàng quy trách nhiệm đối với mỗi thành viên. Đòi hỏi việc huy động sự tham gia của cộng đồng địa phương không chỉ dừng lại ở những công việc trên mà cần đánh giá vai trò của họ lên tầm cao mới, ngang bằng, bởi những lý do: Người dân địa phương là người sinh ra và lớn lên tồn tại trên vùng đất, họ sẽ là người hiểu rõ hơn ai hết về mảnh đất đó. Từ những kinh nghiệm, học hỏi, chia sẻ lẫn nhau giữ người dân địa phương và người làm du lịch, sẽ cùng hoạch định, có những giải pháp có thẻ can thiệp thích hợp vì lợi ích chung.

Trong quá trình khai thác tài nguyên du lịch, không chỉ đơn thuần tồn tại mối quan hệ hai chiều là giữa người làm du lịch và cộng đồng địa phương mà có rất nhiều mối quan hệ giữa các bên tham gia: giữa người dân địa phương với các nhà quản lý, người dân địa phương với khách du lịch, người dân với người làm du lịch, các công ty du lịch cùng khai thác trên một địa bàn hay nhiều địa bàn khác nhau và ngay với những người dân với nhau…Nếu các quan hệ này được phối hợptốt sẽ tạo nên một sức mạnh tổng hợp thúc đẩy sự phát triển du lịch. Nhưng nếu không làm tốt sẽ có rất nhiều mâu thuẫn xảy ra. Chính vì thế, để điều hòa được các mối quan hệ đó là một vấn đề quan trọng bởi nó là cơ sở để cho du lịch bền vững phát triển.

Du lịch cộng đồng góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên và văn hóa bao gồm sự đa dạng sinh học, tài nguyên nước, rừng, bản sắc văn hóa,…du lịch cộng đồng góp phần phát triển kinh tế địa phương thông qua việc tăng doanh thu và những lợi ích khác cho cộng đồng. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Du lịch cộng đồng có sự tham gia ngày càng đông đảo và tích cực của cộng đồng địa phương, mang lại cho du khách một sản phẩm du lịch có trách nhiệm đối với môi trường xã hội.Cóthể nói du lịch cộng đồng mang lại rất nhiều lợi ích về mọi mặt và có vai trò rất lớn đối với nhiều lĩnh vực như: Kinh tế, chính trị, văn hóa, an ninh quốc phòng, tài nguyên môi trường của quốc gia, khu vực và chính bản thân cộng động.

Đối với công tác bảo tồn tài nguyên: Góp phần bảo vệ vững chắc tài nguyên thiên nhiên, môi trường sinh thái. Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa vật thể và phi vật thế của cộng đồng. Bảo tồn và phát huy các giá trị bản sắc văn hóa vật thể và phi vật thế của cộng đồng

Đối với du lịch: Tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm du lịch của một vùng, một quốc gia. Tạo ra sự đa dạng trong sản phẩm du lịch của một vùng, một quốc gia. Góp phần thu hút khách du lịch. Góp phần bảo vệ tài nguyên thiên nhiên nói chung và tài nguyên du lịch nói riêng.

Đối với cộng đồng: Mang lại lợi ích kinh tế cho các thành viên trực tiếp tham gia cung cấp dịch vụ cho du khách. Đồng thòi những thành viên khác của cộng đồng cũng được hưởng lợi ích từ sự tái đầu tư của nguồn doanh thu du lịch vào việc hỗ trợ du lịch vào việc hỗ trợ, nâng cấp và phát trển cơ sở hạ tầng xã hội, góp phần thay đổi kinh tế xã hội của đối phương.

Như vậy có thể khẳng định việc phát triển Du lịch cộng đồng có một ý nghĩa rất lớn đối với mọi mặt của xã hội. Tất nhiên bên cạnh những lợi ích đó nó cũng gây ra một số tác hại,ảnh hường xấu đối với cộng đồng địa phương và tài nguyên du lịch địa phương. Nhưng dù sao chúng ta không thể không phủ nhận tầm quan trọng đặc biệt của phát triển du lịch cộng đồng trên nhiều khía cạnh.

1.2. Điều kiện phát triển du lịch cộng đồng ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

1.2.1. Điều kiện về tài nguyên du lịch

Tài nguyên du lịch đa dạng, phong phú và mang tính đặc trưng cao

Đây là điều kiện có ý nghĩa quyết định đến phát triển du lịch dựa vào cộng đồng. Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cách mạng, giá trị nhân văn, công trình lao động sáng tạo của con người có thể sử dụng nhằm thoản mãn nhu cầu du lịch, là yếu tố cơ bản đề hình thành các điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch. Theo luật du lịch Việt Nam năm 2017: “Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, yếu tố tự nhiên và các giá trị văn hóa làm cơ sở để hình thành sản phẩm du lịch, khu du lịch, điểm du lịch, nhằm đáp ứng nhu cầu du lịch”. Như vậy, ngay trong định nghĩa của tài nguyên du lịch đã cho thấy tầm quan trọng của nó. Nó đươc xem như tiền đề phát triển của bất cứ loại hình du lịch nào.Thực tế cho thấy, tài nguyên du lịch càng phong phú hấp dẫn bao nhiêu, càng đặc sắc bao nhiêu thì sức hấp dẫn và hiệu quả hoạt động du lịch càng cao bấy nhiêu.

Tài nguyên du lịch bao gồm tài nguyên du lịch tự nhiên và tài nguyên du lịch nhân văn:

Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm các yếu tố hợp phần tự nhiên, các hiện tượng tự nhiên và quá trình biến đổi của chúng, tạo nên các điều kiện thường xuyên tác động đến sự sống và hoạt động của co người được sử dụng vào mục đích du lịch. Tài nguyên du lịch tự nhiên bao gồm cảnh quan thiên nhiên, các yếu tố địa chất địa mạo, khí hậu, thủy văn, hệ sinh thái và các yếu tố tự nhiên khác có thể được sử dụng cho mục đích du lịch (Cảnh đep, núi, sông, rừng, biển, ao, hồ, đồi, gò, bãi…) tạo nên những nét riêng biệt hấp dẫn du khách phục vụ mục đích phát triển du lịch.

Tài nguyên du lịch nhân văn là nhóm tài nguyên du lịch có nguồn gốc nhân tạo, nghĩa là do con người sáng tạo ra, bao gồm toàn bộ những sản phẩm có giá trị về vật chất cũng như tinh thần do con người sáng tạo ra có giá trị phục vụ du lịch. Tài nguyên du lịch nhân văn gồm các di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được sử dụng vào mục đích du lịch: Truyền thống văn hóa như các phong tục, tập quán, các lễ hội, các yếu tố văn hóa, văn nghệ dân gian, các di tích lịch sử, cách mạng, khảo cổ, kiến trúc và các công trình sáng tạo của con người.

Du lịch cộng đồng được xác lập trên một địa điểm xác định gắn với các giá trị tài nguyên sẵn có của nó, là sự hòa quyện của các giá trị tự nhiên và nhân văn. Có thể nói nếu không có tài nguyên du lịch thì không thể phát triển, du lịch luôn là nền tảng cho sự phát triển du lịch địa phương.

1.2.2. Điều kiện về lao động du lịch và cộng đồng địa phương ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Lao động là nhân tố trực tiếp tạo ra sản phấm du lịch và quyết định tới chất lượng sản phẩm du lịch. Lao động đóng vai trò quan trọng trong sự phát triển kinh tế – xã hội, nó là một trong những nguồn lực thúc đẩy quá trình công nghiệp hóa- hiện đại hóa đất nước. Trong các nguồn lực, lao động có vai trò có quyết định nhất. Vai trò quyết định của lao động được thể hiện ở chỗ: các nguồn lực như vốn, tài nguyên thiên nhiên không có sức mạnh tự thân, chúng sẽ bị cạn kiệt dần và chỉ phát huy tác dụng khi được kết hợp với các nguồn lực của con người. Đối với lao động, nó không bao giờ cạn kiệt ngược lại nó có khả năng tự phục hồi, tự tái sinh, tự phát triển. Lao động là nhân tố cơ bản quyết định quá trình sử dụng, khai thác, tái tạo, phát triển các nguồn nhân lực khác. Con người là yếu tố chính quyết định thành công chung của bất kỳ một đơn vị, tổ chức nào. Riêng trong công nghiệp dịch vụ nói chung, ngành du lịch nói riêng, vai trò của lao động lại càng quan trọng hơn. Trong ngành công nghiệp du lịch, phần lớn lao động tiếp xúc trực tiếp với khách hàng và họ tham gia thực hiện các công việc nhằm đạt mục tiêu của đơn vị. Chất lượng dịch vụ được cung cấp cho khách hàng không chỉ phụ thuộc vào trình độ, kỹ năng tay nghề của người lao động mà còn phụ thuộc vào thái độ làm việc của họ. Chính vì vậy, du lịch muốn tồn tại và phát triển cần phải có một đội ngũ lao động mạnh.

Cộng đồng địa phương có vai trò vô cùng quan trọng với sự phát triển của du lịch địa phương. Nếu không có sự tham gia của cộng đồng địa phương thì hoạt động du lịch khó có thể diễn ra được. Đặc biệt là trong   phát   triển du lịch cộng đồng thì sự tham gia của của cộng đồng địa phương là yếu tố quyết định đến sự phát triển du lịch, người dân địa phương là chủ thể tham gia vào hoạt động du lịch, trực tiếp phục vụ khách. Những trải nghiệm của du khách phụ thuộc vào chất lượng dịch vụ được cung cấp bởi chính những người dân địa phương. Muốn nâng cao và phát triển các loại hình du lịch cộng động thì cần thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào hoạt động du lịch sẽ góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm du lịch, thực hiện đc mục tiêu về kinh tế – xã hội trong phát triển du lịch cộng động.

1.2.3. Điều kiện về cơ sở vật chất kĩ thuật du lich – cơ sở hạ tầng ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Cơ sở vật chất kỹ thuật: Đóng một vai trò hết sức quan trọng trong quá trình tạo ra và thực hiện sản phẩm du lịch cũng như quyết định mức độ khai thác tiềm năng du lịch nhằm thỏa mãn nhu cầu của khách du lịch. Chính vì vậy nên sự phát triển của ngành du lịch bao giờ cũng gắn liền với việc xây dựng và hoàn thiện cơ sở vật chất kỹ thuật.Cơ sở vật chất kĩ thuật của ngành du lịch bao gồm hệ thống các nhà hàng, hệ thống cơ sở lưu trú, ăn uống, khu vui chơi giải trí, các điều kiện về cơ sở vật chất phục vụ cho nhu cầu bổ sung khác của du khách.

Đây là điều kiện rất quan trọng để phát triển du lịch bởi vì nhu cầu của du khách là nhu cầu tổng hợp. Ngày nay nhu cầu của du khách ngày càng cao, đòi hỏi cơ sở vật chất kĩ thuật ngày càng hoàn thiện.Tuy nhiên cơ sở vật chất của du lịch cộng đồng có một số đặc trưng khác biệt so với các loại hình du lịch khác. Do đối tượng khách tham gia vào các loại hình du lịch cộng đồng,là đối tượng khách mà có đặc trưng khác biệt so với loại khách thông thường. Ví dụ như khách tham gia vào loại hình du lịch cộng đồng học muốn trải nghiệm văn hóa, trải nghiệm cuộc sống, các giá trị tự nhiên nhiều hơn. Chính vì vậy nhu cầu tiện nghi của họ sẽ không cao như đối tượng khách khác như đối tượng kháchdulịch Mice. Chính vì vậy điều kiện cơ sở vật chất kĩ thuật   để phát triển du lịch cộng đồng cần thiết chính là cơ sở vật chất mà chính người dân địa phương họ có ví dụ như nhà ở, nhà nghỉ của chính người dân địa phương xây dựng nên, và những phương tiện vất chất của người dân địa phương sử dụng trong cuộc sống sinh hoạt lao động sản xuất hàng ngày. Chính những điều kiện về cơ sở vật chất như nhà ở của người dân địa phương, điều kiện phương tiện vật chất phục vụ sản xuất hàng ngày của họ chính là điều kiện cần thiết cho phát triển du lịch cộng đồng.

Cơ sở hạ tầng: Có vai trò đặc biệt với việc đẩy mạnh phát triển du lịch.

Mạng lưới và phương tiện giao thông vận tải: Du lịch gắn với việc di chuyển con người trên phạm vi nhất định. Điều này phụ thuộc chặt chẽ vào giao thông vận tải. Một đối tượng có thể có sức hấp dẫn đối với du lịch nhưng vẫn không thể khai thác được nếu thiếu yếu tố giao thông vận tải. Thôngqua mạng lưới giao thông thuận tiện, nhanh chóng du lịch mới trở thành một hiện tượng phổ biến trong xã hội. Mỗi loại giao thông có những đặc trưng riêng biệt.Giao thông là một bộ phận cơ sở hạ tầng kinh tế, nhìn chung, mạng lưới giao thông vận tải trên thế giới và từng quốc gia không ngừng được hoàn thiện. Điều đó đã giảm bớt thời gian đi lại, tăng thời gian nghỉ ngơi và du lịch.

Thông tin liên lạc: Một bộ phận quan trọng của cơ sở hạ tầng phục vụ du lịch: Nó là điều kiện cần để đảm bảo giao lưu cho khách du lịch trong nước và quốc tế.Trong hoạt động du lịch, nếu mạng lưới giao thông và phương tiện giao thông vận tải phục vụ cho việc đi lại của con người thì thông tin liên lạc đảm nhiệm việc vận chuyển các tin tức một cách nhanh chóng và kịp thời,góp phàn thực hiện mối giao lưu giữa các vùng trong phạm vi cả nước và quốc tế. Trong đời sống hiện đại nói chung, cũng như ngành du lịch không thể thiếu được các phương tiện thông tin liên lạc.

Các công trình cung cấp điện, nước, khách du lịch là những người rời khỏi nơi cư trú thường xuyên,…khi rời khỏi nơi cư trú thường xuyên đến một địa điểm khác, ngoài các nhu cầu về ăn, uống,ở, đi lại,…du khách còn có nhu cầu đảm bảo về điện,nước để cho quá trình sinh hoạt được diễn ra bình thường. Cho nên yếu tố điện,nước cũng là một trong những nhân tố quan trọng phục vụ trực tiếp việc nghỉ ngơi giải trí của khách.

1.2.4. Điều kiện về chính sách phát triển du lịch cộng đồng ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Chính sách phát triển du lịch là chìa khóa để phát triển du lịch. Những chính sách khuyến khích của nhà nước, của ngành sẽ là tiền đề thúc đẩy hoạt động du lịch phát triển, tạo điều kiện thuận lợi cho sự phát triển thị trường khách. Chẳng hạn chính sách miễn giảm, hỗ trợ thuế cho doanh nghiệp du lịch, tạo thuận lợi về thủ tục xuất nhập cảnh, đi lại, lưu trú và miễn giảm lệ phí visa cho khách quốc tế, tăng cường đầu tư các điểm đón và hỗ trợ thông tin cho khách ở cửa khẩu,cảng du lịch…Đối với phát triển du lịch cộng đồng thì các chính sách thu hút cộng đồng địa phương tham gia vào du lịch, cải thiện cơ sở hạ tầng, hỗ trợ công tác xúc tiến quảng cáo, và thu hút đầu tư hỗ trợ kinh phí cho địa phương trong bảo tồn tôn tạo các giá trị văn hóa, làng nghề và cải thiện môi trường sống là những chính sách quan trọng đề phát triển du lịch cộng đồng.

Điều kiện chính sách của địa phương về thu hút cộng đồng địa phương vào phát triển du lịch cộng đồng

Nguồn nhân lực là một yếu tố không thể thiếu trong phát triển du lich cộng đồng.Chủ thể của các hoạt động du lịch và nguồn lợi từ các hoạt động này là hướng vào cộng đồng.Vì vậy khi phát triển du lịch cộng đồng cần thực hiện các chính sách như: Du lịch cộng đồng phải đặt lợi ích của người dân lên trên. Đây chính là nguyên tắc cơ bản tạo ra sự khác biệt giữa du lịch cộng đồng và các loại hình du lịch khác. Cộng đồng dân cư đóng vai trò xuyên suốt trong hoạt động du lịch, vừa là chủ thể tham gia trực tiếp vào hoạt động du lịch, vừa là người quản lý, có trách nhiệm bảo tồn tài nguyên du lịch,và họ cũng chính là người trực tiếp thấy được sự biến đổi (tăng hay giảm) của hệ sinh thái, môi trường, văn hóa có được duy trì hay bảo tồn hay không hoàn toàn phụ thuộc vào ý thức của người dân nơi đây. Chính vì thế nên: Du lịch cộng đồng nên đặt lợi ích của người dân lên trên, khuyến khích người dân tham gia vào các hoạt động du lịch, và chia sẻ lợi ích cho việc cho thuê nhà nghỉ, làm hướng dẫn viên du lịch, sản xuất các mặt hàng truyền thống của địa phương,…và cần có sự quản lý và tổ chức các hoạt động lưu trú, ăn uống, hướng dẫn viên một cách bài bản chuyên nghiệp.

Chính sách đầu tư, xúc tiến, quảng bá và phát triển du lịch

Một đất nước, một địa phương có tài nguyên du lịch văn hóa đa dạng, phong phú nhưng không được sự quan tâm của Nhà nước, không nhận được sự đầu tư, không có các chương trình xúc tiến, quảng bá thì cũng không thể phát triển du lịch văn hóa được. Do đó trong quá trình phát triển du lịch văn hóa cần lựa chọn nhà đầu tư có năng lực thực hiện tốt các dự án quy hoạc, dự án bảo vệ, tồn tại tài nguyên du lịch. Ưu tiên đào tạo, tuyển dụng nguồn nhân lực du lịch là người địa phương. Đồng thời, cần phải chú trọng đẩy mạnh hơn nữa công tác xúc tiến, quảng bá hình ảnh của các điểm du lịch nước nhà thông qua các hội chợ, triển lãm du lịch trong và ngoài nước. Việc thực hiện đăng thông tin quảng cáo trên các phương tiện thông tin đại chúng, internet, các wesbite du lịch cần phải được thực hiện một cách thường xuyên và liên tục để mang lại hiệu quả cao nhất. Như vậy chính sách đầu tư, xúc tiến của nhà nước và chính quyền địa phương có vai trò quan trọng quyết định tới sự phát triển của du lịch văn hóa.

1.3. Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở một số nước trên thế giới và Việt Nam.

1.3.1. Kinh nghiệm phát triển du lịch ở 3 làng cổ khu tự trị Dân tộc Choang tỉnh Quảng Tây Trung Quốc ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Ngôi làng thứ nhất là Thôn Lý, thuộc huyện Vụ Nguyên, tỉnh Giang Tây. Đó là một ngôi làng lấy con suối rộng làm trục trung tâm. Tuy nhiên, chỉ một bên là có đường hẹp và hướng các ngôi nhà cổ đều quay ra mặt đường này. Chủ các ngôi nhà đều mở các cửa hàng bán cổ vật, đồ lưu niệm, thuốc bắc…Giữa con đường,đồng thời cũng là trung tâm làng, còn lại một ngôi đình kiến trúc gỗ, có niên đại thời Minh,là nơi hội họp.Đình có bình đồ vuông, hai lớp mái, không giống như đình làngViệt, không phải nơi thờ thành hoàng, mà chức năng chủ yếu là nơi họp và phân xử những vấn đề vi phạm hương ước của những người dân trong làng. Phía bên kia, cũng là những ngôi nhà quay mặt ra suối, nhưng không mở cửa hàng vì không có đường xá, đồng thời có những lối ngõ xương cá, và các ngôi nhà cổ quay mặt ra những lối ngõ hẹp ấy.Dường như địa hình núi chỉ cho phép làng được mở rộng không gian về phía này,theo đó những ngôi nhà trong ngõ không được hưởng lợi ích buôn bán. Nối hai bờ suối là những cây cầu nhỏ bằng đá hoặc gỗ,không cổ xưa như những ngôi nhà. Suối dù là mùa cạn nhưng nước vẫn đầy, sạch và trong, dân vẫn giặt giũ ở đôi bờ, cho dù, mỗi hộ gia đình đều có nước giếng khoan. Trên mặt nước có một số con thuyền nhỏ, dường như là phương tiện cho khách du lịch vãn cảnh chứ không phải là phương tiện giao thông của làng. Nhà ở Thôn Lý chủ yếu có niên đại thời Thanh muộn. Duy chỉ còn một ngôi, có quy mô khá lớn, do một quan lại hồi hưu về làng xây dựng, hưởng tuổi già vào những năm cuối đời, có niên đại Thanh sớm. Kiến trúc còn khá nguyên vẹn, nhưng nội thất không còn nhiều. Mặc dù vậy, người đến thăm vẫn cảm nhận về một kiến trúc nhà quan. Dường như gần 200 năm, ngôi làng không hề có một sự thay đổi nào về không gian và kiến trúc, bởi, áp lực tăng dân số đã được giải quyết bằng một quỹ đất,nằm cách xa vài ba cây số. Hai dãy phố giãn dân, có kiến trúc hai tầng, nhưng phong cách giống như nhà cổ, nay đã gần như một thị tứ.

Nằm giữa làng cổ và khu thị tứ là một bãi đỗ xe, một văn phòng của công ty du lịch làng, một cửa hàng lưu niệm, một hội trường tiếp đón khách. Công ty du lịch có trách nhiệm đưa đón từ bãi đỗ xe vào làng bằng xe điện và điều tiết ăn nghỉ của khách lữ hành vào các hộ,sao cho công bằng và hợp lý, với giá 30 nhân dân tệ ăn, nghỉ trong một ngày. Công ty du lịch làng còn làm thêm nhiều dịch vụ khác nữa để điều phối lợi ích giữa các nhà mặt đường và trong ngõ, theo đó, mỗi hộ trong cộng đồng làng cổ đều có trách nhiệm gìn giữ bản sắc văn hóa truyền thống của làng, kể cả vật thể và phi vật thể. Khoảng cách giữa thị tứ, công ty du lịch và làng cổ vừa đủ để thuận tiện cho khách tham quan, nhưng không phá vỡ cảnh quan, sinh thái, môi trường làng cổ. Rõ ràng,vấn đề quy hoạch và đặc biệt là đặt chủ thể cộng đồng dân cư quản lý, phát huy để đem lại lợi ích cho chính họ dường như là một bài học hay nhất từ ngôi làng cổ này.

Thôn Giang Loan, cùng huyện lại có một quan điểm bảo tồn, tôn tạo khác. Nếu như Thôn Lý bảo tồn nguyên gốc, thì Giang Loan bổ sung nhiều yếu tố mới. Đây là một ngôi làng có xuất xứ gốc nguồn từ dòng họ nhiều đời của Chủ tịch Giang Trạch Dân. Năm 2002, ông về thăm trường tiểu học của thôn, đồng thời thăm quê hương, theo đó, nhiều địa danh nơi ông đến đã được xây dựng nhiều kiến trúc mới. Đó là sân khấu, kỳ đài, đền thờ, nhà lưu niệm có phong cách kiến trúc giống với làng cổ quê ông, nằm kề cận. Tuy nhiên, tất cả những công trình ấy, giờ đây đã trở thành nơi sinh hoạt của cộng đồng dân cư, theo đó, đem lại lợi ích thiết thực cho chính cộng đồng nhỏ ấy, chứ không phải là nơi khói lạnh hương tàn, xuân thu nhị kỳ mới có người đến thăm viếng. Cùng một dãy phố như thị tứ nằm giữa đền thờ, nhà lưu niệm và ngôi làng cổ, nhưng cùng một phong cách kiến trúc được xây dựng vừa là để giãn dân, nhưng cũng là để tăng thêm sức hấp dẫn cho ngôi làng bằng hàng loạt các cửa hàng lưu niệm và dịch vụ nhỏ. Tuy nhiên, quần thể kiến trúc đại gia họ Giang hôm nay chỉ còn là một khu đất trống với một biển đề“Đây là ngôi nhà của dòng họ Chủ tịch Giang Trạch Dân”,cùng một bình đồ tầng tầng, lớp lớp kiến trúc, mới bị sập đổ năm 1982, vẫn còn nguyên tài liệu, có thể phục dựng lại được.Vậy nhưng,các nhà bảo tồn bảo tàng Trung ương cũng như của tỉnh không thực hiện việc phục dựng này. Đó có thể là ý chỉ của Chủ tịch, nhưng cũng có thể là quan điểm bảo tồn Trung Quốc, khi mà có thêm ngôi nhà ấy, không làm tăng thêm nhiều giá trị của ngôi làng cổ.Theo em, đây là một bài học rất đáng rút ra từ thực tế quần thể kiến trúc họ Giang, khi mà kiến trúc được cất lên, không có linh hồn, không có sức hấp dẫn, chi bằng để bia biển tưởng niệm, khiến khách viếng thăm thỏa trí tưởng tượng về một dòng họ nổi danh. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Thôn Hiếu Khởi cũng thuộc huyện Vụ Nguyên, lại là một mô hình khác nữa của bảo tồn,mà ngay từ khi du khách bước chân vào đầu thôn, đã cảm nhận được ngay, vì phải vượt qua một con dốc nhỏ lên một quả gò thấp, toàn là những cây cối và bụi rậm um tùm – chứng tích của một khu rừng tự nhiên còn sót lại. Con đường nhỏ, độc đạo vào thôn, băng qua cũng một cánh đồng nhỏ, đệm giữa làng và rừng, là Hiếu Khởi, với quy hoạch không thật là hay, giống như một chiếc thập ác. Nhà ở đây không đẹp và không cổ. Đường làng hẹp nhưng cũng có đôi ba cửa hàng bán cổ vật, ăn uống, làm đồ gỗ,… xem ra không mấy sầm uất như hai làng nêu trên. Cuối trục chính của làng, có hai lối rẽ phải và trái, dường như đó là xu thế phát triển chính cho các hộ dân cư, khiến cho chiều ngang – chiều thập ác, dài hơn chiều dọc. Trục ngang, một bên nhà dựa vào đồi, bên kia là tường dựa tường, tạo nên một quy hoạch có vẻ như thiếu trật tự, ngăn nắp. Phía trái của trục ngang, người dân mới dựng một ngôi nhà gỗ dài, cao, dùng làm “chợ” bán hàng lưu niệm. Chợ chiều, chỉ còn sót lại đôi hàng, bán những đồ chơi sản xuất từ gỗ trương và những lát gỗ trương có mùi thơm hắc cho du khách đem về như là một kỷ vật mang tính đặc sản của Hiếu Khởi. Đúng là đặc sản, bởi vượt qua chợ này là một rừng cây trương, có tuổi vài trăm năm. Cây được bảo vệ nghiêm ngặt nhất, trên etiket ghi 1000 năm, được bao quanh rào sắt thấp, lát cuội tròn, có ghế đá cho du khách hóng mát và chiêm ngắm. Vậy là, những nhà bảo tồn Trung Quốc muốn “thăng hoa” ngôi làng để cư dân ở đó bảo vệ rừng trương cổ thụ.Có thể khẳng định như vậy, bởi di tích cổ xưa nhất của làng thuộc thời Minh, TK XV, XVI là hai khẩu giếng đá nằm liền kề nhau, một để rửa gầu, một là để cấp nước. Giếng hiện nay vẫn dùng, dù dân đã có giếng khoan. Vậy là, để bảo tồn một khu rừng cổ, người ta đã phải đặt cộng đồng dân cư liền kề khai thác cái họ sở hữu (nhà và làng), không nhiều giá trị văn hóa, di sản và tôn vinh nó như một điểm đến của du lịch, giúp nguồn thu cho dân khỏi phá rừng, lấy gỗ. Khi chúng tôi đến thăm làng, một vài hạng mục được xây dựng theo quy hoạch trước, đang bị dỡ bỏ, hoặc làm lại, vì sự thiếu thận trọng và bất cập. Đó là một thái độ nghiêm túc, cầu thị của những người quản lý và những người làm quy hoạch.Có thể nói, với cách ứng xử với ba ngôi làng ở Giang Tây, đây đó trong chi tiết, sẽ còn nhiều điều phải bàn, song, xét về hiệu quả, theo em, đó là những mẫu hình phát triển du lịch cộng đồng thành công.

1.3.2. Kinh nghiệm phát triển du lịch cộng đồng ở Làng rau Trà Quế Hội An

Có thể xem Làng rau Trà Quế là nơi hình thành mô hình du lịch cộng đồng đầu tiên ở Hội An. Qua 8 năm phát triển mô hình này, làng rau Trà Quế không chỉ là thương hiệu nổi tiếng về làm rau sạch chất lượng cao mà đã trở thành điểm đến hấp dẫn đối với du khách trong và ngoài nước. Làng rau Trà Quế, xã Cẩm Hà, cách trung tâm phố hoài chừng 3 km. Vùng đất Trà Quế được hình thành cách đây hơn 300 năm, được bao bọc bởi con sông Đế Võng và Đầm Trà Quế. Những cư dân đầu tiên đặt chân lên vùng đất này sống bằng nghề chài lưới ven sông,nhận ra sự thuận lợi của điều kiện tự nhiên nên đã hình thành làng trồng rau sử dụng màu mỡ do rau đem lại. Không cần phân bón hóa học, cây rau sống trên tơi xốp quyện với rong hóa mùn mà lên mươn mướt, tạo nên sắc thái riêng cho rau Trà Quế.

Cho đến nay Trà Quế có hơn 220 hộ làm nghề nông nghiệp, trong đó có 130 hộ chuyên trồng rau luân canh và xen canh trên diện tích 40 ha, bây giờ đời sống của người dân đã khá hơn nhiều trước. Từ xưa đến nay, làng rau Trà Quế nổi tiếng vì có trên 20 chủng loại rau ăn lá và gia vị, đặc biệt là có nhiều loại rau không nơi nào thơm ngon bằng như húng, quế, tía tô,… già trẻ, gái trai ai nấy cũng vui tươi, phấn chấn. Bà con nông dân ở Trà Quế cho biết,tuy làm ruộng là chính nhưng thấy khách du lịch tới thăm quan, quay phim, chụp ảnh nhiều là họ vui lắm vì du khách đến đông là thu nhập của bà con tăng lên. Tại làng rau Trà Quế có chừng gần mấy chục hộ gia đình vừa trồng rau sạch, vừa kinh doanh hình thức “ homestay” – cho du khách Việt hay nước ngoài tham gia vào việc trồng rau sạch cùng nông dân. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Rau xanh Trà Quế trước hết phải “sạch” từ khâu chọn đất và hệ thống nước tưới không bị ô nhiễm. Đất được tăng độ mùn và tơi xốp bằng các loại phân chuồng để hoai, phân vi sinh chế biến từ thảo mục. Cách trồng và chăm sóc truyền thống được được người người làng rau Trà Quế áp dụng với tiến bộ khoa họ kỹ thuật để sản xuất rau sạch theo quy trình khép kín. Nhờ vậy mà không ảnh hưởng đến môi trường, đến người trồng rau và đặc biệt là không ảnh hưởng trực tiếp đến người tiêu dùng. Các hộ dân đã biết cách kết hợp với các công ty lữ hành dẫn khách đến thăm quan mô hình rau sạch của mình nhằm tăng thêm thu nhập từ nghề trồng rau.

Khi nhu cầu khách thăm quan làng rau Trà Quế đã trở thành thực tế, người dân Trà Quế đã biết kết hợp với các Công Ty lữ hành tổ chức tour “ Một ngày làm cư dân phố cổ với nghề trồng rau”thu hút khá đông đảo khách nước ngoài tham gia. Du khách đến đây được hướng dẫn những kỹ thuật canh tác và tự mình cuốc đất trồng rau, gánh nước tưới rau và học cánh chế biến các món ăn từ sản phẩm rau tại làng nghề. Làng rau Trà Quế đã thành điểm đến hấp dẫn thu hút ngày càng đông du khách. Ngoài nguồn thu nhập từ rau mỗi năm lên đến hàng tỉ đồng , du lịch cũng đem lại nguồn lợi đáng kể.

Đến với làng rau Trà Quế, du khách có dịp thưởng thức các món ăn làm từ rau Trà Quế, như Mì Quảng tôm thịt, bánh tráng thịt heo, món tôm hữu ngọt lịm với con tôm sông và thịt heo nuôi tự nhiên – hòa với hương thơm nồng nà quyến rũ của rau húng tía, món hến xào cùng rau răm, hành nồng nàn hương vị, đã ăn một lần không thể nào quên…

Làng nghề rau truyền thống Trà Quế có cách làm du lịch rất độc đáo. Trên 30 lao động nông nhàn bắt tay vào làm du lịch. Họ sắm những bộ quần áo nông dân, dép lê, nón lá và dựng những ngôi nhà dành cho du khách nghỉ ngơi. Nếu muốn du khách sẽ được người làng rau bày cho cách cuốc đất, trồng,tưới nước và chăm bón rau. Nhưng trước khi làm “ nông dân” họ sẽ “ chiêm ngưỡng” thỏa thích các loại rau Trà Quế tại các điểm trưng bày,giới thiệu tại nhà đón khách.Đến với làng rau Trà Quế, du khách có thể hóa thân thành những nông dân thực thụ, với dép lê, nón lá được chính người nông dân nơi đây truyền đạt lại, để cùng với bà con Trà Quế tự tay trồng rau, tưới nước cho rau, cưỡi trâu đi dạo quanh làng, rồi sau đó thưởng thức những đặc sản dân quê. Đến du lịch làng rau Trà Quế du khách có thể được dạo quanh làng bằng xe đạp, bằng thuyền, được tận mắt chứng kiến nông dân trồng và chăm sóc rau. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Những năm gần đây nhờ việc trồng rau kết hợp với du lịch mà thu nhập của người dân tăng đáng kể, ngoài việc sản xuất rau bỏ cho các nhà hàng, siêu thị, các hộ gia đình còn hướng dẫn du khách trồng rau, thăm quan mô hình trồng rau an toàn của mình nhờ liên kết với công ty du lịch Kha Trần mà thu nhập tăng lên đáng kể, hàng ngày có thể tiếp 3 – 4 đoàn khách du lịch đến thăm vườn, tiền hoa hồng có thể nhận được từ 300 – 500 nghìn/ đồng/ ngày. Cộng với việc bán rau, giúp người dân có nguồn thu nhập khá ổn định.

Để phát triển loại hình du lịch cộng đồng thành công ở làng Rau Trà Quế trước hết là nhờ có sự liên kết quản lý, sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương, sự hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp, với cộng đồng dân cư trong giới thiệu thị trường, quảng bá sản phẩm.

Song song với việc phát triển mô hình du lịch cộng đồng, thời gian qua chính quyền TP. Hội An tập trung tuyên truyền,phổ biến, nâng cao nhận thức của cộng đồng trong công tác bảo tồn tài nguyên, bởi đây là vốn quý để sinh lợi. Đồng thời tiến hành các hoạt động hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao nghiệp vụ để cộng đồng dân cư thực sự là chủ thể các hoạt động du lịch tại chỗ. Ngoài ra, chính quyền còn khuyến khích cộng đồng dân cư xây dựng mô hình lưu trú homestay và các cụm homestay, đặc biệt là ở các làng nghề, làng quê sinh thái, khuyến khích gắn kết tổ chức chương trình du lịch với các dịch vụ cộng đồng nhằm tạo việc làm, thu hút động và cải thiện thu nhập ngay tại cộng đồng. Tạo điều kiện tối đa cho các chủ hộ kinh doanh cũng như doanh nghiệp đầu tư phát triển mạnh hơn nữa nhằm đem lạ lợi ích cho nhiều người dân nhất.

1.3.3. Bài học vận dụng cho Đường Lâm ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Làng cổ Đường Lâm của Việt Nam là một điểm du lịch có những đặc điểm về phát triển du lịch cộng đồng khá tương đồng với Hội An – Làng rau Trà Quế (xã Cẩm Hà) và ba ngôi làng cổ Trung Quốc. Do đó chúng ta có thể học tập được nhiều kinh nghiệm từ việc phát triển du lịch cộng đồng của Hội An và Trung Quốc.

Bài học quan trọng đầu tiên là chú trọng công tác quy hoạch để vừa phát triển du lịch vừa đảm bảo cho công tác bảo tồn, bổ sung thêm các yếu tố mới để tạo ra tính hấp dẫn trong du lịch nhưng không làm ảnh hưởng đến công tác bảo tồn.

Xây dựng sản phẩmdu lịch đặc trưng riêng của Đường Lâm nhằm tạo ra tính khác biệt,độc đáo cho loại hình du lịch cộng đồng tại địa phương, tạo ra dấu ấn riêng cho sản phẩm du lịch ở đây (giống như thương hiệu làng rau của Trà Quế).

Thu hút nhiều hộ gia đình tham gia vào làm du lịch. Đồng thời phải nâng cao chất lượng nguồn lựctrình độ dân trí của cộng đồng dân cư – chủ thể hoạt động của loại hình du lịch cộng đồng. Cần tiến hành các hoạt động hỗ trợ đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ hướng dẫn viên tại điểm, nâng cao nghiệp vụ để cộng đồng dân cư thực sự là chủ thể các hoạt động du lịch tại chỗ…

Các cấp chính quyền và các ngành chức năng cần tạo ra mối liên kết, hợp tác chặt chẽ giữa các doanh nghiệp lữ hành để thu hút thêm các thị trường khách, làm tốt công tác xúc tiến, quảng bá sản phẩm, đào tạo kỹ năng, nghiệp vụ du lịch, cách làm du lịch cho cộng đồng địa phương. Hướng dẫn người dân kinh doanh du lịch, khắc phục tình trạng tự phát, cục bộ, chạy theo lợi nhuận hướng tới tính bền vững trong phát triển du lịch.

Chia sẻ lợi ích du lịch một cách công bằng tới tất cả cộng đồng địa phương để tạo ra một môi trường phát triển du lịch thân thiện bằng cách đầu tư vào cơ sở hạ tầng và phúc lợi cho người dân địa phương…

Tiểu kết chương 1

Chương 1 của khóa luận đã đề cập tới những vấn đề, lý luận cơ bản về du lịch cộng đồng, và các điều kiện để phát triển du lịch cộng đồng. Đây sẽ là cơ sở cho việc tìm hiểu, phân tích và đánh giá thực trạng phát triển du lịch cộng đồng tại làng cổ Đường Lâm, Hà Nội trong chương 2. ( khóa luận tốt nghiệp: Nâng cao phát triển du lịch cộng đồng )

Các bạn có thể tham khảo thêm:

khóa luận: Thực trạng hoạt động phát triển du lịch cộng đồng

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537