Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản

Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản bởi tác giả hiểu biết rằng Thế kỉ XX ở Việt Nam là thế kỉ đầy biến động. Đây là thế kỉ nảy sinh nhiều cuộc cách mạng dẫn đến sự ra đời của một kỉ nguyên mới; nhiều cuộc canh tân xã hội, văn hóa và văn học. Văn học nghệ thuật là một hình thái ý thức xã hội đặc thù. Văn học có liên quan với những hình thái ý thức xã hội khác, sinh thành từ cuộc sống, nhưng đồng thời cũng có những đặc trưng riêng, vì thế văn học còn tồn tại và phát triển theo những quy luật nội tại của nó và được triển khai trong bài Luận văn đề tài: Tìm hiểu yếu tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn mời các bạn tham khảo!

4.1. Cuộc sống “xam xám nhờ nhờ” của những trí thức thất cơ lỡ vận

Sau những cơn vặn mình của lịch sử vào cuối thế kỉ XIX, xã hội Việt Nam chuyển từ hình thái phong kiến sang một phức hợp quái đản: thực dân nửa phong kiến. Cơ cấu giai tầng trong xã hội có sự dời chuyển, biến đổi. Một số giai cấp mới ra đời trong đó có giai cấp tiểu tư sản. Tuy nhiên, mãi tới đầu thế kỉ XX, nhân vật trí thức tiểu tư sản mới xuất hiện nhiều trong văn chương (trong tiểu thuyết của Hồ Biểu Chánh, Bửu Đình, Hoàng Ngọc Phách…). Nhưng đó mới chỉ là những bóng dáng chứ chưa phải là những “hình tượng nhân vật thực sự”[29; 483].

Trong văn học Việt Nam giai đoạn 1930-1945, người trí thức tiểu tư sản ào ạt đi vào văn chương, với một diện mạo sắc nét, trở thành những hình tượng nhân vật đích thực, chứa tải nhiều lớp ý nghĩa xã hội, nhân sinh quan sâu sắc, thâm trầm. ở đề tài này, có thể nói không ai qua nổi bậc thầy Nam Cao, người đã “vẽ nên những bức tranh chân thực về một cuộc đời buồn thảm dở sống dở chết của tầng lớp tiểu tư sản trí thức nghèo” [44; 278]. Không lấy người trí thức nghèo làm nhân vật trung tâm, xem như một đối tượng nhận thức chủ yếu như các nhà văn hiện thực phê phán, nhưng với tính cách là một phương diện khách quan của phạm vi hiện thực, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã nêu lên trong nội dung tác phẩm của mình những hình tượng nhân vật trí thức tiểu tư sản rất đáng suy nghĩ, qua đó, độc giả sẽ hiểu hơn phần Ilào cái “biển khổ mênh mông của xã hội Việt Nam trước cách mạng”[44; 278].

Lương trong Thoát li của Khái Hưng là một anh giáo khổ trường tư. Nhà văn đã giới thiệu nhân vật của mình như sau -.”Lương nghèo lắm, nghèo đến nỗi không nộp được mấy chục bạc, chàng đã phải bỏ thi cử nhân luật và bỏ luôn cả trường luật để đi dạy học kiếm ăn”. Thật ra Lương có một cái sản nghiệp do cha để lại nhưng bị người dì ghẻ gian ngoa chiếm mất. Trong cảnh bần bách, Lương còn phải nuôi một đứa em đang tuổi ăn học. Với số tiền lương ba chục một tháng, cuộc sống của hai anh em càng thêm chán ngắt bởi lũ học trò trường tư nghịch ngợm, bướng bỉnh. số phận run rủi cho Lương gặp và yêu Hồng, một cô gái đang sống khổ sống sở vì sự đối xử cay nghiệt của mụ dì ghẻ. Mụ dì ghẻ ấy là bà phán Trinh. Quá thâm thù đứa con chồng, mụ dì ghẻ đã lập mưu phá mối tình của đôi bạn trẻ. Không chịu nổi sự xúc phạm độc địa của mụ nhà giàu, Lương bị tổn thương, đâm ra phẫn uất và chơi bời. Anh sống với một gái nhảy như vợ chồng.

Bào trong truyện ngắn Người bạn tre của Thạch Lam có số phận còn bi thiết hơn nhiều. Xà hội “chó đểu” đã dồn anh vào chân tường bi kịch : cái chết. Xuất thân trong một gia đình cơ cực nhưng tử tế, Bào chuyên chú học hành. Mẹ anh tráng bánh trứng và thổi xôi đem bán để nuôi Bào và bầy em bé dại của anh. Bạn bè thảy đều yêu mến Bào vì tính anh ngây thơ, hiền lành. Đang học năm thứ tư ban thành chung ở Nam Định thì tai họa xảy đến với Bào. Anh bị đuổi học cùng nhiều học trò khác vì người ta nghi “CÁC học trò để tang nhà chí Si’ (nhà cách mạng Phan Chu Trinh – ĐNH). Ong bô Bào vòn là người quá nghiêm khắc nên không chấp nhận đứa con “đua đòi” (!!!) và đuổi anh ra khỏi nhà.Thế là anh chàng trông xinh xắn dễ thương như một cô gái bị nhà trường và gia đình vứt ra chợ đời. Bào lang thang đây đó để xin việc nhưng trong xã hội thời đó, ai thèm thuê một người học trò đã từng bị đuổi, kể cả các sở nhà nước và các nhà buôn, các sở tư. Bào bị cuộc đời cấm cửa vĩnh viễn. Thất nghiệp, đói khát, không nơi nương tựa, Bào xanh xao, Bào ốm, tiếng nói phều phào như người hết hơi khi đang ở tuổi thanh xuân. Bao nhiêu phẫn uất đọng lại trong Bào làm lời nói anh nghẹn ngào -.”Người ta thật là bất công và vô lí quá. Tôi đã làm nên tội lỗi gì đâu !”Cuối cùng số phận vất trả Bào về lại gia đình anh. Không muốn làm phiền người thân, Bào treo cổ lên xà nhà tự tử. Những nỗi chán chường và đau khổ triền miên đã giết chết người thanh niên trẻ trung chưa đầy hai mươi tuổi. Hà Văn Đức nhận xét “Cái chết của Bào đã để lại trong người đọc một dư vị xót xa, thương cảm” [29; 485]. Theo chúng tôi, cái chết ấy không những để lại dư vị mà bản thân nó còn là một mảng đen phủ lên hoàng hôn xã hội thời cũ.

Do đâu mà những người trí thức tiểu tư sản lại gặp khổ đau, thất bại, bế tắc ? Nền văn minh đô thị Việt Nam nửa đầu thế kỉ XX dựa trên cơ sở công – thương nghiệp. Nhưng các cơ sở ấy trong một xã hội thuộc địa như Việt Nam là không chuẩn, chưa đủ sức mạnh để “chi trả ” xứng đáng sự đóng góp, cống hiến của mỗi cá nhân. Một mâu thuẫn biện chứng đến chết người nảy sinh ngay giữa xã hội ấy : cá nhân càng vùng vẫy vươn lên bao nhiêu thì càng rơi sâu xuống vực thẳm vỡ mộng bấy nhiêu, càng muốn phát triển thì càng thui chột. Đó là chưa kể thân phận nô lệ khiến cá nhân không biết đặt sự “phát triển tận độ” (chữ dùng của Nam Cao trong sống mòn) vào đâu. Pêtơrốp từng lưu ý ‘.”Khi phân tích tác phẩm hiện thực cẩn phân biệt một cách cẩn thận ảnh hưởng của thời đại, khi tác phẩm được sáng tác, tới tác giả và thời gian, cái trở thành đối tượng miêu tả của nó” [54; 250]. Tuy không phải là nhà văn hiện thực phê phán với ý nghĩa là một trào lưu, trường phái văn học nhưng một số cây bút của Tự lực văn đoàn đã góp phần miêu tả khá chân thực “quá trình dẫn tới đường cùng không lối thoát của tầng lớp trí thức tiểu tư sản nghèo, qua đó là thực trạng đau xót, buồn thảm, bế tắc của cả một xã hội đang rên xiết khủng hoảng”[AA; 284] : xã hội bất công, vô lí, “dở chết” (Nam Cao – sống mòn) trước Cách mạng tháng Tám.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

4.2 Cuộc sống chới với trên lằn ranh thiện ác và bi kịch tha hóa ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Đương nhiên người trí thức tiểu tư sản là người có học. Chính họ có học nên họ ý thức được hoàn cảnh của mình một cách sâu sắc. Đi sâu vào những thâm cung tâm lí của người trí thức để làm rõ bi kịch tinh thần của họ là một sở trường của Nam Cao – đại diện xuất sắc của chủ nghĩa hiện thực phê phán của Việt Nam. Cũng ở đề tài này, với những nhân vật kiểu này, Thạch Lam “đã đến gần với chủ nghĩa hiện thực”[29; 488].

Nhằm khẳng định tài năng của Nam Cao, một số nhà nghiến cứu đã đưa ra những nhận định về một thứ chủ nghĩa hiện thực ở Nam Cao. Phạm Xuân Nguyên cho rằng “Trên bình diện thế giới, sau chủ nghĩa hiện thực của Bandắc, L.Tônxtôỉ, có chủ nghĩa hiện thực của A.T. Sêkhốp, Nam Cao” [69; 150]. Đinh Trí Dũng cũng có ý kiến tương tự :”Một trong những đặc điểm độc đáo của bút pháp hiện thực đồng thời cũng là cơ sở cho cảm hứng nhân đạo của Nam Cao là việc đi sâu tìm hiểu thế giới bên trong đầy phong phú phức tạp của tâm hồn con ngườỉ”[69; 151]. Cũng trong bài viết này, Đinh Trí Dũng còn có một ý kiến khá hay .”Cần phải nói rằng trong văn học hiện thực phê phán 1930-1945 không phải chỉ có các nhân vật của Nam Cao mới có vấn đề tự ý thức. Các nhân vật trong truyện ngắn của Thạch Lam, Nguyên Hồng, Bùi Hiển…cũng có nhiều phút suy tư đầy cảm động… “[69; 152]. Đến đây, có thể khẳng định “chủ nghĩa hiện thực của Nam Cao là chủ nghĩa hiện thực tâm lí'[69; 156].

Thạch Lam là nhà văn của cảm giác. Với bút pháp vi tế, dịu nhẹ, thiên về chất thơ tâm hồn, Thạch Lam đã dễ dàng làm rõ bi kịch bị tha hóa của người trí thức tiểu tư sản. Vì thế mà trong lời nói đầu của.tập Gió đầu mùa, Thạch Lam đã viết : “Những câu chuyện trong quyển sách này, tôi viết ra cũng như những cảm giác mới mẻ mà tôi đã thấy. Tối hết sức diễn tả cho đúng tất cả sự thực rung động và thi vị của cuộc đời. Tôi không có ý muốn kể những chuyện thần tiên hay lãng mạn”.

Đói của Thạch Lam là một câu chuyện vừa có chất Ngô Tất Tố vừa có chất Nam Cao. Nói có chất không phải vì Thạch Lam học tập hai nhà văn kia (Thạch Lam viết Gió đầu mùa trước khi Ngô Tất Tố viết Tắt đèn và Việc làng, còn Nam Cao mãi đến 1941 mới chúng tỏ được văn tài của mình) mà là vì Đói đề cập đến hai mặt : đói – mặt mạnh của Ngô Tất Tố về nghệ thuật miêu tả và nguy cơ bị đánh mất nhân phẩm – mặt mạnh của Nam Cao.

Đói đúng là cái chẳng có gì cũng thành chuyện. Đó là một lớp kịch ngắn hai cảnh : buổi sáng và buổi chiều. Tất cả xoay quanh những cơn sôi réo trong dạ dày của nhân vật chính. Đó là người đàn ông tên Sinh, bị thải việc, đang khổ sở và điêu đứng bởi cái đói. Nhà văn đã tả căn phòng của nhân vật bằng bút pháp của một nhà hiện thực nghiêm cẩn ‘.”Một cái bàn con xiêu vẹo bên góc tường, một cái chõng tre đã gãy dăm ba nan, một cái ấm tích mất bông và mấy cái chén mẻ, nước cáu vàng…Trong cùng, một cái hòm da, dấu vết còn lại của cái đời phong lưu độ trước …” Đây là cái kiểu tả đồ vật, đồ đạc tỉ mỉ quen thuộc của H. Banzac. Đã thế họa vào bức tranh tồi tàn ấy là cái rét mùa đông.

Chừng ấy thứ cơ hồ quật ngã Sinh. Song nhờ chịu đói nhiều ngày, Sinh đã quen với sự “lả đi vì đói”. Kết thúc cảnh thứ nhất là sáng hôm ấy, vợ Sinh không vay được tiền. Người đàn bà khóc, khóc vì đói, vì tủi hổ. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Cảnh thứ hai là buổi chiều với những cơn gió lạnh lùng. Vợ Sinh lại ra đi. Sinh nằm co ro trong nhà, bất lực, nghĩ ngợi về tình đời, tình người. Khi mùi xào nấu bên nhà hàng xóm đưa tới là lúc Sinh “Đói như cào ruột…, mắt hoa lên, trông vật gì cũng lờ mờ như lay động”. Lúc này, Sinh rung động cả người vì ao ước được ăn. Hóa ra miếng ăn, Sinh thấy, cần thiết lắm, thậm chí hơn sự thanh cao. Bất chợt, vợ Sinh về, tươi cười với mấy gói giấy bóng thoang thoảng mùi giò và mùi thịt ướp. Mai – vợ Sinh – nói rằng cô gặp bà Hiếu. Bà này tử tế đến mức không những cho vay tiền mua thức ăn mà còn hứa giúp vốn để đi buôn bán nữa. Sinh sung sướng, thấy vợ đẹp lên. Người vợ quay đi lấy dao cắt bánh, làm rơi một mảnh giấy gấp. Sinh trông thấy, nhặt lên, và đọc. Tờ giấy rơi lúc nào Sinh cũng chẳng biết khi mà Sinh mới đọc được hai dòng : Mai bán thân để có được cái gói giấy sang trọng kia. Sinh ngừng thở, một cái gì đó đè lấy trái tim anh. Sinh tưởng mình có thể chết ngay lúc ấy. Sinh mong điều đó không có thật mà là mộng. Nhưng điều đó lại rất thật. Cho nên Sinh đau đớn. Và cơn giận dữ nổi lên. Không nén được, Sinh hất vợ “như hất một con vật đáng ghê sợ”. Mai ôm mặt khóc nức nở. Sinh ném mấy tờ giấy bạc, hất mấy gói đồ ăn. Vợ anh sợ hãi đi ra ngoài. Khi bàn về tính khái quát trong chủ nghĩa hiện thực, một nhà nghiên cứu đã nêu nhận xét ‘.”Tính khái quát còn biểu hiện ở việc tuân thủ một cách nghiêm khắc nhất quán các nguyên tắc quyết định luận trong việc miêu tả hành vỉ của các nhân vật trong tác phẩm, những xúc động, tâm trạng của họ, quan hệ của họ với nhau, ở tính môtíp của mỗi yếu tố phù hợp với các tình huống và mâu thuẫn”[5A; 84]. Thạch Lam đạt đến yêu cầu này chăng khi ông miêu tả “Chàng (Sinh – ĐNH) vừa thoảng ngửi thấy cái mùi thơm và béo của những miếng thịt ướp mà mỡ còn dính ở tay” ? Mùi thơm xông tới tận ruột gan, thấm vào xương tủy. Sinh nhìn đồ ăn. Đến đây, người đọc không khỏi thắt ruột vì lo âu cho nhân vật. Nhưng nhân vật đã “phụ lòng người đọc”. Không thấy Mai ở đó nữa, Sinh vớ lấy đồ ăn. Sinh ăn, ăn vội vàng, không nghĩ ngợi. Sinh bắt đầu tha hóa. Sự tha hóa mới bắt đầu thâm nhập vào Sinh vì sau sự khoan khoái của dạ dày là “Mợ? cái chán nản mênh mông tràn ngập cả người”. Hà Văn Đức có so sánh truyện Đói với truyện Miếng bánh của Nguyên Hồng. Nhân vật Hưng trong truyện Miếng bánh do không thẳng nổi sự thèm muốn đã ăn lén vợ miếng bánh, đê ròi sông trong ân hận, nhục nhã. Nhận xét mà Hà Văn Đức rút ra sau khi so sánh là “Cảm giác của nhân vật Nguyên Hồng tàn khốc hơn nhưng dư vị chua chát có lẽ chưa đạt đến độ sâu như nhân vật Thạch Lam” [12; 456]. ở chỗ này, chúng tôi đồng ý với so sánh của nhà nghiên cứu nhưng đồng thời nghĩ khác, rằng nếu công nhận “Mồ? liên quan hữu cơ giữa tâm lí học với xã hội học là một nét tiêu biểu của chủ nghĩa hiện thực phê phán” [29; 435] thì ý nghĩa mĩ học của “vở kịch” Đói tàn khốc và chua chát hơn hẳn so với vở kịch Miếng bánh của Nguyên Hồng.

Hơn Sinh trong Đói, Tâm trong Trở về hoàn toàn bị tha hóa đến ghê sợ. Chúng tôi nghĩ Trở về là một truyện ngắn cực hay của Thạch Lam vì nó hội đủ những nét đặc trưng của phong cách truyện ngắn của ông : mềm mại mà sâu lắng, nhiều dư vị. Thế mà từ trước đến giờ nó chỉ được người ta nói qua, nhắc đến, ít được phân tích. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Nhân vật chính của Trở về là Tâm. Cũng như nhiều thanh niên lúc bấy giờ, Tâm từ quê ra Hà Nội “gắng sức làm việc để giành một cái địa vị trong xã hội”, ở Hà Nội, Tâm lấy con gái một gia đình giàu có nhưng không hề cho mẹ biết. Kì thực Tâm đã đoạn tuyệt với mẹ già đơn chiếc và quê nhà của mình. Thỉnh thoảng anh ta gửi cho mẹ già một ít tiền, xem như là “/Ồm đủ bổn phận”. Quê nhà với hình ảnh một cô thôn nữ, cảnh sống giản dị, thanh bạch ngày càng trở nên đáng ghét, lôi thôi, tức cười trong ý nghĩ của Tâm. Thậm chí anh còn giận mẹ vì bà có thể làm ảnh hưởng tới hạnh phúc của anh nếu vợ anh biết được. Bỗng dưng Tâm nhớ ra anh còn có người mẹ trên đời này. Mà sở dĩ anh còn có thể nhớ được bà mẹ bất hạnh vì anh cùng vợ đi nghỉ mát ở nhà một người bạn chỉ cách nhà mẹ anh độ chục cây số.

Thế là Tâm về thăm nhà, đi một mình; vì vợ anh đời nào thèm làm chuyện đó, mà cô cũng chẳng thèm biết mình có bà mẹ chồng nào. Đi trên đường làng, Tâm cũng thấy cảm động khi trong đầu anh thoáng qua một chút kí vãng của những ngày cắp sách đi học. Nhưng rồi chút cảm động cũng bị tính tự phụ của một kẻ thành đạt kéo đến che lấp. Rồi anh ta lãnh đạm bước vào ngôi nhà xơ xác, cảm thấy cái ẩm thấp ở khắp tường thấm vào người. Anh ta lạnh lùng nói chuyện với mẹ bằng cái giọng của một người đi phát chẩn. Gặp lại cô bé láng giềng có đôi mắt to đen láy ngày nào giờ đây đã là một thiếu nữ, thay vì cảm động, Tâm lại thấy ghét. Nhà văn đã phân tích rất đúng tâm lí của những kẻ hãnh tiến : “Những kỉ niệm cũ đối với chàng bây giờ thành ra trẻ con và vô vị”. Vì sao ? Vì đối với những kẻ ấy thì cái đời nghèo khó ở thôn quê với cài đời chắc chắn, giàu sang của họ “không có liên lạc gì với nhau cả”.

Câu chuyện nhạt dần. Tâm hối hả chào mẹ và Trinh – cô láng giềng đang chăm sóc mẹ anh như mẹ đẻ – ra về. Ra khỏi nhà, Tâm thấy nhẹ hẳn người đi !

Tâm trở lại hàng cơm. Vợ anh vẫn còn đợi ở đấy. Hai người rủ nhau đi dạo vì trời hãy còn sớm. Đi quanh quẩn trong phố huyện nghèo khổ, Tâm bỗng thấy Trinh dắt mẹ mình ra ga. Tội nghiệp, bà cụ tưởng con về một mình và về bằng xe hỏa. Sợ vợ biết, sợ tiếng khóc của bà mẹ già và tưởng tượng thấy những lời bình phẩm, Tâm nắm lấy tay vợ rảo bước mau. Đi khuất đầu phố, Tâm sốt ruột đánh xe chạy trốn. Đến chỗ quặt quá ga, ‘Tam thoáng thây đứng bên cạnh đường, một bà cụ già khom lưng dựa vào một cô gái. Chiếc xe chạy bắn vọt bùn lên quần áo hai người”. Một chị Dậu của Ngô Tất Tố, một lão Hạc của Nam Cao đã từng làm độc giả khóc hết bao nước mắt. Nhưng “dung lượng” nước mắt khóc cho chị Dậu, lão Hạc chắc cũng không nhiều hơn nước mắt khóc cho bà mẹ già bị vấy bùn trong truyện này. Nước mắt khóc cho một tâm hồn đã chết trong thằng trí thức khốn nạn, nước mắt khóc cho sự nghèo hèn của những người thôn quê tăm tối, thấp kém. Đó là những giọt nước mắt cathasis. Điều gì đã tha hóa Tâm ? Thạch Lam đã ngậm ngùi giải thích -.”Giữa những kỉ niệm ấy với Tâm, như có một cái bờ ngăn cản : xe ô tô, vợ chàng, cái đời sang trọng, sung sướng của chàng hiện giờ” ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Nhận xét về hình tượng nhân vật trí thức trong tác phẩm Thạch Lam, Hà Văn Đức trong một cuốn giáo trình gần đây có viết -.”Nhân vật của Thạch Lam chưa có được những cuộc đấu tranh dằn vặt để tự vượt lên mình, như kiểu nhân vật tiểu tư sản của Nam Cao” [12; 567-568]. Theo chúng tôi, nhận xét trên có phần đúng, nhưng chỉ đúng với một số truyện mà thôi. Trong truyện Một cơn giận, nhân vật Thanh vì một chút kiêu ngạo vô lối đã dửng dưng không cứu người phu xe cùng đinh khỏi án phạt ba đồng bạc . Anh này chỉ vì quá túng đói mà đã dám “cả gan” vượt tuyến kéo người từ ngoại ô vào thành phố (tuyến của anh là ngoại ô). Ánh mắt long lanh trong bóng tối vành nón của người phu xe đã ám ảnh Thanh. Lòng hối hận đã không để Thanh yên. Thanh khinh bỉ mình. Và anh quyết định chuộc lỗi. Dò hỏi mãi, Thanh cũng đến được thế giới của những người khổ sở, khốn nạn. Trong cái nhà tối tăm bẩn thỉu như một cái hang, Thanh được biết người phu xe tên là Dư, hiện đã bỏ trốn. số là hôm ấy, cai xe phải đem tiền đi nộp phạt, nhưng lại bắt Dư trả ngay một nửa. Dư biết lấy đâu ra tiền để trả ? Thế là anh bị một trận đòn đến mức không lê đi được nữa. Thanh thấy lòng mình thắt lại khi biết thêm rằng nếu hôm ấy anh mở miệng nói một tiếng thôi thì người đội xếp có thể tha cho anh phu xe. Lòng nhân trong Thanh trào lên. Anh dồn hết tình thương cho đứa con của Dư đang bị bệnh sài trầm trọng, chỉ còn một dúm thịt con đã nhăn nheo. Anh cho hai mẹ con năm đồng bạc. Khốn nạn thay, khi Thanh ra tới đường, đứa bé chết ! Kỉ niệm buồn rầu ấy như một vết thương chưa khỏi, với Thanh, mãi mãi như là việc mới xảy ra hôm qua. Không dằn vặt đến đau đớn làm sao Thanh đã cất bước đi chuộc lỗi ĩ Nếu Thanh không có năng lực xúc cảm thì câu chuyện buồn sẽ không bao giờ trở thành “một vết thương chưa khỏi”.

Thành trong Sợi tóc là một người đã trải qua một quá trình tranh đấu tinh thần hết sức nguy nan .Quá trình ở đây được chúng tôi quan niệm là những tình huống thử thách khốc liệt, nghiệt ngã, tưởng không thể vượt qua (thử thách về vật chất, tâm lí) nếu con người thiếu ý chí, không có đạo đức thật sự. Quá trình loại này đôi khi còn dữ dội hơn quá trình về mặt thời gian theo nghĩa đen.

Nguyên Thành có người anh họ giàu và ngốc tên là Bân. Bân phục Thành ở sự thạo đời. Một hôm, Bân đến nhờ Thành đi mua giúp cái đồng hồ. Mua xong đồng hồ, Bân rủ Thành đi hiệu ăn chén một bữa thật đẫy. Rồi khi đã no nê, Bân lại mời Thành xuống Vạn Thái hát ả đào. Bân tỏ ra thích thú lắm. Còn Thành tuy nghèo nhưng quá sành sõi các ngón ăn chơi nên chẳng thấy hứng thú gì. Vì thế mà Thành để Bân ở lại qua đêm với nhân tình, anh về trước. Lúc lấy áo trên mắc, Thành phát hiện ra Bân đã mang nhầm áo của Thành vào buồng nhân tình. Trước mắt Thành, trong tay Thành là áo của Bân trong túi có cái ví, trong ví có nhiều tờ giấy bạc một trăm tươi nguyên. Lập tức, Thành bị lôi kéo ngay vào vở kịch do dục vọng làm đạo diễn. Thành sẽ lấy tiền của Bân. Lấy mấy tờ ? Lấy được rồi, đổi áo trở lại, xong chuyện. Sau này Bân sẽ đổ thừa cô nhân tình của y. Mà như thế hắn sẽ im lặng vì sợ tai tiếng. Vị đạo diễn dục vọng phân cho Thành nhiều công việc quá khiến Thành thần cả người.

Và Thành đã đứng lên, ra đến cửa. Cái áo Tây của Bân trên vai. Thành thoáng rùng mình. Một cô đầu chèo kéo Thành ở lại. Thành ngồi xuống giường, uống chén nước. Từ lúc đó, Thành liên tục đứng lên ngồi xuống như một cái máy. Một phút đồng hồ, với Thành, dài như một thế kỉ. Thời gian xéo nát tâm hồn Thành.

Không hiểu từ đâu, vì sao, Thành quyết định vào giường Bân đổi áo, ra vê. Thành không sao đụng đèn cái ví được nữa. Ong bạn dục vọng bân thân, ngơ ngẩn.

Sau này nghĩ lại, Thành thấy mọi chuyện đã xảy ra như trong một giấc mộng. Thành đã từng đứng trên biên giới của lương thiện và kẻ cắp. Cái gì đã giữ Thành ở lại vương quốc của lương thiện ? Thành tưởng đâu có một tiếng nói bên trong nào đó. Nó nhỏ, mảnh như một sợi tóc. Bên này sợi tóc là Thành với dục vọng lấy tiền. Bên kia sợi tóc là lòng ngay trả lại tiền. Một phút và cả đời người, ghê gớm lắm đấy chứ ! Quá trình một phút ấy không phải là giản đơn hơn quá trình một đoạn đời. Một chuyến ăn chơi, một cái ví tiền mà thành một câu chuyện hay. Dựng nên một câu chuyện như Sợi tóc, Thạch Lam bộc lộ mình là một nhà hiện thực tâm lí khá thành công.

4.3 Từ thân phận người trĩ thức đến sự phủ nhận xã hội đương thời: ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Như đã nói, xã hội Việt Nam trước 1945 là xã hội thuộc địa. Ý thức về thân phận nô lệ ám ảnh những người luôn nghĩ đến nước. Không phải chỉ những chiến sĩ cách mạng (cách mạng vô sản) dấn thân vào cuộc tranh đấu nguy hiểm mới ý thức được điều này. Những trí thức vốn nhạy cảm dễ dàng nhận thấy cái oi bức, vô nghĩa của xã hội đương thời.

Đúng là vào thời kì đầu, những trí thức hào hùng được dựng lên trong Tự lực văn đoàn như những khách chinh phu. Đó là những người luôn suy tư về đất nước, nhân dân, về tự do. Họ sẵn sàng quăng thân vào gió bụi, xem cái chết nhẹ tựa lông hồng. Nhưng đi đâu, làm gì , họ cũng không biết nữa. Trúc (trong Đôi bạn) nói về sự ra đi của mình một cách rất thành thực ‘.”Lần này nhảy ra cũng là nhảy ra chỗ mờ mịt; nhưng cần gì, đời là thế. Mình cũng có khi phải liều chơi”. Họ không có phương hướng cụ thể, chỉ thấy máu anh hùng chảy rần rật trong huyết quản, hai tiếng ra đi vang lên khẩn thiết trong tâm can. Dù có biện hộ đến mấy cũng không ai thuyết phục được những chiến sĩ như vậy (trong văn học) lại có thể giết được giặc. Trong thực tế, loại anh hùng đó bị khủng hoảng trầm trọng sau ngày 17-6-1930 khi người anh hùng họ Nguyễn lên máy chém ở Yên Bái.

Tuy nhiên sẽ không công bằng nếu từ thất bại ấy, từ tâm trạng khủng hoảng của những anh hùng chiến bại ấy, mà đi đến phủ nhận tình yêu nước của họ. Nếu không yêu nước bằng một tình yêu bừng cháy thì họ không bước lên đài thanh thản và lẫm liệt đến vậy. Nói chi đến thủ lĩnh Nguyễn Thái Học mà ngay chàng trai Phó Đức Chính trước khi chết còn hô “Việt Nam vạn tuế”. Ngày 11-2-1930, Nguyễn Khắc Nhu đã đập đầu xuống sàn gỗ lim để giữ trọn khí tiết. Trước hội đồng đề hình ngày 2 8-3-1930, nữ chiến sĩ Nguyễn Thị Bắc đã tỏ ra khí phách kiên cường với lời nói bất hủ ‘.”Chúng mày về nước Pháp mà kéo đổ tượng Gian Đa (Jeanne đ Ar) đi thôi !” [39; 152] .

Từ sau 1930, trong văn chương Tự lực văn đoàn, xuất hiện những Dũng, Thái, Trúc, Xuân Tạo, những người luôn đau đáu về con đường lập đại sự nghiệp (trong Đôi bạn, Đoạn tuyệt). Bỏ qua những “hoạt động cụ thể” của họ, chúng ta thử đặt câu hỏi :”Điều gì đã khiến họ không chịu ngủ yến trong cuộc đời bằng phang ?”. Câu trả lời là : họ muốn vùng vẫy để thoát ra cuộc đời êm ả đến chán chường, “buồn bã như buổi chiều mờ sương thu ngoài kia”, về điều này, một nhà nghiên cứu đã nhận định “Một số tác phẩm của Tự lực văn đoàn đề cao tinh thần dân tộc; những khách chinh phu trong thơ Thế Lữ, trong tiểu thuyết Đôi bạn, Đoạn tuyệt có tinh thần yêu nước, yêu dân, có thái độ phủ nhận cái xã hội thối nát đương thời”[10; 57]. Trong nhận định trên đây, có một vấn đề đáng lưu ý, đó là “tinh thần yêu nước, yêu dân” và “thái độ phủ nhận cái xã hội thối nát đương thời”. Theo chúng tôi, đó là hai mặt của một vấn đề.

Cuộc sống của người trí thức tiểu tư sản trước Cách mạng không phải tất cả đều chật vật, khó thở. Thế nhưng họ vẫn không chấp nhận cuộc sống trước mắt. Rõ ràng họ không chỉ nghĩ đến bản thân. Từ nếp sống đủ đầy của một gia đình quan lại, Dũng nhận thấy trong gia đình, dòng họ mình “không có một người nào làm một việc, một nghề gì cả, mà người nào cũng sống phong lưu, sang trọng”. Trong khi đó, trên bến đò Gió, Dũng thấy “đám người nhà quê thảm đạm, quần áo xơ xác trước gió”. Như vậy, xã hội mà họ hết sức thù ghét, ra sức chống lại là một xã hội bất công. Nghĩ đến nhân dân, công lí, họ sẩn sàng dấn thân, “coi cái chết là thường vì không muốn sống đê hèn”. So với những thanh niên may mắn được “Mặt trời chân lí chói qua tim” thì quyết định ra đi của Dũng, Trúc quả là vô định :”Còn gì thích hơn một cuộc đời sống không biết ngày mai ra sao cùng như đi thể này, đi vào chốn xa lạ không biết trước sẽ tới đâu…”. Nhưng dù là vô định, họ vẫn không nản -.”Có lẽ tìm, tìm mãi suốt đời không ra, nhưng cứ sống để tìm, thế cũng đủ“. Quyết tâm của những khách chinh phu cao bao nhiêu thì càng cho thấy xã hội mà họ đang sống nhức nhối, giông bão bấy nhiêu.

Xã hội mà những khách chinh phu trong Tự lực văn đoàn phủ định là một xã hội không những bất công mà vô nghĩa nữa. Nam Cao cũng sống trong xã hội ấy. Theo Nam Cao, sống trong xã hội ấy không phải là sống, hay nói cách khác là sống mòn. Có nhiều dạng thức khác nhau của tình trạng sống mòn, nhưng giữa các dạng thức ấy lại có một nét chung: tầm thường, vô nghĩa, không mơ ước. Hồi dọn đến nhà ông Học, Thứ nghĩ rất nhiều về điều này. Quan sát cuộc sống chuyển vận theo nguyên lí thói quen của ông chủ nhà, Thứ thấy ngài ngại. Thứ triết lí.”Yên thân, nhưng yên thân như vậy để làm gì ? Làm để có ăn, ăn để sống, sống để đợi chết…cả cuộc đời chỉ thu gọn vào mấy việc ấy ư Cuộc sống “in như một cái máy” làm Thứ rùng mình. Theo Thứ, đó là cuộc sống bị tước đi “cảm giác và tư tưởng”. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Dũng cũng thế. Nhìn hai ông anh ruột nhỏ nhen vun vén cuộc sống của mình, tranh giành nhau trong chuyện thừa tự, Dũng thấy nó giống với công việc tha đất làm tổ của lũ kiến. Đó là một “cuộc sống vô vị và ngày nọ tiếp nối ngày kia giống nhau như những viên đất kia”. Thật đáng sợ nếu cứ sống cuộc sống ấy. Giả sử nếu bằng lòng nó để nỗi lấy nỗi vui nào đó thì “trong cái vui của chàng vẫn phảng phất những lo lắng vẩn vơ, khác nào những bông hoa phù dung vào mùa thu đang độ nở đẹp lộng lẫy mà cái chết đã ngấm ngầm bên trong”.

Thật ra không phải ai cũng nhận ra mình sống mòn. Đơn giản những người đó không có ý thức về bản thân mình và hoàn cảnh. Xét về mặt triết học, ở những người đó không có bi kịch. Trong khi đó, những trí thức thường nhận biết rất rõ hoàn cảnh xung quanh mình. Chính vì thế mà họ đau đớn, dằn vặt. Nam Cao viết sống mòn năm 1944. Trước đó ba năm, Hoàng Đạo đã nêu lên bi kịch đau lòng này qua một số truyện trong tập Tiếng đàn như Phiêu lưu, Thong thả, Con đường râm mát.

Trong Sống mòn, việc phê phán lối sống mòn cũng đồng thời là việc “đi sâu mổ xẻ, phân tích phê phán tâm lí, tư tưởng và lối sống tiểu tư sản “[44; 287]. Vốn thiên về tư duy lí luận, Hoàng Đạo đã phân tích rất sắc sảo lối sống mòn của trí thức. Trong truyện Phiêu lưu, nhân vật Minh “từ giã nhà trường để đi làm ông phán. Và từ đấy, ngày tháng trôi qua, nhạt nhẽo, trống rỗng, đúc cùng một khuôn. Minh lấy vợ, đẻ con, sống với những nỗi vui buồn nhỏ nhặt”. Như vậy, đối tượng đang được bàn đến ở đây là cuộc sống “nhạt nhẽo, trống rỗng”. Minh nghĩ gì về đời mình, về con đường mà anh đang đi ? Cũng như Thứ, Minh phẫn uất lắm. Minh sợ hãi cái cuộc sống “nhỏ nhen, vô vị”. Giữa lúc ấy, Minh nghe tin một người bạn của mình sắp đi Tây. Người đó là Trần, một anh chàng thô lớn và ngu độn nhất lớp thời niên thiếu. Hồi ấy, Minh sáng sủa và nhanh nhẹn nhất lớp. Nghĩ đến điều đó, Minh đau đớn cả linh hồn. Và cái tin Trần đi Tây làm Minh mất ngủ. Nó khiến anh nhớ lại điều hoài vọng buổi anh niên.”Sống đời khoáng đạt của nhà thám hiểm”. Ý tưởng bỏ đi nảy trong đầu Minh, đầy cám dỗ. Thường thì một người mê man trong vọng tưởng có thể làm bất cứ điều gì. Minh là một người như thế. Bởi vì sáng hôm sau, Minh ra ga, lòng hồi hộp, sợ gặp người quen. Khi nhìn thấy chuyến xe lửa sớm lướt qua, tự dưng Minh thấy chán nản ‘.”Đi xa nữa chắc cũng thế”. Vì thế, Minh gọi xe về nhà.

Không nhu nhược như Minh, Hưng {Thong thả) dám phiêu lưu thực. Để giải thoát mình ra khỏi cảnh nhàm chán, Hưng xin chuyển từ Hà Nội vào Sài Gòn. ơ Sài Gòn rực rỡ một thời gian, Hưng được đôi đi Châu Đốc. Với Hưng, “thế là cầu được ước thấy”. Nhưng khốn nỗi, cuối cùng, Hưng lại thất bại. Hưng là người “hoạt động và ngây thơ”. Anh tưởng ở bất cứ đâu, anh cũng có thể truyền sự hăng hái của mình cho mọi vật. Hưng nhận ra đó chỉ là một ảo tưởng, nhận ra quá muộn và buồn nữa. Sự thất bại làm thui chột tính cương quyết. Minh bị chìm lút trong cái “thong thả” của một tỉnh lẻ. Minh bị ma túy đánh gục, sống không phương hướng và buông xuôi tuyệt đối.

Trong truyện Con đường râm mát, Hoàng Đạo tả rất ấn tượng một phòng làm việc của những trí thức đang chết mòn. ở đó, “Hậu to béo đương ngồi ngủ gật sau một chồng sách to và cao quá đầu”, cần và Xích thì vừa viết vừa lén ăn bánh tây…Ngày nào công việc cũng lặp lại như vậy ‘Tóm chín bảy mươi hai…Viết hai, nhớ bảy…”. Căn phòng chật hẹp, tối tăm không chứa hết “nỗi chán ngán mênh mông”. Đó là một thế giới chết, đến nỗi tiếng cánh cửa đập cũng làm người ta “ngạc nhiên tưởng nghe thấy một tiếng khóc nấc lên”.

Những suy tư, trằn trọc về sự sống mòn của những trí thức trong các tác phẩm vừa được phân tích phải chăng là những suy nghĩ quẩn quanh, tủn mủn, ích kỉ, mang nhãn hiệu tiểu tư sản. Có lẽ không phải như vậy. So với kiệt tác sống mòn, những tác phẩm trên không khác gì cả, kể cả về khuynh hướng tư tưởng. Đó là những bài ai ca về những con người dù cố đến mấy cũng không tìm thấy niềm vui trong công việc. Minh tức tối nhận ra cuộc đời của mình quá tối tăm vì “ngày nào cũng như ngày nào, hai buổi đến bàn giấy ngồi, viết, cộng, rồi hai buổi trở về nhà, nằm ngáp dài hay đọc nhật trình để đợi giờ đi làm”. Dường như trong xã hội họ đang sống, ý nghĩa về sự cống hiến không tồn tại. Cho nên, người ta làm việc mà không nghĩ rằng công việc mình đang làm sẽ đi đến đâu, sẽ góp vào cái gì, làm nên điều gì. Nhân vật Trung (trong Con đường râm mát), lúc ngọn lửa lòng đã tắt, thì “nom thấy một cách sâu xa sự vô ích phi lí của công việc và của cả đời chàng”. Vậy thì trách nhiệm phải thuộc về cơ chế xã hội đương thời. Đó là một xã hội mà “raợí số người trị vì còn những người khác thì đau khổ”[26; 30]. Cụ thể hơn, theo Marx, “…một thiểu số được độc quyền phát triển, còn đa số những kẻ khác do thường xuyên phải vật lộn để thỏa mãn những nhu cẩu bức thiết…thì bị tước đoạt bất kì khả năng phát triển ráỉơ”[26; 30]. Toàn bộ nguyên do của bi kịch sống mòn, rốt cuộc, là ở xã hội tư bản vô nhân đạo.

Trước đây, chúng ta vẫn nghĩ nhân vật của văn học lãng mạn trong đó có Tự lực văn đoàn Ưa tìm sự giải thoát trong trí tưởng mang tính cải lương. Thật ra điều đó chỉ đúng với một vài trường hợp. Nhân vật Trương trong tiểu thuyết Ngày mới của Thạch Lam đã sử dụng vũ khí niềm tin để chế ngự những mâu thuẫn, thử thách trong đời sống. Nhưng những Minh, Trung, Hưng trong tác phẩm của Hoàng Đạo không hề như vậy. Minh tưởng tượng “như thấy mình đang ngồi trên khoang tàu, mặt nhìn về chân trời lẫn với mặt biển, tâm trí phiêu du trong khoảng rộng rãi vô cùng”.Vừa. lúc ấy, vợ anh gọi.”Cậu ẵm con hộ tôi một tí”, anh “giật mình ngơ ngác nhìn vợ như người chợt tỉnh rượu”. Mãi mãi Minh không bao giờ đi qua nổi “những đám cây đen đứng im tăm tấp ở chân trời xám kia”. Đối với Trung, tiếng gọi của cuộc đời tự do chỉ làm cho anh “thêm tức và thêm khổ”. Anh không đi tới cuộc đời đó được. Khi không có tự do thì người ta làm gì với những mộng tưởng của mình ? Những mộng tưởng ấy lúc mới nảy sinh như chiếc lá mới lìa cành, tưởng đâu sẽ bay qua những núi đồi, đại dương, những đảo bồng lai xa xôi, nào ngờ bay vèo xuống ngay gốc cây, héo ùa và vô dụng. Những tác phẩm của Hoàng Đạo đều kết thúc trong sự bất lực của những con người đầy suy tưởng. Vì thế, từ những tác phẩm ấy luôn vút lên một tiếng nói bức bách đòi làm nổ tung cái xã hội chật chội, vô nghĩa, đang làm tan rữa con người.

Những trí thức tiểu tư sản như Dũng, Thái, Tạo, Trúc, Hưng, Minh v.v…nếu may mắn bắt gặp được lí tưởng cách mạng, thấy được “mặt trời chân lí” (Từ ấy – Tố Hữu) thì có thể họ đã không phải trải qua một quãng đời “khách chinh phu”. Hoài Thanh – Hoài Chân, Tú Mỡ, Xuân Diệu… chẳng đã từng hăm hở chào đón Cách mạng tháng Tám và tự nguyện đi theo Cách mạng suốt hai cuộc kháng chiến đó sao ? Như vậy sự bế tắc của một số thanh niên tư sản, tiểu tư sản là một phần hiện thực cuộc sống lúc bấy giờ và phản ánh được điều đó tức là tác phẩm Tự lực văn đoàn có nhiều yếu tố hiện thực.

4.4 Cuộc sống suy đồi và mục đích, thái độ phản ánh ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Ở đây, chúng tôi không bàn đến thế nào là suy đồi. Mục đích chính của chúng tôi là xác định tính chất, phạm vi của vấn đề suy đồi trong tác phẩm văn học. Xoay quanh trục vấn đề này, có hai nội dung cần làm rõ :

  • Một là, Tự lực văn đoàn có phản ánh sự suy đồi không ?
  • Hai là, nếu có , nhà văn có thái độ như thế nào đối với sự suy đồi ấy ? Trước hết chúng tôi thừa nhận Tự lực văn đoàn có phản ánh sự suy đồi.

Phan Cự Đệ đã công nhận ‘.”Khách quan mà nói thì Thanh Đức cũng phản ánh được phần nào tình trạng bế tắc, khủng hoảng về tinh thần của một bộ phận tiểu tư sản trí thức thành thị sống buông thả trong đàm mê và khoái

/ạc”[10; 18]. Đây là một nhận xét chính xác. Chúng ta dễ dàng chứng minh điều này qua các tác phẩm như Đời mưa gió, Con đường sáng, Bướm trắng, Băn khoăn (Thanh Đức).

Thứ hai, chúng tôi khẳng định các nhà văn Tự lực văn đoàn không tán thành suy đồi. Họ miêu tả suy đồi để phê phán xã hội, phê bày bộ mặt thật đen tối, nhơ bẩn của nó. Do đó, nhận định dưới đây là bất công, khó có thể chấp nhận được ‘.”Từ cuối 1930 trở đi, Tự lực văn đoàn xuống dốc một cách rõ rệt…Ở những tác phẩm thời kì cuối, Khái Hưng, Nhất Linh không những không đấu tranh đòi giải phóng cá nhân, đòi nhân quyền, mà còn có xu hướng đẩy con người vào chủ nghĩa duy tâm và định mệnh”[10; 19]. Viết như vậy, theo chúng tôi, chẳng khác nào kết tội nhà văn Tự lực văn đoàn thỏa hiệp với cái xấu xa và tác phẩm của họ không tránh khỏi đầu độc con người.

Viết Băn khoăn, Khái Hưng phản ánh một xã hội đảo điên vì đồng tiền. Thầy giáo Hoang kêu lên ‘”Kim tiền ! Trời ơi ! Kim tiền ! Kim tiền làm cho người ta quên mất hết ghét, yêu, thù, tức để nghĩ đến nó, chỉ nhớ đến nó, chỉ chạy theo một nó. Kim tiền vạn tuế ỉ…sống mãi trong cái xã hội này, thì một ngày kia tôi điên thật”. Phải, sống trong xã hội ấy, những thanh niên như Cảnh bị tróc gốc niềm tin, lung lay, mất phương hướng. Cảnh chao đảo, bi quan với con hẻm cụt suy tư: “Học để làm gì ? Và đỗ để làm gì ?. Ngay cả chỗ dựa là thế hệ trước, họ cũng không tìm thấy một sự tốt đẹp tối thiểu nào. Bởi vì khi cả xã hội chạy theo đồng tiền, bất chấp luân lí, thì làm gì có cái tốt đẹp, hay ho để trao gửi niềm tin. Cha Cảnh – ông Thanh Đức – dẫn gái về nhà chơi ầm ĩ sát phòng các con nhỏ, tưởng rằng chỉ cần cho con thật nhiều tiền là được. “Mội đời nhiễu loạn, vô gia đình giáo dục, vô gia đình luân lí đi song song với một đời hoàn toàn có trật tự, có kỉnh nghiệm, có tổ chức về thương mại và kĩ nghệ” đã dẫn đến tuyệt vọng, làm nở ra những “bông hoa độc”. Đó là tất cả nguyên do dẫn đến những cuộc chơi phóng đãng “càng chơi càng chán nản, càng thấy cần phải chơi”.

Văn học là sự thức nhận về thế giới và con người. Nghiên cứu tác phẩm văn học, tư tưởng nhà văn, không thể không nghiên cứu kĩ nhân vật. Đặc biệt, dưới góc độ thi pháp, “khảo sát cái nhìn của nhân vật không nhằm trực tiếp trả lời câu hỏi nhân vật “nó là ai ?” mà chủ yếu khảo sát cái nhìn, thái độ, quan niệm của nhân vật về con người và thế giới, và ở một mức độ nhất định, hiểu thêm về quan niệm tư tưởng – thẩm mĩ của tác giả khỉ xây dựng nhân vật”[52; 28]. Phan Cự Đệ nhận xét Lan Hương là “nhân vật nữ cao thượng” [10; 18] của Khái Hưng trong Băn khoăn. Nhân vật này đã nhìn cuộc sống của Cảnh, Đoan như thế này ”…nhưng thấy đám thanh niên sống không mục đích hoặc với mục đích độc nhất là sự chơi bời phóng đãng thì em ghê sợ…cho họ quá, và tiếc cho họ nữa…Những bực thanh niên trí thức như anh Đoan em mà chịu làm việc, làm việc với lòng tín ngưỡng…thì…hay biết bao, có ích cho đồng bào biết bao!”.Trong hệ thống thế giới nhân vật của tác phẩm, Lan Hương và Oanh đứng cùng một tuyến. Khái Hưng dành cho những nhân vật này những tình cảm Ưu ái nhất, toàn bộ tư tưởng nghệ thuật của nhà văn biểu hiện qua cái nhìn quan niệm của hai nhân vật nữ cao thượng này. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Nhan đề Băn khoăn tỏ ra sát hợp với chủ đề – tư tưởng của tác phẩm. Sinh ra và lớn lên trong một xã hội mà “cụ lớn bằng gì cho bằng cụ lớn tiền /”, ai mà không khỏi băn khoăn tìm một con đường đi đúng đắn cho riêng mình, để không bị sa ngã, trụy lạc. Khái Hưng viết về những nhân vật Thanh Đức, Cảnh, Đoan, Liên, Hảo bằng một ngòi bút phê phán rõ rệt. Đó là những con người tàn phá luân lí, đạo đức từng ngày, từng giờ. Lan Hương đã ứa lệ nói -.”Bây giờ thì chỉ còn cầu trời giáng phúc để cứu vớt lấy hai linh hồn tội lỗi ấy mà thôi”. Như thế, trong cái nhìn của “nhân vật cao thượng”, Thanh Đức và Cảnh là hiện thân của tội lỗi. Khái Hưng không hề “đẩy con người vào chủ nghĩa duy tâm và định mệnh'”. Nhân vật cao thượng thứ hai là Oanh – em gái Cảnh – tranh luận với Lan Hương : “Em thì em cho mình phải tự cứu lấy mình, trời mới cứu mình được. Em sẽ liều một nước cờ cuối cùng, rồi có thua mới đành chịu thua”.

Tình trạng của Trương trong Bướm trắng cũng thế. Khi nghe bác sĩ Chuyên bảo mình bị lao phổi, Trương tuyệt vọng nghĩ đến cái chết bằng cách uống thuốc phiện với dâm thanh. Nhưng anh không có “can đảm” làm việc đó.

Thế là Trương rơi vào hố sâu trụy lạc: ăn chơi, gái, thuốc phiện, cá cược, đến nỗi phải thụt két và đi tù. Bản thân Trương nghĩ gì về cuộc đời, về thân phận mình ? Có lần Trương đã nói điều đó ra, nói rất thẳng.”Tôi vì yếu một phần, một phần nữa vì tiền, vì chơi bời liều lĩnh. Liều gần như dại dột. Chẳng cứ gì một ai. Anh ở Pháp về không biết, chứ thanh niên Việt Nam, một thanh niên không lí tưởng, chưa sống đã già cội như sắp chết, biết mình sắp chết nên không còn chống lại làm gì nữa, buồng xuôi ta để mặc cho trôi đến đâu thì đến. Không cưỡng lại nữa ắt là cái trụy lạc sẽ tiến mau lắm.. Anh nào nhiều tiền thì đâm ra chơi bời vong mạng : vẫn sang trọng đấy, vẫn được người ta kính trọng đấy, nhưng thực ra mục nát lắm rồi…Hết tiền thì đâm ra lừa đảo, thụt két, tù tội, bị người ta khinh. Nhưng đằng nào cũng mục nát như nhau, không hơn không kém. Hoàn cảnh không làm cho người ta phấn khởi. Chẳng giấu gì anh; tôi, tôi chán lạ”.

Qua đoạn giãi bày của Trương, người đọc nhận ra một xã hội ngột ngạt lắm rồi (Hoàn cảnh không làm cho người ta phấn khởi). Một thế hệ “rường cột” đang oằn rạp trước bão táp thời đại vì “không lí tưởng”. Hình tượng nhân vật Trương tượng trưng cho sự thất bại của chủ nghĩa cá nhân cực đoan (Tuyết trong Đời mưa gió cũng tự đốt hết tất cả các bức thư và những kỉ vật của mình và Chương trước khi ra đi vô định). Nhất Linh không hề nhẹ tay trong vấn đề này. Ngòi bút tinh tế của ông đã lách vào “dòng ý thức” của Trương (như giấc mơ, vô thức, linh cảm…) để làm rõ “cuộc vật lộn âm thầm, lặng lẽ nhưng dai dẳng, quyết liệt trong tâm tư, tình cảm của nhân vật”[63;7]. Trong Bướm trắng, chủ nghĩa cá nhân cực đoan hiện hình ở sự trụy lạc, ở ý muốn giết người một cách vô cớ, vô lí, toan tính tự kết liễu một cách vô vọng. Song rốt cuộc, thứ chủ nghĩa ấy cũng phải những chỗ cho những ý nghĩ trong sáng, những hành động mang màu sắc của điều thiện: Trương giúp đỡ mẹ con Nhan, tự lên án mình, lìa bỏ cuộc đời rắc rối” trước kia, trở về ẩn mình nơi thôn dã…Con đường quay về bến đò hoàn lương của Trương không đơn giản chút nào. Đúng như nhà nghiên cứu Trần Hữu Tá đã phân tích :”ơíả dối và chân thành, ích kỉ và nhân hậu, phóng đãng và tự trọng, bạo liệt và mực thước, thấp hèn và cao thượng…những mặt đối nghịch của tâm lí, tính cách cứ xen kẽ, đan chéo, xoắn quyện vào nhau khiến nhân vật lúc nào cũng như dang chới với bên bờ vực thẳm…Trương luôn tự tra vấn lương tâm, đấu tranh để tự kiềm chế cái xấu, cái ác, cái hèn kém ti tiện trong con người mình để giữ cho được trong chừng mực nhất định thiên lương, nhân phẩm”[63; 7].Trương viết thư cho Thu (sau đó không gửi vì tự giác ngộ ) : ”Bây giờ anh mới thấy chơi bời liều lĩnh như vậy là vô lí, là dại dột vô cưng…99, về sau, từ trong ý thức, vô thức, Trương luôn mong mình làm điều tốt đẹp. Cái tưạ đề Bướm trắng gợi đến một cái gì đó sáng trong, ẩn hiện, đuổi bắt. Cảm thức về miền trắng trong đã giúp Trương vùng ra khỏi tiềm thức u ám. Trương thấy cái ý tưởng “đánh lừa Thu để báo thù” làm cho anh “xấu xa và hèn mạt hơn lên”. Trương gặp Mùi – cô hàng xóm hồi nhỏ nay là cô gái điếm bất đắc dĩ, cho cô sáu mươi đồng, nói trong bàng hoàng ‘.”Số tiền này để phần em, nhưng em phải cam đoan một điều là cấm không được buôn thứ gì khác, phải buôn hàng xén như trước. Anh muôn thế, muốn em là một cô hàng xén”.

Tác giả Tự lực văn đoàn – con người và văn chương viết tiếp nhận định ‘.”Trước mắt ta là những con người sa đọa về nhân phẩm (Trương, Cảnh), những con người cô đơn, bất lực vì đã bị tước hết mọi vũ khí về tư tưởng, mọi quan hệ tốt đẹp giữa cá nhân và cộng đồng xã hội”[10; 19]. Theo chúng tôi, đây là những khoảnh khắc, trạng huống tâm lí của nhân vật mà tác giả đã mô tả. Và mô tả với đẩy con người vào là hai điều khác nhau. Trở lại với nhân sinh quan của Oanh.”Em thì em cho mình phải tự cứu lấy mình, trời mới cứu mình được”. Khái Hưng rất tin ở sự tự cải tạo của con người, có nghĩa là không hề có hiện tượng “bất lực vì đã bị tước hết moi vũ khí về tư tưởng”Với những gì đã phân tích, chúng tôi thấy Trương cũng không hề bị tước hết mọi vũ khí tư tưởng. Mặt khác, giữa cá nhân và xã hội cùng không hề bị lìa đứt hoàn toàn. Với Trương, “chàng cần một thứ êm dịu để an ủi lòng mình, thứ đó là tấm tình yêu của Nhan, người vẫn dịu dàng yên lặng yêu chàng và đợi chàng ở chốn quê xa xôi và yên tĩnh. Chốn đó, nơi mà chàng tưởng sẽ quên được hết, mà chàng vừa khao khát nhìn con đê lúc nãy, chốn đó không phải là cõi thế giới bên kia mà chính là nơi Nhan đương đợi chàng”. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Tự lực văn đoàn chủ trương giải phóng cá nhân, nhưng không phải là thứ các nhân cực đoan “chối bỏ mọi quỵ tắc và yêu cầu tối thiểu của đời sống gia đình và xã hội”[35 ; 13]. Cảnh, Trương đều mong muốn được sống trong mối liên hệ với mọi người. Viết Đời mưa gió, Khái Hưng và Nhất Linh “tả một gái đĩ thông minh và thi vị”[29; 668] nhưng đồng thời cũng phê phán quyết liệt, kín đáo kiểu sống phóng đãng, hưởng thụ, ngoài vòng luân lí của cô gái giang hồ tên Tuyết. Tuyết phóng bước vào đời mưa gió vì hai lẽ : một là, cô không thắng nổi sức cám dỗ của “tiếng gọi ở chốn xa xăm”, của “cuộc đời vô định”; hai là, cô tự nhận thấy mình không xứng đáng với Chương, so với Chương thì Tuyết “chỉ là một đứa giang hổ man trá, phản trắc, đắm đuối trong vực sâu mà không để ai cứu vớt…”, về lẽ thứ nhất, các tác giả rất thông cảm cho ngọn nguồn nỗi đau khổ của Tuyết (bị gả ép, lấy phải chồng không ra gì, nhà chồng đối xử cay nghiệt), song nhà văn cũng khách quan trả Tuyết trở về với đời mưa gió. Bởi vì Tuyết thuộc loại gái đĩ cực đoan (khác với Diên ương Nửa chừng xuân, Nhung trong trong Gánh hàng hoa), ở cô ít có những ý nghĩ và cảm xúc của một người phụ nữ bình thường. Với Tuyết, “tình ái chỉ là tình dục, thế thôi”. Cô “không sao làm vợ, nghĩa là làm vật sở hữu của ai được”. Tuyết không phân biệt được cuộc đời bằng phang với “những yêu cầu tối thiểu của đời sống gia đình và xã hội”. Hạng gái như Tuyết khó có đủ sức để vùng ra khỏi quá khứ đê tiện và khổ sở. Không nên vì điều này mà trách các tác giả không nhân đạo. Với Đời mưa gió, Khái Hưng và Nhất Linh đã phản ánh một nét hiện thực : những cô gái điếm cực đoan, phá phách như Tuyết khó có thể hoàn lương được. Chính quan niệm sống lệch lạc, quái dị đã ngăn không cho họ trở về với cuộc sống bình thường. Cuộc sống chịu trách nhiệm về sự xô đẩy, nhưng kéo lê trong bất hạnh không lối thoát là do họ, họ không có nỗi niềm tha thiết làm lại cuộc đời như cô gái trong bài thơ Tiếng hát sông Hương của Tố Hữu :

“Trời ơi em biết khi mô

Thân em hết nhục giày vò năm canh Tình ơi gian dối là tình

Thuyền em rách nát còn lành được không ?”

Về lẽ thứ hai, đó là sự tôn vinh đạo đức , luân lí. Một cô gái giang hồ không dám chấp nhận địa vị ngang hàng với một ông giáo là một điều bình thường. Nhất Linh và Khái Hưng trước sau nhất quán tư tưởng này. Hồi viết chung Gánh hàng hoa, đồng tác giả đã tỏ ra “nhẹ tay” với Nhung – một gái điếm hạng sang : cho là cô biết tự trọng, yêu Minh không phải vì tiền. Mê tài văn của Nguyên Minh, Nhung dùng nhan sác đế quyến rũ anh sinh viên cao đẳng tiếu học đã có vợ. Trước đó, đọc văn của Minh, Nhung tưởng Minh cũng là một người lãng mạn. “Nhưng một ngày nàng một hiểu rõ thêm rang trái tim của Minh và Nhung không thể đập hòa cùng một nhịp, và sự lãng mạn của Minh chỉ là lãng mạn êm đềm, trong sạch, khác hẳn với tình yêu phóng đãng cửa Nhung. Hạnh phúc của Minh chỉ có thể ở trong một gia đình chất phác, mộc mạc”. Quan điểm của các nhà văn Tự lực văn đoàn về vấn đề này là mực thước, đúng đắn, thực tế, không có gì đáng chê trách.

Ở tiểu thuyết Đẹp, giá trị khách quan về hiện thực thể hiện ở việc phản ánh tình trạng bế tắc của tuổi trẻ, trí thức, nghệ sĩ đương thời. Đó “toàn là nhân vật thực trong xã hội hiện thời, những nhà văn không lòng tự tin, những họa sĩ không lòng tự tin, những nhà chính trị không lòng tự tin. Một bọn hoạt động, hành động không có mục đích, hay chỉ có một mức đích thiển cận : quên”. Có thể thấy xã hội trong Đẹp cũng chính là xã hội sẽ được miêu tả trong Băn khoăn của Khái Hưng và Bướm trắng của Nhất Linh về sau. Đi tìm một định ngữ để tóm thâu bản chất tinh thần của một lớp thanh niên mất phương hướng lúc bấy giờ, nhà văn đã phát hiện ra ‘.”chỉ có mỗi một lí tưởng đích đáng vì có thể nói một cách dễ dàng, đó là lí tưởng ăn, uống, nhảy”.

Nhưng chủ đích của Khái Hưng khi viết cuốn tiểu thuyết này lại là nêu lên những quan niệm, ý thức thẩm mĩ của mình. Khái Hưng viết nhiều tiểu thuyết nhưng có lẽ Đẹp mới là cuốn tập trung viết về thế giới nghệ sĩ (Nguyễn Minh trong Gánh hàng hoa là một nhà văn bất đắc dĩ; họa sĩ Bạch Hải trong Nửa chừng xuân chủ yếu được miêu tả ở phương diện đời thường và đạo đức công dân; thi sĩ Hoàng Văn Giáp và tiểu thuyết gia Nguyễn Luyện trong Băn khoăn được miêu tả thoáng qua trong đám đông thượng lưu rởm). Thông qua việc đi sâu phản ánh, khám phá những nét bí ẩn đời sống riêng tư, suy tư và lao động nghệ thuật của họ, Khái Hưng đã chạm đến những vấn đề cốt lõi về nghệ thuật. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Họa sĩ Nam có suy đồi không ? Một cách trực cảm, ai cũng thấy đó là một con người tuồng như sinh ra để cống hiến cho nghệ thuật, một nghệ sĩ đích thực vì với Nam sáng tạo ra cái đẹp trở thành cứu cánh.”Tình yêu hội họa một ngày một lấn sâu mãi vào tâm hồn Nam. Vẽ cần cho chàng như ăn uống. Có khi hơn. Khống một lạc thú gì, không một sức mạnh lôi kéo được chàng đi đâu, một khi chàng đứng trước cái khung căng vải đặt trên giá, cái bảng màu cầm trên tay”.

Ở Nam hội tụ đầy đủ những suy nghĩ đúng đắn về những nguyên lí, tôn chỉ của nghệ thuật. Một là, nghệ thuật phải vô vụ lợi. Nam phản đối gay gắt khi anh em bạn khuyên anh nâng giá tranh sơn ta để kiếm lời ‘.”Lợi lộc ĩ Các anh làm như tôi là một nhà buôn không bằng !”. Hai là, nghệ thuật đòi hỏi sự sáng tạo khôn cùng ‘.”Suốt đời nghệ sĩ lúc nào cũng phải tìm tòi, cũng phải thí nghiệm…Ai dám tự phụ tới chỗ hoàn toàn, chỗ tột đích của nghệ thuật ?”. Vì thế, hình ảnh họa sĩ Hoành Sơn gợi lên trong Nam nhiều ý nghĩ : bản tính anh ta vụng về, thành công nhờ ngẫu nhiên, may mắn, vẽ đi vẽ lại ba người (vợ, con gái và người hầu gái) “trong hàng trăm hàng ngàn bức họa”. Phải chăng Khái Hưng muốn nói Hoành Sơn là “nơi gặp gỡ” của ba kẻ thù của nghệ thuật: bất tài, lười biếng và không sáng tạo ?

Nam còn là người có tinh thần dân tộc sâu sắc. Thú vị hơn nữa, trong con người nghệ sĩ của Nam, tinh thần dân tộc dựa trên cơ sở của tinh thần sáng tạo. Đó chính là chỗ dựa để Nam bác bỏ định kiến cho rằng “Đồ sơn ta xưa nay chỉ là tác phẩm của người thợ khéo, hay của nhà nghệ sĩ chuyên về trang hoàng hơn hội họa”. Tinh thần dân tộc đã giúp Nam “nâng sơn ta lên bậc ” đại nghệ thuật”, quyết không thua kém sơn dầu. Trong cuộc cách mệnh ấy, Nam tìm thấy niềm vui thực sự : “Làm sơn ta sướng hơn làm sơn dầu. Có nhiều cái bất ngờ lắm”.

Người ta thường dựa vào những phát ngôn dưới đây của Nam để bảo rằng anh suy đồi, quái dị:

“Người điên của tôi đẹp, tuy người ấy chẳng có một tí nhan sắc (…). Nhìn đối mắt liếc, cái miệng cười, cánh tay giơ ra vẫy, tôi nhớ lại cả một thời xưa, cái thời đẹp nhất của chúng ta chưa bị cái đẹp giả dối, cái đẹp sách, cái đẹp khoa học huyền dịu làm mất hẳn sự xét đoán của hai con mắt ngây thơ, thành thực và rất nghệ thuật của chúng tà”.

-“Cỡ có ngắm những người lên đồng không ? Mặt họ rạng rỡ, mắt họ sáng ngời, miệng họ tươi cười, điệu bộ họ lẳng lơ, thân thể họ uyển chuyển uốn theo nhịp đàn, linh hồn họ phiêu diêu bay trong hương khói. Đẹp !”

Lenin từng nói : “Nghệ thuật không đòi hỏi người ta phải thừa nhận các tác phẩm của nó như là hiện thực”[40; 62]. Nam là một nghệ sĩ. Lời nói của Nam bàn về nghệ thuật là lời nói mang tính hình tượng, triết lí. Chúng tôi không tin Nam khen một người điên và một người đang lên đồng là đẹp theo nghĩa đen của những từ ngữ, hình ảnh này. Chúng tôi tin Nam đang triết lí rằng cái đẹp luôn đòi hỏi sự vô tư (hình tượng người điên), sự sinh động, hấp dẫn (hình tượng người lên đồng). Trong lập luận của mình, Nam ra sức chống Lại chủ nghĩa giáo điều (cái đẹp sách), chủ nghĩa khoa học (cái đẹp khoa học), những thứ tự thân là trở lực của sáng tạo nghệ thuật, làm cho nghệ thuật ngày càng nghèo nàn, thui chột.

Tuy vậy, là một con người, Nam cũng có lúc có quan niệm sai lệch về ý nghĩa cuộc sống của mình. Cụ thể là Nam sợ gia đình sẽ ảnh hưởng đến hoạt động nghệ thuật, từ đó, anh đề cao chủ nghĩa độc thân. Công bằng mà nói đó là một quan niệm cực đoan, bi quan. Có điều quan niệm ấy không suy đồi. Nam vẫn lấy vợ và không có bằng chứng nào chứng tỏ Nam ăn chơi suy đồi. Hồi chưa lập gia đình, Nam quan hệ với các cô gái mến tài Nam và đem lòng yêu anh, đây có phải là biểu hiện của sự suy đồi ? Và ngày nay, hiện tượng này đã chấm dứt trong giới nghệ sĩ của chúng ta ? vả chăng, Khái Hưng đã phê phán quan niệm cực đoan. Ông đã để cho Ngọc – cũng là nhân vật tư tưởng – tranh luận, thuyết phục Nam.”Tôi thì tôi thấy không những có hại mà lại có lợi nữa. Nhà cửa, ăn uống có người trông coi cho, mình chỉ việc vẽ, hay nói kiểu cách, mình chỉ việc phụng sự nghệ thuật… Có khi mình được một người bạn thân, một người tri kỉ, và biết đâu, một tình nhân âu yếm suốt đời cũng nên”. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Nói chung, Tự lực văn đoàn không bao giờ chủ trương đồi trụy. Gạt đi những sai lầm về hoạt dộng chính trị của một số thành viên , họ là những nghệ sĩ đứng đắn, chân chính. Thậm chí, họ xa lạ với các ngón ăn chơi đương thời. Có lẽ duy nhất một lần họ đi hát ả đào. Đó là một buổi chiều, tửu hứng bốc cao, các “tai mắt” của Tự lực văn đoàn như Nhất Linh, Khái Hưng, Thạch Lam, Thế Lữ, Trần Tiêu và một số người khác như Nguyễn Tường Bách, Huyền Kiêu và Hoài Điệp Thứ Lang kéo nhau đi. Trong các nhà văn, không ai biết hát ả đào thì phải đi đâu. Kể cả “tác giả Hà Nội băm sáu phố phường xem chừng cũng không biết xóm yên hoa chính thức ở phố Khâm Thiên hay phường Vạn Thái?”[37; 50]. Bí thế, họ bèn đi hú họa xuống Ngã Tư Sở, bị các “chị em” bao vây tứ phía. Giữa lúc lúng túng như thế, may mà “Anh chàng Nguyễn Tuân, thổ công của làng Hồng Phấn, ngẫu nhiên ở đâu lù lù dẫn xác tới…Anh chàng liền can thiệp mở đường cho bọn tôi, và dẫn bọn tôi tới nhà Đào Sen. Một mình Nguyễn Tuân, ở nơi hàng viên, quả có bản lĩnh hơn cả bảy tám người chúng tôi hợp lại”[37; 50].

Thế đấy, các nhà văn Tự lực văn đoàn không bao giờ cậy mình là nhà văn để sống lãng mạn, buông thả như một số người vẫn nghĩ. Nhân vật Nguyễn Minh trong Gánh hàng hoa đã nói lên quan niệm này -.”Anh ạ, tôi cứ tưởng đời văn sĩ phải trái ngược với đời êm đềm trong gia đình đầm ấm. Nhưng mà không. Ta càng phóng đãng bao nhiêu, tri thức ta chỉ nặng trìu những tư tưởng vật dục. Rồi khối óc ta một ngày một thêm mờ ám. Muốn sống một đời văn chương, ta phải có tâm hồn bình tĩnh, nhẹ nhàng. Mà được thế, không gì bằng có một người bạn trăm năm và những bạn trung thành luôn luôn ở bên mình mà khuyến khích ta, mà an ủi ta khi ta bị thất vọng”.

Ngay cả khi miêu tả sự suy đồi thì câu văn, trang văn của Tự lực văn đoàn vãn không hề thô tháp, táo bạo, trần trụi. Trong các cuốn tiểu thuyết bị xem là vô luân thì có lẽ cảnh “bạo” nhất là cảnh này ‘.”Liên miên chàng nghĩ đến Thu, giờ này chắc đương ngủ yên và có lẽ cũng như đêm nào, bàn tay nàng đương đặt trên nền chăn trắng với ngón tay thon đẹp để soài ra và khẽ lên xuống theo nhịp thở. Trương đưa mắt nhìn người con gái nằm cạnh hai tay bỏ xuôi, ngực đều đều lên xuống. Nàng cũng mặc một chiếc áo cánh lụa hơi giống chiếc áo cánh của Thu. Trương nằm xuống gục đầu vào ngực cô gái, nhắm mắt lại muốn quên. Người con gái giật mình thức giấc, toan đẩy Trương ra, nhưng nghĩ lại, chiều khách, nàng giơ tay nhẹ vuốt tóc Trương” (Bướm trắng, tr. 72).

Trong Đời mưa gió có cảnh Tuyết say rượu và thuốc phiện “cám dọc tẩu phang mạnh vào cái chụp đèn thuốc phiện mà bắt chước tiếng pháo đùng”. Đó là thời điểm báo hiện sự cáo chung của thứ giang hồ hư vô, ngoan cố. ít nhất là ngay lúc ấy, những bạn chơi của Tuyết cũng không chịu nổi sự quá quắt của cô

: “Thấy diện tẩu và đèn thuốc phiện đã vỡ, Tâm, Tiến cũng chán ngắt, cáo từ Hanh, dắt tình nhân ra về”. Sang đến Đoạn kết, cô kiều nữ này hoàn toàn sụp đổ : “Cặp mắt sắc sảo, long lanh nay đã mờ sạm như mất hết tinh thần, chôn trong hai cái quầng đen sâu hoắm. Lớp phấn không đủ đầy để che đôi má hóp và những nếp nhăn trên trán. Màu son thắm bôi môi càng làm rõ rệt nỗi điêu linh của bộ mặt nhợt nhạt, xanh xao. Cái nhan sắc diễm lệ xưa đã tàn tạ như đoa hoa rã rời sau những ngày mưa gió”. Câu văn cuối cùng là sự nhận xét rất hay về hiểm họa của cái đời trụy lạc. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

KẾT LUẬN 

Có thể nói có một khuynh hướng hiện thực trong Tự lực văn đoàn. Tự lực văn đoàn được “xếp” nằm trong văn học lãng mạn, nhưng không vì thế mà nó lơ là hiện thực, trái lại, nó cũng nói tới hiện thực, tức là trong tác phẩm Tự lực văn đoàn có yếu tố hiện thực. Như vậy, lãng mạn hay hiện thực, cách mạng, trong hoàn cảnh Việt Nam trước đây, có lúc được đối xử không phải với tính cách như những khái niệm mĩ học, mà chủ yếu như những thuật ngữ xã hội học, chính trị học.

Ra đời trong bối cảnh không bình thường (bị nô lệ) và chứng kiến những bước ngoặt xã hội lớn lao, đồng thời tiếp xúc với văn minh phương Tây, nên tinh thần hiện thực có sức vẫy gọi đối với những dòng văn học lãng mạn trong đó có Tự lực văn đoàn.Tuy có lúc sa đà vào tình yêu lứa đôi hay những hiện tượng đời sống có tính ngẫu nhiên, thiên về lí tưởng hóa nhưng nhiều lúc, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã xông vào những ngõ đời ồn ã, sục vào những “sân chơi” trần thế rộn rịp, thu hút sự quan tâm của xã hội đương thời.

Khi vừa xuất hiện trên văn đàn, cùng với thơ mới, Tự lực văn đoàn đã đấu tranh không khoan nhượng với lễ giáo phong kiến lỗi thời, phi nhân, nhằm giải phóng hạnh phúc cá nhân. Trước hết, Tự lực văn đoàn đấu tranh cho sự lựa chọn tình yêu và hôn nhân. Từ thế giới hình tượng của những tác phẩm này, chủ nghĩa cá nhân được thăng hoa. Chiến thắng của tự do luyến ái đã làm nức lòng bao thanh niên nam nữ lúc bấy giờ. Mặt khác, chông lễ giáo phong kiến còn là chống thiết chế nghiệt ngã của nó là gia đình phong kiến. Công bằng mà nói đây là không gian đã góp phần làm nên những giá trị văn hóa truyền thống từ bao đời nay. Nhưng mặt trái của nó là sự buộc trói tự do của các thành viên, làm cho họ không có quyền mưu cầu hạnh phúc cho bản thân. Thời đại của chữ tôi cũng không chấp nhận chế độ hôn nhân đa thê. Theo thế hệ tân học, hôn nhân đa thê vây ráp con người trong sự đày đọa bất hạnh, truy bức nhân cách con người. Tự lực văn đoàn đã nói hộ tâm tình này của tầng lớp mới nói trên.

Không chỉ quan tâm đến vấn đề con người cá nhân, Tự lực văn đoàn còn hướng ra xã hội rộng lớn, phản ánh cuộc sống cơ hàn tăm tối của người nông dân trước Cách mạng tháng Tám, chừng mực nào đó bằng ngòi bút hiện thực. ở đề tài này, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã cố gắng làm rõ những nguyên nhân bần cùng hóa nông dân, trong đó nguyên nhân chủ yếu là sự bóc lột trắng trợn, tàn bạo của bọn quan lại, địa chủ, tư sản.

Cuộc sống bế tắc của người trí thức tiểu tư sản cũng được Tự lực văn đoàn tái hiện sinh động bằng bút pháp hiện thực. Có thể nói, đó là những phần hiện thực mà độc giả từng gặp trong tác phẩm hiện thực phê phán. Những trí thức, học sinh thất nghiệp, đói khổ lều bều trôi trên dòng đời đen lạnh. Thê thảm hơn nữa, họ bị mát nhân cách, bị tha hóa, thậm chí không phương cứu chữa. ơ những tác phẩm viết về đề tài này, bên cạnh việc tái hiện thực tại, các nhà văn đã đi sâu vào bi kịch tinh thần của giới tri thức, đó là những trang hiện thực tâm lí bất hủ. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Một trong những đặc trưng của chủ nghĩa hiện thực là tính nhân văn, nhân đạo của nó. Tính chất này không hiện ra trực tiếp theo kiểu cơ học mà được biểu hiện trong hình tượng, thông qua chất liệu cảm hứng và sự lí giải chủ đề. Nói cách khác, yếu tố hiện thực được chúng tôi tìm kiếm, phân tích trên phương diện chủ quan của tác phẩm (thể hiện qua lời của tác giả, lô-gích của sự miêu tả, qua “mạng lưới” những chi tiết làm nên thế giới hình tượng sống động của tác phẩm). Đứng trước tình trạng ngạt bức, tối tăm của nhân dân trong xã hội cũ, các nhà văn Tự lực văn đoàn đã thể hiện cảm hứng nhân văn, nhân đạo. Từng trang truyện đậm đặc sự cảm thông, chia sẻ, thương xót cho những kiếp đời bất hạnh.

Dựa trên cơ sở tình cảm nhân đạo, sự miêu tả của nhà văn có điều kiện hướng tới một phạm vi xã hội bao quát hơn, phát hiện ra nhiều kiểu nạn nhân mà người đời thường không để ý tới. Trong những đối tượng mà Tự lực văn đoàn bênh vực, bảo vệ thì phụ nữ và trẻ em được quan tâm nhiều nhất. Tinh hình này rất giống với văn học hiện thực phê phán. Phải nói thêm rằng ở phương diện đó, bên cạnh vấn đề cơm áo, miếng ăn, Tự lực văn đoàn còn nêu lên một hiện thực tinh thần rất đáng lưu ý : sự mòn tẻ vô nghĩa lí của những sự tồn tại, những kiếp người. Đây là lí do khiến người ta, nhất là những người phụ nữ bất hạnh, ngủ quên trong sự chịu đựng. Và thế là họ sống một kiếp đời mờ mờ nhân ảnh. Văn học hiện thực cũng có những tác phẩm rất hay về phạm vi cuộc sống đáng nói, thậm chí cho đến nay vẫn là một thách thức với văn học đương đại. Cũng chính phương diện thái độ phản ánh này đã tôn vinh những tên tuổi lớn của văn học Việt Nam từ 1900 đến 1945. Do đó, bỏ qua những định kiến mang tính lịch sử, giới văn học phải trân trọng mặt đóng góp nói trên của Tự lực văn đoàn.

Nhưng nhân đạo theo yêu cầu của chủ nghĩa hiện thực không chỉ là thương yêu mà còn đòi hỏi phải phê phán những lực lượng đen tối đẩy con người vào cảnh sống bất hạnh. Tự lực văn đoàn đã làm được điều này khá tốt, thậm chí ở nhiều trường hợp, họ còn là trợ thủ đắc lực cho văn học hiện thực phê phán. Cụ thể, đối tượng bị phê phán, lên án là bọn quan lại, bọn nhà giàu đè đầu cưỡi cổ dân nghèo bằng mọi thủ đoạn, cả vật chất lẫn tinh thần.

Đỉnh cao của sự phê phán là phê phán thực tại xã hội đương thời. Đó là một xã hội bất công, vô lí. Đây lại là một đóng góp lớn của Tự lực văn đoàn mà khoa văn học sử không thể làm ngơ. Cái lí ở đây là sự phê phán xã hội, trong chừng mực đáng tin cậy, phải đặt trên sự miêu tả, phản ánh đời sống thực tại như nó vốn có. Lúc nào Tự lực văn đoàn làm được điều này, lúc ấy trong tác phẩm của văn phái này có yếu tố hiện thực. Đằng sau những sự việc đời sống bình thường được tái hiện, người đọc thấy thấp thoáng tính phổ biến, tính quy luật của vấn đề. Phát hiện ra bản chất vô nhân đạo của xã hội thực dân phong kiến và lên tiếng phủ định nó, cùng với văn học hiện thực phê phán, Tự lực văn đoàn phẫn nào thức tỉnh nơi người đọc sự chán ghét nền tảng xã hội mà họ đang sống, khơi gợi ở họ ước vọng về một xã hội tương lại tốt đẹp hơn.

Tự lực văn đoàn là hiện tượng văn học phức tạp. Vì thế mà dù đã có một độ lùi thuận lợi nhưng việc nghiên cứu của chúng tôi vẫn gặp những khó khăn nhất định (về tư liệu; tập quán cảm thụ; bình giá, trình độ hạn chế của người làm chuyên luận). Người viết chuyên luận đã cố gắng hết sức nhưng chuyên luận không khỏi còn sơ lược, thiếu chính xác. Do vậy, một cách thành thực, chúng tôi rất mong nhận được sự trao đổi, góp ý, bổ sung quý báu của các chuyên gia. ( Luận văn Thạc sĩ: Hiện Thực Về Người Trí Thức Tiểu Tư Sản )

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Các nhân tố hiện thực trong văn xuôi tự lực văn đoàn

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537