Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH là bài mẫu mà mình muốn chia sẻ cho các bạn hôm nay. Về phương diện nghệ thuật chúng ta có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc tiếp cận với lối văn giản dị mà mực thước, thâm trầm. Từ nhân vật đến sự kiện, từ không gian đến thời gian, từ ngôn ngữ đến tình tiết…tất cả đều toát lên tính hiện thực của tác phẩm. Hiện thực, cụ thể mà không vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu; tầm khái quát làm cho những chi tiết về hiện thực trở nên sinh động và mang trong nó tính hàm súc cần thiết của văn chương và được khắc họa rõ nét trong bài mẫu: Đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954 – 1975 .
2.1. Cảm hứng khám phá vùng đất xứ Quảng
“Khoa học là cái ta, nghệ thuật là cái tôi”. Điều đó có nghĩa là sáng tác văn học nghệ thuật thuộc lĩnh vực sản xuất tinh thần, theo phương thức cá thể, mang đậm dấu ấn cá nhân muôn màu muôn vẻ. Mỗi nhà văn, nhà thơ khi cầm bút sáng tác đều bắt nguồn từ những trăn trở suy tư, những đau đớn dằn vặt, những rung động mãnh liệt của mình trước cuộc sống, trước những mảnh đời, những số phận. Những trạng thái cảm xúc đó chính là trạng thái tâm lý then chốt, bao trùm trong sáng tác của nhà văn và được gọi chung là cảm hứng sáng tác. Cảm hứng sáng tác quyết định sự khởi đầu cho sáng tạo văn chương. Biêlinxiki cho rằng: “Cảm hứng là trạng thái phấn hứng cao độ của nhà văn do việc chiếm lĩnh được bản chất của cuộc sống mà họ miêu tả, là sự thiết tha và nhiệt tình nồng cháy gợi lên bởi một tư tưởng nào đó” [15, tr.208].
Các tác giả nhiều bộ sách giáo khoa lý luận văn học cũng cho rằng: “Cảm hứng là một trạng thái tâm lý căng thẳng nhưng say mê khác thường. Sự căng thẳng của ý chí và trí tuệ, sự dồi dào về cảm xúc, khi đã đạt đến sự hài hoà, kết tinh sẽ bùng cháy trong tư duy nghệ thuật của nhà văn, dẫn dắt họ đến mục tiêu da diết bằng con đường gần như trực giác, bản năng” [31, tr.15].
Những người biên soạn Từ điển thuật ngữ văn học thì định nghĩa: “Cảm hứng là trạng thái tình cảm mãnh liệt, say đắm xuyên suốt tác phẩm nghệ thuật, gắn liền với một tư tưởng xác định, một sự đánh giá nhất định, gây xúc động đến cảm xúc của người tiếp nhận tác phẩm” [46, tr.32].
Qua những định nghĩa vừa nêu, chúng ta có thể hiểu cảm hứng sáng tác là thái độ tình cảm nồng nhiệt, say đắm của nhà văn khi thể hiện tư tưởng của mình trong tác phẩm. Nó là kết quả của việc thai nghén lâu dài, suy tư, cấu tứ, tưởng tượng trước đó. Vì thế tác phẩm được sáng tạo từ cảm hứng là “gan ruột, tâm huyết” chỉ bộc lộ những gì đã thật sự tràn đầy trong lòng người trào ra đầu ngọn bút, thăng hoa thành từ ngữ, hình ảnh, nhạc điệu, tình tiết… Khi đó cảm hứng đã trở thành một yếu tố của nội dung tác phẩm, nó thống nhất và gắn bó với tất cả các yếu tố khác thuộc về nội dung khác như đề tài, chủ đề, tư tưởng tác phẩm.
Đối với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, tình yêu quê hương xứ Quảng là nguồn cảm hứng bất tận tạo nên những tác phẩm để đời của ông. Từ điển văn học (bộ mới) viết về nhà văn Nguyễn Văn Xuân có đoạn: “Hầu hết các tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đều thể hiện một vốn kiến văn sâu rộng, một giọng văn giản dị, hồn hậu, đậm đặc chất Quảng Nam, và đặc biệt một tấm lòng yêu thương tha thiết đối với quê hương xứ Quảng” [18, tr.1227].
Cuộc đời Nguyễn Văn Xuân hầu như chưa bao giờ rời xa làng quê nhỏ bé của mình. Trước tác của ông cũng vậy. Ngoài hai quyển biên khảo Vụ án Truyện Kiều và Chinh phụ ngâm diễn âm tân khúc, các sáng tác còn lại của ông đều đề cập đến cuộc sống lao động sinh tồn và đấu tranh giữ nước của các tầng lớp nhân dân Quảng Nam. Ông đã may mắn có “một lỗ tai của nhà văn và một lỗ tai của nhà sử học. Cả hai đều tinh tường, tinh tế, đều rất “biết nghe”. Biết nghe và biết lọc. Biết lọc và biết chế tác” [70]. Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân dựa trên những tư liệu địa phương, lời kể của nhân dân, sự ghi chép, quan sát, lí luận cụ thể và duy lý của một người nghiện “đọc, học và viết”. Do vậy, tuy đề tài không mới mẻ nhưng có độ chín muồi của một sự thâm viễn, có sự thuyết phục của thực tiễn sinh động, độ sắc bén trong tư duy phân tích của người nghiên cứu sử học, sự lí giải của nhà văn hoá học, Quảng Nam học… Từ đó, những vấn đề đặt ra trong sáng tác của ông buộc người đọc không ngừng cùng nhà văn suy nghĩ, trăn trở để khám phá, đi đến tận cùng của chiêm nghiệm. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân sinh ra và lớn lên trên quê hương xứ Quảng. Sự gắn bó định mệnh ấy đã khiến nhà văn yêu xứ sở “Ô Châu ác địa” như yêu chính máu thịt của mình. Việc chọn viết về vùng đất và con người Quảng Nam thể hiện một tình yêu đất nước sâu sắc của nhà văn thông qua tình yêu đối với nơi chôn nhau cắt rốn. Đọc khảo luận Khi những lưu dân trở lại hay công trình sử học Phong trào Duy Tân ta thấy rõ “chất Quảng” đậm đặc trong những sáng tác này như một lẽ tất nhiên. Và khi sông núi, con người xứ Quảng đã thăng hoa dưới ngòi bút văn chương của ông thì “chất Quảng” càng rõ hơn trong những hình ảnh, chi tiết, sự kiện, nhân vật, cốt truyện. Nó là những kết tinh từ trái tim, khối óc của một cư dân xứ Quảng với sự am hiểu và tình yêu quê hương sâu sắc lạ thường. Dù quanh đi quẩn lại trong gần 20 tác phẩm của ông vẫn là thiên nhiên và con người Quảng Nam, nhưng người đọc không có cảm giác vô vị nhàm chán. Đọng lại trong lòng người đọc là cảm giác khám phá. Vẫn là đất ấy, người ấy, mỗi một tác phẩm nhà văn như đưa người đọc đến một góc nhìn khác để thấy những khía cạnh phong phú trong cuộc sống, tính cách con người xứ Quảng. Và gấp những trang sách lại, độc giả thích thú khi nhận ra một bức tranh về cuộc sống, thiên nhiên, con người xứ Quảng trong một thời kỳ lịch sử xã hội mà mỗi sáng tác như một mảnh ghép của bức tranh, đang hiện rõ dần trong tâm trí, cảm xúc của mỗi người. Nhưng giá trị tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không chỉ có vậy. Những hiện thực ngồn ngộn về một thời kỳ cụ thể lại đánh thức ở người đọc một quá khứ đã lùi xa của thời mở cõi, và gợi lên mối dây liên hệ vô hình với hiện thực hôm nay.
Nói đến thiên nhiên Quảng Nam là nói đến sự hội tụ của hình sông, thế núi. Núi thì sừng sững, trùng điệp; sông thì nước chảy xiết, nhiều ghềnh, lắm thác…. Những lưu dân Quảng Nam vì nhiều lý do khác nhau họ phải bám vào hình sông, thế núi đứt nối, trắc trở, thấp cao, gần xa…. để tồn tại. Hơn ai hết, Nguyễn Văn Xuân đã sinh ra và lớn lên trên mảnh đất nhọc nhằn gian khó này nên như một tất yếu khi nhà văn cầm bút viết về đời sống lao động, chiến đấu sinh tồn của người Quảng Nam thì hình ảnh sông núi vốn in sâu trong tâm khảm ông đã ùa vào trong những trang viết.
Có một điều làm khắc khoải những ai đã đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân: không gặp những bức tranh sơn thuỷ hữu tình của núi sông diễm lệ như thường thấy trong thơ văn nói chung. Thiên nhiên sông núi là đối tượng thẩm mỹ của văn chương, nghệ thuật. Thông qua thiên nhiên, người cầm bút bộc bạch tâm tư tình cảm của mình. Còn với nhà văn Nguyễn Văn Xuân, thiên nhiên sông núi là một phần đời sống của cư dân xứ Quảng. Họ phải dựa vào thiên nhiên ấy để sống. Họ phải chiến đấu với thiên nhiên để sinh tồn.
Có thể bạn quan tâm:
2.1.1. Một thiên nhiên khắc nghiệt, dữ dội ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Xứ Quảng có rất nhiều núi, đồi, đèo: Trà Mi, Bà Nà, Sơn Trà, Ngũ Hành Sơn, núi Chúa, núi Hiên, núi Giằng… đèo Le, đèo Giảm Thọ rồi Hòn Kẽm – Đá Dừng, Râm, Ri, Liêu…. Những tên núi, tên đèo vừa nên thơ vừa bình dị, gợi lên những miền hoang vu, xa ngái. Núi gắn liền với rừng: “rừng phủ kín, mênh mông, dày kịt, bao vây con người. Và rừng thì nhung nhúc hùm beo, rắn rết, thú dữ…” [27, tr.405]. Nếu nói Quảng Nam là vùng đất được các triều đại vua chúa từ thời nhà Hồ chọn để di dân, mở cõi thì dường như những tầm nhìn chiến lược này quan tâm đến vị trí “yết hầu” của miền Thuận – Quảng hơn là điều kiện để người dân sinh cơ lập nghiệp. Cũng có một vài nơi được xem là màu mỡ như vùng đồng bằng phù sa lưu vực của các con sông lớn, cũng như các sản vật khai thác từ rừng và biển….Dù sao, đây cũng là miền “đất hứa” đối với lưu dân nghèo, tội đồ bị lưu đày…. Chính từ mục đích ban đầu là mở cõi, là tạo thế trận quốc phòng nên việc khai thác kinh tế, sinh cơ lập nghiệp là nhằm củng cố cho chính trị. Vì vậy, bất chấp thiên nhiên khắc nghiệt của núi rừng, sông biển, cư dân Quảng Nam phải bám vào đó. Nó là con đường duy nhất để sinh tồn, sau khi họ đã thích tên châu trên cánh tay của mình.
Hình ảnh sông nước và núi rừng Quảng Nam đi vào sáng tác của Nguyễn Văn Xuân như nó tự nhiên vốn có. Vì vậy, đọc Bão rừng, Hương máu, Cây đa đồn cũ, Dịch cát, Xóm mới…. người ta không thấy vẻ hoang sơ, quyến rũ của thiên nhiên chốn núi rừng mà nó hiện ra đầy vẻ thách thức đe dọa. Trong tiểu thuyết Bão rừng, chính chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân 16 tuổi đã đi lập nghiệp ở một đồn điền mà cọp, voi ra vào bắt súc vật, đe dọa tính mạng con người .… như ra vào chốn không người. Hình ảnh con voi điên một ngà phá phách hết vùng này đến vùng khác, khiến cho tất cả công nhân ở đồn điền, cả dân Thượng đều phải sợ nó. Nó trở thành một nỗi ám ảnh trong cuộc sống hàng ngày của công nhân với nỗi phập phồng lo sợ cho tính mạng của mình. Nhà văn như đưa người đọc đến tận cùng nỗi sợ với hình ảnh một con bò: mắt mở trừng trừng, tái ngắt, lưỡi thè dài như kẻ thắt cổ “hai bên khóe đọng đầy máu” [63, tr.62]. “Ông ba mươi” đã từ rừng vào thẳng đồn điền gieo rắc những cái chết kinh hoàng!
Ngòi bút của một nhà biên khảo, một sử gia về Quảng Nam, lại viết về vùng đất mà chính mình đã sinh ra, lớn lên nên sáng tác của Nguyễn Văn Xuân bộc lộ sự am hiểu sâu sắc, kỹ càng về tự nhiên, văn hoá của vùng đất ấy. Núi rừng trong sáng tác của nhà văn còn ẩn giấu bên trong nó một nền văn hóa nhuốm màu huyền bí mà ta chưa khám phá hết. Trong Bão rừng, những âm thanh của tiếng khèn não nùng như tiếng gọi của đêm thăm thẳm đang chờ một phút bất ngờ để từ rừng sâu tiến lên chiếm hết không gian làm cho chàng trai Nguyễn Văn Xuân như cảm nhận được “rừng đen có vẻ sợ hãi, cúi xuống, níu sát vào nhau” [63, tr.150]. Những giảng giải của nhà văn về chiêng Trà Bồng, về giọng “Bù rốp”, “Bù rắp lay, lay, Bù rớt bù rởn” [63, tr.484] như đưa người đọc đến tận cùng sự khám phá những bí ẩn của núi rừng chứa trong âm thanh những nhạc cụ mà người dân tộc đã gởi gấm đời sống tâm hồn tình cảm vào đó. Đó cũng là cái hồn của núi rừng đại ngàn hoang sơ. Núi rừng trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân không phải là không có những cảnh hùng vĩ nhưng dường như nó rất hiếm hoi. Khác với nhà văn Nguyên Ngọc đã tả một Rừng xà nu hoành tráng, kỳ vĩ, mãnh liệt, sinh tồn bất diệt như một ẩn dụ về sức sống, ý chí kiên cường bất khuất của người dân Tây Nguyên, Nguyễn Văn Xuân miêu tả thiên nhiên như nó vốn có. Trên nền thiên nhiên ấy ông muốn cho người đọc thấy được con người Quảng Nam đã đã dựa vào rừng để sinh tồn như thế nào. Rừng có thể cho con người những “cái nhung còn tươi mướt, màu nâu non” [63, tr.56] để làm thành thuốc bổ thượng hạng. Người dân tộc còn chế ra những loại rượu rất ngon như rượu bắp uống mà không hề sợ say (Bão rừng). Rừng núi cung cấp “thịt rắn, thịt rùa, cả thịt ve ve, cắc ké, kỳ nhông […]. Thỉnh thoảng, đặt bẫy bắt được con heo rừng hoặc con cọp […]hạ được chú hoẵng, chú nai, thật là những ngày sung sướng” [63, tr.258]. Và “những thứ rau rừng như cải bay, rau dền, rau sưng”, “những mít non, măng non về luộc, nấu canh…” [63, tr.257] đều là những của cải mà rừng hào phóng ban tặng. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Nhưng như câu thành ngữ “ăn của rừng rưng rưng nước mắt”, rừng có thể nuôi sống, che chở cho con người nhưng cũng sẵn sàng cướp đi sinh mạng con người bất cứ lúc nào. Những ai sống bám vào rừng như đánh đu với số phận của mình. Họ phải làm thế bởi họ không còn cách lựa chọn nào khác. Trong Bão rừng, mấy trăm mạng người phải làm phu cho đồn điền của lão Mẹc, ngoài ách áp bức bóc lột của chủ, họ còn phải chịu đựng những cơn sốt rét rừng không ngừng tấn công những con người ốm yếu, quanh năm đói rét. Hình ảnh bác Liễn “cánh tay gầy đét, da bọc xương như sợi dây bẩn [….] mi mắt trắng nhợt, tròng ngươi đờ đẫn” [63, tr.97] do nhiều ngày chịu đựng cơn sốt rét rừng mà không hề được chăm sóc thuốc men. Thân thể của người công nhân ấy trong cái nhìn của chàng trai 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân như một ám ảnh mà 18 năm sau, khi cầm bút viết Bão rừng, nhà văn đã miêu tả hình ảnh ấy rõ mồn một: “Bộ ngực còn thảm hại hơn. Tuy bác mặc áo nhưng từng chiếc xương sườn in hằn lên rõ rệt. Qua cổ áo để trống, hai chiếc xương trên nhất của lồng ngực nhô hẳn lên, cao cho đến nỗi đào thành một lỗ thịt khá sâu trong yết hầu, dưới trái khế cũng cao nghêu” [63, tr.100]. Nếu ai chưa một lần nếm trải cảm giác của những cơn sốt rét rừng thì chỉ cần đọc Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân có lẽ phần nào đã mường tượng đến 7 – 8 phần cái cảm giác ấy. Trong 233 trang tiểu thuyết, nhà văn miêu tả bốn lần sốt rét rừng của bốn nhân vật. Ngoài bác Liễn đã bỏ mạng vì nó thì chị Sáu, một người làm công trong gia đình mụ chủ, bị cơn sốt rét dằn vặt dữ dội đến độ “rung hết cả giường chiếu, rung vách gỗ, vách gỗ rung sợi dây thép làm mấy chiếc khăn giăng trên đó cứ như bị động kinh” [63, tr.187]. Và đến lượt chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân trở thành một sinh vật yếu đuối, không kháng cự được với những con vi trùng sốt rét. Cơn bệnh như một quái vật luồn lách vào từng đường gân, thớ thịt hành hạ đau nhức làm cho con người lúc tỉnh, lúc mê, dở sống, dở chết: “Trời đất, quay chong chóng! Thở hổn hển và khát nước. Run bần bật và nóng như lửa, và lạnh như băng giá, lưỡi môi khô cháy và tâm hồn trống rỗng, mênh mông… Những cơn sốt đầu tiên của núi rừng vật nhào tôi, rấn những gót giày không xót thương lên ngực, lên hông tôi, làm tê dại xương sống tôi, làm đảo lộn hết các tế bào mong manh nhất tạo nên cơ thể tôi. Tôi mê rồi tôi tỉnh, tỉnh rồi mê. Lúc tôi tưởng sáng hoá chiều, tưởng ngày hoá ra đêm thăm thẳm và cô độc. Đầu tôi như có búa bổ, nhiều lúc đau tưởng nghe kêu răng rắc trong đó” [63, tr.204]. Căn bệnh sốt rét rừng quái ác đã khiến cho những người khi mới cất bước ra đi là những chàng trai lực lưỡng, cường tráng nhưng khi trở về thì trở nên “bủng beo”, mà cũng không biết rằng có còn toàn mạng mà trở về hay không? Một người mạnh khoẻ như Bộc, 6 thanh niên không thể vật ngã được vì những bắp thịt của anh như bằng thép đúc “Bộc sẽ trở nên kẻ thù vô địch của các vi trùng, dẫu âm thầm dũng mãnh như sâu sốt rét” [63, tr.190]. Nhưng không ngờ cơn sốt rét đã đập Bộc như một nhát búa giáng xuống sau gáy “Anh ngã gục xuống, rồi từ trên giường, lăn xuống sàn và lăn khắp nhà. Bệnh anh rất lạ, mặt anh vàng, lưỡi vàng, hai mắt cũng vàng và nhiều lúc tưởng anh tắt thở” [63, tr.229]. Qua ngòi bút miêu tả chân thực của nhà văn, sự nguy hiểm của cuộc sống mưu sinh dựa vào núi rừng như hiển hiện trước mắt người đọc. Để tồn tại, con người phải vật lộn, giành giật lấy sự sống từng giây, từng phút.
Bên cạnh núi rừng đầy thú dữ và căn bệnh sốt rét quái ác chực chờ cướp đi sinh mạng con người thì sông suối với những nỗng cát mênh mông, những cơn bão lũ gào thét cũng là một thiên nhiên khắc nghiệt thứ hai mà con người phải chiến đấu để giành giật sự sống. Quảng Nam có rất nhiều sông, sông nào “thế nước cũng chảy gấp”. Những dòng sông này khi “chảy vào” tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân vẫn đầy rẫy những hiểm nguy như nó vốn có. Có những quãng sông nước rất sâu, lại hẳm, chỉ cần sơ sảy là mất mạng như chơi (Cái Giỏ). Hay những quãng sông mà chỉ nghe tả người đọc đã hình dung tất cả sự nguy hiểm từ dòng sông ấy: “Tiếng nước ầm ầm vang động, có lúc tưởng như muôn ngàn lượn sóng tới tấp đuổi nhau rồi cùng đánh ầm xuống một cái hố sâu vô tận. Ở xa xa người ta đã thấy những lằn sóng chạy quanh cái xoáy vĩ đại, réo mãi không ngừng. Những tiếng hang sâu, vực thẳm không gợi được cảm giác ghê rợn của người đi qua đấy, khi nghĩ rằng, chỉ một sự vô ý nhỏ, vì không tránh được dòng nước, người lái thuyền đành để thuyền bị hút dần vào xoáy. Thuyền cứ từ từ vòng mãi, vòng mãi, xoáy cứ thu hẹp lại theo từng cấp bậc quanh rốn nước, từ cao xuống thấp, thấp dần. Còn thuyền tuần tự đi, khá nhanh, như có bàn tay của định mệnh dẫn lối, theo từng khu ốc, khép lại bằng một dòng nước không bao giờ ngớt gào thét hãi hùng. Người ta không biết sự gì xảy ra cho đến hôm sau, lại thấy những con chim lạ quần trên cao, phát ra những tiếng kêu lanh lảnh. Ở các bến xa, người thuyền chài vô danh nhặt được từng tấm ván của một chiếc thuyền nát lững thững trôi về” [63, tr.375]. Hình ảnh thiên nhiên sông nước hiện lên trong văn của Nguyễn Văn Xuân như một hung thần với tâm địa độc ác, sẵn sàng dìm chết những chiếc thuyền vô ý trượt vào những ranh giới vô hình nguy hiểm. Những sông ngòi ở Quảng Nam chằng chịt với đặc điểm “Sông ngắn, độ dốc lớn, nước chảy nhanh gây không ít khó khăn cho việc mưu sinh của cư dân xứ Quảng. Theo con số thống kê thì đỉnh lũ của sông Thu Bồn – Vu Gia có năm “lên đến 1,92m, gây nhiều thiệt hại về tài sản, có khi cả tính mạng” [58, tr.42]. Chỉ trong huyện Đại Lộc của Quảng Nam mà “trừ các tháng 3,4,5, còn các tháng khác, đều có khả năng có bão đổ bộ” [58, tr.42]. Với bão, lũ thường xuyên như vậy, lưu lượng dòng chảy lớn nhất ở các sông có nhiều năm lên đến 6390m3/s (theo tài liệu đài khí tượng thuỷ văn Trung Trung Bộ). Riêng Sông Thu Bồn “mùa lũ, dòng nước chảy cuồn cuộn với tốc độ 3 – 4 m/s và sức xâm thực mãnh liệt, nên lượng cát ngâm trong mùa này rất lớn. Lượng cát ngâm trong mùa lũ gấp 2, 3 lần cát ngâm trung bình năm và gấp 5 – 7 lần mùa cạn” [58, tr.44]. Chính lượng cát này đã tạo nên những động cát, nỗng cát kết hợp với những dòng chảy ngầm trong lòng đất của những sông ngòi chằng chịt đã không ngừng kiến tạo những địa hình tiềm ẩn nguy hiểm, đầy bất ngờ cho cư dân sống nơi vùng sông biển. Có một Xóm mới hình thành trên một động cát, mọi người chưa kịp mừng vì từ nay đã có nơi chốn gọi là nhà để đi về, an cư lạc nghiệp, thì chỉ trong một đêm, tất cả đổ sụp trong biển cát. Cát tràn ngập, nước sông dâng lên, chôn vùi bao kiếp người tha phương cầu thực. Cảnh “thương hải tang điền” phi lý và rùng rợn khiến người đọc phải đau lòng. Sống trên cát, khi chết những lưu dân lại vùi thân trong cát. Người ta gọi Nguyễn Văn Xuân là nhà “Quảng Nam học” bởi sự am tường của ông về xứ sở và con người Quảng Nam. Điều đó thể hiện trong từng trang viết ngồn ngộn kiến thức về địa lý, lịch sử, phong tục tập quán nơi đây. Chỉ riêng chi tiết về những động cát, nỗng cát ta đã thấy mỗi trang viết của ông là sự chắt lọc, gạn gợi của người từng sống và hiểu rõ vùng đất đầy cát này. Chẳng thế mà ông viết về nạn “bù chắt” cát ở miền biển rất rõ ràng, sinh động. Những cư dân sống nhờ vào nghề đi biển, họ phải chịu nạn “bù chắt” trong cát, những giống vật nhỏ, “màu ửng ửng đỏ” ấy, ban ngày rúc vào quần áo, ban đêm “cắn da, cắn thịt con người” [63, tr.406] đến độ dân đi biển nghèo thiếu đồ mặc ban đêm họ phải ngủ trần truồng (Dịch cát ). Nhà ở trên cát, sống chung với cát, nên khi chồng chết, chị Sinh đã đào một lỗ huyệt ngay cạnh giường chồng và dùng sức lực tàn của mình đẩy xác xuống hố cát.Và đến lượt chị bị hành hạ bởi trận dịch kỳ lạ trong vùng cát, chị đã “như điên dại, chị cào cấu, ghì cả mười đầu ngón tay, móng tay đã chảy máu xuống cát, hai chân đạp thủng cát thành hai lỗ lớn” [63, tr.411]. Nhà văn để lại cho người đọc những trang viết với nỗi ám ảnh khôn nguôi về cuộc đời những con người bị dồn đến bước đường cùng của cuộc mưu sinh ở những nơi mà “cát như kéo tận đến chân trời”[63, tr.427]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Những dòng sông bão lũ triền miên có thể giúp con người kiếm chén cơm manh áo nhưng cũng sẵn sàng nhấn chìm thân xác họ vào dòng nước chảy xiết tàn bạo của nó. Nhân vật Năm Cụt (Cây đa đồn cũ) đã sống nhờ vào những cơn nước lũ. Khi nước lụt đục ngầu, trắng xoá, đổ xuống như thác réo suốt đêm dưới sông, trời đất câm lặng, nhường tất cả vang động cho dòng nước với những tiếng đất lở ầm ầm thì cũng là lúc anh Năm Cụt chuẩn bị những chiếc bè chở những thân cây chuối về xuôi. Mỗi cây chuối ở vùng núi giá chỉ vài đồng nhưng vào ngày lụt lội mang về thành phố ở vùng đồng bằng giá tiền có thể lên gấp hai mươi hay ba mươi lần. Và “muốn được cái giá đó, còn phải đem chơi với sông nước, với sóng gió, với bão lụt một mạng người” [63, tr.366]. Cuộc mưu sinh trên sông nước của cư dân Quảng Nam không kém phần nghiệt ngã. Những lúc sóng yên, sông lặng thì kiếm được ít cá hơn những lúc lũ to, nước dâng tràn. Thiên nhiên như không ngừng đặt con người vào những cơn thử thách sinh tồn. Nhưng con người không hề lùi bước. Họ không có quyền lựa chọn, chỉ có một cách là đứng lên, tiếp tục sống nếu không muốn bị chôn vùi trong cát, trong nước. Trong Ngày cuối năm trên đảo, truyện ngắn ở giai đoạn thử bút, nhà văn đã miêu tả cuộc sống dưới miền biển của những ngư dân ở một làng chài. Cuộc sống mà theo nhà văn “nó to lớn quá nhưng cũng mong manh quá chừng, cuộc sống của những người dân chài sống hôm nay và không biết số mệnh ngày mai sẽ dắt tới đâu” [26, tr.1078]. Đó không phải là một triết lý sống yếm thế, bi quan. Nó là một thực tế mà những người sống bằng nghề sông nước phải dũng cảm, can trường đối mặt. Sống và chết đối với họ chỉ là gang tấc. Trong truyện ngắn Cái giỏ, nhân vật Bốn khi chụm chân nhảy xuống ghe để mang cái đầu Tây dâng cho “Nghĩa Hội” sơ ý làm ghe chòng chành, đã rơi ùm xuống sông. Không ngờ người thanh niên anh dũng ấy phải chịu một cái chết phi lý bởi nơi đậu ghe là một cái bến rất sâu, lại hẳm “lòng chảo sâu lút cây tre lồng ngà” [63, tr.311]. Khi mọi người tìm được anh thì xác đã trương phình, mặt đã tím đen. Trong Cây đa đồn cũ, cả Cát (người trả thù) và Hương Chỉnh (kẻ bị trả thù) đều vùi thân dưới dòng nước chảy siết, đen thẳm như chôn vùi bao oán hận của ngàn đời với tiếng kêu thê thảm như tiếng hú vọng về của những oan hồn.
Hình ảnh thiên nhiên vùng đất Quảng Nam trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là những trang ngồn ngộn chất liệu thực của vùng đất mở cõi. Chưa đọc tác phẩm của ông, ta đã hình dung Quảng Nam là vùng “Ô Châu ác địa”. Khi đã đọc ta càng khẳng định điều đó. Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta không thấy thiên nhiên được cách điệu, thi vị hoá, nếu có cũng rất hiếm hoi. Mục đích của nhà văn không chỉ dừng lại ở việc miêu tả thiên nhiên mà nó là nền hiện thực để thấy sự tồn tại của những con người can trường, dũng cảm nơi đầu sóng ngọn gió. Với mục đích như vậy, chiều sâu phản ánh của tác phẩm dường như không giới hạn. Thiên nhiên trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân gợi nhắc người đọc về thời mà “voi, tê giác, cọp, trâu rừng, nai, heo rừng…” [58, tr.46] chiếm cứ những khu rừng rậm ở đây. Một Quảng Nam đã định hình và tồn tại, phát triển từ những đợt di dân lớn trong lịch sử dân tộc, cuộc sống tha phương cầu thực trên những động cát, nỗng cát mênh mông như vẫn còn in đậm dấu vết trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Không gian trong sáng tác của ông có sự hoành tráng bởi sông biển, núi rừng nhưng không gợi cho người đọc sự kỳ vĩ của vũ trụ bao la mà ẩn chứa trong lòng thiên nhiên ấy những bí ẩn rùng rợn, chỉ chực chờ nuốt chửng mạng sống của con người. Trang viết của nhà văn như được chắt lọc từ sự khoắc khoải về số phận con người trên vùng đất mới. Trong đó, có số phận của chính nhà văn. Không chỉ gợi mở về quá khứ xa xăm, những trang viết của nhà văn về vùng đất Quảng Nam như thôi thúc người đọc tìm hiểu về một Quảng Nam hiện tại. Cũng đất ấy, người ấy, núi sông ấy… Quảng Nam sẽ như thế nào trong hành trình lịch sử của dân tộc? Và Nguyễn Văn Xuân, qua những trang viết của mình, đã khẳng định chính hình sông thế núi khắc nghiệt đã góp phần hun đúc nên “khí chất” con người Quảng Nam.
Quê hương giàu đẹp đã yêu thì quê hương gian khổ lại càng phải yêu hơn. Bằng những trang viết của mình, Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện tình yêu đối với “miền xương xẩu của đất nước Việt Nam”. Với tình yêu đậm đà, máu thịt, nhà văn như muốn nhắc nhở các thế hệ người đọc, lớp con cháu hôm nay luôn nhớ rằng: có một dải đất Việt Nam từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau vì đã có một Quảng Nam nhọc nhằn, gian khó trong hành trình mở cõi.
2.1.2. Vùng đất của những cuộc đụng độ quyết liệt trong lịch sử dựng và giữ nước của dân tộc ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Đọc những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, người đọc có cái hứng thú như đang lần giở những trang sử quan trọng của một vùng đất gắn liền với những biến động trong tiến trình lịch sử chung của dân tộc. Ngay từ thời mở cõi, lịch sử đã giao cho Quảng Nam sứ mệnh quan trọng nên vùng đất này đã xảy ra những cuộc tương tranh phong kiến và những cuộc đụng đầu lớn trong lịch sử chống xâm lược. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không bao quát các triều đại, các thời kỳ lịch sử mà nhà văn chỉ chọn một giai đoạn trong cuộc kháng chiến chống Pháp: giai đoạn, thoái trào, để làm nổi bật tính chất của phong trào yêu nước cũng như nguyên nhân thất bại của cuộc kháng chiến. Với kiến văn rộng rãi, sâu sắc của nhà sử học, Nguyễn Văn Xuân lần lượt dựng truyện từ cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu tử thủ thành Hà Nội năm 1882; cái chết của hai lãnh tụ “Nghĩa Hội” Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến năm 1887; đến cái chết của Thái Phiên, Trần Cao Vân trong cuộc khởi nghĩa 3/5/1916. Trong cuộc đối đầu lịch sử giữa một bên là thực dân Pháp với “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ” và nhân dân ta chỉ có một tấm lòng yêu nước nồng nàn, sâu sắc thì những cư dân Quảng Nam đã tỏ rõ ý chí quyết tử để bảo vệ đất đai đã gầy dựng khó nhọc trong quá trình Nam tiến. Điều này không chỉ thể hiện ở tầng lớp sĩ phu mà cả những người dân chân lấm tay bùn, những người lính vô danh. Trong Cái giỏ, chàng thanh niên tên Bốn quyết tâm bày binh bố trận để chặt được đầu thằng Tây dâng lên thủ lĩnh Nghĩa Hội như một điều kiện gia nhập tổ chức. Và những người lính có tên, không tên trong Nghĩa Hội đã kiên cường chiến đấu trước sự bố ráp của kẻ thù như một minh chứng về lòng yêu nước. Ta cũng xúc động trước nghĩa cử của Viên đội hầu tuẫn tiết theo Hoàng Diệu khi thành đã mất. Nếu thuở xưa cư dân Quảng Nam đã cứng cỏi đối đầu với thiên nhiên khắc nghiệt, với bao thế lực thù địch để bám trụ ở vùng đất này thì giờ đây họ đã lấy tính mạng của mình để bảo vệ nó. Trong cuộc đụng độ lịch sử của Quảng Nam với thực dân Pháp, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã kịp ghi nhận nét đẹp trong nhân cách con người Quảng Nam: hy sinh vô điều kiện cho Tổ quốc. Câu nói khẳng khái của Nguyễn Duy Hiệu trước nghĩa quân “tồn ngô đảng, tha nhật hữu thành ngô chí giả, ngô sanh giả” (Bảo vệ được Đảng ta, ngày kia có kẻ hoàn thành chí của ta thì đó cũng tức như ta sống vậy) đã thể hiện lý lẽ của sự hy sinh: vì cuộc chiến đấu ở ngày mai. Viết về thời kì này, nhà văn muốn “vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử của dân chúng, của những diễn viên hoặc khán giả của chính lịch sử ấy mà tự họ đã để thực tế, sự kiện lùi dần nhường chỗ cho huyền thoại lan ra” [63, tr.238]. Điều đó nói lên phần nào sự phản ánh rất trung thực của nhà văn đối với các sự kiện lịch sử, nhân vật lịch sử. Cuộc đụng độ thứ hai với tên đế quốc sừng sỏ thế giới vào năm 1965 cũng diễn ra ở Quảng Nam. Lần này, Nguyễn Văn Xuân không phải nghe kể mà ông tận mắt chứng kiến thủ đoạn tàn ác của đế quốc Mỹ. Nhà văn không có những tác phẩm độc đáo như Nguyên Ngọc viết về cuộc chiến đấu chống Mỹ của đồng bào Tây nguyên, ông như một người quan sát kín đáo, thâm trầm ghi nhận ngay sự khác biệt của chủ nghĩa thực dân mới Mỹ đang ráo riết áp dụng ở miền Nam Việt Nam so với chủ nghĩa thực dân cũ: đẩy mạnh xâm lăng văn hóa. Ngoài những cơ quan văn hóa phản động được thành lập để lôi kéo văn nghệ sĩ, thanh niên, học sinh thì những phim ảnh, sách báo, băng đĩa,…. suy đồi được du nhập từ phương Tây đã phục vụ đắc lực cho chính sách văn hóa thực dân mới của chúng. Lối sống “hiện sinh” thác loạn theo kiểu Mỹ đã làm băng hoại đạo đức, thuần phong mỹ tục, làm vẩn đục tâm hồn của thế hệ trẻ chỉ biết có hưởng thụ hôm nay mà không biết đến ngày mai. Với ngòi bút tỉnh táo, Nguyễn Văn Xuân đã chỉ ra rằng cuộc đấu tranh chống đế quốc Mỹ là cuộc chiến tranh toàn diện, bao quát nhiều lĩnh vực: quân sự, kinh tế, chính trị, văn hóa .… Và như vậy nhân dân đang đứng trước thử thách đầy gian truân trong hành trình giành độc lập tự do cho Tổ quốc.
Ngoài ra, những tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân còn mở ra cho người đọc thấy cả một kho tư liệu dồi dào về lịch sử hình thành những đồn điền, lịch sử làm giàu của giai cấp tư sản chính quốc, đời sống giai cấp công nhân Việt Nam trong các đồn điền. Qua đó, người đọc phần nào am hiểu chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp. Thông qua câu chuyện sinh động về chuyến đi “lập nghiệp” của chàng trai 16 tuổi, người đọc như thấy được sự chuyển biến mạnh mẽ của xã hội Việt Nam những năm đầu thế kỷ XX với sự hình thành nhiều giai tầng mới trong xã hội. Nếu Nguyễn Ái Quốc viết Bản án chế độ thực dân Pháp (1925) bằng hình thức tác phẩm văn chính luận thì Nguyễn Văn Xuân, với Bão rừng, đã viết “Bản án chế độ thực dân Pháp” bằng hình thức tiểu thuyết đầy chất hiện thực. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Một mảng hiện thực khác, tác động không nhỏ đến đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân ta thời Pháp thuộc cũng được đề cập đến trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân: “mộ lính tình nguyện”. Trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) và thứ hai (1939 – 1944), thực dân Pháp đã ném vào chiến trường ở miền Bắc nước Pháp không biết bao nhiêu “lính tình nguyện” đã “mộ” được ở các thuộc địa. Những người lính tình nguyện Việt Nam này không phải chiến đấu vì quê hương xứ sở của mình, họ phải làm bia đỡ đạn cho thực dân Pháp ở những xứ sở xa xôi, có khi tận Châu Phi. Nguyễn Văn Xuân đã mạnh dạn vạch trần thủ đọan “mị dân” bằng những danh từ hoa mỹ của bọn thực dân Pháp, phơi bày sự thật về những “lò thiêu” người, nạn kỳ thị chủng tộc đang diễn ra hàng ngày hàng giờ trên những xứ sở văn minh” (Một cuộc tấn công ). Người dân Việt Nam chẳng những phải bỏ mạng trong những cuộc chiến tranh phi lý tàn bạo của chủ nghĩa đế quốc mà họ còn bỏ mạng trong những “nhà tù tập thể” mà phần lớn những tù nhân không bao giờ biết vì sao mình phải đi tù. Đó là hệ quả của chính sách thuộc địa “nhà tù nhiều hơn trường học” tàn độc phi nhân của những tên “mắt xanh mũi lỏ” (chạy đua với tử thần). “Trò chơi” lùa hàng trăm tù nhân vô tội xuống tăng – xê để bắn đồng loạt hay bắn tỉa từng người khi họ đang “chạy đua” giành lấy mạng sống… quả là những trò chơi chết người mà chỉ có những bọn mang danh “khai hóa” mới nghĩ ra. Với giọng văn điềm đạm, mực thước của một nhà sử học, Nguyễn Văn Xuân cũng không giấu được vẻ ghê tởm, căm phẫn lẫn xót xa, uất ức mà những người dân ở những nước thuộc địa nhỏ bé phải chịu đựng.
Một lần nữa vùng đất “xương xẩu” của Nguyễn Văn Xuân lại chứng kiến một sự kiện lịch sử quan trọng: hiệp định Giơnevơ 1954, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược của thực dân Pháp ở Việt Nam. Sự kiện năm 1954 tác động mạnh mẽ đến tình hình chính trị xã hội ở hai miền Nam – Bắc mà vùng đất Quảng chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề ở thời kỳ thực thi hiệp định. Theo sử sách, thực thi hiệp định Giơnevơ là hai bên ngừng bắn, tập kết, chuyển quân và chuyển giao khu vực; lấy vĩ tuyến 17 (dọc sông Bến Hải) làm giới tuyến quân sự tạm thời cùng với một số khu phi quân sự ở hai bên giới tuyến. Nhưng sau đó, thực dân Pháp đã có hành động phá hoại hiệp định Giơnevơ, còn Mỹ thì thực hiện ý đồ đã vạch ra từ trước nhằm độc chiếm miền Nam Việt Nam, tiến tới độc chiếm toàn Đông Dương. Mỹ đã đưa Ngô Đình Diệm về Sài Gòn để thay Bửu Lộc (người của Pháp) làm thủ tướng bù nhìn ở miền Nam Việt Nam. Sự kiện lịch sử này đã đi vào sáng tác của nhà văn qua truyện ngắn Cây đa đồn cũ đầy tính thời sự. Trong tác phẩm, Nguyễn Văn Xuân đã ghi lại thời kỳ kinh hoàng, vô chính phủ sau hiệp định Giơnevơ, khi quân đội cộng sản rút đi, xã hội chưa kịp ổn định, gần như người ta tha hồ chém giết thanh toán lẫn nhau. Còn bọn tư sản, địa chủ thì mừng rơn. Chúng tha hồ hút xách, ăn chơi thả giàn, chẳng cần lo lắng gì nữa (Buổi tắm tất niên).
Như vậy, điểm qua số lượng tác phẩm có giới hạn của Nguyễn Văn Xuân, người đọc ngạc nhiên vì tầm phản ánh hiện thực lớn lao của nó. Hầu như nhà văn đã đề cập đến tất cả các sự kiện trọng đại có liên quan đến vùng đất Quảng Nam trong một giai đoạn lịch sử đặc biệt: từ khi thực dân Pháp xâm lược đến khi rút khỏi Việt Nam, Mỹ nhảy vào độc chiếm miền Nam. Những vui buồn trong cảm xúc của một tâm hồn văn chương nặng nợ với đời, kết hợp với sự phân tích hiện thực tỉnh táo của một nhà sử học đã làm nên giá trị đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Có sự kiện nhà văn phản ánh qua nhiều truyện ngắn (những cái chết oanh liệt của sĩ phu và nhân dân yêu nước chống Pháp) có sự kiện nhà văn chỉ phản ánh qua một truyện ngắn độ 8 – 9 trang (Buổi tắm tất niên). Nhưng không vì số lượng trang viết nhiều hay ít mà giá trị tác phẩm hạn hẹp. Nếu đối với con người, sự thọ yểu không tính bằng tuổi tác mà bằng những gì để lại mãi mãi cho đời thì cũng có thể nói như thế về những truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân. Sự thọ yểu của nó không phụ thuộc vào dung lượng mà tùy thuộc vào nội dung phản ánh hiện thực, ý nghĩa xã hội nhân văn mà nó đặt ra.
2.1.3 Vùng đất của sự tiếp biến văn hóa ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Văn hóa là gì ?
Tại hội nghị quốc tế do UNESCO chủ trì ở Mexico (từ 26/7/1982-6/8/1982) đã định nghĩa về văn hóa như sau: “Văn hóa hôm nay có thể coi là tổng thể những nét riêng biệt tinh thần và vật chất, trí tuệ và xúc cảm quyết định tính cách của một xã hội hay một nhóm người trong xã hội. Văn hóa bao gồm nghệ thuật và văn chương, những lối sống, những quyền cơ bản của con người, những hệ thống các giá trị, những tập tục và những tín ngưỡng; văn hóa đem lại cho con người khả năng suy xét về bản thân” [62, tr.24].
Định nghĩa của UNESCO cho thấy văn hóa không phải là một lĩnh vực riêng biệt mà là một tổng thể nói chung những giá trị vật chất và tinh thần do con người sáng tạo. Và văn hóa là chìa khóa của sự phát triển.
Theo Phạm Văn Đồng: “Nói tới văn hóa là nói tới một lĩnh vực vô cùng phong phú và rộng lớn, bao gồm tất cả những gì không phải là thiên nhiên mà có liên quan đến con người trong suốt quá trình tồn tại, phát triển, quá trình con người làm nên lịch sử” [62, tr.21]. Còn Trần Ngọc Thêm trong công trình Tìm về bản sắc văn hóa Việt Nam đã viết: “Văn hóa là một hệ thống hữu cơ các giá trị vật chất tinh thần do con người sáng tạo và tích lũy qua quá trình hoạt động thực tiễn trong sự tương tác giữa con người với môi trường tự nhiên và xã hội của mình” [53, tr.99].
Theo các định nghĩa trên thì các giá trị văn hóa bao giờ cũng hình thành trong một quá trình, được tích lũy qua nhiều thế hệ và có tính lịch sử. Tính lịch sử của văn hóa được duy trì bằng truyền thống văn hóa, tạo nên bản sắc văn hóa dân tộc. Trên thế giới có nhiều nền văn hóa có bản sắc riêng, trong một cộng đồng dân tộc ngoài truyền thống văn hóa chung thì có những đặc sắc văn hóa riêng của từng vùng góp phần làm nên vẻ phong phú độc đáo của văn hóa dân tộc. Học hỏi những tinh hoa văn hóa của người để làm giàu đời sống văn hóa của ta là nhu cầu tất yếu trong quá trình phát triển của một cộng đồng. Hành trình mở cõi của Quảng Nam đã gắn liền với hành trình giao thoa, tiếp biến văn hóa như thế. Quá trình này chẳng những diễn ra trong cộng đồng dân tộc: Bắc – Nam mà còn diễn ra giữa các dân tộc: Việt – Chiêm Thành, Ấn Độ, Trung Quốc….Và dấu ấn của nó in sâu trong văn hóa vật thể và phi vật thể của Quảng Nam. Chúng ta có thể tìm thấy điều đó trong đời sống hàng ngày của cư dân Quảng Nam hay khi nó đã thăng hoa trong ngòi bút của các nhà văn, nhà thơ, nhất là khi đọc sáng tác của một nhà “Quảng Nam học” như Nguyễn Văn Xuân.
Nếu xét ở khía cạnh văn hóa vật chất thì trong những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta thấy có sự tiếp nối trong việc định cư thành làng xóm cũng như trong đời sống lao động sản xuất của những cư dân “Bắc địa tùng vương”. Khi những cư dân Bắc hà di dân theo Công chúa Huyền Trân, theo Lê Thánh Tông hay là dân xứ Nghệ bị bắt trong chiến tranh Trịnh – Nguyễn…..Dù tự nguyện hay bị cưỡng chế, khi ra đi ít nhiều họ cũng “gánh theo tên làng, tên xã trong những chuyến di dân”. Do tính chất di dân là để mở mang vùng đất mới và do điều kiện thiên nhiên, khí hậu khắc nghiệt lại luôn phải đối phó với sự quấy nhiễu của người Chăm nên những lưu dân đã sống thành làng – đơn vị hành chính đã có ngoài xứ Bắc. Đặc biệt rất nhiều làng xã ở Quảng Nam đã được hình thành sau khi nhà Lê đại thắng Trà Bàn vào mùa xuân 1971. Phủ biên tạp lục của Lê Qúy Đôn cho biết, theo sự chia đặt, ghi chép của họ Nguyễn thì đến thế kỷ XVIII, xứ Quảng Nam quản 2 phủ, 11 huyện, với tất cả 779 trang, thôn, phường “Làng xã dựng lên nhiều, cư dân tập trung đông đúc, đất đai canh tác mở rộng, các ngành kinh tế công thương đều phát triển. Quảng Nam trở thành miền đất hứa, là hấp lực đối với nhiều dân nghèo ở Thanh – Nghệ bỏ quê trốn vào đây cư trú làm ăn” [43, tr.111]. Như vậy, những di dân này vẫn giữ nếp sống “làng, xã, thôn” đã có từ ngoài Bắc như một sự ổn định trong đời sống sinh hoạt. Theo bước chân lưu dân thì những nghề: trồng lúa nước, mộc, rèn,…..cũng tiếp tục phát huy thế mạnh ở vùng đất Quảng Nam. Những kiến trúc nhà ở được chạm trổ hoa văn khéo léo “nhà ngói lớn cột mít, phên lựa bằng gõ, kèo chạm láng bóng[…] những cây cột, những rui mè đẹp đẽ” [63, tr.242] mà người dân ở Tam Kỳ đã đốt bỏ để rút lui vào núi theo Nghĩa Hội là những kiểu kiến trúc chạm khắc của thợ Kim Bồng có “Tổ tiên nghề Kim Bồng vốn từ đồng bằng Bắc Bộ” [43, tr.388]. Còn thợ thi công chạm khắc những kiểu nhà ở thôn Văn Hà, huyện Tam Kỳ “cũng có nguồn gốc các làng nghề mộc từ ngoài Bắc vào” [43, tr.388]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Do tính chất của thiên nhiên, khí hậu, đời sống xã hội có nhiều thay đổi nên đời sống vật chất đã có sẵn hàng nghìn năm trong xã hội Bắc hà giờ đây phải có những thay đổi để phù hợp tình hình mới. Ngay từ đầu mới thành lập, những làng xã của Quảng Nam không thuộc một tộc, họ như ngoài Bắc. Nó gồm nhiều tộc họ bởi đó là vùng đất của sự cộng cư. Đó là những xóm nhà được mọc lên như một sự ngẫu nhiên có tính tất yếu trên bước đường tha phương cầu thực “ngày kia, cạnh bờ khe bên lối đi nhỏ bỗng hiện ra một cái xóm” [63, tr.421]. Và mấy mươi nóc nhà ấy đã mưu sinh bằng đủ mọi nghề trước khi họ phiêu dạt đến đây: mò tôm, bắt cá, buôn gánh, bán bưng, đan rổ thúng, làm ruộng, làm thuê….. Những lưu dân trên vùng đất Quảng Nam vẫn tiếp tục sinh sống bằng nghề nông, đồng thời cũng có nhiều nghề mới xuất hiện như một sự phủ định tư duy thuần nông nghiệp. Trong các sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy rất nhiều ngành nghề mà trước đây có thể chưa có, nếu có thì chỉ là nghề tay trái: từ nghề đúc chiêng đồng bán cho người Thượng đến nghề chài lưới ở một vùng có bờ biển dài 150km, nghề đóng ghe bầu,….Đặc biệt là tư duy thương nghiệp phát triển qua việc một số cư dân tách hẳn các nghề cũ để làm nghề buôn bán, trao đổi hàng hóa từ nơi này đến nơi khác. Việc xuất hiện những ngành nghề mới này chứng tỏ người Việt trong quá trình cộng cư với người Chiêm đã nhanh chóng học được những tinh hoa của nền văn hóa bản địa từng có thời kỳ phát triển rực rỡ. Một số bài nghiên cứu đã cho biết: “cách đây 5000 – 6000 năm cư dân bản địa đã tiếp xúc, quen thuộc với sản vật biển. Họ đã sử dụng chúng làm thức ăn […] Quảng Nam còn có những sản vật biển cũng nổi tiếng không kém. Đó là yến sào, bào ngư, vi cước cá, da cá, đồi mồi, san hô, xà cừ,….một số đã dược chú ý khai thác từ thời Chămpa và sau này được tiếp nối ở cư dân Việt” [43, tr.410]. Ngoài ra “người Chiêm Thành nắm rất rõ thời vụ và đã tiến hành khai thác yến oa (yến sào) ở các đảo ngoài khơi biển Đông. Đồi mồi, san hô của Lâm Ấp cũng được ghi trong danh mục các mặt hàng xuất khẩu, cống nộp từ thế kỷ VIII – IX” [43, tr.410]. Việc thích nghi với môi trường biển đã hình thành nên các nghề chuyên khai thác, đánh bắt hải sản. Bước đầu nghề này mang tính giản đơn, thô sơ sau tiến lên qui mô kỹ thuật. Lê Quí Đôn trong Phủ biên tạp lục cho biết: “các chúa Nguyễn đã lập nên đội Hoàng Sa để thu lượm ốc, đồi mồi, xà cừ, hải ba ở vùng đảo Hoàng Sa, Côn Đảo….” [43, tr.411]. Như vậy, người Việt chẳng những học nghề biển của người Chiêm Thành mà còn phát triển thành một ngành nghề có qui mô rộng lớn. Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân cuộc sống của những lưu dân – giờ đã thành ngư dân – có khi tổ chức thành từng đoàn thuyền đánh bắt với số lượng lớn cá ngoài biển khơi (Ngày cuối năm trên đảo), có khi chỉ là ghe thuyền đánh cá của một số người sống gần biển xem đó là một nghề để mưu sinh (Cây đa đồn cũ, Dịch cát, Xóm mới). Dù mức độ nhiều, ít khác nhau nhưng khi nhắc đến những ngư dân với nghề sông nước nhà văn đem đến cho người đọc về hình ảnh một cuộc sống tuy gian lao, vất vả nhưng nhộn nhịp, căng tràn sức sống. Trong lúc đau đớn nhất, chị Sinh (Dịch cát) đã nhớ đến những ngày hạnh phúc của đôi vợ chồng trẻ tuổi “những buổi mặt trời chưa dậy, chồng đã lên ghe nghề để ra biển, buổi chiều chị cùng bạn bè tới tấp đón ghe về. Nhớ ngày giỗ tết bên nhà chị, hai vợ chồng trở về với rổ cá ngon lành” [63, tr.409]. Rồi những bạn ghe chài mặc cho nước lụt đục ngầu, đổ xuống như thác réo suốt đêm dưới sông, họ đã mang đồ nghề chuẩn bị kéo những con cá trôi “lớn nhất” “béo nhất” từ nguồn trôi về, có con “bằng ống chân, vảy lớn, mình bạc trắng” [63, tr.365]. Qua những trang viết của mình, nhà văn đã truyền đến người đọc cái cảm giác hả hê khi những đoàn thuyền đánh bắt trở về với cá nặng, lưới đầy “thú vị nhất là cảnh ghe cá về trên sông. Những chiếc ghe bằng gỗ dài thườn thượt, chỉ chứa toàn rổ cá tươi” [63, tr.427]. Đó là cái cảm giác chỉ có ở những người gắn bó với cuộc sống của quê hương xứ sở bằng tình yêu máu thịt.
Nhiều ngành nghề đã có từ trước vẫn tiếp tục phát triển trong một cộng đồng xã hội mới: nghề đúc đồng, làm đường, sản xuất thuốc lá, đan ghe……Một số nhà nghiên cứu cho rằng công cụ, vũ khí bằng đồng ở Quảng Nam là một chứng tích cho mối quan hệ giữa hai trung tâm văn hóa Đông Sơn – Sa Huỳnh. Ở đây, chúng tôi không đi sâu vào tìm hiểu mối quan hệ này, mà ta chỉ biết đồ đồng, nghề đúc đồng có thể là một trong “những tác động vật chất đến từ Đông Sơn đã đẩy cơ tầng kinh tế – xã hội của cư dân Sa Huỳnh lên một tầm cao mới” [43, tr.325]. Và khi đến Quảng Nam, những lưu dân đã tiếp tục nghề đúc đồng với việc chế tạo ra những công cụ mới đáp ứng việc mưu sinh: làm ra những cái chiêng, phèng la….bán cho người Thượng. Có hẳn một làng sinh sống bằng nghề đúc đồng. Khi nghe tiếng chiêng, tiếng phèng la ở Ninh Hòa, chàng thanh niên Nguyễn Văn Xuân đã nhớ: “ở quê tôi, sát bên làng là một làng chuyên nghề đúc đồng” [63, tr.26]. Làng P.K mà ông Tú Bình sẽ về thọ tử hình cũng là “làng đúc, chuyên đúc những nhạc khí để bán cho dân Thượng” [63, tr.309]. Sáng nào người ta cũng nghe thấy tiếng chiêng, tiếng phèng la vang vọng từ làng này đến những làng khác. Những âm thanh ấy được nhà văn gọi trang trọng: “Tiếng Đồng”. Đó là một cái làng có thật: Phước Kiều, nằm giữa La Qua và Thanh Chiêm. Với trí tuệ, bàn tay tài hoa của cư dân Quảng Nam, họ không chỉ tạo ra những cái chiêng, phèng la mà họ đã tạo ra những nhạc cụ “đối với người Thượng, nó không chỉ thuộc về nghi lễ mà còn thuộc về âm nhạc nữa” [63, tr.471]. Ngoài ra, cư dân Quảng Nam còn phát triển những ngành nghề khác như trồng mía, trồng thuốc lá, trồng khoai lang….tạo ra những sản vật nổi tiếng. Chẳng biết từ lúc nào, Quảng Nam đã có câu ca dao:
“Tiếng đồn con gái Quảng Đà
Mất mùa thuốc lá chết ba ngàn người” [43, tr.497]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Câu ca dao phần nào nói lên “đặc sản” của xứ Quảng, nổi tiếng nhất là thuốc lá Cẩm Lệ. Với nghề trồng mía, người dân xứ Quảng đã tạo ra những thỏi đường đen ngọt gay ngọt gắt như một dư vị riêng của Quảng Nam mà trước khi về thế giới bên kia bác Liễn đã ao ước được ăn “một cục đường”. Và bác “cầm mẩu đường, run run đưa vào mồm” [63, tr.113]. Cũng như vậy, nhân vật Liễn trước giờ Chạy đua với tử thần đã nghĩ: “giá có ai đem vào đây một tán đường đen! Trước kia, Liễn không bao giờ tưởng tượng mình có thể nhai được cái thứ đường của tỉnh nhà mình “đen như cứt trâu” [63, tr.496]. Liễn “thèm” đường đến độ anh “ước gì cái đầu của một người bạn tù biến thành một cục đường đen”. Chỉ nghĩ đến đó thôi mà “Liễn nghe ở kẽ răng túa ra nước dãi thèm thuồng” [63, tr.479].
Như vậy, văn hóa vật thể Quảng Nam không chỉ đặc trưng trong văn hóa cư trú, văn hóa ngành nghề mà còn ở văn hóa ẩm thực. Và bề dày văn hoá ấy đã hiển hiện qua những trang viết của Nguyễn Văn Xuân. Cuộc sống và con người xứ Quảng là một phần trong kết cấu văn hoá của vùng đất này. Nó là những chắt lọc tinh tế nhà văn đã dày công gợi gạn từ bộn bề hiện thực của cuộc sống. Ở đây vừa có sự nối tiếp những ngành nghề trong đời sống xã hội Bắc hà vừa có những ngành nghề mới học được từ người Chiêm Thành. Bằng tài hoa, trí tuệ, sự cần mẫn, những cư dân Quảng Nam đã làm cho những ngành nghề mưu sinh ngày một phát triển. Qua đó thể hiện rõ sự giao lưu, tiếp biến văn hóa Bắc – Nam, Việt – Chăm.
Sự tiếp biến văn hóa không chỉ thể hiện trong đời sống văn hóa vật chất mà còn thể hiện trong đời sống văn hóa tinh thần. Điều này hiện rõ qua cách ứng xử của con người với tự nhiên, với con người; cách ứng xử đối với thế giới hiện hữu cũng như với thế giới chỉ tồn tại trong tâm linh, trong trí tưởng tượng. Đối với sông nước thẳm sâu, dữ dội, cư dân Quảng Nam đã thành tâm cầu khấn, lễ bái lực lượng thần bí như luôn tồn tại trong đời sống chung quanh họ. Những tín ngưỡng này nảy sinh trên cơ sở một nghề mới hình thành: nghề đi biển. “Với ngư dân Quảng Nam mối quan hệ giữa con người với môi trường tự nhiên, con người và thánh thần là mối quan hệ ba chiều Thần – Người – Biển” [43, tr.426]. Thế giới người đã khuất là những Tiền hiền có vai trò quan trọng trong đời sống tâm linh của họ. Ngoài ra, họ còn thờ cúng cá ông – thần Nam Hải – thờ rất nhiều “âm linh” khác. Vì vậy, khi về làm dâu xứ đảo, Nguyện (Ngày cuối năm trên đảo) đã thấy trong làng quanh năm toàn chuyện cúng tế quỷ thần và đâu đâu cũng có miếu thờ những Ngài mà người ở bên kia bờ biển không ai rõ lắm. Để chuẩn bị công việc làm ăn cho một năm mới, sau khi làm lễ đầu năm trong nhà xong, dân chài dẫn nhau đi cúng ra mắt ghe. Tác giả đã miêu tả: “lễ cúng chỉ có mâm xôi, mươi con gà luộc, chuối và rất nhiều đồ mã [….]ông Hương khấn vái rất lâu các vị thần linh của trời của đất, Hà Bá, Thủy quan, chúa Tiên Huyền nữ, các vị Ngũ hành, bà Mộc, bà Hỏa…..” [26, tr.1084]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Văn hóa phi vật thể còn thể hiện ở tinh thần “tam giáo đồng nguyên”, một điểm đặc biệt trong đời sống tinh thần của cư dân Quảng Nam. Vốn là những cư dân trong xã hội Bắc hà, một nơi mà ảnh hưởng của Nho giáo rất đậm nét, những lưu dân Quảng Nam vẫn hướng về Nho giáo trong quan hệ, ứng xử (dù việc di dân đến vùng đất Quảng Nam có một số thành phần cư dân đã “cãi lại”tinh thần của Nho giáo). Đạo Khổng – Mạnh vẫn còn duy trì rõ rệt trong tinh thần của những sĩ phu Cần Vương: phò vua Duy Tân, cứu nước. Đạo Phật vốn đã có ở vùng đất Chiêm Thành qua chứng tích khai quật Đồng Dương, một trong những di tích quan trọng vào bậc nhất và cũng đặc biệt nhất của Chămpa (Đồng Dương chính là đô thành Indrapura của vương triều Chămpa thứ IV do vua Indrapurarman II sáng lập vào năm 875). Trong số “229 hiện vật phát hiện ở khu di tích Đồng Dương thì trong đó có pho tượng Phật bằng đồng nổi tiếng cao hơn một mét” [43, tr.353]. Tượng Phật này cũng như các tượng Phật cùng kiểu khác được tìm thấy ở Đông Nam Á (Thái Lan, Inđônêxia, Ăngkor….) đều mang phong cách tượng phật Amaravâri của Ấn Độ. Như vậy, đạo Phật đã du nhập vào Chiêm Thành trong thời đại đất nước này còn phát triển rực rỡ. Khi người Việt vào cộng cư với người Chiêm thì tinh thần “thương người như thể thương thân” trong truyền thống đạo lý, tư tưởng Phật giáo thời Lý – Trần của dân tộc Việt gặp tinh thần Phật giáo của Chiêm Thành. Thế nên cư dân của hai dân tộc có thể cùng chung tín ngưỡng một cách dễ dàng. Thờ Phật tồn tại trong đời sống tâm linh của người Quảng Nam một cách tự nhiên như vốn đã có. Khi con voi điên tấn công, mụ La vừa chạy lấy súng vừa khóc và luôn miệng “lạy trời phật! Phật độ cho tai qua nạn khỏi, con xin làm đình làm chùa….” [63, tr.173]. Có thể thấy tinh thần phật giáo trong vẻ ung dung mà trang trọng của ông Tú Bình. Trước lúc ra pháp trường, ông đã đến bái lạy ở ngôi chùa trong làng Phước Kiều để “vị tăng già gõ một hồi chuông mõ, đọc một bài kinh siêu độ” [63, tr.321]. Đất Quảng Nam có mặt hướng ra biển nên song song với việc phát triển giao thương buôn bán với người nước ngoài thì một tôn giáo mới cũng giao lưu với vùng đất này: Thiên chúa giáo. Gần như toàn bộ dân cư ở làng Phước Kiều đều theo công giáo. Đặc biệt hơn “có đình và cả chùa nữa dựng không xa giáo đường bao nhiêu” [63, tr.47]. Đình thờ Tiền hiền, thờ các vị quan có công khai phá đất đai, chùa thờ Phật, giáo đường thờ chúa Giêsu. Rõ ràng tinh thần tôn giáo ở vùng đất này không chấp nê, không cứng nhắc mà tồn tại “hòa hợp” như chính đời sống cộng cư của những lưu dân Quảng Nam vậy.
Đất Quảng Nam còn là vùng đất học với tinh thần của “Ngũ phụng tề phi”, “Tứ hổ”. Nhưng qua việc học hành, thi cử của người Quảng Nam, nhà văn Nguyễn Văn Xuân cũng mở cho người đọc thấy một kiểu ứng xử khác của những người có học. Dù việc học hành của họ có chậm hơn cư dân xứ Bắc vì phải vật lộn với thiên nhiên khắc nghiệt, với các thế lực thù địch trong buổi đầu mở cõi, nhưng do truyền thống hiếu học lại thêm “núi sông thanh tú nên nhiều người có tư chất thông minh” [43, tr.242]. Theo tổng kết của Tiến sĩ Ngô Văn Minh trong hội thảo về Quảng Nam: “Quảng Nam không chỉ là vùng đất học đứng đầu Nam châu (các tỉnh phía nam đèo Hải Vân) mà còn vượt lên trên hàng chục tỉnh có truyền thống Nho học ở phía Bắc” [43, tr.242]. Trí thức đất Quảng là những người ưu thời mẫn thế trước hiện tình đất nước. Lãnh đạo phong trào Nghĩa Hội là tiến sĩ Trần Văn Dư, hoàng giáp Phạm Như Xương, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá Phiến….. Đặc biệt, khi viết Rồi máu lên hương nhà văn đã đề cập đến cuộc khởi nghĩa 1916, những người lãnh đạo phong trào đó vừa có trí thức Nho học như Trần Cao Vân, vừa có trí thức Tây học như Thái Phiên, Phan Thành Tài. Những trí thức này vận dụng hiểu biết từ việc học một cách uyển chuyển linh hoạt cho phù hợp với tình hình thực tế, không cứng nhắc, giáo điều. Tài hoa của người Quảng Nam không chỉ thể hiện ở thành tích học tập mà quá trình cộng cư với người Chiêm, người Thượng họ đã bộc lộ tâm hồn của những nghệ sĩ khi sáng tạo ra nhạc cụ cồng chiêng, phèng la bán cho người Thượng. Bàn tay khéo léo cùng nghệ thuật thẩm âm đặc biệt đã thể hiện sự nhạy cảm và tinh tế trong tâm hồn của những người có vẻ bề ngoài thô mộc (Tiếng Đồng).
Vẫn còn nhiều “mảng” chưa vỡ vạc về sự tiếp biến văn hóa trên vùng đất Quảng Nam. Dù sao qua những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta cũng hình dung được sự tiếp biến này diễn ra ở cả hai mặt văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần. Trên cơ sở truyền thống vốn có trong lòng xã hội Bắc hà, cư dân Quảng Nam đã tiếp thu những yếu tố mới với tinh thần cầu tiến, học hỏi, dung hòa…. Mục tiêu cuối cùng là làm cho đời sống vật chất, tinh thần của họ ngày càng phong phú hơn, tốt đẹp hơn. Trong quá trình đó, cư dân Quảng Nam cũng tỏ rõ một bản lĩnh và tính cách của xứ Quảng để hình thành bản sắc văn hóa riêng không trộn lẫn vào đâu được.
2.2. Cảm hứng ca ngợi tính cách, phẩm chất con người Xứ Quảng ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Tính cách của con người là một trong những năng lượng tinh thần nằm ở tầng sâu nhất chi phối mọi hành vi của con người, tạo thành bản sắc riêng không lẫn vào đâu được. Mỗi người sống trong cùng một điều kiện tự nhiên, địa lý, lịch sử, văn hóa xã hội … ngoài những nét riêng hình thành bản sắc cá nhân thì đều có những nét chung tạo thành bản sắc của một cộng đồng, thể hiện rõ nhất qua tính cách cộng đồng đó. Giáo sư Nguyễn Văn Hạnh đã khẳng định: “Tính cách dân tộc là một cấu trúc tinh thần được định hình trong một quá trình lịch sử rất lâu dài hàng trăm năm, thậm chí hàng ngàn năm, trên cơ sở những điều kiện tự nhiên, kinh tế, xã hội, văn hóa nhất định, thay đổi rất chậm chạp trong sự vận động và phát triển” [16, tr.591]. Trên cơ sở khẳng định ấy, giáo sư đã nói rõ thêm: “Tính cách là hệ thống những phẩm chất, đặc điểm tồn tại khách quan, tất yếu, tạo thành một “hằng số”; một nếp gấp, một “đường mòn”, một thiên hướng trong tư duy, trong cách sống, trong ứng xử, hành động của con người, mà ta có thể bắt gặp ở số đông thành viên hoặc ở nhân vật kiệt xuất của dân tộc, trong cuộc sống hàng ngày, cũng như qua những lựa chọn có tính chất lịch sử, có ý nghĩa bước ngoặt đối với vận mệnh của cả cộng đồng” [16, tr.591].
Tính cách người Quảng Nam vừa có những nét chung trong tính cách người Việt mà vừa có những nét riêng của người xứ Quảng. Những nét chung và riêng ấy hòa quyện lẫn nhau, để qua những con người ở một vùng đất cụ thể người đọc vẫn thấy chiều sâu của tâm hồn và tính cách dân tộc. Có thể nói, tính cách con người Quảng Nam được hình thành, xác định và phát triển phụ thuộc vào 3 yếu tố: có sự nối tiếp tính cách người Việt trong cộng đồng di cư từ Bắc vào Nam; sự ảnh hưởng của hoàn cảnh, điều kiện khách quan (môi trường tự nhiên, địa lý lịch sử, văn hóa xã hội của vùng đất mới); do những nỗ lực bền bỉ và mạnh mẽ để sinh tồn. Chính hai yếu tố sau cùng đã làm nên nét riêng trong tính cách người Quảng Nam. Đó là những con người can trường dũng cảm kiếm sống trên vùng quê nghèo khó; những con người yêu nước nồng nàn với ý thức trách nhiệm chính trị về đất đai của Tổ quốc. Họ còn là những con người cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực; cởi mở, nhạy bén với cái mới. Và điều kỳ lạ hơn, họ cũng là những người đa cảm, đa tình (không chỉ khô khan quyết liệt như nhiều người đã nghĩ). Tất cả những nét tính cách ấy đã hình thành trong điều kiện sống khắc nghiệt “họ đã phải nghiến chặt hai hàm răng lại, để tạo thành một sức mạnh cần thiết. Lâu dần, cái sức mạnh tinh thần ấy trở thành khí chất của con người xứ Quảng” [43, tr.298]. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã viết về khí chất của họ với lòng yêu mến, tự hào .
2.2.1. Cảm hứng ca ngợi những con người cần cù, dũng cảm kiếm sống, sinh tồn trên vùng quê nghèo khó ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Nói đến Quảng Nam là nói đến núi non trùng điệp, sông ngòi chằng chịt, đồng bằng thì nhỏ bé và manh mún. Chẳng vậy mà người phụ nữ trong ca dao miền Trung khi nghe chồng mình vào Xứ Quảng mưu sinh đã phải:
“ Dậm chưn xuống đất kêu trời!
Chồng tôi vô Quảng biết đời nào ra” ( Ca dao)
Câu ca dao trên phần nào giúp chúng ta hình dung về sự nghèo khó, kiếm sống vất vả trên đất Quảng Nam. Nếu nhà văn Sơn Nam khai thác vùng đất cực Nam Tổ quốc quen thuộc thì Nguyễn Văn Xuân gắn bó chặt chẽ với vùng quê Quảng Nam thân thương của ông. Nhưng có một điều lạ, khi đọc những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta không thấy sự hả hê chinh phục thiên nhiên nghiệt ngã để mở đất, lập làng: giết sấu, bẫy heo, diệt cọp, giăng câu, bắt ong,… của cư dân một vùng đất mới như khi đọc “Hương rừng Cà Mau” của Sơn Nam. Đọc tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân ta chỉ thấy con người Quảng Nam luôn phải đối phó với thiên nhiên, tự vệ để sinh tồn. Nơi đây, dường như cái chết luôn chực chờ, rình rập, de dọa mạng sống của con người. Nào là rừng rậm âm u bí hiểm, cọp và voi có thể xuất hiện bất cứ lúc nào. Đáng sợ hơn là những trận dịch. Có trận dịch có tên, có tuổi nhưng con người đành bất lực xuôi tay về thế giới bên kia: bệnh sốt rét rừng. Bí hiểm hơn sốt rét rừng, làm cho dân cư gần cả một làng phải “khai tử” là những trận dịch có tên kỳ lạ: “Dịch Cát”. Rồi còn hàng trăm lực lượng thần bí từ cõi âm u xa xôi nhưng luôn ám ảnh đời sống tâm linh của người dân Quảng Nam. Đến độ khi đang sống bình yên họ cũng nơm nớp lo sợ, còn khi bất hạnh thì họ van vái bốn phương, tám hướng….
Như ta đã biết, những cuộc di dân lớn khiến cho thành phần cộng cư ở vùng đất Quảng Nam trở nên đa dạng phức tạp. Tuy vậy, phần lớn họ là dân lao động xứ Thanh – Nghệ cần cù, chịu thương, chịu khó và trong một tình thế bắt buộc nhiều hơn là tự nguyện. Từ đó, “bám trụ” là tâm tư, ý chí, nỗi niềm của những cư dân này. Năm thế kỷ đã đi qua nhưng không gian, thời gian buổi đầu khai phá đất Quảng Nam vẫn phảng phất trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Đọc tiểu thuyết Bão rừng, tập truyện Hương máu, Dịch cát, ta sẽ hình dung bước chân của những lưu dân định cư trên vùng đất mới như thế nào? Cuộc sống đối mặt với biển và rừng đầy cam go, nguy hiểm ra sao? “Phép màu” nào mà con người vẫn sinh tồn mạnh mẽ, cứng cáp và trưởng thành hơn? Hàng loạt câu hỏi được Nguyễn Văn Xuân giải quyết tài tình trong một dung lượng tác phẩm khiêm tốn: một tiểu thuyết 233 trang và 17 truyện ngắn.
Gấp lại truyện ngắn Xóm mới của Nguyễn Văn Xuân, người đọc vẫn mường tượng rõ ràng cuộc sống của những con người giữa bốn bề là cát. Chỉ có “cát mênh mông”. Trên bước đường tha phương cầu thực những người từ tứ xứ như: anh Phương, anh Tú, chị Củng, bà Quì, ông Phiến…. đã dừng chân ở “một khe rộng độ bốn thước nương theo một động cát từ từ chảy ra sông” [63, tr.421]. Sự kiến tạo địa hình này chứa đầy nguy hiểm trong dòng chảy của cát …. Nhưng họ có lý do để ở lại “chỉ vì nơi đó có nhiều dương liễu và tre mà lại gần con sông, bến nước. Nó có thể thuận tiện cho việc làm ăn mà cũng dễ tránh máy bay oanh tạc” [63, tr.421]. Nếu từ xưa ông bà ta rất quan trọng nơi định cư lập nghiệp với câu nói truyền miệng: “cưới vợ đàn bà, cất nhà hướng Nam” thì dường như cư dân “Xóm mới” này không có sự lựa chọn nơi “an cư”. Đã vậy, ít lâu sau, bên kia khe cát cũng lại mọc thêm một “Xóm mới” mà trong mắt của những người bên này khe cho rằng: “Bọn đó có ngày lăn tuốt xuống khe, trôi ra sông hết” [63, tr.437]. Dám “an cư” ở một nơi như thế, những cư dân “Xóm mới” đã tỏ ra có sự “lựa chọn” dũng cảm để sinh tồn. Và việc dừng chân đó chỉ là đoạn mở đầu cho cả quá trình cần cù lao động, kiếm sống trên vùng đất khắc nghiệt. Cát mênh mông, để tồn tại họ đã làm đủ thứ nghề: làm thuê ở các nỗng cát khác; mua tre về đan phên, thúng, rổ; chèo đò; gánh mướn. Họ đã “nhờ sức khỏe tốt và hoàn cảnh khó khăn nên họ trì chí, kiên
nhẫn học việc rất mau, chịu khổ rất dễ. Cả những việc chưa làm quen bao giờ như mò hôi cá, bắt hôi tôm khi có thuyền chài đánh lưới hay gỡ chà” [63, tr.426]. Sự chăm chỉ, cần cù của những người lao động kiếm sống trên vùng đất “cày lên sỏi đá” này như là một thái độ ứng xử với thiên nhiên. Ta ngạc nhiên và thán phục sự vất vả của những người lao động sông nước khi chứng kiến cảnh từng người trong một gia đình thay phiên nhau gánh từng gánh cá nặng, chừng vài cây số họ đổi gánh cho nhau. Quan trọng đối với họ là làm sao “chạy cá” đến chợ càng nhanh càng tốt. Công việc nặng nhọc vất vả này cần sức lực của những “lực sĩ chạy ma-ra-tông” [63, tr.428]. Vậy mà, khi vượt mấy cây số đến được chợ thứ nhất, nếu thấy chợ đ đông “họ vùn vụt chạy luôn lên chợ thứ hai” [63, tr.428]. Người đọc hình dung một cuộc chạy tiếp sức không mệt mỏi để duy trì sự tồn tại. Nhờ đôi chân dẻo dai, nhịp chân đều, bước chân dài mà nghề này đã làm cho “xóm ngụ cư” có cuộc sống khá giả hơn.
Cuộc sống trên cát, trên sông nước đã vậy, cuộc sống ở chốn rừng núi càng gian nan không kém. Những người dân tộc Đê đã phải nhặt nhạnh từng hạt lúa, quả trứng, trái bắp, quả bí, trái dưa…. từ công sức lao động ngày đêm của họ để đổi lấy một dúm muối, một ít gạo mà duy trì sự sống. Đôi khi rừng cũng đãi họ sừng hươu, mật ong…. nhưng đối với những người nghèo khổ quanh năm như họ thì đó là những thứ xa xỉ, hoang phí. Thế nên họ lại chắt chiu của rừng đem đổi lấy những vật dụng cần thiết cho cuộc sống hàng ngày (Bão rừng). ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Là một nhà văn của một vùng đất nên Nguyễn Văn Xuân rất am hiểu về đất Quảng Nam đầy khắc nghiệt. Điều đó được nhà văn phản ánh qua những trang viết giàu chất hiện thực. Sông, biển, núi rừng trong các sáng tác của Nguyễn Văn Xuân như một thế lực đối đầu với con người, muốn tồn tại phải là những người can trường dũng cảm vật lộn với thiên nhiên để sinh tồn. Những cư dân Quảng Nam dù sống trên những bãi cát mênh mông kéo dài đến tận chân trời hay trong chốn rừng thẳm âm u chỉ có cọp gầm, khỉ hú….họ đều bộc lộ một bản lĩnh sống vững vàng. Họ là những lưu dân ra đi mà không thể trở về nên trong tứ bề nguy hiểm gian khó họ phải bới cát mà sống, vạch rừng mà tồn tại. May ra, trong tận cùng của cái chết, họ sẽ tìm thấy sự sống. Với thiên nhiên, những cư dân Quảng Nam đã bất chấp hiểm nguy, đem sinh mạng đánh cược với tử thần. Họ có thể cất nhà trên một bờ khe, có thể dầm trong bão lụt, mưa lũ…..để tìm thêm cơ hội sống. Điều đó cho thấy họ không chỉ ứng xử với thiên nhiên bằng thái độ bất chấp mà còn là đối đầu. Không chỉ vậy, cư dân Quảng Nam luôn bị bọn thực dân thống trị, chúa đất o ép bóc lột. Họ chỉ có thể lựa chọn: một là đổ gục xuống, đầu hàng số phận; hai là đứng thẳng lên, sống tiếp. Những người đã “cãi lại” số phận từ trong xã hội phong kiến Bắc hà mà ra đi thì tất nhiên họ chọn con đường đứng thẳng lên, sống tiếp. Ở Quảng Nam, đồng bằng vốn đã ít, vùng đất tốt lại càng ít hơn. Với những phương thức canh tác lạc hậu từ thời Chămpa làm cho đất đai bạc màu, hạt lúa có được phải đẫm bao giọt mồ hôi. Đã vậy, bọn “chúa đất” thu gom những mảnh ruộng tốt, nông dân chỉ làm công rẻ mạt, nai lưng chịu bao sưu cao thuế nặng. Nhưng những người nông dân cương quyết phải sống nên họ bỏ đồng bằng mà đi. Rồi những bạn ghe chài tứ xứ, không chịu được sự áp bức của chủ ghe cũng rời môi trường mưu sinh sông nước. Có thể nói, trong bất cứ tình thế nào, con người Quảng Nam khi bị dồn vào ngõ cụt, bị chẹn mất đường sống, họ cũng nghĩ ra cách để sống tiếp. Đôi khi hoàn cảnh sống mới của họ cũng không khá gì hơn.
Bão rừng là một trong số ít những tác phẩm viết về đời sống của công nhân ở một đồn điền cao su thời Pháp thuộc. Đó là cuộc sống của những người như cụ Niên, anh Liếng, bác Liễn… đã rời bỏ nơi chôn nhau cắt rốn của mình đến mưu sinh trong đồn điền cà phê, nơi mà cái chết luôn chực chờ, đe dọa. Họ đến đây vì nhiều nguyên do khác nhau, như cụ Niên tâm sự: “Vùng tôi nhiều ruộng, song hầu hết là ruộng của nhà giàu. Tôi làm ruộng rẽ chia hai. Chủ chịu giống, còn phân tro công cán, chúng tôi phải chịu. Ruộng xấu, phân tro nhiều, công đắp bờ, dọn bờ, cày bừa, tát nước mò cỏ, cấy gặt….Kể như tính ra cho hết, so với công canh tác thì số thâu chẳng thấm vào đâu” [63, tr.85]. Hay anh Liếng đã kể về nguyên cớ trở thành công nhân của mình bằng giọng đầy căm phẫn: “Tôi đi ghe. Thằng chủ ghe đối với bọn tôi xấu như chó. Nó sai bảo đủ việc, bắt phục dịch như trâu bò, khinh người như cỏ rác” [63, tr.91]. Ngoài những mảnh đời điển hình trên còn biết bao mảnh đời trôi dạt đến chốn núi rừng âm u này có thể còn thảm thương hơn. Hành động bỏ nơi chôn nhau cắt rốn để làm công nhân ở đồn điền cà phê của bác Liễn, cụ Niên, anh Liếng, anh Bộc…xét cho cùng chưa chắc họ tìm được một cuộc sống đỡ khổ hơn, tươi sáng hơn. Nhưng đứng ở góc độ nào đó mà nhìn nhận thì việc ra đi tìm nơi mới, việc mới của họ là một việc làm dũng cảm, “cãi lại” số phận. Họ bỏ ruộng đồng, sông nước lên núi cao, rừng sâu, chứng tỏ rằng một khi họ không sống được cách này, nghề này thì tìm cách sống khác, nghề khác. Chỉ những người kiên cường, dám đương đầu với cuộc sống mới không buông xuôi cho số phận. Mạnh mẽ hơn những người công nhân của đồn điền cà phê trong Bão rừng; nhân vật anh Năm Cụt trong Cây đa đồn cũ đã có một cách kiếm sống mà người “bé gan”, “lưng mật” không bao giờ dám nghĩ tới. Dù chỉ còn một cánh tay nhưng anh Năm Cụt đã nghĩ cách kiếm cái ăn cái mặc từ trong sự hiểm nguy của cái chết. Khi đến mùa nước lũ, mực nước sông dâng cao, cả những người sống bằng nghề sông nước cũng phải rút dần lên những nơi gò đống để tránh cơn thịnh nộ của đất trời vì “suốt một đêm, trời đất câm lặng, nhường tất cả vang động cho dòng nước với những tiếng đất lở ầm ầm. Với tiếng mỏ, tiếng trống mơ hồ vẳng lên xa xa” [63, tr.365]. Đó là lúc anh Năm Cụt làm những bè chuối về xuôi. Những chuyến về xuôi ấy là những chuyến anh Năm phải đánh đu với thần chết. Nhưng anh bất chấp. Lúc đứng trên những bè chuối trôi theo nước lũ, mạng con người còn thua giá trị của mạng một cây chuối. Hình ảnh con người bị bom đạn chiến tranh cướp mất một cánh tay vụt trở nên lồng lộng giữa sông nước, đất trời khi mà “sức lực của người, của trăm nghìn người, của cả dân cư hai bên duyên giang họp hết lại nào có nghĩa lý gì đối với vật nặng trôi theo tốc độ nhanh chóng phi thường của nước miền nguồn đang đổ xuống bể đông do một ngày núi non ngập ứ? Mà sông không phải là bể. Bình thường, lòng bể dễ dò, lòng sông đã khó, huống chi một ngày lụt lội; lòng sông cũng bí mật như không biết bao nhiêu khối bờ sông bị lở đang di chuyển với cây gỗ đổ xuống từ rừng già” [63, tr.369]. Cuối cùng, tất cả những hiểm nguy của sông nước trong mùa lũ lụt đã lùi lại phía sau cho bè của anh Năm Cụt tiến về phía trước. Người chủ bè ấy đã xác định “người cần phải vượt thắng” [63, tr.369]. Không dữ dội như anh Năm Cụt nhưng cụ Niên cũng quyết liệt tìm con đường sống trong cái chết (Bão rừng). Biết đồn điền cà phê là nơi đầy rẫy hiểm nguy, đâm đầu lên đồn điền chẳng khác nào vào chỗ chết. Nhưng cụ Niên có cái lý riêng: “Thuế má nặng quá, dẫu ở nhà cũng không ích gì ráng đi làm kiếm đồng tiền gởi về cho con nộp thuế có phải cứu đói được cái mạng nó không? Tôi không dành dụm gửi về, thì chúng cũng tù rục xương” [63, tr.89]. Như vậy, cụ Niên đã “xông vào chỗ chết” để sự sống của con cháu được tiếp tục. Một thái độ sống, chết dũng cảm của những con người nặng thâm tình. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Những con người lao động Quảng Nam đã chọn cách kiếm sống kiên cường, đối đầu với hiểm nguy thì ngay cả khi hiểm nguy đủ sức vùi dập cuộc đời nhỏ bé của họ thì họ vẫn vượt lên tất cả để sống tiếp. Trước cái chết họ luôn bình thản đón nhận, thậm chí chuẩn bị trước cái chết của mình. Thật ra, không phải họ không cần sống, nhưng nếu chết sau khi đã làm tất cả để sống, hay chết để cuộc sống được tiếp tục, thì việc sẵn sàng trước cái chết cũng là một biểu hiện của những người sống kiên cường, dũng cảm. Họ sống hôm nay nhưng đã chuẩn bị “hòm rương” cho cuộc ra đi ngày mai hay bất cứ lúc nào mà ông trời đòi lại mạng sống. Thử hỏi có nơi nào người đang khỏe mạnh, sống sờ sờ, làm ăn buôn bán náo nhiệt mà nhà nào cũng trữ sẵn hòm săng, cót tre để chi dụng cho người chết? (Ngày cuối năm trên đảo) Hoặc có những người sắp chết lại muốn cho mặt mũi mình tươm tất, sáng sủa hơn, dù suốt đời họ sống trong tăm tối (Bão rừng). Những con người như ông Hương và bạn ghe chài sống trên hòn đảo nhỏ giữa bồn bề sông nước, hay bác Liễn và những dân phu đồn điền cà phê chốn núi rừng âm u đã “dọn sẵn” cái chết cho mình khiến người đọc cảm phục thái độ dũng cảm của họ: chấp nhận sống và chấp nhận chết như chấp nhận một sự thật. Có thể thiên nhiên khắc nghiệt đã tôi rèn cho họ lòng gan dạ, nên ở đây không có chỗ cho nước mắt và khóc than. Chỉ có chỗ cho những thái độ ứng xử dứt khoát, quyết liệt của những người có bản lĩnh. Trong truyện ngắn Ngày cuối năm trên đảo, nhà văn đã cho người đọc thấy cuộc mưu sinh vất vả, hiểm nguy giữa trùng vây sóng nước. Nơi ấy, hàng đêm ngoài tiếng ầm ào của sóng biển còn có tiếng khóc của vợ mất chồng, con mất cha của “những người dân chài sống hôm nay và không biết số mệnh ngày mai sẽ dẫn dắt tới đâu” [26, tr.1078]. Nhưng không vì thế mà sự sống ngưng trệ, họ không khủng khiếp với cái chết, không lo lắng về cái chết mà “nhà giàu cũng như nghèo, người ta luôn luôn mua trữ sẵn hòm săng hay những tấm cót tre để mỗi lúc có người nhà chết thì đem ra” [26, tr.1078]. Có thể nói họ đã nhìn sự sống và cái chết như một quy luật không thể cưỡng cầu. Với họ rất rõ ràng: còn sống là còn đấu tranh sinh tồn. Chẳng may không thể sống tiếp thì cũng phải chết cho đàng hoàng. Còn trong Bão rừng nhân vật bác Liễn trước khi chết đã bảo Liếng: “mượn con dao về tao cạo sơ qua mấy cái râu này” [63, tr.114]. Thật ra, không phải bác Liễn làm “điếm” như nhận xét của Liếng, mà bác Liễn hiểu rất rõ thần chết chỉ chờ bác sửa soạn xong là gặt mạnh lưỡi hái tiễn bác lên đường. Có lẽ con người quanh năm suốt tháng vất vả với miếng cơm manh áo, đau liệt giường không tiền thang thuốc, bộ dạng không ra người, muốn mình “đàng hoàng” hơn khi sang thế giới bên kia. Đó là giây phút bác Liễn chấp nhận làm cuộc ra đi vĩnh viễn sau nhiều cuộc ra đi để mưu sinh. Ta thương xót họ nhưng cũng vô cùng khâm phục họ!
Tuy sự sống và cái chết của con người Quảng Nam trong những tác phẩm: Bão rừng, Cây đa đồn cũ, ngày cuối năm trên đảo, Dịch cát, Xóm mới… không liên quan trực tiếp đến cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc, hy sinh vì dân vì nước, mà chỉ liên quan đến cuộc đời, số phận cá nhân nhưng họ đã cho thấy một cách sống và chết: sống ngẩng cao đầu, chết bình thản; sống không buông xuôi, không chấp nhận số phận; chết để cho sự sống tiếp tục… Đó là gì? Nếu không muốn nói là ý nghĩa cuộc đời của mỗi con người mà không phải ai cũng có thể làm được. Thái độ ứng xử này là khí chất của người Quảng Nam được trui rèn từ hình sông, thế núi, từ những cộng đồng dân cư mà phần lớn là những lưu dân không có con đường lựa chọn nào khác ngoài con đường “bám trụ” để sinh tồn.
2.2.2. Cảm hứng ca ngợi những con người yêu nước nồng nàn có ý thức trách nhiệm với Tổ quốc ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Yêu nước và nhân đạo là hai giá trị truyền thống xuyên suốt, bao trùm các sáng tác văn học từ xưa đến nay. Sự nhất quán và hệ thống đó được thể hiện từ văn học dân gian đến văn học viết, từ văn học cổ cho đến văn học hiện đại. Đặc biệt là trong những giai đoạn lịch sử, xã hội có nhiều biến động. Cuộc sống của một dân tộc “lưng đeo gươm tay mềm mại bút hoa” đã trở thành đề tài, cảm hứng sáng tác của những nhà văn, nhà thơ nặng tình đất nước. Văn học yêu nước cách mạng đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975 đã ra đời trong bối cảnh lịch sử dân tộc ta đang đứng trước nhiều cam go thử thách, đối mặt với kẻ thù mạnh hơn ta về kinh tế, nhiều hơn ta về khí tài, lắm mưu ma chước quỷ. Dù vậy, vượt qua bao trở ngại, văn học yêu nước cách mạng đô thị miền Nam vẫn không ngừng phát triển trong dòng chảy chung của văn học dân tộc. Và lịch sử đấu tranh giữ nước, những gương anh hùng trung liệt từ thực tế cuộc chiến đấu máu lửa đã vọng vào văn học như một lẽ tất nhiên. Tiếng vọng ấy đã gặp gỡ “tiếng lòng” của những nhà văn, nhà thơ tràn đầy nhiệt huyết, gặp gỡ lương tâm của người cầm bút trong những giờ phút cam go của vận mệnh dân tộc. Nguyễn Văn Xuân là một trong những người cầm bút có được vinh dự lớn lao chứng kiến nhiều biến động của lịch sử xã hội trong sự vận động không ngừng của nó. Thực tế cuộc sống đã ùa vào trang văn của ông liên tiếp như những cơn sóng vỗ và tâm hồn nhà văn như một bãi bồi đón lấy, chắt lọc, lưu giữ những gì có ích cho đời. Trong những đợt sóng xô ào ạt đó, Nguyễn Văn Xuân đã kịp trụ vững trên vùng đất đầy nắng gió, triền miên bão lụt, mênh mông nỗng cát, trập trùng đồi núi: Quảng Nam. Sống và viết về vùng đất Quảng Nam, con người Quảng Nam trong tiến trình lịch sử dân tộc, trong kháng chiến chống Pháp, chống Mỹ với cảm hứng ngợi ca tinh thần yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm chính trị về đất đai của Tổ quốc, được Nguyễn Văn Xuân xem như lẽ tất yếu của một nhà văn, vốn là người con của Quảng Nam. Vì thế, mỗi trang văn về tinh thần yêu nước của con người Quảng Nam nhà văn đã viết với cảm hứng bay bổng, hào sảng, với niềm ngưỡng vọng về những con người rất đỗi bình thường mà vĩ đại.
Danh xưng Quảng Nam được hình thành cách đây gần 600 năm. Từ thời nhà Hồ, nhà Lê đến đời các chúa Nguyễn cũng như đời của triều Nguyễn, Quảng Nam là mảnh đất hứng chịu bao biến cố lịch sử với sự thay đổi, hưng vong của bao triều đại. Ở thời điểm nào trong diễn trình lịch sử, Quảng Nam cũng gắn với vai trò chính trị to lớn: “phên giậu”, “yết hầu” của miền Thuận – Quảng. Với bối cảnh hình thành và một trọng trách quan yếu như thế, những cư dân Quảng Nam đến sinh cơ lập nghiệp nơi đây tất nhiên gánh luôn vai trò chính trị quan trọng của mảnh đất này. Điều đặc biệt là tuy thành phần cư dân Quảng Nam nói riêng, đất Quảng nói chung rất phức tạp nhưng họ đều là những người có ý thức chính trị về đất đai Tổ quốc. Ý thức chính trị này ăn sâu vào máu thịt của mỗi người Quảng Nam từ lúc nhà Hồ bắt buộc mọi người thích tên châu lên cánh tay của mình. Từ đó, những cư dân sinh ra và lớn lên ở Quảng Nam đã mang trong mình ý thức trách nhiệm với vận mệnh Tổ quốc, có một “giác quan chính trị” nhạy bén. Từ những anh hùng có tên tuổi, xuất thân là những sĩ phu yêu nước cho đến những người vô danh trong vô vàn những người lao động cần cù. Chính vì thế mà ở đầu thế kỷ XX, Quảng Nam đã trở thành trung tâm của phong trào giải phóng dân tộc. Và trong những giờ phút thử thách đặc biệt của lịch sử chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, nhân dân Quảng Nam đã thay mặt cả nước trả lời bọn thực dân, đế quốc xâm lược câu trả lời đích đáng: dù đầu rơi, máu chảy vẫn chiến đấu đến cùng, không chịu mất nước, không chịu sống kiếp đời nô lệ. Lịch sử Quảng Nam, lịch sử dân tộc đã ghi nhận vai trò hướng đạo cho nhân dân của trí thức đất Quảng trong các phong trào yêu nước cuối thế kỷ XIX, đầu thế kỷ XX. Từ nhà canh tân Phạm Phú Thứ với những đề xuất mới mẻ giữa thế kỷ XIX đến những lãnh tụ Nghĩa Hội là Tiến sĩ Trần Văn Dư, Hoàng giáp Phạm Như Xương, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá Phiến. Rồi phong trào của phó bảng Phan Châu Trinh với chủ thuyết tam dân: “khai dân trí, chấn dân trí, hậu dân sanh” có sự hợp tác lãnh đạo của tiến sĩ Huỳnh Thúc Kháng, Trần Quý Cáp và sự hưởng ứng của các cử nhân Phan Thúc Duyện, Dương Đình Thạc, Trương Trọng Hữu, Lâm Hữu Mẫn… Nhờ vậy, một phong trào Duy Tân sôi nổi được phát động rộng khắp Quảng Nam, ra tận Hà Nội. Sau phong trào Duy Tân là phong trào Đông Du với vai trò của Tiểu La Nguyễn Thành. Rồi phong trào chống sưu thuế do những người học trò: Lương Châu, Hứa Tạo, Trương Hoành đứng ra phát động mà sức ảnh hưởng của nó rúng động khắp trong nước, cả Nam lẫn Bắc. Tiếp đến là cuộc vận động khởi nghĩa những năm 1911 – 1916 với sự lãnh đạo của trí thức Nho học Trần Cao Vân, trí thức Tây học: Thái Phiên, Lê Đình Dương, Phan Thành Tài. Bên cạnh đó, còn biết bao những anh hùng tên tuổi của Quảng Nam trong kháng chiến chống Mỹ, cũng như sự hy sinh thầm lặng của bao người vô danh làm nên dấu ấn Quảng Nam “Trong 30 năm chiến tranh cách mạng (1945 – 1975), Quảng Nam có khoảng 6 vạn liệt sĩ, gần 3 vạn thương binh, 5479 bà mẹ Việt Nam anh hùng chiếm 1/6 so với cả nước” [43, tr.252]. Đó là những con số biết nói, biểu hiện tính cách Quảng Nam: không ngần ngại đắn đo khi cần phải hy sinh vì độc lập tự do của Tổ quốc.
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân có cái may mắn được sinh ra vào những năm 20 của thế kỷ XX. Tuy ông không tận mắt chứng kiến những biến động lịch sử dữ dội diễn ra trên đất Quảng Nam từ cuối thế kỷ XIX, nhưng đối với những người thuộc thế hệ của ông, những sự kiện lịch sử ấy vẫn còn là những sự kiện thời sự nóng hổi. Đi nhiều nơi, quan sát, ghi chép, cảm nhận đánh giá,…. từ trong cõi vô thức của tâm linh có sức mạnh vô hình buộc nhà văn phải cầm bút viết về những con người Quảng Nam đã tồn vong cùng mảnh đất này. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Nguyễn Văn Xuân đã tâm sự vì sao ông viết về những anh hùng trong lịch sử đấu tranh của Quảng Nam. Đó là “tình cảm tự nhiên qua những ngày lang thang trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư vĩ đại …. Tôi đã nghe biết bao lần và biết bao người kể về cái chết của các anh hùng, liệt nữ [….] tất cả những cái chết ấy đã kích thích óc tò mò, bắt tôi suy nghĩ và tôi cho đều đáng ghi lại một nét ý chí, một sắc thái địa phương và hiển nhiên cũng là của dân tộc” [63, tr.273]. Nhà văn đã “vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử bằng con mắt của dân chúng” [63, tr.273]. Như vậy, những con người lịch sử trong sáng tác của nhà văn là những con người bằng xương, bằng thịt đã được đánh giá của công luận trước khi trở thành nhân vật trong loạt truyện ngắn tập hợp trong Hương máu. Và trong tình hình hoạt động văn hóa văn nghệ miền Nam những năm 1954 – 1975, tập Hương máu đã nhập vào dòng chảy của văn học “yêu nước cách mạng” miền Nam 1954 – 1975. Tuy rằng Nguyễn Văn Xuân được xếp vào bộ phận “những trí thức văn nghệ sĩ tưởng như rất lạnh lùng hoặc ngơ ngác với chính trị và từ lâu chỉ toàn tâm toàn ý với văn chương nghệ thuật” [49, tr.39]. Thế nhưng, lúc mâu thuẫn dân tộc ở vào tình thế căng thẳng, họ đã có một thái độ chính trị đúng đắn và có những tác phẩm đậm đà tinh thần dân tộc. Trên cơ sở đánh giá đó, Giáo sư Trần Hữu Tá đã ghi nhận giá trị tập Hương Máu: “Nguyễn Văn Xuân dựng lại trang sử đấu tranh chống thực dân Pháp bi tráng của nhân dân đất Quảng cuối thế kỷ XIX” [49, tr.39]. Đó là những minh chứng cụ thể, thiết thực về lòng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm chính trị về vận mệnh, về đất đai Tổ quốc của những con người xứ Quảng.
Vốn là nhà nghiên cứu lịch sử nên Nguyễn Văn Xuân có ưu thế khi viết những tác phẩm liên quan đến lịch sử. Trong bảy truyện của tập Hương máu, nhà văn đã viết bốn truyện ngắn về người thật việc thật (Hương máu, Viên đội hầu, Rồi máu lên hương, Chiếc cáng điều). Còn lại là những truyện được hư cấu trên cái nền của bối cảnh lịch sử cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Việc chọn đề tài lịch sử trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân không nằm ở diện rộng mà chọn có chủ đích: lịch sử đấu tranh ở vùng đất Quảng Nam. Trong đó, nhà văn chọn một giai đoạn của lịch sử để phản ánh: giai đoạn thoái trào trong kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược. Việc chọn đề tài lịch sử này hầu như nhất quán trong các truyện ngắn có liên quan đến lịch sử. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của người dân xứ Quảng được hiển hiện qua cuộc chiến giữ thành của Tổng đốc Hoàng Diệu, trong phong trào Cần Vương của Nghĩa Hội, trong âm vang cuộc khởi nghĩa của Trần Cao Vân, Thái Phiên ngày 3/5/1916. Qua những tấm gương yêu nước cụ thể, sống động này, Nguyễn Văn Xuân cho thấy sĩ phu Quảng Nam là những người có ý thức, giác quan chính trị nhạy bén. Họ là những nhà mưu lược chính trị, trăn trở dữ dội trong việc tìm đường cứu nước. Qua những phong trào yêu nước này, ta thấy lịch sử chống thực dân Pháp của Quảng Nam có khi mạnh khi yếu nhưng chưa bao giờ ngừng nghỉ. Ngay khi bề ngoài nhìn như biển khơi đang kỳ sóng yên gió lặng lại chính là lúc những đợt sóng ngầm đang âm thầm, mạnh mẽ hội tụ dưới lòng đại dương bao la. Đó là khi Nghĩa Hội tan rã thì những sĩ phu trong Nghĩa Hội còn sống lại tiếp tục đấu tranh trong phong trào Duy Tân như trường hợp của Tán tương quân vụ Đỗ Đăng Tuyển. Còn khi phong trào chống sưu thuế bị khủng bố trắng vào năm 1908 thì đến năm 1916, Trần Cao Vân và Thái Phiên liên lạc với vua Duy Tân hạ chiếu kêu gọi nhân dân khởi nghĩa trong sự kiện ngày 3/5/1916 ở Huế (Hương máu, Rồi máu lên hương). Đặc biệt giác quan chính trị nhạy bén của những sĩ phu Quảng Nam còn thể hiện ở ý thức sâu sắc trong hành động yêu nước. Yêu nước không chỉ là đứng lên đánh đuổi giặc xâm lược, bảo vệ đất đai, bờ cõi của Tổ quốc mà còn là tìm con đường cứu nước phù hợp với thời đại lịch sử. Thế nên, trong phong trào kháng Pháp chung của dân tộc, sĩ phu Quảng Nam đã bộc lộ một hướng đi riêng. Người Quảng Nam gọi tên phong trào kháng chiến là Nghĩa Hội chứ không gọi là Cần Vương, không xem hành động của những người tham gia phong trào là trung quân, chỉ xem là trung dân,ái quốc:
“Tuy Nghĩa Hội lần hồi tan rã, lòng trung dân còn vương vấn ở tâm hồn Chí anh hùng gắn bó keo sơn, lòng ái quốc vẫn cưu mang trong thể phách”
Và việc Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến rút về núi rừng Trung Lộc để lập Tân Tỉnh như một vùng đất riêng có bộ máy chính quyền cai trị, có quân đội, nhân dân….được xem như một biểu hiện “ly khai” với triều đình lúc bấy giờ (Hương máu). Còn cuộc khởi nghĩa 1916 được đánh giá “hoàn toàn không có tính chất phong kiến. Đó vẫn là sự tiếp nối của phong trào yêu nước có xu hướng dân chủ tư sản đầu thế kỷ XX” [30, tr.136]. Như vậy, trong tầm nhìn chiến lược, trong sự trăn trở tìm cách đối phó với bọn Tây dương, những sĩ phu yêu nước đã hoài nghi, phủ nhận đường lối quân chủ. Những mầm mống của xu hướng dân chủ thời kì này đã khơi gợi con đường tất yếu đến cuối những năm 20 của thế kỷ XX, trí thức Quảng Nam là những người sớm tiếp nhận đường lối cách mạng vô sản để tuyên truyền, phát động phong trào cách mạng tại Quảng Nam.
Việc nhà văn Nguyễn Văn Xuân chọn thời điểm thoái trào của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp để phản ánh là việc làm có chủ đích. Khắp trong bảy truyện của tập Hương máu là những cái chết: cái chết của hai lãnh tụ Nghĩa Hội, cái chết của Tổng đốc Hoàng Diệu, Thái Phiên và Trần Cao Vân, cái chết của Bốn, một thanh niên yêu nước đã chặt đầu Tây, của ông Tú Bình vì ủng hộ Cần Vương…. Như vậy, việc lựa chọn giai đoạn thoái trào trong diễn trình lịch sử chống thực dân Pháp là sự lựa chọn thời điểm lịch sử có vấn đề giữa sự sống và cái chết. Có thể nói quan niệm “chết vinh hơn sống nhục” không chỉ có trong lịch sử thời kỳ này, nhưng Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện quan niệm này ở độ “đậm đặc” nhất, ghi khắc những ấn tượng không phai trong lòng người đọc. Lòng yêu nước và ý thức chính trị về đất đai Tổ quốc thể hiện trong tinh thần hy sinh vì đại nghĩa, trong những “cái chết tiến công” của người Quảng Nam. Tầng lớp sĩ phu yêu nước chọn con đường kháng chiến chống thực dân Pháp là chọn con đường chính nghĩa với tinh thần tự nguyện. Suy nghĩ cũng như hành động của họ đều hướng về mục đích độc lập tự do cho dân tộc. Dù kẻ thù có giở chiêu bài “Từ Thứ qui Tào”, Nguyễn Thân có quỷ quyệt bắt giam mẹ của Nguyễn Duy Hiệu thì cũng không thể lung lạc được con người ông. Ông vẫn “thản nhiên, cương nghị, lạnh lùng đi từ vùng này sang vùng khác để lập lại khu chiến đấu” [63, tr.253]. Những sĩ phu như Nguyễn Duy Hiệu đã hy sinh bản thân mình và cả tình cảm riêng tư mà vì nó người ta có thể dễ dàng bị lung lạc nhất. Gia phả các tộc Nguyễn, Thái ở Điện Bàn ghi lại công lao khó nhọc của tiền nhân trong buổi đầu khai phá đã viết: “Chúng ta đã quyết vì nước quên thân, theo vua đến đây là vì sự nghiệp khai phá cho muôn đời con cháu mai sau” [20, tr.289]. Dòng máu tự nguyện hi sinh vì đại nghĩa vẫn tiếp tục chảy trong huyết quản của tầng lớp sĩ phu yêu nước ở cuối thế kỷ XIX. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Quan niệm sống như thế nào phải đạo và chết như thế nào hợp lẽ trời, lẽ đời đã được kẻ sĩ coi trọng từ xưa. Đối với họ sống phải có ý nghĩa nếu không thì thà chết còn hơn:
“ Nhân sinh tự cổ thùy vô tử
Lưu thủ đan tâm chiếu hãn thanh”
Dịch:“ Người đời từ trước ai không chết
Cốt để lòng son rọi sử xanh”
Qua đó, ta thấy sự sống, chết của kẻ sĩ liên quan đến sự tồn vong của lịch sử dân tộc. Chẳng thế mà Nguyễn Đình Chiểu, sĩ phu yêu nước, lá cờ đầu của văn chương yêu nước chống Pháp miền Nam, đã viết:
“Thà thác mà đặng câu địch khái, về theo tổ phụ cũng vinh Hơn còn mà chịu chữ đầu Tây, ở với man di rất khổ”
( Văn tế nghĩa sĩ Cần Giuộc)
Nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã sống trên vùng đất mà những kẻ sĩ ở cuối thế kỷ XIX đã làm cho ý nghĩa cuộc đời họ thêm sâu sắc qua những cái chết. Nhà văn đã viết trong tập Hương máu: “Tôi vẫn tin chắc chuyện chết không bao giờ hết là nguồn cảm hứng cao cả, sâu xa,vì chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một đời đáng sống” [63, tr.239]. Những người như Tổng Đốc Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Thái Phiên… đều đã chết nhưng cuộc đời họ chưa phải ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
là hết. Có người đã gọi những cái chết của họ là “những cái chết tiến công”. Đó là cách nói vừa tôn xưng, vừa cho thấy ý nghĩa sâu sắc trong cái chết của những anh hùng Quảng Nam. Thật ra, cách nói trên đã thể hiện hàm súc tinh thần dũng liệt của những sĩ phu Quảng Nam trong cơn binh lửa. Tinh thần ấy bộc lộ ở cách chọn cái chết, thái độ khi chết, hình ảnh đẹp của họ trong những giây phút cuối cùng. Kẻ thù sau khi thấy sự quyết liệt của họ phải khiếp sợ. Nhân dân khi tận mắt chứng kiến những cái chết như một sự lựa chọn đáng nể phục của những sĩ phu Quảng Nam đã không nản lòng thoái chí. Chết mà vừa bảo toàn danh tiết của bản thân, chết mà thể hiện khí chất, bản lĩnh Quảng Nam, làm rúng động kẻ thù, chết mà truyền cho những ai còn sống và các thế hệ sau lòng trung can nghĩa đảm. Thử hỏi, có mấy ai dùng cái chết của mình để thực thi được nhiều điều có ý nghĩa như thế! Nhà nghiên cứu Thạch Phương đã nhận xét: “Hầu hết những người lãnh đạo, chỉ huy các phong trào yêu nước, mà kết cục đều thất bại, đã bị sa vào tay giặc, nhưng cho đến những giây phút cuối cùng của cuộc đời, họ đều tỏ ra can trường, bất khuất, bình tĩnh nhận lấy cái chết, làm cho kẻ thù phải ngạc nhiên, thán phục. Chính thái độ lẫm liệt, hiên ngang của họ trong hoàn cảnh thất thế, đã có tác dụng cổ vũ, động viên quần chúng; gieo vào lòng quần chúng niềm tự hào và niềm tin về tiền đồ của dân tộc, đất nước” [43, tr.213]. Tất cả những cái chết ấy được nhà văn Nguyễn Văn Xuân ghi chép như một sự thật lịch sử về tính cách, vai trò của con người Quảng Nam trong chiến tranh vệ quốc.
Trong Hương máu, Nguyễn Văn Xuân đã kể về một tổ chức của phong trào Cần Vương là Nghĩa Hội đang ở giai đoạn khó khăn của cuộc kháng chiến chống Pháp. Sau khi lãnh tụ Nghĩa Hội là Trần Văn Dư bị xử chém thì Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến lên thay. Mặc dù hai ông đã cố gắng nhưng sự phản bội của Nguyễn Thân và một số nghĩa quân không chịu được gian khổ đã đẩy Nghĩa Hội vào con đường bế tắc. Cuối cùng, để bảo vệ đảng nhân, nêu tấm gương chiến đấu, Phan Bá Phiến đã uống thuốc độc trước mọi người. Còn Nguyễn Duy Hiệu tìm cách để triều đình bắt ông giải về kinh, nhận tất cả tội lỗi về mình. Ông đã ung dung làm những vầng thơ tuyệt bút trên đường ra pháp trường. Có thể nói cả Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến là những người nêu cao dũng khí, tinh thần xả thân vì đại nghĩa qua việc chọn cái chết. Khi Nghĩa Hội bị vây lùng, bố ráp trong vùng rừng núi Trung Lộc là lúc Phan Bá Phiến đang bị sốt rét rừng hành hạ, dù mê man trên lưng quân lính nhưng ông luôn miệng nhắc: “đưa mấy sổ thuế huyện Tam Kỳ cho tôi coi” [63, tr.249]. Rồi khi qua cơn “thập tử nhất sinh” ông đã “âm thầm làm việc, quả quyết thực hiện chủ định với một sự sáng suốt và một trí nhớ kì dị. Ông cũng giúp ông Hường tìm cách tạo lập lại chính quyền và quân lực trong các khu mật, dựng lại kho tàng và cho chuyển vận lương thực về” [63, tr.253]. Với những nỗ lực đó, cho thấy quyết định “chết” là quyết định mà ông đã trăn trở, cân nhắc và lựa chọn khi tình thế không cứu vãn được. Trong suy nghĩ của vị cử nhân này là phải chết như thế nào có lợi cho tổ chức, cho phong trào yêu nước, âu cũng là đóng góp cuối cùng còn có thể làm được cho đất nước. Sự suy nghĩ chín chắn, cân nhắc lợi hại khiến cho Phan Bá Phiến rất bình tâm chuẩn bị cái chết. Ông đã nói với ông Hường một câu giản dị: “ông hãy gắng sức, tôi xin đi trước” [63, tr.263]. Và nói với mọi người: “Xin giã biệt hết các quan và bà con” [63, tr.263]. Đoạn văn miêu tả những giây phút cuối cùng của ông là đoạn văn đầy xúc động. Nó làm cho hình ảnh của Phan Bá Phiến trở nên đẹp lạ thường, khiến cho mọi người có mặt hôm ấy không phải tỉ tê khóc than khi đón nhận cái chết mà là vang vọng những tiếng gầm dữ dội “giết hết” làm rung chuyển núi rừng Trung Lộc. Nhà văn đã miêu tả: “ông đưa chén thuốc độc lên môi, thong thả nuốt từng ngụm một. Uống xong ông đặt chén, ung dung nâng cái hốt ngà lên, đầu cúi xuống cho được trang nghiêm… ông vẫn nâng cái hốt và thấy rõ ràng là ông cố trấn tĩnh để không rùng mình, không vật vã tuy nhiên cái rung động trên các nếp áo cho thấy sự chiến đấu nội tâm ghê gớm của ông. Khi sức lực gần kiệt, cái đầu bị gục xuống trông như người ngủ mê mà ông vẫn cố ngửng lên rồi ông quì ngồi xuống trong khi hai tay vẫn nghiêm chỉnh nâng cái hốt lên” [63, tr.263]. Vẻ đẹp trong nhân cách của Phan Bá Phiến là vẻ đẹp của tài năng kết hợp với khí phách anh hùng. Còn việc quyết định chọn cái chết và cách chết của Nguyễn Duy Hiệu lại bao hàm một tầm nhìn chiến lược của vị lãnh tụ Nghĩa Hội. Tầm nhìn ấy sâu xa, rộng lớn, vượt khỏi ý nghĩa cái chết của một con người bình thường. Khi mọi người không muốn ông sa vào cảnh bị kẻ thù sỉ nhục, hành hình đau đớn, đã tạo cơ hội cho ông tự vẫn. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu đã từ chối. Vì ngay từ đầu, trước hàng trăm nghĩa quân, ông đã nói rõ vì sao ông chọn cái chết: “cần bảo toàn sinh lực, ý chí của hội để chờ thời cơ thuận lợi sẽ hoạt động trở lại. Cuộc đấu tranh trường kỳ để thâu hồi độc lập không cốt ở một đôi nơi, một đôi lúc mà cốt ở bất kỳ nơi nào, lúc nào “trong vĩnh cửu, bằng vĩnh kiếp thực hiện theo một vĩnh đồ” [63, tr.261]. Và cuối cùng, ông đã kết luận: “Còn tôi, tôi sẽ đi chết ở một nơi khác. Ở nơi khác đó, tôi sẽ nhận tất cả tội đã bắt buộc mọi người phải qui phục và như thế không quyền lực nào còn vin vào đâu để sát hại, bắt bớ đảng nhân ta nữa.” [63, tr.262]. Nguyễn Duy Hiệu đã dùng cái chết để bảo vệ tổ chức, để cuộc chiến đấu tiếp tục trong một bước ngoặt mới với nhiều khả năng thắng lợi hơn, mà sức mạnh của cuộc chiến đấu ấy đã được chuẩn bị từ trong cái chết của người lãnh tụ Nghĩa Hội ngày hôm nay. Quả là “nhà tan không đoái, thân chết không lo, chỉ khư khư lo bảo toàn đảng để ngày sau mưu toan việc nước. Trong mắt, trong bụng các người kia chỉ có Tổ quốc, có đồng bào thôi” [50, tr.39]. Thấu triệt mọi lẽ như thế nên Nguyễn Duy Hiệu đã biến buổi hành hình chốn pháp trường thành một bài học tai nghe mắt thấy về lòng trung can nghĩa đảm đối với nước, đối với dân. Ông đã ung dung làm thơ trên đường ra pháp trường:
“Ký ngữ phù trầm tư thế giả
Hữu tương thành bại luận anh hùng”
(Hai câu cuối của bài thơ thứ nhất của Nguyễn Duy Hiệu)
Dịch Chìm nổi trên đời ai đó tá
Chớ đem thành bại luận anh hùng (Huỳnh Thúc Kháng dịch) Bài thơ thứ hai của Nguyễn Duy Hiệu sáng tác trên đường ra pháp trường:
“Hàn sơn kỷ đắc cô tùng cán
Đại hạ yên năng nhất mộc chi
Hảo bả đan tâm triêu liệt thánh
Trung thu minh nguyệt bạn ngô qui”
Dịch thơ: “Núi lạnh tùng côi xơ xác đứng;
Nhà to, cột một khó ngăn ngừa
Về chầu liệt thánh lòng son đấy
Tháng Tám trăng rằm sẵn dịp đưa” (Huỳnh Thúc Kháng dịch) ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Cuộc đời của Nguyễn Duy Hiệu, cho đến khi đậy nắp quan tài lại, đã thể hiện nhân cách một sĩ phu đáng kính, một lãnh tụ nghĩa quân can trường tận phút chót. Chí sĩ Phan Bội Châu cho rằng cái chết ấy “trời đất phải khâm phục, quỷ thần phải kính ghi”. Chính viên Khâm sứ Pháp J.L Baille đã ghi giây phút cuối cùng của Nguyễn Duy Hiệu tại pháp truờng như sau: “Hiệu đợi chết như người thuộc nòi giống của ông, thuộc hàng ngũ bậc của ông, nghĩa là đón nó không chút sợ sệt và nhận lấy nó như một cái gì đã đến phải đến” [43, tr.216]. Trong truyện, tác giả còn kể về hành động anh dũng, quyết liệt của chiến tướng Hồ Học như một sự phản hồi từ cái chết của Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến. Khi Nghĩa Hội tan rã, Hồ Học đã tiếp tục lãnh đạo một nhóm nghĩa quân phản công quân Pháp. Khi bị bắt, Hồ Học không hổ danh một chiến tướng. Ông đã tả xung hữu đột nơi công đường của viên án sát, đối đáp đanh thép với viên đại tá người Pháp: “Thằng mũi lõ nói sai! Mi và quân lính của mi rặc là tụi cướp nước. Còn ta đây, đường đường là tướng của Hoàng đế, được vua sai dẹp giặc, làm sao trộm cắp mà sánh với chủ nhà” [63, tr.271]. Dù bị nhiều đòn roi, thịt da đang tứa máu nhưng ông đã chiến đấu tới giây phút cuối cùng của cuộc đời một nghĩa sĩ. Người đọc có cảm tưởng giọng văn của Nguyễn Văn Xuân không giấu vẻ hả hê khi miêu tả trận “náo loạn” công đường của Hồ Học: “không ai chờ đợi sự nóng giận như thế của Hồ Học. Viên thông ngôn mới nói tới đó, người ta nghe như một tiếng “vút”, cái ghế dựa bằng gỗ trong tay ông đã lao tới như gió, đánh thẳng vào mặt viên đại tá. Viên này lấy tay đỡ thì một chân ghế xoẹt qua đầu, hất cái mũ của y xuống đất. Lập tức hàng trăm vũ khí tung ra giữa lúc một hạ sĩ cận vệ của đại tá rút súng lục ra định bắn. Hồ Học liệng mình lao tới, đá song phi vào khẩu súng và vào mặt hắn. Nhưng không kịp, vệ sĩ thứ hai bắn liền hai phát vào hông ông. Ông ngã gục xuống, vừa ôm bụng vừa trườn tới để với khúc côn, nhưng không còn kịp nữa” [63, tr.272].
Không quyết liệt như những cái chết trên, truyện ngắn Về làng kể về cái chết của ông Tú Bình nhẹ nhàng mà vô cùng khẳng khái. Ông Tú Bình vì chống Tân Trào, ủng hộ Cần Vương nên bị triều đình xử chết. Nguyện vọng cuối cùng của ông là được chết ở ngay cái làng P.K của mình. Nhân vật ông Tú Bình có thể là nhân vật được nhà văn Nguyễn Văn Xuân hư cấu dựa trên câu chuyện về người thầy dạy học của Nguyễn Duy Hiệu trong lịch sử. Khi Nguyễn Duy Hiệu lãnh đạo Nghĩa Hội thì thầy cử Lê Tấn Toán bị mời về tỉnh đường để răn đe, sau đó phải thọ hình “tam ban triều điển” của vua Đồng Khánh vỉ tội dạy học trò làm giặc. Cụ cử Lê đã chọn chén thuốc độc. Cuộc đời có thật của cụ cử Lê đã truyền cảm hứng cho nhà văn Nguyễn Văn Xuân xây dựng nhân vật ông Tú Bình. Cũng như nhiều sĩ phu yêu nước khác, ông Tú Bình không muốn cái chết của mình trở nên vô nghĩa. Thế nên, ông chọn nơi chết là cái làng của mình. Ông ung dung thanh thản biết bao trước khi đi vào cõi chết: đến đình làng dâng hương, về nhà bái vọng mẹ, sang chùa vái lạy… Ở ông, toát lên vẻ thung dung của một nhà nho đã thấu lẽ đời, có nhân cách cứng cỏi: “bần tiện bất năng di, uy vũ bất năng khuất”. Bằng cách chọn làng làm nơi ra đi cuối cùng, ông Tú Bình chết nhưng tinh thần bất khuất của ông còn sống mãi “vốn ông là tay có tài học lỗi lạc, ông cũng lại là người mà tất cả dân làng đều xem như bậc cha mẹ. Ông ăn tiên chỉ và chỉ một lời ông phán ra có giá trị của một chân lý không cần bàn cãi” [63, tr.311]. Có lẽ ông Tú Bình hiểu sâu sắc điều đó, nên trước khi vĩnh biệt cõi đời ông đã “trăng trối” với toàn thể dân làng: “Tôi vì việc nước mà xả thân thì chẳng có gì đáng ân hận. Tôi chỉ đau đớn là không thể làm hơn được… Xin các cụ ở lại thay tôi mà chăn dắt con em để cho làng ta được mãi tiếng thuần lương” [63, tr.314]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Những “cái chết tiến công” còn được đặc biệt thể hiện ở những giây phút cuối cùng của hai chí sĩ: Thái Phiên và Trần Cao Vân trong cuộc khởi nghĩa ngày 3/5/1916. Hai nhà lãnh đạo này không phải tự nguyện chọn cái chết mà bất đắc dĩ bị giặc bắt xử tử hình khi sự nghiệp cứu nước còn đang dở dang. Câu chuyện thật về cái chết của Thái Phiên và Trần Cao Vân được Nguyễn Văn Xuân nhấn thêm bằng yếu tố có màu sắc huyền thoại, đã nâng những cái chết can trường dũng cảm lên tầm vóc phi thường. Truyện kể rằng khi thanh đao của tên đao phủ chạm vào đầu của chí sĩ Trần Cao Vân thì đã “văng ngược lại như thể kẻ bị xử tử vận nội công… phải đủ bảy nhát mới chém nổi đầu một ông già chẳng lấy gì làm to lớn” [63, tr.359]. Đầu của Tôn Thất Đề phải “chém đến chín nhát mà vẫn trơ trơ”. Còn khi chém đầu của Thái Phiên thì tên đao phủ “có vẻ can trường hùng hổ ấy bỗng giơ hai tay ra. Những kẻ đứng gần đều thấy mặt thầy trở nên xám xanh, xám ngắt. Thanh quất trong tay thầy rơi xuống. Rồi cả cái thân thể rắn chắc, vững vàng ấy cũng khụy gối ngã nhào xuống giữa pháp trường” [63, tr.359]. Lẽ nào lòng can trường dũng cảm, vẻ thung dung tựu nghĩa của những người đang phải chết chém cảm động thấu trời xanh, làm cho những tên đao phủ cả đời không biết sợ là gì phải tán đởm, kinh hồn? Máu của những người con anh dũng đất Quảng Nam đã đổ vì Tổ quốc, vì quê hương. Những giọt máu ấy có vẻ đẹp kỳ lạ của sự sống tưởng chừng như vẫn tiếp tục. Nó vẫn “lóng lánh” trên áng cỏ còn đọng sương mai. Mọi người đến xem xử tử hình ngày hôm ấy đã dự kiến “một trang sử oanh liệt của đất nước” [63, tr.358] được viết bằng máu của những con người đất Quảng.
Cảm quan lịch sử tiến bộ của Nguyễn Văn Xuân còn xây dựng, ngợi ca những anh hùng vô danh trong lịch sử. Ở kiểu nhân vật này thì yếu tố dã sử nhiều hơn chính sử. Nhìn chung họ vẫn là những nhân vật mà từ lời nói đến hành động đều toát lên khí chất hào hùng, ý thức trách nhiệm chính trị đối với Tổ quốc. Đó là những người như chị Mừng (Chiếc Giỏ), khi dân làng chặt được đầu thằng Tây, chị đã vui vẻ đem hết gánh cháo độ nhật của mình để đãi những người có công. Còn những người khác thì tùy khả năng: chuối, dưa, trứng….. đều mang đến để ủng hộ. Trong chiến công ấy, Bốn nổi bật như người có công trạng lớn nhất. Nhưng thật ra đó là công trạng của cả làng. Từ người già đến người trẻ đã cùng Bốn giăng bẫy trong làng để chặt đầu Tây. Trong giây phút ngắn ngủi họ đã biến con đường vào làng thành một cứ điểm chiến đấu “sau hàng tre, đám quân dân tự biến thành quân du kích đã được xếp đặt tuần tự để truyền tin, giật dây, phóng câu liêm hỗ trợ.
Những tiếng động lạc xạc được hạn chế. Những cành tre vướng được lưỡi rựa trảy qua rơi ngọn, những cái thang cao được bắc ép vào cho tiện việc đứng và đứng cho vững thế” [63, tr.320]. Hình ảnh này gợi người đọc nhớ đến những ngôi làng được lập thời mở cõi của Quảng Nam – một cộng cư chiến đấu. Tinh thần ấy được truyền lại trong đời sống vật chất và tinh thần của người Quảng Nam qua các thế hệ. Bởi thế, trong cái làng nhỏ này, từ những đứa bé còn ngọng nghịu chạy theo xem chặt đầu Tây đến những người đàn bà đi chợ về im lặng rẽ sang lối đi khác như biểu lộ sự đồng tình, xem việc chặt đầu Tây là việc dĩ nhiên phải làm .Từ chú Từ đến bác Hiền tuy sợ súng đạn Tây tốt nhưng vẫn quyết liệt ủng hộ Bốn chặt đầu Tây. Và trong số những người dân lao động bình dị ấy, nhân vật Bốn đã thể hiện rất rõ bản lĩnh của những con người giàu lòng yêu nước, kiên cường dũng cảm, có ý chí quyết tâm cao. Bốn đã “đốc thúc, kiểm tra” việc bố trí giăng bẫy thằng Tây một cách tích cực, cẩn thận; cương quyết đập đầu con chó yêu quí của mình vì sợ tiếng sủa của nó làm lộ chuyện. Đối với Bốn, việc có được đầu thằng Tây như có được một tấm giấy thông hành đưa anh vào Nghĩa Hội, đứng trong hàng ngũ những người yêu nước chống Pháp. Bằng mọi giá anh phải đưa được đầu thằng Tây đến gặp ông Hường. Thế nên, dù sẩy chân rơi xuống bến nước sâu, dù phải chết nhưng “cánh tay co quắp, bắp thịt đè lên, ép chặt cái quai xách tưởng như không bao giờ rời ra, không rời trong lúc sống, không rời cả khi chiến đấu với tử thần” [63, tr.336]. Hình ảnh đó đã nâng cái chết trước “một tai nạn vô lý” thành cái chết của những con người hiên ngang bất khuất. Sự trung thành với lý tưởng, với nguyện vọng của Bốn, đã không làm cho cái chết của anh trở nên vô ích. Bốn chỉ giết được một thằng Tây trong cuộc đời mình, nhưng việc làm đó đủ sức truyền cho người còn sống lòng can đảm, vì nghĩa lớn sẵn sàng đánh đổi tính mạng trong cuộc chiến đấu sinh tử này.
Như vậy, tính chất của cuộc chiến tranh nhân dân đã bộc lộ rất rõ trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược của cư dân Quảng Nam. Mỗi con người nơi đây đều thấy trách nhiệm của mình đối với vận mệnh Tổ quốc. Điều đó thể hiện qua nhận thức của một số nhân vật trong các truyện: Chiếc cáng điều, Rồi máu lên hương, Hương máu…. Khi trò chuyện với khách, ông Học đã tỏ ra rất am hiểu diễn biến thời cuộc, phân tích lợi hại trong việc ông Hường giết ông Tán lúc Nghĩa Hội đang suy yếu (Chiếc Cáng Điều); còn nhà thầu khoán Nguyễn Văn Học, cha của Nguyễn Thị Băng thì ủng hộ tiền bạc cho cuộc khởi nghĩa ngày 3/5/1916 và gả con gái mình cho Thái Phiên (Rồi Máu Lên Hương), đến việc làm của một người ốm yếu như Hiểu trong cơn tức giận vì sự phản bội Nghĩa Hội của Thập Cường đã chém hắn cho đến chết (Hương Máu); qua hình ảnh nhân vật Bốn thà chết quyết không rời cái giỏ có đựng đầu Tây (Cái giỏ) đến hình ảnh của Viên đội hầu tuẫn tiết theo Hoàng Diệu… Tất cả những sự hi sinh đó đã làm nổi bật vẻ đẹp trong phẩm chất tâm hồn của những người bình dị vô danh. Thế mới hay, kiên cường bất khuất, giàu lòng yêu nước, ý thức chính trị sâu sắc đối với vận mệnh Tổ quốc không phải chỉ có ở những con người có học, có địa vị, mà nó là những tố chất đã cấu thành máu lưu chuyển trong huyết quản của người Quảng Nam . ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Khi viết về những cái chết tiến công của những sĩ phu yêu nước và nhân dân Quảng Nam với cảm hứng ngợi ca, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã miêu tả cụ thể những tấm gương chiến đấu kiên cường bất khuất, bền bỉ trong đấu tranh, tung hoành nơi chiến trận với ý chí lẫm liệt. Tiêu biểu là cuộc chiến giữ thành của Tổng đốc Hoàng Diệu trong truyện ngắn Viên đội hầu. Dù từ một Thượng thư bộ binh của triều đình được cử làm Tổng đốc Hà Ninh trong tình thế nước sôi lửa bỏng, dù nhiều lần dâng biểu về triều đình xin thêm binh lính để tăng cường phòng vệ Hà Nội đều bị Tự Đức từ chối, quở trách, nhưng với cương vị của mình, Hoàng Diệu đã làm hết chức trách: kiên quyết tử thủ đến giờ phút cuối cùng. Trước tối hậu thư xấc xược của Henri Rivière, Tổng đốc Hoàng Diệu đã xông xáo có mặt khắp nơi ác liệt của cuộc chiến tử thủ, kiên quyết bảo vệ thành. Chỉ vỏn vẹn chưa đến ba giờ của ngày 25/4/1882 nhưng lịch sử dân tộc luôn khắc ghi hình ảnh của Tổng đốc Hoàng Diệu trong những giờ phút cuối cùng ấy. Và nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã làm cho cái đẹp của khí tiết và nhân cách Hoàng Diệu thăng hoa trong những trang viết. Hình ảnh Tổng đốc Hoàng Diệu quì trước “ông súng” “lẩm bẩm khấn” và buồn rầu nói với mọi người: “Nếu Ngài không trợ lực cho thì thành trì e nguy mất” cho người đọc nhận rõ về cuộc chiến không cân sức và nỗi thống khổ “lực bất tòng tâm” trong lòng người chỉ huy. Khi nghe thành đã bị vỡ thì “Hai con mắt quan Tổng đốc trắng nhợt, ông lặng đi một lát và lẩm bẩm: “Ta giữ chặt bốn ngả nhưng ta không giữ nỗi ngả trời. Trời hại ta!” [63, tr.290]. Tổng đốc Hoàng Diệu đã chọn nơi Võ Miếu để kết thúc cuộc đời như một sự chứng tri của tổ tiên cho lòng trung thành của ông. Sau khi bái lạy trước vong linh những nguời đã khuất, mắt hơi ươn ướt nhưng giọng bình tĩnh, Tổng đốc đã dặn dò thủ từ: “Ta đến đây để chịu tội với các tiên liệt trước khi phải chết. Khuya hôm nay, ta đã viết sẵn hai phong thư bỏ vào trong cái hộp bằng thiếc như thế này. Phong kia ta đã sai người đưa về Quảng Nam cho gia đình ta. Phong này, ta để trên túi, nơi ngực ta. Chừng năm ba tháng nữa, thế nào cũng có người ở làng Xuân Đài ra, đến tại Võ Miếu đây để lo việc rước di hài ta […] Quan Tổng đốc giao cái gói nhỏ cho ông thủ từ, cất cái hộp thiếc mỏng nơi ngực rồi đi lại cây đại thụ ở trước Võ Miếu, leo lên. Đến một cành cao, lá um tùm, ông cởi khăn nhiễu quấn đầu đem buộc một đầu nơi cành rồi đầu kia làm một cái thòng lọng. Lần cuối cùng, ông nhìn lại vợ chồng thủ từ đang quỳ hướng về ông, rồi đưa cổ vào thòng lọng, du mình ra giữa đám lá rậm. Các cành lá rung động rào rào….” [63, tr.293]. Dường như, nhà văn cố kéo dài phút giây tuẫn tiết của vị Tổng đốc bằng cách miêu tả hết sức tỉ mỉ hành động, thái độ bình thản ung dung của Ngài đi vào cõi chết. Qua đó, người đọc cảm nhận hết ý nghĩa của việc tử thủ bảo vệ thành của Tổng đốc Hoàng Diệu. Tâm huyết cả một đời của người sĩ phu có “chính khí” ấy ngàn năm sau vẫn làm cho mọi người mãi suy nghĩ, trăn trở khi đọc những “dòng lệ máu” mà Hoàng Diệu viết tại Võ Miếu trước khi tuẫn tiết:
“Thần là một kẻ thư sanh, không am tường võ bị, Bệ hạ ủy nhiệm cho chức vụ nặng nề .
Không thể tin được lòng kẻ trên, nên thần lo sửa soạn đề phòng, luyện tập binh mã ba năm nay, việc chưa xong thì quân Pháp kéo tới.
Thần trộm nghĩ, Hà Nội là cuống họng của Bắc kì, mà cũng là nơi yếu hiểm của nước ta, nhất đán bị vỡ thì các tỉnh cũng lâm vào cảnh trúc lở ngói tan, Thần thường lo lắng đêm ngày, nên đã dâng sớ lên xin cho thêm viện binh để đề phòng, thì lại bị bệ hạ quở trách. Thần đau đớn vô cùng, thường cùng các bạn đồng liêu bàn tính. Người bàn nên mở cửa thành, kẻ khuyên nên giải binh, song thà thân nát xương tan cũng không bao giờ thế được…
Thần bất tài tự nghĩ sống cũng vô ích, dù thần đã biết thành mất mà có chết cũng còn có tội, đâu dám nói chết là trung nghĩa! Một mình thế với Long thành, nguyện theo tiên thần Nguyễn Tri Phương về nơi chín suối.
Mấy dòng lệ máu, muôn dặm cửa Rồng, nguyện xin mặt trăng soi thấu tấm lòng son của thần”
Muôn tâu
Hoàng Diệu [ 50, tr.260]
Sĩ tử Hà Thành đã ngợi ca hành động vì nghĩa diệt thân của Tổng đốc Hoàng Diệu :
Dịch thơ:
“Thiên tải Nùng sơn tiêu chính khí
Anh hùng đáo xứ lệ tương can”
“Nhìn thuở Nùng Sơn nên chính khí
Anh hùng đến thế, lệ cùng rơi”
(Hoàng Xuân Hãn – dịch) [50, tr.267] ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Cùng với sự tuẫn tiết của Hoàng Diệu là sự tuẫn tiết của Viên đội hầu. Nếu như thanh gươm được Viên đội hầu treo trả lại nơi Tổng Đốc tuẫn tiết như một ẩn dụ: chỉ có những con người như thế mới xứng đáng giữ thanh gươm tượng trưng cho uy quyền quốc gia, thì việc Viên đội hầu tuẫn tiết theo chủ bằng thanh gươm ấy đã nâng cái chết của một viên quan hầu cận lên tầm vóc của một anh hùng. Cái chết của Viên đội hầu không phải là sự sùng bái cá nhân mà là chết theo thần tượng anh hùng. Trong hoàn cảnh của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp lúc bấy giờ, Hoàng Diệu bảo vệ Tổ quốc, Hoàng Diệu chính là hiện thân cho những người đấu tranh vì độc lập tự do của Tổ quốc. Từ đó, sự tuẫn tiết của Viên đội hầu trở nên có ý nghĩa sâu sắc.
Thông qua giai đoạn lịch sử đau thương: Pháp thắng thế, các cuộc đấu tranh yêu nước vào thời kì thoái trào, Nguyễn Văn Xuân muốn người đọc đương thời hiểu rõ lịch sử hào hùng, bất khuất của dân tộc. Việc làm đầy tâm huyết của nhà văn nhằm tác động đến những người đang sống trong không khí o ép của chế độ Mỹ – Ngụy, trong tương quan cán cân lực lượng nghiêng về chính quyền Sài Gòn vào những năm 1956 – 1965, phải suy nghĩ đến trách nhiệm công dân đối với đất nước. Không vòng vo, bóng gió, nhà văn đề cập đến một lịch sử trong quá khứ chưa xa để người đọc nhận diện một lịch sử hiện hữu hôm nay. Từ đó, tác giả thắp lên trong lòng người đọc ngọn lửa của lòng yêu nước, truyền thống anh hùng bất khuất, ý thức chính trị đối với đất đai Tổ quốc của người Quảng Nam. Tâm huyết với đất nước, nhân dân của một nhà văn trong vùng địch tạm chiếm thật khó mà giải bày trong một vài truyện ngắn. Nhà văn đã gói ghém tâm tư ấy trong câu hỏi được viết ở lời giới thiệu tập Hương máu: “tất cả chúng ta có thật ai ai, và bao giờ cũng sống đời đáng sống hay không?” [63, tr.239]. Với kiến thức lịch sử sâu sắc, qua những cái chết của những anh hùng Quảng Nam, nhà văn còn ngầm chỉ ra nguyên nhân thất bại của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Quảng Nam nói riêng và cả nước nói chung. Sự thất bại trước hết thuộc về tư tưởng, tầm nhìn, sự đánh giá của ta chưa đúng tầm, đúng mức về cuộc xâm lăng của thực dân Pháp. Trong mắt của những sĩ phu lúc bấy giờ, Pháp là bọn “man di”. Đó là cái nhìn, sự đánh giá thấp thực lực của đối phương. Từ đó, chúng ta chưa có sự chuẩn bị, chưa có phương cách đối phó phù hợp. Những sĩ phu anh hùng của Quảng Nam nhận rõ không thể thắng Pháp bằng thực lực mỏng manh, thiếu thốn nhưng họ đã quyết chống lại “tàu thiếc, tàu đồng, súng nổ”. Khí khái của nhà Nho một thời tỏ ra rất đúng trong chống xâm lăng phương Bắc không còn phù hợp khi đối đầu với kẻ thù mới. Chính việc đánh giá không đúng về đối phương đã nảy sinh sự phân hóa trong hàng ngũ những người lãnh đạo. Có khi kết cục thật bi thảm. Trong Chiếc Cáng điều, ông Tán phải đầu lìa khỏi cổ vì Nguyễn Duy Hiệu nghi ông có nhị tâm. Việc Nguyễn Duy Hiệu xử tử Tán tương quân vụ Trần Đĩnh là nhằm cứu vãn một tình thế khó thể cứu vãn: sự thống nhất trong lực lượng nghĩa quân.
Trong vai trò là người “ghi chép” lịch sử, vẽ lại cái nhìn lịch sử bằng con mắt của dân chúng, trước khi những câu chuyện ấy trở thành huyền thoại hóa, Nguyễn Văn Xuân còn ghi lại những “cái chết đáng được quên đi” như một sự đối lập với “những cái chết đáng lưu lại”. Đó là cái chết của bọn đầu trộm, đuôi cướp, dù là loại tướng cướp hào hiệp. Thái độ yêu ghét của người dân Quảng Nam rất rõ ràng khi phát hiện bản chất của loại người này. Trong truyện Thằng Thu, nhà văn kể về một người đã “ăn trộm của Tây, của nhà giàu rồi đem phân phát một phần cho người nghèo trong làng, để mua chuộc tình cảm. Hơn nữa, y là tay võ nghệ cao cường nên có ai thưa báo, lỡ ra nhà chức trách can thiệp không kịp thì cùng lại chịu cảnh “chờ được vạ thì má đã sưng” [63, tr.297]. Tác giả đã để cho người phụ nữ cải nam trang sau khi đến dự khán buổi chém đầu thằng Thu thốt lên cay đắng “chị đã lầm em ạ. Chị tưởng chị đã hiến thân cho một trang hào kiệt, có đủ tài năng nối chí anh hùng áo vải Tây Sơn. Sự thật chị đâu có ngờ chị chỉ gặp một thằng Thu” [63, tr.308]. Trong mắt nhân dân, hạng người nhân cơ hội loạn lạc mà trộm cướp là hạng người tầm thường, đáng khinh bỉ, dù họ có ẩn mình trong vỏ bọc “nghĩa khí” thì nhân dân cũng nhận ra.
Mời bạn tham khảo thêm:
2.2.3. Cảm hứng ca ngợi những con người có tính cách cứng cỏi, ngang tàng, bộc trực thẳng thắn ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Trong Đại Nam Nhất Thống Chí Q.VII, bản Tự Đức do Quốc Sử quán triều Nguyễn biên soạn, phần “phong tục” đã ghi nhận về con người Quảng Nam: “Học trò chăm học hành, nông phu chăm đồng ruộng, siêng sản xuất mà ít đem cho; vui làm việc nghĩa và sốt sắng việc công. Quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh, tiểu nhân khí khái mà hay kiện tụng. Dân ven núi sinh nhai về nghề hái củi đốn cây mà tính chất phác, dân ven biển sinh nhai về nghề tôm cá, mà tính nóng nảy” [11, tr.395].
Trong bản Đại Nam Nhất Thống Chí triều Duy Tân thì nhận định: “núi sông thanh tú, nên nhiều người có tư chất thông minh dễ học, sĩ phu có khí tiết cứng cỏi bạo nói nhưng vì thổ lực không hậu mà thế nước chảy gấp nên tính người hay nóng nảy, ít trầm tính, duy có người nào học vấn uyên thâm mới không bị phong khí ràng buộc” [43, tr.236].
Trong Đại Nam Thực Lục ghi nhận 5 điểm về tính cách con người Quảng Nam:
- Nhân dân Quảng Nam siêng năng trong việc đồng áng.
- Học trò chăm lo học hành.
- Mọi người vui thích làm việc nghĩa
- Ưa thích ăn mặc sang trọng, trang hoàng nhà cửa, say mê hát xướng đến mức không kể tốn kém.
- Người trí thức có khí tiết cứng cỏi, mạnh dạn phát biểu. Nói chung, tính tình nóng nảy từ những người có học vấn uyên thâm hay dân miền cận sơn chất phác [43, 238].
Dựa vào những nguồn quan trọng hình thành cốt tính Quảng Nam và dựa vào những nhận xét trong các tài liệu trên thì ta đều thấy có điểm chung khi nói về tính cách con người Quảng Nam: cứng cỏi đến mức ngang tàng, bộc trực đến thành nóng nảy. Cốt tính này thể hiện ở cả sĩ phu và bình dân. Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, cứng cỏi không chỉ là tính cách của người bình thường nó đã trở thành khí tiết của những nhà nho yêu nước. Đó là khí tiết của những cây tùng, cây bách “một mình lạt thuở ba đông”, vươn lên kiên cường dù trơ trọi, thế cùng lực kiệt. Giữa trùng vây quân giặc, không được sự ủng hộ của triều đình, kẻ thù mua chuộc bằng lời hứa hẹn về cuộc sống vinh hoa phú quý nhưng những sĩ phu như Tổng đốc Hoàng Diệu, tiến sĩ Trần Văn Dư, phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, cử nhân Phan Bá Phiến … cuối cùng đều chọn con đường: sống trong sạch, chết oanh liệt. Tấm lòng thủy chung như nhất của họ là một trong những phẩm chất tiêu biểu trong cốt tính con người Quảng Nam. Nó là “sản phẩm” tinh thần quí giá được hình thành, trui rèn trong hoàn cảnh sống ở vùng đất “phên giậu”. Họ vượt qua sự sống và cái chết của bản thân, vượt qua những tình cảm riêng tư nhỏ bé của cá nhân, trung thành với lý tưởng đã chọn. Hơn nữa, những sĩ phu, danh nhân lịch sử thời cận đại ấy được xem là “những bậc quân tử hàng đầu của những quân tử”. Khí tiết, phẩm chất của họ là biểu hiện truyền thống văn hóa của một vùng đất, một dân tộc. Ta từng biết đến lời nói cứng cỏi, quyết đánh không chịu hòa đối với kẻ thù của hàng nghìn bô lão trong hội nghị Diên Hồng đời Trần, cánh tay thích chữ “sát thát” của quân đội ta khi chống quân Nguyên Mông, lời khẳng khái của Trần Bình Trọng: “Ta thà làm quỉ nước Nam, không thèm làm vương đất Bắc”, ý chí của Nguyễn Trung Trực “Khi nào người Tây nhổ hết cỏ nước Nam mới hết người nước Nam đánh Tây”. Và trong giờ phút đối đầu với thực dân Pháp, đế quốc Mỹ những người con Quảng Nam đã trả lời kẻ thù bằng thái độ quyết liệt, khẳng khái, như sự nối tiếp bản lĩnh của một dân tộc anh hùng.
Sự cứng cỏi quyết liệt với kẻ thù không chỉ thể hiện qua sĩ phu mà cả nhân dân lao động bình thường. Họ kiên quyết phân định ranh giới với kẻ thù: “nổi lửa lên đốt nhà cửa. Những nhà ngói lớn cột mít, phên lựa bằng gõ, kèo chạm láng bóng vì ngày nào cũng lau chùi, thế mà chủ nhân đành lòng cứu vãn được những gì, thì cứu, xong rồi chất rơm vào, cho ngọn lửa lên” [63, tr.242]. Họ làm như thế cốt cho kẻ địch không sử dụng được bất cứ thứ gì khi ta phải rút chạy. Không chỉ hy sinh tài sản họ còn hy sinh tính mạng của bản thân, người thân cho cuộc chiến đấu không cân sức với thực dân Pháp. Có thể tìm thấy tinh thần quyết tử cho Tổ quốc trong số đông nhân dân tham gia Nghĩa Hội, hoặc trong những người dân bình thường ở một xóm nhỏ tổ chức chặt đầu Tây (Cái giỏ), nhân dân trong làng P.K hết lòng ủng hộ tinh thần chống Pháp của ông Tú Bình (Về làng)…. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
“Cứng cỏi” là khí tiết, bản lĩnh của người Việt khi đối đầu với kẻ thù dân tộc. Còn với cuộc mưu sinh hàng ngày thì “cứng cỏi” giúp họ vượt lên những hoàn cảnh sống tưởng chừng không thể sống, và hình thành trong mỗi người Quảng Nam ý thức phản kháng mạnh mẽ: chống lại thiên nhiên khắc nghiệt, chống ách áp bức bóc lột, phản kháng sự sắp đặt của số phận…. Biết bao cư dân nghèo khó, không nhẫn nhục trong kiếp đời nô lệ đã rời bỏ quê hương chôn nhau cắt rốn, đến sinh cơ lập nghiệp ở nơi khác (Bão Rừng). Những người Radthé vốn hiền lành nhưng khi bọn chủ đồn điền gần như cướp không sản vật, ràng buộc cuộc sống của họ bằng những luật bất thành văn thì họ đã bất chấp mạng sống, vận động bà con trong buôn làng nổi dậy. Còn khi đứng trước lằn ranh mỏng manh giữa sự sống và cái chết thì những con người cứng cỏi không dễ dàng chấp nhận số phận. Chỉ có một đêm ngắn ngủi trong Chạy đua với tử thần, nhà văn đã diễn tả bao số phận, bao trăn trở, khát vọng dồn nén trước giờ phút cái chết cận kề. Nếu trong những truyện ngắn khác của tập Hương máu, chưa bao giờ con người băn khoăn trước cái chết, thậm chí họ chọn con đường chết như một lẽ hành xử, thì trong Chạy đua với tử thần, mỗi người đều lo lắng, sợ hãi vì ngày mai sẽ chết. Nhưng cái chết không đến đơn giản mà trên con đường đi đến nó có một ngã rẽ của sự sống. Bọn giặc gian ác chỉ cho 1/100 cơ hội của sự sống mà thôi: một người duy nhất, chạy về đích, bứt phá những người khác trong cuộc chạy đua. Một phần trăm mong manh của sự sống đã hành hạ những con người trong căn buồng giam chật chội ấy suốt đêm. Họ vừa phải lo làm sao đủ sức để chạy về đích, vừa phải dè chừng chính những bạn tù của mình. Thậm chí trong một giây phút nào đó, có người còn âm thầm hả hê vui mừng khi thấy người khác có vẻ yếu sức hơn mình, điều đó đồng nghĩa với cơ hội sống của họ sẽ lớn hơn. Trong phòng giam có một ông già chân tay run lẩy bẩy không còn cả sức để đi, nói chi đến chạy; một anh nông dân chỉ luôn nghĩ đến hạt mít nảy mầm trong bóng tối; một anh “râu xồm” và một người “Áo đà” không rõ nghề nghiệp; một anh “Ra – vẻ – thợ – máy” thường im lặng hút thuốc và Liễn. Trong đêm cuối cùng còn được sống, bao nhiêu bi hài của cuộc đời đã diễn ra trong phòng giam chật hẹp này. Chưa bao giờ người ta có thể hiểu hết ý nghĩa của đấu tranh sinh tồn như trong những giờ phút ấy. Anh “râu xồm” gỡ cái răng vàng, nhờ bác gác ngục mua thịt heo, bánh tráng, kẹo để ăn cho ngày mai có sức mà chạy. Ông già thì sợ đến nỗi đêm đó đái cả trong quần, ướt hết nền buồng giam. Anh nông dân thì nghĩ đến thằng con đang còn theo bú mẹ, 13 tháng đã biết đi, biết chạy, nghĩ đến chuyện cày bừa, mùa màng, cây lúa, cây bắp. “Áo đà” thì quờ quạng trong bóng tối để đánh cắp được một miếng thịt trong dĩa thức ăn của “Râu xồm”, lấy sức cho cuộc “chạy thi”. Còn Liễn? Từ đầu hôm, anh ước gì có được cái chi “có chút giá trị để đổi lấy miếng ăn” [63, tr.507]. Sau khi lục lọi khắp người cũng không tìm được thức gì thì Liễn ước gì “ăn một bữa rồi sẽ chết”. Liễn tứa nước miếng với “cơn đói hừng hừng trong lòng” [63, tr.515]. Khi thấy “Râu xồm” đang ăn. Liễn bò trong bóng tối, sờ soạng cái đĩa mà “Râu xồm” đã bỏ ra và “trái tim rung mạnh khi Liễn chạm vào một vật gì rất mỏng” [63, tr.520]. Anh đã bỏ ngay miếng thịt vào miệng và “cầm cả cái đĩa lên, thè lưỡi ra liếm hết” chất nhờn của mỡ còn bám trên đĩa. Liễn còn lén nhặt vỏ bọc của viên kẹo người khác vứt ra, để dành nhấm nháp cho “tăng thêm sức lực” chạy đua giành sự sống… Có thể nói, qua một đêm ngắn ngủi, với chừng ấy con người trong căn buồng giam nhỏ bé người đọc dường như thấy hết tinh thần phản kháng, không chấp nhận sự xếp đặt của số phận ở những con người đất Quảng. Vì sao Nguyễn Văn Xuân có thể miêu tả cái đêm trong tù ấy sinh động đến như vậy? Đặc biệt là những diễn biến tâm lý thầm kín, phức tạp của bao loại người trước giờ chết. Có lẽ giai đoạn nhà văn bị tù vô cớ (năm 1955) đã cho ông nhìn rõ thế nào là lòng ham sống, khát sống của con người trong giờ phút đối diện với cái chết. Nhà văn cho người đọc thấy được những suy nghĩ rất đời thường, rất thật qua những nhân vật trong cuộc chạy đua bất đắc dĩ. Trong giây phút đấu tranh sinh tồn, hơn bao giờ hết, con người trở lại là chính mình: lo lắng, tham vọng, nhỏ nhen, ích kỷ, tàn nhẫn… Những trang viết ấy không những mang lại cho người đọc sự hiểu biết về người khác mà còn khám phá chính bản thân mình. Trong nỗ lực của tất cả những tù nhân để tìm cơ hội sống sót, người đọc nhìn thấy bản lĩnh cứng cỏi của người Quảng Nam: không đầu hàng số phận.
Câu chuyện về nhân vật Liếng trong Bão rừng cũng là câu chuyện điển hình về tinh thần phản kháng của người Quảng Nam chống chế độ áp bức bóc lột, cuộc đời nô lệ của họ ở những đồn điền cà phê, cao su…..Khi Liếng bị chủ hiếp đáp, anh đã bỏ trốn khỏi đồn điền. Lần bỏ trốn thứ nhất, anh bị trùng vây chó săn, mật thám của lão Mẹc bắt lại, hành hạ anh đến nỗi “tiều tụy hẳn đi, tóc phủ dài xuống vai, trán bị vấy máu, máu đã khô nên sẫm lại… Hai lưỡng quyền nhô lên vì thịt má bị khuyết và tím bầm. Có lẽ người ta không chỉ dùng tay để trừng trị anh. Môi miếng anh tím ngắt và bên khóe miệng cũng có vấy máu” [63, tr.208]. Bọn chủ đồn điền đã đánh tên “phản loạn” đủ kiểu: húc cùi chỏ vào người, thoi vào ngực, đá thốc vào đầu, vào hông, đánh vào mặt…. Sau trận đòn “hội đồng” thì “Liếng chỉ còn là một cây thịt không đứng vững trên hai chân nữa! Áo quần anh đã rách như giẻ vụn, máu bê bết trên mặt, trên cổ và hai tay” [63, tr.214]. Trước tình cảnh ấy, ai cũng nghĩ rằng không bao giờ Liếng dám trốn nữa. Nhưng chỉ mười ngày sau, anh đã trốn biệt và còn dẫn thêm một người nữa. Sự đấu tranh sinh tồn của Liễn, của Liếng và nhiều nhân vật khác trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân đã thể hiện một ý thức phản kháng mạnh mẽ của những người từng chiến đấu với bão giông, lũ lụt, gió lào, những nỗng cát mênh mông, những trận dịch kỳ lạ…..Nếu còn có một phần nghìn cơ may của sự sống, họ cũng không buông xuôi, không chấp nhận số phận. Nhìn ở một góc độ khác, ta thấy họ chính là những người rất thực tế và yêu cuộc sống đến kỳ lạ!
Cư dân Quảng Nam không chỉ “cứng cỏi” chống lại “số phận” mà kẻ khác đã an bài, chống ách áp bức bóc lột để tìm con đường sống mà trong sinh hoạt hằng ngày, bản tính “cứng cỏi” thấm sâu trong lời nói, việc làm tạo nên cốt tính của người Quảng Nam. Đôi khi trở thành “ngang tàng” khó trị. Nhân vật anh bồi trong Bão rừng là một điển hình cho lối ứng xử này. Dù anh là loại “kẻ ăn người ở” trong nhà của mụ La, địa vị thấp kém, nhưng bất cứ lúc nào có thể chống lại mụ chủ thì anh không bao giờ bỏ qua. Khi anh bồi bị chủ mắng chửi, anh không trả thù “trực tiếp” được thì đã nghĩ ra cách trả thù “gián tiếp”: khạc đờm vào đĩa, rồi đổ thức ăn lên trên, đem cho vợ chồng chủ ăn. Và cả đồn điền ai cũng biết không bao giờ anh bồi “chịu thua” mụ chủ, tất nhiên, phần lớn là “trả đũa” sau lưng: nhổ tóc con Rôdết (con mụ chủ), gọi chủ là chó…. Anh bếp (người nấu ăn cho mụ La) nhận xét: “nó có thua mụ đâu, cũng bên bốn chín, bên năm mươi hết” [63, tr.42]. Anh bồi không tự ti thân phận “con sâu cái kiến” của mình. Trong lời nói và việc làm có vẻ ngang tàng của anh là ý thức giá trị sự tồn tại của con người. Anh như muốn cho mọi người thấy sự bất công phi lý của cuộc đời. Thế nên trong anh luôn tiềm ẩn sự phản kháng, không để người khác tự ý vo tròn, bóp méo. Anh bồi không chỉ cãi nhau với mụ chủ mà còn hay chống báng tất cả mọi người (dù anh không phải người xấu). Anh ta có thói quen “chống báng tất cả những ai anh thích chống báng. Nhiều lúc anh ta còn sẵn sàng về phe mụ chủ để đập kẻ khác cho vui hay cho đẹp ý mụ” [63, tr.259]. Dường như đó là cách sống của anh ta. Cứ như vậy, anh ta “dạ” và “Đ…mẹ” không có khoảng cách để trả lời lại chủ. Tính cách của anh bồi làm người đọc liên tưởng đến một thành ngữ phổ biến: “Quảng Nam hay cãi”. Thành ngữ này nói lên thói quen ứng xử của số đông cư dân Quảng Nam. Nếu ta hỏi người Quảng Nam một câu hỏi thì ta thường nhận được một câu hỏi khác (thay vì một câu trả lời). Biểu hiện “hay cãi” chính là muốn đi tìm, giải thích nguyên nhân của vấn đề, không chấp nhận sự việc một cách dễ dàng. Có người xem việc “hay cãi” là biểu hiện mạnh về luận lý của người Quảng Nam, và xem việc họ di cư đến Quảng Nam là đã “cãi lại số phận”. Các tác giả Đại Nam Nhất Thống Chí thuộc Quốc sử quán Triều Nguyễn có nhận xét: “quân tử giữ phận mà hổ thẹn việc bôn cạnh, tiểu nhân khí khái và hay kiện tụng”. Theo lời nhận xét trên, “tiểu nhân”- nhân dân lao động – là những người khí khái, gặp chuyện bất công, bất bình, không đồng tình thì sẵn sàng kiện tụng, thẳng thừng tranh cãi. Cãi để tìm ra lẽ phải, cãi là biểu hiện của thái độ yêu ghét rõ ràng, cãi là hệ quả của tính cách bộc trực, chất phác, thẳng thắn. Thế nên, nhà nghiên cứu Mai Văn Mô đã nhận xét: “Rõ ràng, không phải ngẫu nhiên mà con người Quảng Nam được mệnh danh là con người “hay cãi”. Điều này vừa biểu hiện khí tiết, bản lĩnh của con người xử Quảng, đồng thời còn chứng tỏ sự hiểu biết của cái tư duy thiên về mặt lý luận của họ. Bởi vì, nếu không có hiểu biết, không có cơ sở, không có lý, không có bản lĩnh thì cũng không thể nào “cãi” được” [43, tr.208]. Còn Vu Gia – nhà báo, nhà văn người Quảng, người cũng hay cãi, hay lý sự đúng chất Quảng Nam, đã có cách giải thích rất hay: “Bây chừ ngồi nghĩ lại, tôi thấy muốn tranh cãi, muốn nói dóc cho người ta nghe được không dễ dàng chút nào, nếu ta không có vốn sống, không có chút hiểu biết nào về vấn đề cần tranh cãi. Người dân Quảng Nam hay cãi là vì họ đi nhiều, biết nhiều, ăn cơm góp mòn răng, nên họ có cái để so sánh, để phủ nhận hoặc đồng tình những tiền đề của những người khác đưa ra” [57, tr.122].
Ngoài ra, tính cách cứng cỏi ngang tàng của người Quảng Nam còn biểu hiện ở một dạng đặc biệt khác: thích bông đùa, trào phúng.Th.s Đinh Thị Hựu, cán bộ giảng dạy Khoa Văn Đại học sư phạm Đà Nẵng đã khẳng định: “Hành trang của họ vào vùng đất mới có lẽ không có gì khác hơn là nghị lực cứng cỏi, là tính cách ngang tàng và đặc biệt là tinh thần lạc quan yêu đời …tính bông đùa trào phúng đã trở thành hành trang không thể thiếu trong cuộc sống đầy khó khăn gian khổ của những người đi lập nghiệp trên một vùng đất mới” [43, tr.494]. Như vậy, vì lạc quan sống nên người xứ Quảng thích bông đùa. Và bông đùa là một cách thể hiện tính cách ngang tàng bướng bỉnh của họ. Nghe qua có vẻ nghịch lý, nhưng thật ra đó là hai mặt biểu hiện trong một tính cách thống nhất. Người ta có thể đùa cợt được khi đã đứng trên hoàn cảnh, có một cách ứng xử thích hợp, không để cho những khổ đau, bất hạnh chi phối, xâm chiếm toàn bộ suy nghĩ, tình cảm, tâm trạng của mình “Kinh khủng mà còn đùa là thói quen của nhiều người có tính ngang bướng và hài hước” [63, tr.167]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Trong các truyện ngắn và tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy hầu như các nhân vật đều có cá tính “hài hước”. Từ nhân vật anh bếp, anh bồi trong Bão rừng đến anh Liễn trong Chạy đua với tử thần; từ nhân vật người mẹ và đứa con gái trong Con hiện sinh đến những người lao động nghèo khổ trong Dịch cát.… mỗi người khác nhau hoàn cảnh sống, nghề nghiệp, tính cách nhưng đều có nét chung: hài hước. Anh bồi trong Bão rừng có thể đùa được trong bất cứ tình huống nào. Khi con voi điên một ngà đang tung hoành vào nơi ở của mọi người trong đồn điền, ai cũng sợ xanh mặt, tái xám, biến sắc thì anh bồi vừa truyền lệnh đóng cửa vừa “kêu ơi ới”: “voi một ngà, người ta một mắt” [63, tr.167]. Hay lúc bà chủ có việc gọi đến bồi thì “Anh bồi nhanh nhẩu đáp “uẩy xừ”. Anh không quên quắc mắt hùng hổ mắng lại chủ nhỏ nhẻ, đủ cho chúng tôi nghe: “Đ…mẹ, về là ngậu sị lên”. Rồi anh thong thả chạy đi” [63, tr.33]. Khi chị vú Ba mắng mụ chủ “một vợ mà hai chồng” thì anh bồi nói: “ông táo thì sao? Đó là táo Tây”. Đùa cợt đã trở thành một phần trong lời ăn tiếng nói của mọi người. Khi mụ chủ mắng công nhân để cho cọp dữ vào ăn thịt con bò thì anh bếp đã nói: “theo ý bà thì lúc có cọp, anh phải chạy ra nói: ăn tao đây, đừng ăn bò của bà! Như thế chắc bà không rầy la gì đâu” [63, tr.63]. Trong một tình huống “vô cùng nguy hiểm” của chị vú: bà chủ đi vắng, lão chủ dê xồm tính cưỡng bức chị, nhưng người đọc lại thấy đó là một cảnh buồn cười: “lão chủ chỉ bận độc một cái sơ mi ngủ, phía dưới lông lá tô hô, phía trên đầu tóc xốc xếch, đang tấn đến bắt chị vú. Chị vú thì bé choắt, chân chạy loăn quăn, miệng kêu ơi ới” [63, tr.154]. Qua đây, ta thấy “hài hước” cũng là một cách để thích nghi với cuộc sống của những con người bị đẩy vào tình thế tiến thoái lưỡng nan. Có trường hợp hài hước “hóm hỉnh” để tự trấn an mình, giúp tinh thần của mình mạnh mẽ lên để vượt qua số phận. Trong Chạy đua với tử thần, bất cứ trang truyện nào ta cũng thấy thấp thoáng bóng dáng của thần chết nhưng nhân vật Liễn vẫn có những suy nghĩ, những lời nói, hành động pha vẻ hài hước. Trong đêm khuya, Liễn nghĩ về cái chết oan ức sắp đến với mình và những tù nhân khác để quan lớn thử tài bắn súng: “còn sớm lắm. Mình còn sống nhiều giờ. Không biết hắn bắn có đúng tim mình không! Thằng Tây rút súng lục có vẻ nghề lạ! y như Clark Gable…..không y như Gary Cooper. Lạ! Sao người ta không thuê nó đóng phim. Thà nó giết bao nhiêu người trong phim cũng mặc nó. Chứ nó dùng cái tài ấy mà hạ sát nhân loại thì “hao” quá” [63, tr.518]. Lúc xếp hàng để chạy về đích giành sự sống, Liễn đã tả: “một người lính Tây mang súng đi ngang qua, giơ tay nắn bóp vào bắp thịt từng người như nắn những con thú sắp được thả ra để cấu xé nhau. Nếu hắn phun thêm ít nước thì hắn không khác gì những tay chơi gà” [63, tr.325]. Trong Con hiện sinh, người mẹ đã miêu tả những tài tử điện ảnh: “đàn bà, con gái, vú to như hai trái banh mà cứ phơi phây phây ra. Hai cái mông tròn quay, đắp “ra” bên trên rồi cứ nhoai lên nhoai xuống cà rịch cà tang trước mặt khán giả như con điên” [63, tr.455]. Có lẽ cái nhìn tỉnh táo hài hước đối với văn hóa đồi trụy của Mỹ đã khiến người mẹ có đủ bản lĩnh vững vàng, bảo vệ đứa con gái bé bỏng của mình trước những nọc độc văn hóa của kẻ thù.
Vượt qua ý nghĩa đùa vui, giảm sự căng thẳng, phiền toái trong cuộc sống, hài hước, hóm hỉnh trở thành tính cách của những người có bản lĩnh cứng cỏi dám nhìn thẳng, chấp nhận sự thật và có một lý trí tỉnh táo, không để cho hoàn cảnh làm cho mình phải ngã quỵ.
Phần trên, chúng tôi đã nói đến những mặt tốt của tính cách cứng cỏi. Nhưng không phải lúc nào nó cũng là ưu điểm của người Quảng Nam. Khi thái quá nó trở thành cực đoan “chính sự khí khái và cái bệnh hay cãi của người Quảng Nam thường dễ đưa họ tới chỗ cực đoan” [43, tr.306]. Người đọc hả hê khi thấy một người có thân phận “nhỏ bé” như anh bồi luôn luôn chống đối chủ bằng mọi cách nhưng người đọc cũng không đồng tình với cách trả thù cực đoan của anh ta nhằm vào một đứa trẻ: hễ có dịp là anh nhổ tóc con Rôdết, con mụ La, khiến nó phải khóc thét lên. Và anh ta đã ngộ nhận đó là hành động “trả thù” mà mình cần phải làm. Anh bồi đã phân bua với nhân vật “tôi”: “không trả thù nó thì trả thù ai? Nó lớn thua gì con gái mẹ nó! (anh quay sang chị vú) may đó nghe! Ngắt véo trong nách nó theo kiểu chị là lộ tẩy ngay” [43, tr.144]. Cứng cỏi và thẳng thắn đến thành nóng nảy đôi khi làm cho người đọc thấy những con người Quảng Nam vừa có nét để yêu mến, kính phục vừa có vẻ gì đó tàn nhẫn, xa lạ. Nguyễn Duy Hiệu là sĩ phu yêu nước trung can nghĩa đảm, có ý thức tạo ra một con đường cứu nước mới. Nhưng vào thời kì thoái trào của cuộc kháng chiến chống Pháp ông quá bạo liệt, “hiếu sát”. Ông đã nói chém là chém, giết là giết. Trong mắt của nghĩa quân và nhân dân, ông là người nghiêm khắc đến “độc đoán”, nóng nảy đến tàn nhẫn “sẵn sàng trừng trị bất kỳ ai mà ông nghi có nhị tâm, muốn đầu hàng. Ông không bao giờ thuyết phục” [63, tr.255]. Và thật tai hại, sự độc đoán của ông Hường chỉ “gây bực tức, căm phẫn ngấm ngầm. Do thế, những việc đào ngũ không bớt mà chỉ tăng thêm” [63, tr.256]. Tuy đây không phải là nguyên nhân chính, nhưng nó như giọt nước làm tràn ly, đẩy Nghĩa Hội đến chỗ tan rã. Bản tính nóng nảy cố chấp là một phần trong tính cách của con người Quảng Nam nên nó bộc lộ ở mọi tầng lớp. Nhân vật Bốn trong Cái giỏ vì nôn nóng giết thằng Tây nên “đã dùng hết sức bình sinh” bổ mạnh cuốc vào đầu con chó thân yêu mà vợ Bốn đã đi hàng chục cây số để xin về. Hình ảnh con chó đầu “vỡ toang, một mảnh óc bay lên đập vào mặt Thiện; mảnh óc trắng phếu có lẫn máu đỏ nhỏ thành giọt. Con chó nằm yên, cái đầu gục hẳn xuống trong khi chân trái vẫn cào sè sẹ” [63, tr.321] làm người đọc xúc động mãnh liệt. Tuy rằng, hành động ấy thể hiện quyết tâm cao độ của nhân vật Bốn trong việc gia nhập Nghĩa Hội, nhưng phần nào làm cho người đọc có cảm giác bất nhẫn.
Như vậy khi viết về tính cách con người trên quê hương xứ Quảng, Nguyễn Văn Xuân đã nhìn nhận một cách “công tâm”. Những trang viết của ông là những dòng ca ngợi người Quảng Nam cứng cỏi, ngang tàng, thẳng thắn đối đầu, vượt lên cuộc sống đầy khó khăn, gian khổ. Đồng thời nhà văn nêu đúng hạn chế của nét tính cách này: nảy sinh mất đoàn kết, bảo thủ….Nhưng nhìn chung, khi viết về một Quảng Nam gian khó nhọc nhằn trong cuộc sống, trưởng thành trong giông bão, đau thương, thì xu hướng chung của nhà văn là biểu dương mặt mạnh của nét tính cách này và xem đó như là khí chất tiêu biểu của người Quảng. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
2.2.4. Cảm hứng ca ngợi những con người có tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới
Nếu bất chợt phải chọn đọc ngay một bài ca dao nói về tính cách con người Quảng Nam nói chung, thì hầu như ai cũng chọn đọc:
“Đất Quảng Nam chưa mưa đà thấm
Rượu hồng đào chưa nhấm đà say” [63, tr.17]
Đây là bài ca dao có đến 20 dị bản đều có phần mở đầu giống nhau. Điều đó chứng tỏ rằng mọi vật đều có thể đổi dời nhưng tính cách người Quảng Nam đã được đúc kết trong bài ca dao trên thì không dời đổi. Trước đây, hiện nay và mãi về sau đất và người Quảng Nam vẫn là: “chưa mưa đà thấm”, “chưa nhấm đà say”. Bài ca dao này đã “cực tả sự khao khát cái mới, nhạy cảm với cái mới của người Quảng, nhưng không phải người Quảng nói chung mà là người Quảng đã vượt qua “cái thuở ban đầu… xa xứ ấy” [61, tr.17].
Như chúng ta đã biết, vùng đất Quảng Nam được hình thành từ những nhu cầu thiết yếu về chính trị từ đời nhà Hồ đến đời Nguyễn Hoàng. Quá trình tụ cư của người Việt trên đất Quảng là quá trình liên tục, lâu dài. Họ di cư đến đây vì mục đích an cư lạc nghiệp nên họ quyết bám trụ sinh tồn. Tâm lí đó khiến họ cởi mở, sẵn sàng tiếp nhận cái mới. Hơn nữa, những lưu dân này không bị ràng buộc quá nhiều vào triều đình và các lễ nghi phong kiến. Cách xa thủ phủ của chính quyền phong kiến là điều kiện để người Quảng Nam tự bộc lộ bản thân, tiếp nhận những cái mới trong cuộc sống quanh mình mà trước đây không có điều kiện để thực hiện được. Một trong những “cái mới” là cuộc sống cộng cư với một dân tộc vừa chiến bại nhưng là một vương quốc từng có những thành tựu văn hoá trong thời kì phát triển rực rỡ. Mở lòng mình, tiếp thu có chọn lọc nền văn hoá này chỉ có lợi cho cộng đồng cư dân người Việt. Thế nên, lối sống hoà đồng cởi mở là cách ứng xử khôn khéo mà những cư dân mở cõi của Quảng Nam đã xem như một trong những phương cách để tồn tại.
Ngoài ra, với cấu tạo địa hình, địa thế của vùng đất Quảng Nam: có nhiều núi cao, sông lớn nên dù không muốn, những lưu dân đến Quảng Nam cũng buộc phải nghĩ rằng: nông nghiệp không thể là con đường, là nghề kiếm sống duy nhất. Từ xưa trong văn hoá giao tiếp ứng xử của người Việt đã có sự linh hoạt. Khi điều kiện sống không cho họ có sự lựa chọn thì họ dùng chiến lược thích ứng: “ở bầu thì tròn ở ống thì dài” và họ luôn nhắc nhau “tùy cơ ứng biến” trong mọi hoàn cảnh. Do vậy, trong điều kiện sinh sống mới, tư duy người Việt ở Quảng Nam không còn thuần nông nghiệp thì cũng không có gì là lạ. Ngoài những nghề cũ, chủ yếu là làm nông, thì nhiều nghề mới đã xuất hiện: nghề đi biển, nghề đi buôn. Từ những nghề
mới này người Việt ở Quảng Nam đã mở rộng mối giao tiếp vượt khỏi cộng đồng: buôn bán, trao đổi hàng hoá với người Thượng, với người nước ngoài…
“Ai về nhắn với bạn nguồn,
Mít non gửi xuống cá chuồn gửi lên” [43, tr.411].
Có thể nói ở Quảng Nam đã hình thành một phương thức kinh tế mở, một cơ cấu kinh tế đa dạng, không lấy nông nghiệp làm chính, mà lấy lưu thông, dịch vụ làm chủ đạo. Kinh tế thương nghiệp đã làm cho người Quảng Nam có tư duy nhất định về kinh tế thị trường. Với chiều dài 150 km bờ biển, ý thức hướng ra biển, khai thác biển, thông thương với bên ngoài. hình thành rất sớm ở Quảng Nam. Trên cơ sở bản chất cần cù của người lao động ở nông thôn miền Bắc, những lưu dân đến Quảng Nam học hỏi rất nhanh, giàu năng lực xoay sở, có khả năng thích nghi cao. Trong việc tìm thêm nghề mới để sinh tồn, người Quảng Nam đã nhạy bén nhìn thấy cơ hội kiếm sống của nghề đi buôn. Nhân vật anh Bỉnh (Xóm mới) khi ngồi nhìn những thuyền đánh cá lướt sóng trở về, đã nảy ra ý định mua lại cá từ các ghe đánh bắt, đem bán ở những chợ xa bến ghe để kiếm lời. Nhân vật anh năm Cụt (Cây đa đồn cũ) nhìn thấy ngay nhu cầu rau ghém của dân miền xuôi trong những ngày bão lũ. Thế nên anh đã đóng mỗi bè 40 – 50 cây chuối, cho xuôi theo dòng nước lũ. Những thân chuối này anh mua ở miền ngược rẻ như cho, nhưng khi đem xuống miền xuôi bán có thể lãi gấp 30 lần. Với cách nhìn “mở”, người Quảng Nam dần dần mở rộng làm ăn buôn bán với người Thượng. Những chủ đồn điền đã nắm bắt ngay nhu cầu của người dân tộc là muối, gạo, dụng cụ sản xuất…. và như thế họ hình thành kiểu làm ăn trao đổi hàng hoá hai chiều: thu mua bí, ngô, sừng hươu, mật ong… của người dân tộc, và đổi lại cho họ gạo, muối, vải, dụng cụ sản xuất. Đến lượt chủ đồn điền lại đem bán số bí, ngô, sừng nai, trứng gà… mà chúng đã đổi giá rẻ bán lại cho người dân miền xuôi. Việc lưu thông hàng hoá này đã đem đến cho chủ đồn điền nguồn lợi lớn vô cùng (Bão rừng). ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Ý thức hướng ra biển, khai thác biển được xem là một nhu cầu sống còn của người Quảng Nam lúc bấy giờ. Nhiều tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân đã đề cập đến nghề đánh bắt cá (Xóm mới, Dịch cát, Ngày cuối năm trên đảo). Điều quan trọng là khi lập ra những đoàn thuyền đánh cá một cách có tổ chức, có lề lối, có bạn có phường với nhau. thì cũng là lúc người Quảng Nam hình thành tư duy “động”.
Họ làm việc một cách qui củ, nhanh nhẹn, khác với sự lề mề, chậm chạp, vô tổ chức của người làm nông nghiệp. Trong Ngày cuối năm trên đảo, tác giả đã tả một cảnh ra khơi của đoàn thuyền đánh cá vào dịp đầu năm mới: “lễ đầu năm trong nhà xong, cả bọn đều dẫn nhau ra sau bãi cúng ra mắt ghe. cúng ghe xong, cỗ mang vào nhà cho các trai bạn ăn. Họ ăn vội vã. Chủ nhà chia phần còn lại cho những người vợ đến đưa chồng đi đem về cho con cái. Cả bọn lại mang đuốc đi theo con đường nhỏ ra bãi… Bọn thuyền chài sửa soạn trên ghe xong đều lủi xuống, ghé vai vào thân ghe. Bọn đàn bà đến đẩy giúp. Chỉ thoáng cái thuyền đã trôi mạnh ra ngoài biển và lập tức chao mạnh theo sóng. Họ mang nước, củi và những thức cần khác lên ghe và sửa soạn lại các dây lèo. Con thuyền chòng chành có lúc tưởng như sắp úp. Nhưng tất cả công việc tiến hành nhanh chóng, rồi chỉ mấy phút sau, thuyền lướt sóng ra đi” [26, tr.1077].
Những con người dễ dàng học những nghề mới để thích nghi luôn là những người có năng lực xoay xở, tháo vát. Người mẹ trong truyện ngắn Con hiện sinh là một điển hình. Dẫu người chồng của chị chỉ biết sống cho bản thân, thu vén tiền nong, ăn chơi đàng điếm, trộm của cải trong nhà đem bán để có tiền bao gái…
Người phụ nữ gần như bị bỏ mặc với gánh nặng gia đình: kiếm sống, nuôi con. Trong vai trò vừa làm mẹ vừa làm cha, chị đã vun vén mọi việc lớn bé, vượt qua nỗi khổ của người phụ nữ “có chồng hờ hững”. Từ Sài Gòn trở về quê chị bắt đầu lao vào cuộc mưu sinh. Chị chơi biêu, dùng tiền từ mấy cái biêu để trữ đồ, phần thì chạy hàng họ cho người ta. Chỉ một năm sau là khá. Hàng hoá bị mất cắp, chị phải mang đi gởi nhờ nhà người anh ở xóm trong, tiền bạc phải dành dụm chắt chiu từng đồng để nuôi con… Qua những nhân vật trên, ta thấy đối với người dân lao động Quảng Nam dường như khi họ bị đặt vào một tình thế mới thì “cái khó” không bó “cái khôn”mà “cái khó” làm ló “cái khôn”. Bằng mọi cách họ phải giải bài toán cuộc đời đã đặt ra cho họ.
Sự cởi mở nhạy bén của người Quảng Nam không chỉ thể hiện ở hoạt động kinh tế mà còn thể hiện ở lĩnh vực chính trị, văn hóa. Họ là những con người luôn
“sốt sắng việc công”. Sự nhạy bén của cư dân Quảng Nam biểu hiện rõ ở việc nhận thức đánh giá đúng tình hình chính trị trong nước và tiếp thu luồng gió tư tưởng dân chủ tư sản ở phương Tây. Qua tổ chức Nghĩa Hội và các cuộc khởi nghĩa khác, Nguyễn Văn Xuân không chỉ ca ngợi lòng yêu nước, tinh thần dũng cảm hi sinh, khí phách hiên ngang cứng cỏi của những sĩ phu Quảng Nam mà nhà văn còn cho người đọc hiểu được tính chất đặc biệt của những phong trào yêu nước ở Quảng Nam: hàm chứa cái nhìn mới về con đường cứu nước cứu dân. Cần thấy rằng nền học vấn “Thánh hiền” tồn tại gần 10 thế kỷ đã dẫn dắt đất nước ta chông chênh trên con đường quân chủ ở thế kỷ XVIII, không thể một sớm một chiều có thể thay đổi tư duy cứu nước. Tuy chỉ mới bắt đầu, lúng túng về đường lối, không đủ thực lực, cuối cùng thất bại nhưng sĩ phu Quảng Nam đã dám nghĩ, dám làm theo cách riêng: hướng những phong trào yêu nước chống Pháp từ quân chủ sang đường lối dân chủ tư sản như một bước đệm để sau này những chiến sĩ cộng sản sẽ nối tiếp bằng phong trào cách mạng vô sản. Sự tiếp thu đường lối dân chủ tư sản của phương Tây tuy không phải là con đường đúng đắn của cách mạng Việt Nam nhưng nó có ý nghĩa quan trọng: phủ định một cách quyết liệt chế độ quân chủ chuyên chế tồn tại hàng nghìn năm, thôi thúc những người yêu nước trăn trở tìm một con đường cứu nước đúng đắn.
Tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới khiến cho người Quảng Nam có thể hoà nhập với những cộng cư mới một cách dễ dàng. Trước những thử thách của cuộc sống họ không bao giờ lùi bước. Trong tiểu thuyết Bão rừng, nhà văn kể về một thiếu niên 16 tuổi lên lập nghiệp ở đồn điền cà phê xa lạ, nhưng giây phút bỡ ngỡ ban đầu trôi qua nhanh chóng. Thiếu niên ấy đã quen, thân thiện hầu hết các công nhân ở đồn điền, còn mở rộng quan hệ với những người Đê sống ngoài phạm vi đồn điền…. Trong truyện ngắn Xóm mới, nhà văn viết về xóm ngụ cư của những con người tha phương cầu thực. Nhưng chỉ một thời gian ngắn, tất cả những người của cái xóm mới ấy đã đối xử với nhau bằng tình nghĩa, sự nương tựa, hoà nhập trong cộng đồng để tồn tại. Từ những người có “địa vị”, học thức như vợ chồng anh Tú (là một y tá có biệt tài) đến những người nay “nuôi đẻ” cho nhà này, mai “dọn dẹp, quét tước, trông nhà” cho nhà khác như bà Quì, và những người gánh cá chạy chợ như anh Bỉnh …đều đối xử với nhau rất thân tình. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Chính sự nhạy bén, cởi mở, ham học hỏi mà đất Quảng Nam tuy sinh sau đẻ muộn so với những vùng Hải Dương, Nghệ An, Bắc Ninh….nhưng vẫn nổi tiếng là “đất học”, vùng đất của sự khám phá sáng tạo. Truyền thống hiếu học, tư chất thông minh của người Quảng Nam được lịch sử khoa cử ghi nhận qua sự kiện “Ngũ phụng tề phi” và “Tứ hổ”. Tuy hiện nay Văn thánh Quảng Nam không còn nhưng ngành văn hoá thông tin Điện Bàn đã tìm được hai phiến đá dựng trước tam quan với bốn chữ đề “Khuynh cái hạ mã” (nghiêng lọng xuống ngựa) chứng tỏ sự tôn vinh đối với hiền tài của Quảng Nam. Người Quảng Nam quý chữ, kính trọng ông thầy, trọng tri thức, khích lệ người đi học. Ca dao Quảng Nam có câu:
“Không tham bị lúa anh đầy
Tham ba hàng chữ làm thầy thế gian” [43, tr.243].
Thế nên, những nhân vật xuất thân từ những người có học đều được nhà văn dành cho một sự “ưu ái” đặc biệt khi viết về họ. Từ những bậc thầy dạy vua như Trần Văn Dư, Nguyễn Duy Hiệu đến những “gia sư” của những đứa trẻ trong làn chỉ khoảng 14 – 15 tuổi. Trong truyện ngắn Tiếng đồng và tiểu thuyết Bão rừng, nhà văn đều viết về một vị gia sư trẻ tuổi. Tuy chỉ mới 14 tuổi nhưng vị gia sư này được tất cả “phụ huynh giở mũ nón để chào hỏi như một ông thầy thật sự” [63, tr.469]. Bao giờ ở lớp học về, thầy cũng được các học trò – đôi khi có cậu lớn bằng thầy – ôm sách vở đi phía sau ra chiều cung kính.Với “bề thế” đó, “gia sư” 14 tuổi ấy có thể vào các gia đình ở gần trường chơi, uống trà, nói chuyện đời như người lớn ngay trên bộ bàn ghế đặt giữa nhà… Mỗi khi gởi học phí cho “thầy”, họ đều “xếp món tiền cẩn thận lên cái hộp trầu bằng đồng đặt giữa khay” [63, tr.469]. Còn nơi núi rừng hoang vu của đồn điền cà phê, “vai” thầy giáo 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân cũng được tất cả mọi người nể trọng. Họ “nhã nhặn” với thầy, xách valy hộ thầy. Cô Liêu đã tin tưởng nhờ thầy viết hộ thư gởi về thăm gia đình. Anh bếp thì “biệt đãi” thầy bằng cách “lựa sẵn một ít món để đãi khách” của mụ chủ giấu diếm cho thầy ăn (vì sợ thầy không chịu được những bữa ăn kham khổ ở đồn điền). Mọi việc lớn nhỏ trong đời sống dân phu ở đồn điền, họ đều cho thầy Xuân tham dự, lắng nghe ý kiến của thầy (dù thầy là người mới đến và chỉ mới 16 tuổi).
Nhờ khát khao học hỏi cái mới nên nhân vật Cảo trong Tiếng Đồng đã lặn lội khắp buôn làng của người Thượng, lắng nghe âm thanh ngân vọng của chiêng, phèng la, để có thể sáng tạo những nhạc cụ tốt nhất, vừa thể hiện khả năng học hỏi cái mới vừa khẳng định bàn tay tài hoa, trí tuệ mẫn tiệp của những người lao động Quảng Nam.
Qua các sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy những cư dân Quảng Nam là những người có tính tình cởi mở, nhạy bén với cái mới. Đối với họ, khao khát học hỏi cái mới không chỉ là nhu cầu sống còn mà còn là nhu cầu tình cảm thôi thúc tự bên trong tâm hồn mỗi con người. Với họ, tồn tại luôn song hành với khám phá, học hỏi, sáng tạo.
2.2.5. Cảm hứng ca ngợi những con người nhân hậu, đa cảm đa tình ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
“Cái gì làm cho con người trở thành con người?
Không phải cái mặt mà là cái lòng người ta ăn ở với nhau!” [42, tr.2]. Nhận xét này có nguồn gốc sâu xa trong đời sống tự nhiên, xã hội của nước ta. Nếu xét về “định vị văn hoá Việt Nam” thì văn hoá ở nước ta là loại hình văn hoá gốc nông nghiệp với hai nét đặc trưng tiêu biểu: đối với môi trường tự nhiên thì định cư, tôn trọng và ước vọng sống hòa hợp; đối với tổ chức cộng đồng của đời sống nông nghiệp có nhiều mối quan hệ đã đưa đến lối sống trọng tình. Nhân dân ta đã ví von “một bồ cái lí không bằng một tí cái tình”. Đó là truyền thống nhân đạo quý báu trong đời sống tâm hồn người Việt. Tuy mỗi thời kì lịch sử xã hội, truyền thống nhân đạo có thể được bổ sung thêm những yếu tố mới nhưng căn bản vẫn là tinh thần đùm bọc yêu thương giữa người với người, bản tính nhân hậu của mỗi cá nhân trong ứng xử với tự nhiên, xã hội… Đối với lưu dân Quảng Nam, ý nghĩa của yêu thương đùm bọc càng thể hiện sâu sắc trong sự cố kết cộng đồng, yêu ghét rõ ràng….. Từ đó, trong họ hình thành bản lĩnh, chiều sâu, bề dày văn hoá, chống lại những thế lực xâm lăng văn hoá của kẻ thù.
Tinh thần cố kết cộng đồng của những cư dân Quảng Nam trước hết thể hiện ở suy nghĩ và tình cảm của họ đối với “làng”, nơi họ sinh sống gắn bó gần như trọn cuộc đời mình. Với họ, “làng” không là đơn vị hành chính “khô khan”, nó còn có ý nghĩa chung lưng đấu cật, đùm bọc lẫn nhau trong một cộng đồng nhỏ: chung làng, cùng làng, người làng, huề cả làng… Trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, nhà văn thường nhắc đến đơn vị làng. Hầu hết các nhân vật của ông đều hành xử trong không gian nhỏ hẹp “làng” của mình. Bản thân nhà văn cũng là “một con người từ một ngôi làng”. Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của Nghĩa Hội dựa vào nhiều làng dân cư từ sông Thu Bồn đến tận Hoà Vang; ông Tú Bình được đưa về làng P.K để xử tội chết; việc bố trí chặt đầu Tây đã diễn ra ở một làng nhỏ trên đường từ chợ Củi ra tỉnh thành Quảng Nam; Thái Phiên và Trần Cao Vân được đưa về xử chém ở An Hoà (Huế); làng P.K sinh sống bằng nghề đúc đồng, có những con người tài hoa như nhân vật Cảo. Nhỏ hơn phạm vi “làng” là những sinh hoạt của người dân trong những “xóm” nhỏ. Trận dịch kì lạ ở một xóm nhỏ không tên, những “xóm mới” hình thành trên những bờ khe toàn cát. Trong không gian “làng”, “xóm” nhỏ bé, nhà văn đã miêu tả cuộc sống lao động và chiến đấu, tình cảm gắn bó với “làng” của những con người bình thường. Qua đó, người đọc thấy được đời sống tâm hồn của họ. Có thể nói “làng” trở thành nét đẹp trong giá trị tinh thần của dân tộc. Tình cảm đối với “làng” trở thành một trong những nền tảng vững chắc hình thành tình yêu quê hương đất nước.
Truyện ngắn Về làng là truyện ngắn tiêu biểu cho tinh thần gắn bó, cố kết cộng đồng của người Quảng Nam. Ông Tú Bình vì không chịu nghe Tân Trào chống lại Cần Vương nên ông bị xử tội chết. Nguyện vọng cuối cùng của ông là được về làng để chết. Qua truyện ngắn này, người đọc có dịp nhận rõ mối quan hệ của mỗi thành viên đối với cộng đồng “làng”. Ông Tú Bình đòi về làng để chết vì đó là nơi ông sinh ra, nơi đã nuôi dưỡng thể chất và tâm hồn ông. Việc ông vào bái vọng ở đình làng, vào chùa lạy Phật và nghe đọc kinh siêu độ… chứng tỏ “làng” rất quan trọng, rất có ý nghĩa trong đời sống tâm linh của con người sắp từ giã cõi đời. Hơn nữa, việc khăng khăng đòi về chết ở làng của mình, ông Tú Bình muốn nói với mọi người rằng: ông sống và chết đều là người của làng. Chưa bao giờ thành ngữ “lá rụng về cội” được hiểu một cách cụ thể và sâu xa như vậy. Còn cộng đồng làng P.K nhỏ bé đối với ông như thế nào? Họ hồi hộp chuẩn bị mọi thứ đón ông về. Già trẻ lớn bé trong làng đặt hương án hai bên đường quì lạy ông… Tất cả điều đó chứng tỏ dân làng luôn sát cánh, ủng hộ việc làm yêu nước của ông. Họ đã chuẩn bị hậu sự cho ông Tú với tinh thần “nghĩa tử là nghĩa tận”. Mối quan hệ của cư dân trong làng với ông gần như là mối quan hệ ruột thịt, thâm tình. Chính vì vậy, dù không trực tiếp nhìn thấy ông Tú bị xử tử ngoài bãi chém nhưng các bô lão ở lại trong làng khi nghe một hồi chiêng trống họ đã: “cùng nép sát vào nhau, một cảm giác đau đớn rùng rợn chuyển từ thân thể người này sang người khác” [63, tr.314]. Cũng cần thấy rằng, tình cảm gắn bó của những người trong làng có thêm yếu tố “đặc trưng” của người xứ Quảng. Họ vốn là những người mạnh về “luận lý” nên tuy rằng họ sống trọng tình nhưng không phải là tình cảm mù quáng mà tình phải dựa trên lý, kết hợp với lý. Do vậy, tình cảm của họ có cơ sở vững chắc, ý nghĩa sâu xa, vượt khỏi phạm vi mối quan hệ giữa những người trong cùng một làng. Dân làng P.K nể trọng, tiếc thương, lo lắng, dành tất cả tình cảm tốt đẹp cho ông Tú Bình vì họ hiểu suy nghĩ và việc làm của ông là suy nghĩ và việc làm cao cả: vì dân vì nước. Thế nên, họ đã biến những giây phút cuối cùng của ông Tú trở thành những giây phútđẹp đẽ của một đời người. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Bản chất nhân hậu của người Quảng Nam còn biểu hiện ở tình cảm yêu thương những người thân trong gia đình và “thương người như thể thương thân”. Tình yêu thương đã hình thành sợi dây quấn quýt nối kết người với người. Cụ Niên vì thương con nên liều tấm thân già đi làm phu đồn điền, Nguyễn Thị Băng vì thương chồng bất chấp cả mạng sống, những dân phu vì thương người cùng cảnh ngộ nên đã che chở cho Liếng, người mẹ vì yêu con nên sẵn sàng tha thứ lỗi lầm của “tình địch” chỉ độ tuổi con mình (Bão rừng, Rồi máu lên hương, Con hiện sinh…). Cũng có điều lạ trong tính cách của người Quảng Nam: vừa thẳng thắn, cứng cỏi, vừa “mang trong mình dòng máu rất nhạy cảm, lối sống chân tình, thủy chung, sắt son” [43, tr.209].
Trong tiểu thuyết Bão rừng, cụ Niên đã thổ lộ với bạn cùng cảnh ngộ lý do cụ bán mạng cho đồn điền: “dẫu ở nhà cũng không ích gì, ráng đi làm kiếm đồng tiền gửi về cho con nộp thuế có phải cứu đói được cái mạng nó không? Tôi không dành dụm gửi về thì chúng cũng tù rục xương” [63, tr.89]. Việc làm của cụ thể hiện quan niệm nhân sinh của người Việt: sống là chịu đựng, chịu đựng để tin rằng cuộc sống sẽ tốt đẹp hơn. Chịu đựng còn là để hi sinh cho con cháu, để sự sống tiếp tục. Tinh thần ấy đã được nhân dân ta thể hiện trong bài ca dao quen thuộc mà ý tứ sâu sắc:
“Con cò mà đi ăn đêm
Đậu phải cành mềm lộn cổ xuống ao
Ông ơi, ông vớt tôi nao
Tôi có lòng nào ông hãy xáo măng
Có xáo thì xáo nước trong
Đừng xáo nước đục đau lòng cò con”
Lời nói của cụ Niên vừa chỉ ra cảnh khổ của con người cùng đường vừa ẩn chứa những minh triết dân gian: “còn nước còn tát. Trời sinh trái măng cụt thì vỏ ngoài, vỏ trong bọc kín mít, ruột đặc ngon lành, ai cũng nâng như nâng trứng; còn trái sung thì vỏ mỏng, thịt chát, ruột rỗng, rụng xuống đường chẳng ai muốn ngó” [63, tr.89].
Xưa nay, tình cảm vợ chồng trong những trang văn thường để lại cho người đọc những rung động sâu xa vì nó là thứ tình cảm thiêng liêng trong đời sống tâm hồn của người Việt. Tình cảm này không chỉ xuất phát từ một phía mà là tình cảm song phương: vợ đối với chồng, chồng đối với vợ. Trong văn chương trung đại, chịu ảnh hưởng Nho giáo, các nhà văn thường ca ngợi người phụ nữ tiết liệt, có khi vượt lên tình cảm thông thường của con người để trở thành mẫu người phụ nữ lý tưởng trong xã hội phong kiến: thờ chồng, nuôi con. Nhà văn Nguyễn Văn Xuân không xây dựng hình ảnh người phụ nữ dựa trên khuôn mẫu ấy. Nguyễn Thị Băng trong truyện ngắn Rồi máu lên hương là một phụ nữ có tình cảm đối với chồng rất tha thiết, có thể vì chồng hi sinh hạnh phúc, tính mạng của mình. Đồng thời, người đọc thấy được tình thuỷ chung son sắt của người phụ nữ này được biểu hiện rất cụ thể, với những khao khát rất đời, rất người. Chỉ sống gần chồng được một đêm động phòng hoa chúc, cánh chim bằng tung bay ngàn dặm, mãi một năm sau mới có tin tức. Người phụ nữ trẻ ấy sống trong khao khát chờ đợi. Nàng không cam tâm khi biết tin chồng bị xử tử. Trong một đêm, nàng phải sống với bao đau khổ của tâm hồn người thiếu phụ chờ chồng: nàng nấc lên từng cơn, nghiến chặt răng như nghiền bao nỗi đau đớn, đấm tay xuống bàn, đấm tay lên trán, vì không làm sao cứu thoát được chồng. Cuối cùng quá đau khổ nàng ngã ra bất tỉnh. Trong giây phút ở pháp trường, nàng tận mắt chứng kiến Thái Phiên bị xử chém. Khi đầu Thái Phiên rụng xuống, tình yêu chồng đã khiến nàng có sức mạnh bộc phát: “một thiếu phụ mặc toàn tang chế. Nàng vẹt quân lính, líu ríu chạy trên đôi chân bé nhỏ, thẳng một mạch đến chỗ chiếc đầu lâu vừa rơi xuống trên đống cỏ. Nàng quỳ xuống, nâng nó lên trên đôi bàn tay trắng bệch. Nàng áp cái đầu đầy máu me vào ngực mình. Nàng rú lên, thét lên thê thảm” [63, tr.357]. Ba tháng cuối đời của Nguyễn Thị Băng có thể khiến người ta cảm động mà viết nên một thiên tình sử về tình cảm vợ chồng. Trong ba tháng ấy, nàng đã ôm ấp mái tóc tanh nồng mùi máu, kiên quyết không cho người nhà tắm gội. Đối với nàng, mỗi ngày được mân mê những sợi tóc đen dày cộm vì bết máu tanh nồng, nàng tưởng như đang được sống gần gũi bên chồng, lưu giữ mùi hương của chồng. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Ngoài tình cảm sâu nặng với người thân có ràng buộc huyết thống tình thâm, bản chất nhân hậu, lòng yêu thương của người Việt nói chung và người Việt – Quảng Nam nói riêng còn sâu sắc ở chỗ “thương người như thể thương thân”. Người ở đây là “người dưng” nhưng có thể vì nhiều lý do đã gắn kết họ vào những cái chung: chung hoàn cảnh, chung kẻ thù, chung nỗi khổ của những mảnh đời tha phương cầu thực, bị bóc lột, o ép mọi bề….Vì thế họ đã mở lòng mình yêu thương người khác như yêu thương chính bản thân mình. Trong Bão rừng, ta thấy dân phu ở đồn điền cà phê của mụ chủ La đã che chở cho Liếng khi anh bị tra tấn dã man. Ở vào hoàn cảnh thiếu thốn mọi thứ nhưng mọi người trong đồn điền đều chung tay lo đám tang của bác Liễng cho trọn tình trọn nghĩa. Còn tình cảm của anh bếp đối với nhân vật “tôi” chẳng khác nào tình cảm của người mẹ đối với đứa con thơ của mình. Lòng yêu thương của những nhân vật trong Bão rừng không phải là tình yêu thương mù quáng mà là tình yêu thương giữa những con người đồng cảnh ngộ. Họ yêu và ghét rất rõ ràng. Ghét mụ La, lão Mẹc vì chúng là “chủ”, sống trên mồ hôi xương máu của dân phu; yêu thương tất cả anh em trong đồn điền vì họ đều bị áp bức bóc lột. Từ đó, họ đứng về lẽ phải, đôi khi liều cả mạng sống của mình. Nhân vật Trão bị chủ ép buộc phải đánh Liếng vì tội bỏ trốn, nhưng sau đó chính Trão đã cùng Liếng vượt khỏi chốn tù ngục của đồn điền cà phê. Qua đây, ta thấy nhà văn Nguyễn Văn Xuân chưa là nhà văn cách mạng, nhưng trong sáng tác của mình ông đã cho người đọc thấy được tình hữu ái giai cấp của những người cùng khổ. Nó như sợi dây vô hình mà bền chặt liên kết họ với nhau để làm nên sức mạnh tranh đấu sau này.
Lòng yêu thương còn làm cho con người trở nên cao thượng. Khi bao dung, tha thứ cho người khác cũng là lúc người ta cảm thấy tâm hồn mình như “lớn hơn” lên, thanh thản hơn….Trong cuộc sống ngày thường, đôi khi có những việc không bằng lòng nhau, dẫn đến hiềm khích, mâu thuẫn nhưng trong hoạn nạn họ đã “chín bỏ làm mười”. Bà Phiến và bà Lựu có mối thù không đội trời chung vì con trai bà Phiến (Thân) ăn ở với con gái bà Lựu (Liệu) có mang (Xóm mới). Nhưng khi xóm Mới bị mưa bão cuốn phăng tất cả thì dường như mối hằn thù này bị xua tan. Bà
Phiến có kêu lên tuyệt vọng nhưng không ngăn con trai lao vào chỗ cát đang đổ xuống lấp dần, để tìm được người mình yêu (Liệu, con bà Lựu). Mọi người trong xóm Mới, nhất là anh Phương, không thích lối sống “ky bo” của ông Hương Là, ông dành dụm tiền chôn trong nền cát, chỉ ăn rau mắm không dám ăn đến bát mì, nhưng khi nghe tiếng khóc ai oán của con gái ông Hương vì người cha bị vùi lấp trong cát ai cũng đau lòng. Anh Phương nghĩ ông Hương Là đã quyết ở lại trong cát tìm cho ra gói bạc của mình. Và anh đã “nhìn ra phía sông, như theo dõi một linh hồn mà anh không bao giờ hiểu được” [63, tr.488]. Tuy những người trong xóm mới có nhiều hiềm khích với nhau nhưng họ thật lòng lo lắng cho nhau, đau đớn khi thấy những người cùng xóm mất tích trong cát. Họ làm tất cả những gì có thể mặc cho “nước chảy rào rào với những hình cuồn cuộn, luân lưu, mập mờ” [63, tr.445]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Truyện ngắn Con hiện sinh là một truyện tiêu biểu cho lòng yêu thương đạt đến vị tha, cao cả của một người phụ nữ. Tục ngữ xưa có câu:
“ớt nào mà ớt chẳng cay
Gái nào là gái chẳng hay ghen chồng”
Thế nên có thể hóa giải được cơn ghen, yêu thương “tình địch” là điều hiếm hoi, thậm chí là không tưởng trong cuộc đời thường đầy “hỉ, nộ, ái, ố”. Người phụ nữ trong tác phẩm đã căm phẫn bao ngày vì sự tệ bạc của người chồng, thù ghét lối sống hiện sinh làm cho chồng con sa ngã, giận dữ vì tài sản trong nhà cứ đội nón ra đi theo thói ăn chơi của chồng, ấm ức vì phải chịu cảnh bị chồng bỏ quên…. Tất cả tích tụ thành nỗi oán hận đứa lăng loàn đã quyến rũ chồng mình. Chị quyết phải trả thù. Chị lập kế hoạch đánh ghen tại trận, tìm thêm người hỗ trợ cho mình… Theo “kế hoạch” chị bỏ nhiều tiền “thuê một con mụ lanh như chồn, hỗn bằng cả một cái chợ họp lại” [63, tr.460] để làm thám tử và cùng chị đi đánh ghen. Chị sắm sẵn một con dao bén ngọt. Khi đã biết chỗ hẹn hò của chồng và “tình địch” chị bố trí cho mụ Hiệp đi trước, chị đi xe sau. Chị phân công mụ Hiệp có nhiệm vụ cản chồng chị không cho anh ta can thiệp. Còn chị sẽ trói “tình địch” vào cẳng giường, dùng con dao bén ngọt gọt tóc. Sau đó đắp dầu hắc lên…..Nhưng sau khi “tả xông hữu đột” trong căn phòng tối, chụp được đầu tóc kẻ tình địch thì cũng là lúc chị vứt con dao đi, ôm chặt kẻ “tình địch” vào lòng, vuốt ngực, vuốt tóc, vỗ về nó. Vì kẻ tình địch ấy có “cái mặt non choẹt với bộ tóc ngắn”. Tuy vẫn chưa hết ghen tức nhưng chị vẫn đủ tỉnh táo nhận ra rằng tuổi nó chỉ bằng tuổi con chị, nó chỉ là một con cừu non dại bị sách báo đồi trụy lường gạt, bị thằng chồng khốn nạn của mình phỉnh dỗ. Chị hiểu rằng “tình địch” của mình chỉ là một nạn nhân tội nghiệp. Lúc ấy, trong đầu chị chỉ nghĩ đến đứa con gái của mình. Chị đã rơi nước mắt cảm thấy như mình đang phạm một lỗi lầm lớn trong đời. Hận thù tích tụ từ sự ghen tuông của người đàn bà ấy trong phút chốc được xoá tan một cách dễ dàng, nhanh chóng vì chị đã nhìn “nhân ngãi” của chồng bằng cái nhìn của một người mẹ đối với đứa con bé bỏng, khờ dại để cảm thấy mình có lỗi chưa làm tròn trách nhiệm của người mẹ. Chính lòng nhân ái đã làm nên bản lĩnh vững vàng ở người phụ nữ chịu nhiều bất hạnh trong đời sống tình cảm này. Nhờ đó, chị có thể vượt qua cám dỗ của lối sống hiện sinh, một loại nọc độc văn hoá của Mỹ – Ngụy, bảo vệ con, tha thứ cho người khác…. Chị đã vượt qua tình yêu nam nữ, tình cảm vợ chồng riêng tư để hướng đến một tình cảm lớn lao hơn: tình người. Cần thấy rằng tình người ở đây không phải được ứng xử theo cảm tính thông thường. Sự tha thứ của người phụ nữ đối với “tình địch” có sự hiểu biết cặn kẽ, minh bạch của một trí tuệ sáng suốt, tỉnh táo nhận rõ đâu là nguyên nhân chính, đâu là kẻ thù chính làm cho chị tan nhà nát cửa, phòng không gối chiếc. Có lẽ vì Quảng Nam có những con người như thế nên ngày nay người đến Quảng Nam đều thấy một phố cổ Hội An dù ở nơi giao lưu văn hoá, kinh tế Bắc – Nam, Đông – Tây nhưng vẫn bền vững với thời gian trong việc giữ gìn những di sản văn hoá tinh thần của dân tộc.
Lòng thương người, lối hành xử cao thượng không phải là hành động nhất thời mà nó như chất ngọc tiềm ẩn trong tâm hồn của những con người Quảng Nam giàu cảm xúc. Và từ trong sâu lắng của yêu thương, mọi người đã điều chỉnh hành xử của mình sao cho đúng đắn nhất, không làm tổn thương người khác. Thế nên, nhân vật “tôi” trong Bão rừng dù là một thiếu niên 16 tuổi tâm hồn nhạy cảm nhưng rất mực thước, tế nhị. Khi biết chị Sáu là một người đàn bà được cứu vớt khỏi chốn “lầu xanh”, luôn khát khao tình cảm chân thành, thì mặc dù không đồng tình với những biểu hiện “yêu thương” quá đáng của chị dành cho mình, nhưng nhân vật “tôi” vẫn cố tránh không làm hằn thêm những vết thương quá sâu trong cuộc đời nhục nhằn của chị. Nhờ cách đối xử đó, cuối cùng đã hoá giải được những thù hằn trong lòng chị Sáu. Còn với Liêu, một hình ảnh về người con gái trong sáng, thánh thiện, thì nhân vật tôi đã đem lòng yêu thương nhưng sớm nhận ra kết cục sẽ chẳng đi đến đâu nên cư xử đúng mực, trân trọng Liêu như trân trọng một vẻ đẹp hiếm hoi chốn khắc nghiệt, bạo tàn. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Những con người giàu lòng yêu thương là những người nhạy cảm với niềm vui, nỗi đau khổ của người khác. Tâm hồn họ như một sợi dây đàn sẵn sàng rung lên những cung bậc. Sự đa cảm đa tình đã làm nên tố chất của những nghệ sĩ tài hoa. Giữa chốn núi rừng âm u trong Bão rừng, tiếng khèn của Lư cất lên làm bao người nghe phải say mê: “thốt nhiên, một tiếng khèn não nùng, thánh thót vang lên. Tiếng khèn như tiếng kêu gọi của đêm thăm thẳm đang chờ một phút bất ngờ để từ rừng sâu tiến lên chiếm hết không gian” [63, tr.149]. Tiếng khèn có thể tác động vào vũ trụ thẳm sâu và huyền bí vì nó không là nhạc cụ chuyển tải những âm thanh bình thường mà là điệu tâm hồn của dân tộc, những con người gắn bó ngàn đời với rừng thẳm âm u. Những nhạc cụ của họ vô cùng giản đơn “gồm một vật tròn như cái gáo, trên cắm tua tủa những ống trúc, miệng chỉa ra bốn phía” [63, tr.74]. Nhưng “cái vật” ấy lại có thể phát ra những “điệu nhạc nghe rất buồn, buồn thánh thót và vang rộng”. Trong giây phút ấy, người thổi khèn đã hoá thân trong vai trò một nghệ sĩ toàn tâm toàn ý cho cái đẹp “đứng thổi như thế được một lát, y uốn mình như muốn biến thân hình thành làn sóng. Tiếng nhạc uyển chuyển theo khúc múa” [63, tr.75]. Và điều làm ta ngạc nhiên là ta có thể bất chợt gặp những nghệ sĩ người Đê vô danh trên khắp nẻo đường của buôn làng. Khi thì họ thổi khèn, khi thì họ đàn bằng loại đàn “là một cái ống tre dài, cạo vuốt trơn tru mà người ta tách lên thành sợi, hai đầu nêm bằng những tí gỗ cho sợi dây căng thẳng” [63, tr.77]. Âm nhạc đã trở thành một phần trong đời sống tâm hồn của người dân tộc. Có hẳn một làng P.K (Phước Kiều) sống bằng nghề đúc đồng, tạo ra những nhạc cụ như chiêng, phèng la bán cho người Thượng. Làng nhỏ bé nhưng nhiều nghệ nhân tài hoa với bàn tay khéo léo và đôi tai có khả năng thẩm âm tuyệt vời. Không phải ngẫu nhiên mà truyện ngắn Tiếng đồng là truyện ngắn duy nhất của Nguyễn Văn Xuân được chọn đăng trong tuyển Văn học miền Trung thế kỷ XX. Tiếng đồng đã giới thiệu với người đọc về cái “sành” của một người “nghe tiếng đồng”. Tiếng đồng mà Nguyễn Văn Xuân nói ở đây là tiếng phèng la, tiếng chiêng, những thứ được đúc bằng đồng. Nghe thì giản dị như vậy, thực tế người ta không thể ngờ rằng muốn đúc một cái chiêng, cái phèng la có âm sắc, tiếng ngân giống như ý muốn không phải chuyện dễ. Nhân vật Cảo chỉ là một người nhà quê, không học vấn gì, nhưng anh ta có đôi tai thẩm âm đặc biệt. Cả làng P.K chuyên nghề làm chiêng, làm phèng la, đã nhờ vào đôi tai của Cảo mà bán được nhiều hàng hơn. Khi thợ trong làng đúc xong một cái phèng la, gọt từng ly đồng để cho chỗ dày chỗ mỏng đúng kích thước rồi, đến khi đánh thử tiếng kêu vẫn không đúng như dự tính. Chủ thợ còn đang ngẩn ngơ chưa biết lí do thì nhân vật Cảo bước vào nói ngay: “cha này ẩu quá! Loại này sao lại đánh bằng dùi quấn vải. Phải đánh bằng cây cứng chớ. Đánh vậy làm sao có tiếng cho đúng” [63, tr.473]. Cả người của nhân vật Cảo từ nét mặt, dáng điệu, cử chỉ như là một sự hoá thân của niềm đam mê lớn lao đối với thứ nhạc cụ đặc biệt này: “rồi không chờ đợi, hai con mắt đen thui thủi đó, có hơi hồng hồng, xám xám như màu rừng núi hực lên. Anh xách đại một chiếc guốc đang mang dập vào nhạc cụ. Đột nhiên và lạ lùng, chính tôi không hề phân biệt mà cũng không bao giờ để ý phân biệt âm thanh của tiếng đồng, thế mà tự nhiên tôi có cảm tưởng rõ ràng là tiếng mới hay hơn, phong phú và ngân vang hơn tiếng cũ nhiều lắm” [63, tr.473]. Ngoài tài thẩm âm đặc biệt, nhân vật Cảo còn có một trí nhớ lạ lùng, một sự mẫn cảm đặc biệt khi tiếp xúc với chiêng, phèng la. Một tù trưởng người Thượng, có rất nhiều chiêng, trong đó có một bộ lẻ một chiếc, lại là chiếc cổ nhất, lớn nhất mà vị tù trưởng quý hơn hết. Ông sẵn lòng mua với giá cao nhất nếu có ai tìm được cái chiêng bị mất. Cảo bảo ông đánh cái chiêng cổ cho nghe. Anh nghe gần, nghe xa. Tự tay gõ cùng khắp, cả sấp lẫn ngữa, cả trong lẫn ngoài suốt buổi. Cuối cùng anh bảo: “tôi có thấy trong nhà ông tù trưởng ở Ban Mê Thuột có cái chiêng y hệt cái này. Chắc là của ông bị mất. Nếu ông muốn mua lại, tôi đi lấy về cho” [63, tr.483]. Dĩ nhiên là ông tù trưởng ngã giá, bằng lòng ngay. Anh liền về làng P.K, ủy thác cho những người thợ lành nghề đúc lại cái chiêng thứ hai mà anh đã ghi nhớ, thuộc làu cả về kích thước lẫn âm thanh ở cái chiêng thứ nhất. Phải hiểu thế nào chiêng đôi mới biết “cái liều” cũng là “cái tài” của nhân vật Cảo. Hai cái chiêng đôi được móc cách xa nhau hơn một thước tây nhưng khi tiếng “thùng… ngao” phát ra từ cái phèng la ở phía sau thì lạ lùng thay dường như cũng có tiếng “thùng…ngao” như thế phát ra ở cái phía trước. Rõ ràng không ai đánh, thế mà cái phía trước cứ kêu, mà kêu y hệt như cái thứ hai. Như hai đứa trẻ song sinh, đứa này bị đánh đau xót la hét thế nào thì đứa kia cũng đau xót la hét như thế. Đối với nhân vật Cảo, tiếng đồng như có một ma lực hút toàn bộ tâm trí anh, âm thanh tiếng đồng vang lên từ những ngóc ngách sâu kín, rung động từng tế bào nhỏ nhất trong tâm hồn anh. Anh thật sự là một nghệ sĩ tài hoa say mê và lao động nghiêm túc trong nghề nghiệp của mình. Khi âm thanh tiếng chiêng dội lên, vang ngân thì “ anh Cảo đứng xoạc chân, lùi dần, tay thọc choãi vào trong hai cái túi áo, lắng nghe như một nhà chân tu lắng nghe tiếng chuông chùa, như một tội nhân lắng nghe tiếng sinh hoạt bên ngoài lao xá, như một kẻ đói lắng nghe tiếng rao hàng. Hình như anh không chỉ nghe tiếng chiêng bên ngoài mà còn nghe vọng tiếng chiêng trong tâm hồn anh. Đôi mắt của anh mang nặng một sắc màu rừng rú rất khó tả mà đôi môi thì rung rung như đang muốn phát` ra những âm thanh nào tương ứng” [63, tr.476]. Đọc Tiếng đồng, người đọc thường liên tưởng đến thế giới nghệ thuật của Nguyễn Tuân mà ở đó nhà văn miêu tả con người ở góc độ tài hoa nghệ sĩ. Nếu những nhân vật của Nguyễn Tuân trong Vang bóng một thời là những con người “đặc tuyển”, từ một huấn đạo nổi tiếng với nghệ thuật thư pháp đến những người sành uống trà, thưởng hoa thì nhân vật Cảo của Nguyễn Văn Xuân sống hoàn toàn tự nhiên không có vẻ gì khoe khoang kiểu cách. Rõ ràng với cuộc sống gần gũi người lao động nhà văn đã có một quan điểm tiến bộ khi miêu tả hiện thực: chất tài hoa nghệ sĩ có ở tất cả mọi người, kể cả những người lao động bình thường. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Như vậy, qua những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, ta thấy con người Quảng Nam không chỉ dũng cảm kiên cường, cứng cỏi đến ngang tàng, cởi mở, nhạy bén với cái mới…..mà họ còn là những người nhân hậu, đa cảm, đa tình. Phẩm chất ấy có sự nối tiếp trong vẻ đẹp truyền thống tinh thần, đạo lý của người Việt Nam. Và đối với người Quảng Nam họ yêu, ghét mãnh liệt, rõ ràng, dựa trên những lý lẽ rất xác đáng, sự minh triết của những người “hay cãi”.
2.3. Cảm hứng tố cáo phê phán
Một trong những chức năng quan trọng của văn chương là phản ánh hiện thực. Ngòi bút của nhà văn Nguyễn Văn Xuân là ngòi bút tả thực. Ông như người thư ký ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở vùng đất Quảng Nam. Những số phận cụ thể được nhà văn phản ánh một cách có chọn lọc, trở thành những hình ảnh tiêu biểu cho cuộc sống, tính cách, số phận con người Quảng Nam trong một giai đoạn lịch sử xã hội từ 1954 – 1975. Thông qua một tiểu thuyết và 17 truyện ngắn, đặc biệt là qua những câu chuyện liên quan đến lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp, nhà văn gợi cho người đọc thấy được một lịch sử trong hiện tại. Qua việc tố cáo tội ác của thực dân Pháp và tay sai, nhà văn hướng cảm xúc người đọc đến việc tố cáo tội ác của đế quốc Mỹ, khơi dậy lòng căm thù giặc, tình yêu quê hương đất nước.
2.3.1. Cảm hứng tố cáo tội ác về chính trị của thực dân Pháp và tay sai ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Ngòi bút của Nguyễn Văn Xuân là ngòi bút của một con người nếm trãi, lặng lẽ âm thầm quan sát, ghi chép…Nhà văn không chọn những vấn đề lớn, có tính bề nổi trong tội ác của kẻ thù xâm lược: đốt phá, cướp bóc,…Ngòi bút của ông len lỏi, khám phá những “hiện thực nhỏ” trong tổng thể tội ác của kẻ thù. Nhưng không vì thế mà sức tố cáo của nó kém phần mạnh mẽ.
Bằng sự hiểu biết sâu sắc của một nhà sử học, thông qua các truyện ngắn trong tập Hương máu, Nguyễn Văn Xuân chỉ ra âm mưu hết sức hiểm độc của thực dân Pháp: dùng người Việt trị người Việt. Nghĩa Hội của Trần Văn Dư bị tan rã một phần là do Nguyễn Thân (người trước đây biết ít nhiều về Nghĩa Hội). Sau khi rời Nghĩa Hội, hắn đã “dùng ngay những kẻ vốn có ít nhiều liên quan đến Nghĩa Hội đã rời bỏ hàng ngũ. Những người này có kinh nghiệm chiến đấu, có tính thích hoạt động mà lại tham địa vị…” [63, tr.243]. Còn Pháp đã “đổ rất nhiều tiền ra để thuê những tên do thám, mua chuộc bọn thân hào, bọn nhà giàu. Trước khi họ đến đâu là đường tới, nẻo lui, nhân vật, nhân tâm ra sao, quân số, quân lương, công sự, chỉ huy ra sao họ đều biết hết” [63, tr.244]. Chính sự lùng sục của bọn “Việt gian” này mà địa bàn hoạt động của Nghĩa Hội bị co cụm dần. Cuối cùng, Nghĩa Hội phải giải tán. Chính sách “dùng người Việt trị người Việt” còn được bọn chủ đồn điền tận dụng triệt để. Để làm giàu nhanh chóng bọn chúng dùng mọi cách trấn áp dân phu. Trong Bão rừng, Lão Mẹc đã dùng một lực lượng mật thám dày đặc, chuyên nghiệp để lùng bắt Liếng. Sau đó, để răn đe tất cả dân phu của đồn điền, lão đã mượn “nắm đấm”, “sức mạnh” của những anh em dân phu để đánh Liếng. Thâm độc hơn, lão Mẹc muốn qua việc này chia rẽ tình cảm của những con người cùng khổ. Lời “hiểu dụ” của tên mật thám với anh em dân phu là những lời lẽ “xảo ngôn”: “pháp luật phải xử tử một kẻ phản bội như nó mới đích đáng. Nhưng các vị chủ đây đều là người nhân đức, nay không đưa nó ra tòa mà chỉ đưa cho các người trị tội. Vậy các người phải trị sao cho đáng tội nó để cho nó biết hối lỗi mà làm gương kẻ khác” [63, tr.211]. Và thế là, dưới sự “kiểm soát” của tên mật thám, mỗi dân phu đều phải “bổ những đòn chan chát” trên người Liếng. Qua ngòi bút hiện thực tỉnh táo của Nguyễn Văn Xuân, tác giả đưa người đọc liên tưởng đến chính sách thực dân mới của đế quốc Mỹ: thay màu da trên xác chết, dùng người Việt trị người Việt. Từ đó, phạm vi phản ánh trong những sáng tác của nhà văn vượt khỏi dung lượng hạn hẹp của nó.
Ngoài chính sách thâm độc: dùng người Việt trị người Việt, bọn thực dân Pháp còn thẳng tay chém giết những dân lành vô tội. Trong mắt bọn chúng, dân Annamít không bằng một con vật. Những công nhân ở đồn điền chẳng những bị bọn chủ bóc lột tận xương tủy mà còn bị chúng giết hại bất cứ lúc nào. Trong Bão rừng, lão Mẹc đã cho con báo của lão nuôi vồ chết tươi anh bồi, vì anh này “lỡ tay đánh con báo mấy gậy” [63, tr.70]. Táng tận lương tâm hơn, khi những dân phu bị những cơn sốt rét rừng quái ác hành hạ, bọn chủ đã làm ngơ trước những hình hài người không ra người, ma không ra ma. Đến khi họ chết thì bọn chủ thí cho vài cái thùng đựng xà phòng cũ để chôn tấm thân tàn. Cụ Niên đã ứa nước mắt khi nói về số phận của những người dân phu như cụ: “Kéo cày mà trả nợ đời. Sống ăn măng, ăn trúc, chết rúc vào thùng xà bông. Mẹ cha cái kiếp thằng phu đồn điền!!!” [63, tr.122].
Bọn “mắt xanh mũi lõ” còn lạm sát biết bao người vô tội để thỏa mãn thói cuồng sát. Một khi chúng cho xây dựng “nhà tù nhiều hơn trường học” thì tránh sao khỏi nhiều người vô cớ phải vào tù. Trong truyện ngắn Chạy đua với tử thần, nhà văn đã phơi bày tội ác “trời không dung, đất không tha”của bọn thực dân Pháp. Một trại giam mà tất cả tù nhân bị bắt vào đó, chờ chết, đều không biết mình phạm tội gì. Họ chỉ lờ mờ đoán: quan lớn muốn dùng những tấm bia sống để thử tài bắn súng của ngài. Mạng sống của con người đánh đồng với một trò tiêu khiển! Có khi bọn chúng đổi ý không cho tù nhân “chạy đua” để giành lấy một cơ may sống sót dưới lằn đạn “bắn tỉa”, mà lùa hết những tù nhân vô tội xuống tăng – sê, cho họ đứng sắp hàng một “rồi nó quét tiểu liên, xong nó sai lấy cuốc lấp hết tăng – sê lại” [63, tr.551]. Trong mắt của bọn người da trắng có sứ mệnh “khai hóa” thì sự sống chết của những người dân thuộc địa phụ thuộc vào “ngẫu hứng” của các quan lớn.
Với bản chất hiếu sát, phi nhân, bọn thực dân Pháp còn đẩy hàng ngàn thanh niên Việt Nam làm “lính tình nguyện”, làm bia đỡ đạn cho chúng trong chiến tranh thế giới thứ nhất (1914 – 1918) và thứ hai (1939 – 1944). Trong Bản án chế độ thực dân Pháp, Nguyễn Ái Quốc từng miêu tả: “chế độ lính tình nguyện ấy được tiến hành như thế này: vị chúa tỉnh – mỗi viên công sứ ở Đông Dương quả là một vị “chúa tỉnh”- ra lệnh cho bọn quan lại dưới quyền, trong một thời hạn nhất định phải nộp cho đủ một số người nhất định. Bằng cách nào, điều đó không quan trọng [….] thoạt tiên, chúng tóm những người khỏe mạnh, nghèo khổ, những người này chỉ chịu chết thôi không còn dám kêu cứu vào đâu được” [24, tr.85]. Còn Nguyễn Văn Xuân thì viết về số phận của những anh lính đánh thuê sau khi bị bắt làm tù binh. Trong truyện ngắn Một cuộc tấn công, nhà văn viết về những cuộc “viễn du” của những người lính đánh thuê. Sau khi rời khỏi Việt Nam theo bước đoàn quân viễn chinh Pháp, họ bị bắt làm tù binh, bị nhốt vào trại tù của thực dân Anh trong cái nắng nóng như thiêu đốt chết người ở xứ sở châu Phi xa xôi. Trong tù, hàng tháng trời họ không được tắm giặt nên áo quần đầy những chí, rận…Con đường trở về của những lính “tình nguyện”này trở nên xa vời khi họ tự hỏi “mấy đời nữa chiến tranh mới chấm dứt !” [63, tr.413]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
2.3.2. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân lên án ách áp bức bóc lột của bọn thực dân, giai cấp tư sản
Quảng Nam không phải là vùng “đất lành chim đậu” như miền tây Nam Bộ trong sáng tác của Sơn Nam, mà nói theo Nguyễn Văn Xuân đó là vùng đất “xương xẩu” của Tổ quốc. Cuộc sống người dân nơi đây vốn đã nghèo khó lại phải chịu đựng ách áp bức bóc lột của bọn thực dân, địa chủ, tư sản…Họ như bị “bao vây” trong các tầng lớp áp bức bóc lột mà dù có cố vẫy vùng cũng không thể nào thoát được. Thông qua những sáng tác của mình, Nguyễn Văn Xuân cho thấy xã hội thời thuộc địa đầy rẫy bọn chúa đất, cường hào, bọn chủ đồn điền bám gót thực dân….. Những nông dân, bạn ghe chài bị áp bức dưới miền xuôi, không chịu được, họ đã bỏ trốn lên rừng núi. Nhưng thực tế là họ thoát khỏi thòng lọng này lại phải tra đầu vào thòng lọng khác. Nhiều người như cụ Niên, bác Liễn là những nông dân nghèo bị bọn chúa đất vơ vét hết thóc lúa, tiền của. Họ phải làm ruộng rẽ chia hai, dưới hình thức: “chủ chịu giống, còn phân tro, công cán, chúng tôi phải chịu. Ruộng xấu, phân tro nhiều, công đắp bờ, dọn cỏ, cấy gặt…..Kể như tính ra cho hết, so với công canh tác thì số thâu chẳng thấm vào đâu” [63, tr.85]. Có người phu đồn điền vốn trước kia đi ghe bị chủ đối xử như chó “Nó sai bảo đủ việc, bắt phục dịch như trâu bò, khinh người như cỏ rác. Mà có phải chỉ có một mình nó có quyền sai bảo, khinh mình thôi à? Cả những thằng tay chân nó, cả con vợ nó, cả con mèo nó, cả thằng con mới bằng ngón tay cái của nó cũng đều xem mình như súc vật” [63, tr.91]. Tuy nhiên, những thủ đoạn áp bức bóc lột của những chúa đất, chủ ghe so với mánh khóe bòn rúc tinh vi của bọn chủ đồn điền thì còn kém xa mấy bậc. Về phương diện này, có thể xem Bão rừng của Nguyễn Văn Xuân như một thiên phóng sự điều tra về các mánh khóe bóc lột tinh vi của bọn chủ đồn điền. Vốn là những tên thực dân có công trong việc cướp chiếm Đông Dương được chính phủ thuộc địa “ân cấp” đất đai để lập đồn điền, bọn này liên kết chặt chẽ với tầng lớp tư sản chính quốc bóc lột tận xương tủy anh em dân phu. Ngay từ đầu, bọn chúng đã ràng buộc cuộc đời của những dân phu với đồn điền bằng cách ký “công tơ ra” như một thứ “giấy bán thân”. Lương công nhân hàng tháng, bọn chủ đều tìm cách ăn chặn bằng nhiều lý do. Khi thì vì đi trễ giờ làm mà họ phải chịu “cúp một ngày lương”; khi thì vì ăn nói “cà xốc”, làm gãy dụng cụ lao động nên họ phải bị trừ “mười ngày công”. Thậm chí, có người làm cả tháng “không còn đủ một đồng bạc” để mua gạo muối vì đau ốm liên miên…..Còn gia sư Nguyễn Văn Xuân thì vừa phải bán hàng, vừa phải dạy học nhưng mụ chủ cho rằng tháng đầu chỉ là học việc nên “nhận tạm ít tiền để tiêu cho vui” [43, tr.94]. Dù phát cho công nhân những đồng lương chết đói như thế, nhưng bọn chủ đồn điền vẫn nghĩ cách làm sao cho đồng tiền ấy lại quay về túi chúng. Cách ấy thật tinh vi, khó mà nhận ra: khuyến khích công nhân đồn điền đánh bạc. Máu đỏ đen sẽ làm cho họ ngập đầu trong nợ nần với chủ, sống, chết cũng không rời khỏi đồn điền. Cụ Niên, một dân phu lâu năm trong đồn điền, đã giải thích vì sao dân phu đánh bạc: “ở đồn điền không đánh bạc giống như ở cửa quan không ăn hối lộ. Mình không đánh, chủ nó cũng bày cho mình đánh. Có đánh, có sát phạt nhau, chủ mới lấy đồng tiền lung lạc, tác oai, tác quái mình được. Ở đây đánh nhỏ, chứ ở các đồn điền khác đánh to lắm. Có người suốt đời đem thân lên ở đồn điền này mà may không nổi cái áo, toàn bận áo xin của anh em” [63, tr.178]. Chẳng những bóc lột công sức lao động của người đang sống mà bọn chủ đồn điền còn nhẫn tâm bòn rút từng đồng bạc của người đã chết. Trong Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã phơi bày một sự thật tàn nhẫn dưới thời thực dân phong kiến: thuế thân đánh cả vào người sống lẫn người chết. Còn trong Bão rừng, Nguyễn Văn Xuân đã phanh phui thủ đoạn bòn rút của bọn chủ đối với đồng tiền xương máu của công nhân sau khi họ đã chết. Người đọc ghê tởm bộ mặt giả nhân nghĩa của mụ chủ La khi mụ bảo anh em dân phu cứ mua hòm chôn bác Liễn còn “tiền bạc thì không lo”. Không đợi mọi người có thời gian cảm kích cách đối xử đầy “tình người”, mụ đã giải thích luôn: “Vì tháng trước, “nó” có nhờ tôi gởi số tiền về nhà nộp thuế, nay nhờ tiền đó tôi chưa gởi, cứ lấy mà mua hòm cho được sự thể hơn” [63, tr.121]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Nếu trước đây, có ai đó nghe nói đến loại người được liệt vào “gian thương” trở nên giàu có mà chưa hình dung được “gian thương” là như thế nào thì chỉ cần xem cung cách làm ăn, buôn bán của mụ chủ La sẽ hiểu. Trong đồn điền, mụ đặt ra qui định bất thành văn: anh em dân phu và những người Đê, người Thượng sống chung quanh đồn điền chỉ được mua bán hàng hóa với mụ. Nếu thổ dân trong khu vực đồn điền buôn bán hàng hóa cho khách đi xe ngang qua đồn điền thì “chủ nó đánh cho bỏ mạng” [43, tr.55]. Nhờ độc quyền buôn bán nên mụ La tha hồ mua rẻ bán đắt, đong gian cân thiếu. Bí, dưa…được trồng từ bao mồ hôi công sức của thổ dân nhưng “rẻ như cho”. Một cái nhung nai tươi mướt màu nâu non được mụ chủ trả “bảy cắc” rồi tăng “một đồng tư”. Cuối cùng mụ chủ để cho cái nhung nai bốc mùi và mua với giá “hai cắc”. Đối với “cu ly” làm cho đồn điền thì họ phải mua những vật dụng cần thiết trong cửa hàng độc nhất của mụ chủ, ghi sổ và trừ vào lương tháng, “hễ ai lôi thôi” là chủ đồn điền “đánh cho một trận, cúp lương. Và nếu quá lắm thì giam lại” [63, tr.69]. Được độc quyền buôn bán nên sự cân, đong, đo, đếm của mụ La hết sức gian xảo, tinh vi, đúc kết bài bản. Bài học vỡ lòng về mánh khóe của “gian thương” thầy Xuân đã “học” được từ sự bày biểu của bà chủ. Người Đê mua vải thích đo bằng sải tay (pạ), cứ để cho họ đo thoải mái vì mụ chủ đã biết cái “pạ” chung của họ. Người tay ngắn sẽ lỗ, còn người tay dài thì chủ sẽ lấy thước đo vải lại và tính thêm tiền. Đằng nào thì người mua cũng thua thiệt. Tinh vi hơn là bài học “đong muối”. Mụ giảng giải: “đổ muối không nên đổ mạnh. Hạt muối có cạnh có khía. Đổ mạnh thì nó chèn ép lên nhau, làm hao muối rất nhiều. Muốn có lợi thì phải đổ rất nhẹ. Càng nhẹ chừng nào, muối càng xuống yếu chừng nấy, các khía cạnh của nó chồng chất lên nhau nên rất mau đầy mà ít hao” [61, tr.50]. Chưa hết, khi gạt muối không nên dùng vật nặng mà gạt vì như vậy muối sẽ bị ấn sâu xuống. Mụ chủ thừa biết muối đối với người Đê, người Thượng quý như sinh mạng của họ, họ chắt chiu từng hạt để sống qua ngày nếu không muốn dùng tro thay muối. Họ càng cần muối, mụ càng đong gian, đong thiếu. Chỉ riêng một loại nhu yếu phẩm này, mụ La đã bóp hầu, bóp họng của biết bao người dân thật thà, chất phác. Bài học “đong đo” còn được mụ tiếp tục dạy cho thầy Xuân trong mua bán gạo. Khi mua gạo của người Đê đem đến bán thì thầy phải dùng “một cái thùng mà chủ thộn đít xuống để mua”. Nhờ thế, người mua ăn gian được vài lon gạo. Đến khi có người khác đến mua, thì chủ dùng cái thùng khác đã “thộn đít lên” để bán. Như thế, ngoài đồng lời, người bán còn kiếm thêm được vài lon gạo của người mua.
Qua tất cả thủ đoạn bóc lột của bọn chủ đồn điền, nhà văn đã lý giải cách làm giàu nhanh chóng của giai cấp tư sản Việt Nam: “ăn bẩn” theo gót giày viễn chinh của quân xâm lược Pháp. Mỗi trang viết của nhà văn ngồn ngộn tư liệu thực trong một giọng văn rành mạch của người quan sát tỉnh táo, chắt lọc. Bằng cách cung cấp những sự thật tai nghe mắt thấy, nhà văn đã viết nên những trang tiêu biểu trong “Bản án chế độ thực dân Pháp” ở thuộc địa một cách sinh động, thuyết phục.
2.3.3. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân lên án thủ đoạn xâm lăng văn hoá của đế quốc Mỹ ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Sáng tác văn học của Nguyễn Văn Xuân tuy không nhiều nhưng nhà văn đã bao quát những thời điểm quan trọng trong chuyển biến lịch sử xã hội giai đoạn 1954 – 1975 ở vùng đất Quảng Nam. Đọc sáng tác của ông, người đọc có cái hứng thú của việc dự một bữa tiệc tuy ít “món” nhưng “mỗi món” đều có mùi vị phong phú, màu sắc đặc trưng, nguyên liệu đa dạng….có thể làm thỏa mãn nhu cầu tìm hiểu, khám phá, bổ sung tri thức của người đọc. Trong 17 truyện ngắn, Con hiện sinh là truyện duy nhất liên quan trực tiếp đến thủ đoạn tinh vi trong chiến tranh xâm lược Việt Nam của đế quốc Mỹ. Việc dùng văn nghệ làm vũ khí để chống lại các cuộc đấu tranh giải phóng dân tộc không phải là điều gì mới mẻ. Nhưng nếu đem so sánh âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân cũ trong việc dùng văn học nghệ thuật làm công cụ đầu độc và nô dịch quần chúng với âm mưu và thủ đoạn của chủ nghĩa thực dân mới ở miền nam Việt Nam thì có sự khác nhau rất lớn về qui mô tổ chức, về đội ngũ, về phương thức biểu hiện, phương diện truyền bá……Cùng một lúc, bọn đế quốc Mỹ vừa cầm súng giết chết thể xác con người vừa dùng chất độc văn nghệ giết chết tinh thần con người. Để thực hiện chủ trương “chinh phục trái tim và khối óc”, “hủy diệt màu xanh trong tâm hồn Việt Nam”, bọn đế quốc Mỹ đã dùng sự hấp dẫn của văn hóa lai căng, lối sống “hiện sinh” thác loạn theo kiểu Mỹ làm lung lạc tâm hồn thế hệ trẻ chỉ biết hưởng thụ hôm nay mà không biết đến ngày mai. Qui mô của cuộc tấn công này được tiến hành trên nhiều lĩnh vực: phim ảnh, sách báo, mốt áo quần,…..Nọc độc văn hóa không chỉ tác động đến những người trẻ tuổi mà nó còn vươn vòi bạch tuộc vào những gia đình, biến những ông chồng thiếu bản lĩnh thành những tay ăn chơi sa đọa. Tác phẩm Con hiện sinh của Nguyễn Văn Xuân đã kể về sự tan nát của một gia đình trong cơn lốc của trào lưu “hiện sinh”. Những đứa trẻ 13, 14 tuổi chỉ thích xem những phim ảnh khiêu dâm, có những cô gái “vú to như hai trái banh mà cứ phơi phây phây ra” [61, tr.445]. Hằng ngày, bọn trẻ chỉ thích ăn diện lạ mắt: quần jin vàng, ngắn cũn cởn, môi bôi sơn hồng tím, chân đi giày cao gót, không học hành, làm ăn mà chỉ “tán nhảm”, “xi – nê”, “đọc tiểu thuyết nhảm”, “ngâm những thứ thơ què chân, què cẳng”[63, tr.460]. Và kết quả nhỡn tiền của lối sống “hiện sinh” ấy là những đứa trẻ “chùi chưa sạch mũi” như Ngọc Điệp, đã bị chửa hoang. Lối sống “hiện sinh” còn đưa đường dẫn lối cho những người đàn ông đã “bốn mươi bảy, bốn mươi tám” tuổi, đã làm chồng, làm cha, có một cuộc sống ổn định bỗng trở nên hư đốn: không thích làm việc chỉ thích tiêu tiền như nước, trộm tài sản trong gia đình để ăn chơi, sống chung chạ với bồ nhí chỉ trạc tuổi con gái mình….Qua tác phẩm Con hiện sinh, nhà văn muốn gióng lên tiếng chuông cảnh tỉnh mọi người đối với tội ác nham hiểm của đế quốc Mỹ. Chỉ cần lơ là, mất cảnh giác trước tiền của viện trợ từ Hoa Kỳ thì văn hóa độc hại sẽ nghiễm nhiên tồn tại trong mỗi gia đình. Nó như một con vi trùng đáng sợ đục khoét bên trong lối sống của mỗi gia đình, phá hủy từng tế bào của xã hội. Và đến lúc nào đó, nó sẽ làm sụp đổ cuộc sống tinh thần của toàn xã hội. Sâu xa hơn, thông qua tác phẩm, nhà văn còn lên án những văn sĩ bán linh hồn cho kẻ thù, tiếp tay cho chủ nghĩa thực dân mới làm mưa làm gió ở miền Nam Việt Nam. Nếu Vũ Hạnh có Bút máu trực tiếp đề cập đến tác hại sâu xa của những cây bút thiếu tỉnh táo trước thời cuộc thì Nguyễn Văn Xuân, với giọng điệu điềm tĩnh mà không kém phần quyết liệt, đã vạch tội ác của những cây bút cố ý hay vô tình tiếp tay cho kẻ thù. Người mẹ sống trong thời buổi “hiện sinh” đã lo lắng, bảo vệ đứa con gái nhỏ của mình trước một đời sống sinh hoạt tinh thần của xã hội hết sức phức tạp “báo chí thì quá nhảm nhí, chỉ trông bám vào đàn gà mái để sống, còn tiểu thuyết thì sao?…..Toàn là cuồng nhiệt, thất vọng, chán đời, ho ra máu, ngoại tình, nói xin lỗi cả tim la, đau lậu thứ gì cũng có. Y như trong nhà thương thí” [63, tr.454]. Người mẹ đã căm phẫn gọi những cây bút ấy là bọn ăn bẩn, không lương tâm, bọn lừa gạt….. “Tôi không hiểu mấy ông văn sĩ họ ăn thứ dơ gì mà viết toàn cái giọng chán chường, sầu thảm chỉ lừa gạt bọn con nít miệng còn hôi sữa” [63, tr.454]. Có khi người mẹ cảm thấy như bất lực trước sự tấn công ồ ạt của sách báo đồi trụy: “Nếu sách báo lành mạnh thì lời mình còn chút ích lợi. Đằng này ngược lại, những câu mình nói thì quê mùa, câu sách báo lại văn hoa. Ý mình nghèo nàn, sách báo lại thao thao như nước. Cái mặt mình như trái mảng cầu sắp rụng thì hình ảnh sách báo rực rỡ sang trọng” [61, tr.454]. Còn phim ảnh thì “lạt lẽo, vô vị mà cũng hết sức vô luân”[63, tr.455]. ( Luận văn: Cảm hứng của Nguyễn Văn Xuân qua các tác phẩm VH )
Chỉ trong dung lượng hạn hẹp của một truyện ngắn, nhà văn Nguyễn Văn Xuân như dồn mọi hiểu biết của mình để phanh phui âm mưu của chủ nghĩa thực dân mới nhằm dập tắt ánh sáng văn hóa bên trong, để dễ dàng bắt nhân dân miền Nam phải cúi đầu chấp nhận sự thống trị của đế quốc Mỹ. Bọn chúng muốn đạt mục tiêu: “xuyên tạc sự thật, lộn sòng phải trái trắng đen, gieo rắc trong nhân dân những nhận thức tư tưởng sai trái, tâm lý ghét sợ cộng sản và phá hoại những truyền thống đạo đức văn hóa tốt đẹp của dân tộc” [49, tr.21].
Các bạn có thể tham khảo thêm:

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
