Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam

Luận văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam là bài mẫu mà mình muốn chia sẻ cho các bạn hôm nay. Về phương diện nghệ thuật chúng ta có thể thấy Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc tiếp cận với lối văn giản dị mà mực thước, thâm trầm. Từ nhân vật đến sự kiện, từ không gian đến thời gian, từ ngôn ngữ đến tình tiết…tất cả đều toát lên tính hiện thực của tác phẩm. Hiện thực, cụ thể mà không vụn vặt, nhàm chán, đơn điệu; tầm khái quát làm cho những chi tiết về hiện thực trở nên sinh động và mang trong nó tính hàm súc cần thiết của văn chương và được khắc họa rõ nét trong bài mẫu: Đặc điểm tiểu thuyết, truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954 – 1975 .

3.1. Tiểu thuyết đậm chất hiện thực

Nói đến chức năng của văn nghệ, các nhà lí luận thường đề cập đến bốn chức năng: nhận thức, giáo dục, thẩm mĩ, giao tiếp. Trong đó chức năng nhận thức được xem là chức năng đầu tiên, quan trọng. Theo các nhà lí luận văn học: “ý nghĩa nhận thức của nghệ thuật là ở chỗ nó giúp người ta biết về cái gì, có thêm được những tri thức gì” [25, tr.167]. Để phản ánh hiện thực, giúp người đọc khám phá về những vấn đề xã hội và con người trong thời đại, mỗi nhà văn có một phương cách khác nhau. Quan niệm: “văn dĩ tải đạo”, “thi dĩ ngôn chí” trong văn chương phong kiến không còn phù hợp với những chuyển biến mạnh mẽ về nhiều mặt của xã hội Việt Nam đầu thế kỷ XX. Để phù hợp với những thay đổi của xã hội thì văn chương phải là: “cái hiện trạng một thời làm nên nó” [25, tr.557]. Điều này được thể hiện rất rõ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, đặc biệt là mảng tiểu thuyết. Tuy không tuyệt đối hóa, nhưng một trong các tiêu chí để phân biệt tiểu thuyết với các thể loại khác là: “một sự tái hiện cuộc sống không thi vị hóa, lãng mạng hóa, lí tưởng hóa. Miêu tả cuộc sống như một thực tại cùng thời đang sinh thành, tiểu thuyết hấp thụ vào bản thân nó mọi yếu tố ngổn ngang bề bộn của cuộc đời, bao gồm cái cao cả lẫn tầm thường, nghiêm túc và buồn cười, bi và hài, cái lớn lẫn cái nhỏ” [25, tr.391]. Đọc tiểu thuyết Bão rừng của nhà văn, người đọc thấy được những yếu tố “ngổn ngang, bề bộn”của cuộc đời mà chàng trai 16 tuổi Nguyễn Văn Xuân đã kịp ghi nhận vào tâm trí mình khi lên đồn điền lập nghiệp .

3.1.1. Chất hiện thực thể hiện ở nội dung phản ánh ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Tiểu thuyết Bão Rừng được nhà văn sáng tác năm 1955, khi bị bắt giam ở nhà lao Thừa Phủ – Huế… Trong phạm vi một tiểu thuyết dài 233 trang, nhà văn đã kịp khái quát những hiện thực lớn tác động đến đời sống của cư dân đất Quảng Nam trong những biến chuyển mạnh mẽ của lịch sử xã hội những năm 30 của thế kỉ XX. Đọc Bão Rừng, người đọc có dịp “đến” những đồn điền được thành lập dưới thời Pháp thuộc và thấy cả một kho tư liệu dồi dào về lịch sử hình thành những đồn điền cà phê, cao su; lịch sử làm giàu của giai cấp tư sản chính quốc cũng như đời sống của giai cấp công nhân Việt Nam ở những nơi này. Qua đó, chúng ta phần nào hiểu được chính sách khai thác thuộc địa của thực dân Pháp sau chiến tranh thế giới thứ hai. Đồn điền cà phê này được hình thành do lão La: “vốn đi lính lâu năm và cha hay ông nội gì đó có công trong việc cướp chiếm Đông Dương, nên người ta ân cấp cho lão một khu đất hoang ở đây. Khu ấy rộng không rõ chừng nào, bề dài chiếm theo đường quốc lộ mấy chục cây số. Lão chưa có vốn nên lúc mới lên chuyên nghề nấu rượu bán cho dân Thượng và phu phen các đồn điền khác. Hiện trong nhà còn di tích mấy cái lò bám đầy cát bụi. Rồi lão thôi nấu rượu và thuê người khai phá đồn điền […] lão cho đi tìm mộ nông dân các vùng nghèo khổ lên thay” [63, tr.34]. Nhà văn cũng cho người đọc thấy nguyên do nào những đồn điền này lại lớn mạnh, bền vững như vậy. Một trong những phương cách phổ biến đó là sự liên kết giữa các thế lực kinh tế và quân sự. Họng súng và lưỡi lê của chính quyền thực dân Pháp là lực lượng hậu thuẫn bảo vệ tốt nhất sự tồn tại của đồn điền. Lão La đã nhắm mắt làm ngơ cho vợ làm nhân tình lão Mẹc, một tên quan Pháp có thế lực lớn hơn, để dựa vào đó mà lão áp bức đám dân phu khốn khổ và chặn đứng, tiêu diệt mọi ý đồ phản kháng của họ cũng như những người Thượng sinh sống ở những vùng chung quanh. Dựa vào thế lực của Tây, giai cấp tư sản tha hồ vơ vét bóc lột dân nghèo vô tội. Thế lực của chúng không hạn hẹp trong một đồn điền mà vươn dài, liên kết hai ba đồn điền với nhau. Cửa hàng buôn bán của những chủ đồn điền giăng khắp nơi. Chúng trở thành những vị “chúa đất” cai quản một phạm vi rộng lớn, mà từ con người đến sản vật đều thuộc quyền quyết định của chúng.

Tiểu thuyết Bão Rừng là một trong những tác phẩm ít ỏi viết về đời sống công nhân ở những đồn điền của thực dân Pháp. Nguyễn Văn Xuân có “cơ duyên” lên tận đồn điền, sống và làm việc với dân phu, nhà văn đã ghi chép rất thực về đời sống khốn khổ của họ. Họ phải chịu đựng hai tầng áp bức bóc lột: một của chủ đồn điền, một của bọn buôn bán độc quyền. Hoàn cảnh xa gia đình, vợ con, đau ốm, đói rét của những công nhân thật đáng thương. Đây là một đoạn văn tả thực về hoàn cảnh của một công nhân bị sốt rét rừng hành hạ, không tiền thang thuốc sắp đi vào cõi chết :

Tôi khẽ nén một tiếng thở buồn, nâng cánh tay bác lên. Cánh tay lực lưỡng xưa kia, cánh tay khai phá đồn điền, cánh tay nuôi vợ, nuôi con, cánh tay ấy giờ đây như bất động trong tay tôi. Mãi lúc người y tá bảo: nắm tay lại, bác cũng chỉ đủ sức co ngón tay….Mạch máu trên tay bác to lớn, nhưng đến chỗ khuỷu thì lại lẩn vào trong thịt, tôi phải siết mạnh tay cho nó trồi lên song không có mấy hiệu quả.

Người y tá thọc cây kim vào ngoáy qua, ngoáy lại trong da để tìm mà vẫn không làm sao kiếm ra đúng mạch; tôi nghe nhói trong tim, nghĩ đến những đường gân bị đâm thủng một cách tàn nhẫn và đề nghị với y đổi tay. Y gật đầu, mồ hôi trán ra loang lổ, trên tay kia, y lách cây kim vào; mặt y thoáng tươi khi nhẹ rút cái bít tông lên một tí, song lại sa sầm xuống ngay. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Tôi hỏi:

  • Nếu không tìm ra mạch ở tay thì làm thế nào?
  • Có thể tìm mạch ở cổ

Y lại thọc lút cây kim để tìm, và từ từ rút ra và lách nhẹ gần da. Lần này khi y khẽ kéo bít tông, thuốc hơi sủi lên rồi một chút nước đỏ rỉ vào; gặp nước thuốc xanh, màu đỏ biến thành một màu gan gà tái ngắt. Trái tim tôi như ngừng đập từ nãy giờ bỗng nổi lên hoan hỉ, tôi kêu :

  • Có máu rồi.

Cả khối thuốc từ từ thoát ra khỏi ống tiêm. Tôi thở một hơi khoan khoái. Cái mặt đưa đám của người y tá cũng ửng tươi. Tôi liền kéo mảnh bao tời rách đắp lên ngực của bác Liễn. Chợt mắt tôi để ý đến những tí gì gờn gợn trắng trên chiếc áo màu đen của bác. Tôi mãi suy nghĩ chưa hiểu vật gì thì người y tá cũng vừa kêu lên:

  • Rận!

Rận nhiều quá; bò đến trông thấy trên áo, trên chiếu trên bao tời [63, tr.100- 101].

Một đoạn văn khác nhà văn miêu tả đời sống của anh em dân phu: Dân phu đã lần lượt trở về. Họ không vào khu chủ ở, đi thẳng ra trại phía sau. Chỉ có mấy người đại diện vào lãnh muối, gạo. Trông họ không giống tí nào với những người dân phu vạm vỡ, bắp thịt nổi bật, da đỏ hồng hào, tinh thần cường tráng như tôi tưởng tượng. Người nào cũng màu da xanh xám, nét mặt khắc khổ, già trước tuổi. Họ quấn trên đầu những chiếc khăn lông lớn, màu trắng muốn biến thành màu khác hay màu khác biến thành màu trắng không rõ, chân họ đi không chút hăng hái và đối đáp bằng giọng uể oải.

Tôi theo họ ra trại chơi. Đó là vài căn nhà tranh rất dài, làm trên sàn theo lối thượng. Thang gỗ đung đưa dưới bước chân. Trong trại tối om om tuy lúc ấy trời còn sáng sủa […] Ở cửa lớn cuối nhà, có hai người ngồi chăm chú bắt rận. Có lẽ rận khá nhiều, vì thấy họ hăng hái, thi nhau cắn rận đôm đốp [63, tr.38-39].

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

3.1.2. Chất hiện thực thể hiện qua miêu tả nhân vật, xây dựng chi tiết ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Đặc điểm của tiểu thuyết là “miêu tả con người trong hoàn cảnh, không tách nó khỏi hoàn cảnh một cách nhân tạo, không cô lập nó cũng như không cường điệu sức mạnh của nó. Nó miêu tả nhân vật như một con người đang trưởng thành, biến đổi và do đời dạy bảo” [25, tr.390]. Mỗi nhân vật trong Bão Rừng được nhà văn đặt trong hoàn cảnh thật, không gian thật. Đó là một đồn điền ở M, muốn đến đó phải đi ngang Ninh Hòa, Ba Rạt…Trong phạm vi đồn điền ấy, tác giả cho mỗi nhân vật của mình xuất hiện trong một không gian hẹp hơn, gắn liền với nghề nghiệp, tính cách của mỗi người: anh bồi dưới quyền sai bảo trực tiếp của bà chủ, xem xét cắt đặt mọi việc trong nhà; anh bếp vừa nấu những món ăn Việt, vừa nấu những món ăn Tây; chị Ba thì có nhiệm vụ bế con Rôdêt…thầy Xuân vừa bán hàng vừa dạy học cho chủ. Rồi những công nhân đồn điền như Lư, Liếng, cụ Niên….sống trong những lều trại tạm bợ dành cho công nhân. Trong những không gian nghề nghiệp cụ thể như vậy, mỗi nhân vật được nhà văn miêu tả thật đến từng chi tiết, hành động, lời nói….vừa phù hợp với “nghề nghiệp” của từng người, vừa thể hiện tính cách chung của con người xứ Quảng. Nhân vật anh bồi vừa sợ chủ nhưng luôn tìm cách trả thù. Mỗi hành động “trả thù” của anh ta đều có cái “láu lỉnh” của kẻ biết mình yếu thế hơn nhưng bản tính cứng cỏi lại không cho phép anh ta cam chịu. Đây là một đoạn văn miêu tả cách trả thù của anh bồi:

Anh bồi bày cho chị vú:

  • Đừng ngắt nách nó nhiều mà có dấu, có vết. Cứ nhổ tóc nó cho kinh cha nó đi. Mụ không biết đâu!

Vừa nói, anh vừa lấy tay nhổ luôn mấy sợi tóc vàng óng ánh, loăn quăn, gợn sóng của con bé. Tiếng kêu thét lên của nó làm tôi muốn tát ngay một cái vào mặt thằng tàn ác. […]

  • Anh bồi đã lanh lẹn thu mấy sợi tóc vào túi từ khi nãy, bây giờ cũng lấy giọng chân thành bảo mụ:
  • Trời ơi! Ai lại đi hành hạ một đứa bé con. Thì chính khi nó khóc thét lên, có thầy Bảy đây, thầy cũng ngạc nhiên […]
  • Anh bồi láu lỉnh liền nhăn mặt, méo mồm cho con bé phải thốt lên cười. Tiếng cười trên đôi môi tươi tắn làm dịu sự bực tức của người mẹ. Mụ chủ xem xét một lát rồi chỉ vào mặt chị vú:
  • Tôi mà nghe nó khóc thét nữa, tôi giết mụ.

Mụ hầm hầm quay về phòng. Tôi lưu lại một phút bảo cả hai người:

  • Giận cá, chém thớt chướng lắm. Trẻ con miệng còn hôi sữa, có tội gì mà hành hạ nó?

Anh bồi hằn học:

  • Không trả thù nó thì trả thù ai? Nó lớn thua gì con- gái -mẹ -nó !(anh quay sang chị vú) may đó nghe! Ngắt véo trong nách nó theo kiểu chị là lộ tẩy ngay [63, 143-144].

Nhà văn đã miêu tả thật đến từng chi tiết trong những không gian của cuộc sống sinh hoạt hàng ngày. Nhân vật anh bếp là một người bản tính cẩn thận, tỉ mỉ, ngăn nắp…không chỉ trong việc làm bếp mà cả trong sinh hoạt hằng ngày. Anh ít nói và cẩn trọng trong lời nói; áo quần, giấy tờ luôn xếp ngay ngắn trong rương. Đặc biệt là những giấy tờ chứng nhận tay nghề làm bếp của anh…Khi anh ghen với người vợ đi làm ăn xa thì anh đã viết thư: “Tôi nói cho mình biết là tuần này, tôi không thể lên mình được. Mà cũng cho mình biết là tháng này, tôi không còn tiền gửi lên cho mình. Số tiền lương tôi đã nhờ bà chủ gửi qua Tây mua cho tôi một con dao thật tốt, chừng mươi ngày nữa, dao sẽ gửi về. Mình có muốn coi, tôi sẽ mang lên” [63, tr.193]. Chi tiết “con dao” trong thư gửi vợ của anh bếp đã gói ghém tất cả sự quyết liệt của một người sống nghiêm khắc với chính mình mà lại rất phù hợp với lời nói của người làm bếp. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Khi tả đời sống của dân phu trong lần đầu tiên ra trại chơi, nhà văn đã viết: “Trên sàn, từng chỗ lại thấy một đống chiếu phủ không hết thân người, để lòi đầu hoặc lòi chân ra ngoài. Một vài đống chiếu rung mạnh làm sàn tre nghiến vào nhau kêu răng rắc” [63, tr.38]. Những chi tiết miêu tả trong tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân tự nó có sức gợi sâu xa mà người viết không cần giảng giải, bình phẩm gì thêm. Qua đó, người đọc hiểu về cuộc đời khốn khó, đói nghèo, sống không đủ ăn, đau không thang thuốc, chết không hòm chôn…

Có những chi tiết miêu tả nhà văn chỉ lướt qua nhẹ nhàng nhưng không vì thế mà giảm đi sự liên tưởng sâu xa ở người đọc. Điều này thể hiện rõ ở những chi tiết miêu tả ngoại hình. Gần 20 nhân vật trong tiểu thuyết Bão rừng nhưng không phải nhân vật nào nhà văn cũng tả ngoại hình. Ngoại hình được miêu tả luôn có dụng ý khắc họa một nét nào đó trong tính cách, cuộc đời của nhân vật. Lão chủ thì có cái mặt “lính tẩy cổ truyền” với “thân hình bó sát trong bộ đồ kaki vàng”, đầu đội “chiếc mũ lính thuộc địa” [43, tr.35]. Đó là nguồn gốc của những tên xâm lược có nợ máu với nhân dân thuộc địa.

Khi tả hình ảnh của mụ chủ La đang chửi anh em công nhân, nhà văn viết: “Con mẹ này lạ thật; càng chửi, trông mụ càng khỏe lên, càng hồng hào ra. Đôi má mụ đỏ gay, mắt mụ long lanh, đôi môi mềm mại, uốn cong theo đủ thứ hình thể để tiếng nói có một hình khối, một trọng lượng; và cánh tay, và bàn tay, và ngón tay đều quay qua, quay lại chuyển theo các chiều dẻo ngọt, dẻo ngon”[63, tr.137]. Qua cách tả của nhà văn, tất cả sự chua ngoa, đanh đá, hống hách, hỗn hào, điêu toa, khôn ranh…của mụ La như đều hiện lên qua nét mặt, giọng nói, cử chỉ. Lối đánh phủ đầu kết hợp với “lợi thế”đàn bà được mụ khai thác triệt để trong việc đàn áp dân phu. Từ đó, nhà văn tạo cho người đọc ấn tượng về một “me Tây” dâm đãng và lõi đời.

Đôi khi chi tiết trong miêu tả ngoại hình rất nhỏ nhưng có khả năng bộc lộ nội tâm và dự báo hành động của nhân vật. Nhân vật Lư khi trò chuyện với “thầy” Xuân về cuộc nổi dậy của dân ở những buôn làng gần đồn điền để chống sưu thuế thì “ trong mắt Lư như bùng cháy lên một ngọn lửa âm ỉ ”[63, tr.82]. Đó là ngọn lửa của lòng căm thù, ý thức phản kháng, quyết tâm hành động được nhen nhóm trong ánh mắt của một người RaĐê.

Những chi tiết miêu tả rất thực từ ngoại hình đến lời nói, cử chỉ, hành động của những nhân vật khiến cho tiểu thuyết của Nguyễn Văn Xuân dường như rất ít vẻ hư cấu, rất ít sự tham gia của bàn tay kĩ xảo. Và chính sự hiện diện của tác giả trong vai trò một nhân vật trong tiểu thuyết càng làm tăng độ thuyết phục của tác phẩm về những điều mắt thấy tai nghe. Với những “bằng chứng” xác thực ấy, nhà văn đã nâng giá trị của tác phẩm vượt lên phạm vi hạn hẹp của nó: tố cáo tội ác của bọn thực dân, bọn tư sản, đồng cảm thấm thía với nỗi khổ dân phu, với những mảnh đời bất hạnh. Lối viết kín đáo nhưng ý nghĩa tác phẩm sâu sắc đối với hiện thực đương thời. Nếu không phải ngòi bút của những người từng trãi, nhạy bén thì không thể làm được điều đó. Và trên hết đó là ngòi bút của một nhà văn yêu nước đầy tâm huyết với đời.

3.2. Truyện ngắn giàu chất ký

Theo Gulaiép: “kí là một biến thể của loại tự sự” [29, tr.263], và đó là một loại văn xuôi tự sự “trần thuật những người thật việc thật với những đặc điểm riêng biệt trong mức độ và tính chất hư cấu, trong vai trò của người trần thuật cùng mối liên hệ giữa nó với đặc điểm của kết cấu và cốt truyện” [25, tr.423]. Tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân không phải là tác phẩm thuộc thể loại kí nhưng có tính chất “kí” rất rõ. Đó là những “truyện kí” liên quan đến lịch sử kháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược ở Quảng Nam. Tuy tác phẩm của ông không nhiều, nhưng mỗi sáng tác luôn làm gợi nhớ đến con người, tập quán, thiên nhiên của vùng đất Quảng Nam. Những truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, Rồi máu lên hương, Về làng có cốt truyện tập trung “vào việc trần thuật một nhân vật” và đây là những “anh hùng trên mặt trận chiến đấu” chống thực dân Pháp xâm lược. Xoay quanh một số nhân vật như: Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân…truyện kí của Nguyễn Văn Xuân đã triển khai những tình tiết thành một cốt truyện hoàn chỉnh mà trong đó ít nhiều có hư cấu và bộc lộ những cảm xúc trữ tình của tác giả. Thế nên, có thế xem đó là những truyện ngắn giàu chất kí.

3.2.1. Chất ký thể hiện qua nhân vật và sự việc có thật trong lịch sử ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Phần lớn những truyện ngắn trong tập Hương máu của Nguyễn Văn Xuân viết về những người thật việc thật trong lịch sử đấu tranh chống thực dân Pháp ở Quảng Nam. Cảm quan lịch sử đã chi phối việc xây dựng nhân vật lịch sử. Những nhân vật có thật này được xây dựng trong mối quan hệ với cộng đồng trong những thời khắc trọng đại. Qua đó, nhà văn không chỉ ca ngợi những yếu nhân lịch sử mà còn ca ngợi cả những anh hùng vô danh.

Trước hết, ta nói về hình tượng các yếu nhân lịch sử: Hoàng Diệu, Thái Phiên, Trần Cao Vân, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến…..là những nhân vật lịch sử hoàn toàn có thật từ tên tuổi, quê quán đến hành trạng. Theo nhà nghiên cứu Thạch Phương, viết về cái chết của người Quảng Nam, đã dựa vào sử liệu ghi chép: “Nguyễn Duy Hiệu đỗ phó bảng, từng được cử dạy hoàng tử ở Dưỡng thiện đường. Sau khi Tự Đức mất, tại triều đình bọn quyền thần xâu xé lẫn nhau, ông cáo quan về quê, rồi gia nhập Nghĩa Hội. Còn Phan Bá Phiến, đỗ cử nhân, từng làm tri huyện Phù Cát (Bình Định) rồi từ quan. Về sau ông lãnh chiếu Cần Vương, giữ chức Án sát sứ, cùng với Nguyễn Duy Hiệu tổ chức lãnh đạo Nghĩa Hội. Ông là người nắm toàn bộ sổ sách, ghi chép tên tuổi của hội viên, danh sách những người đóng tiền bạc, lúa gạo cho Nghĩa Hội cùng những bí mật khác”[43, tr.215]. Nguyễn Duy Hiệu đã ra mệnh lệnh rất quyết đoán nhưng cũng rất chí tình trong tình thế bức bách: “Nghĩa Hội ba tỉnh, ông với tôi thật chủ trương. Việc đã không thể làm được, thì chỉ có chết mà thôi. Nhưng hai ta cùng chết một lúc là vô ích. Ông hãy chết trước. Phần tôi, tôi sẽ giải tán hội, rồi đem thân mặc cho Pháp bắt. Người Pháp tra hỏi, tôi sẽ cực lực giải thoát cho Hội. Một mình tôi chết cũng không đáng tiếc, còn hội ta sau này có kẻ làm thành chí ta, tức là ta sống đó” [43, tr.215].

Sách Việt Nam vong quốc sử của Phan Bội Châu còn chép rõ hơn hành động của Phan Bá Phiến trước mệnh lệnh của Nguyễn Duy Hiệu: “Phiến khẳng khái nhận lời, quay về nơi vọng vua lạy 5 lạy, rồi hướng về phía Hiệu, kính cẩn lạy và nói: “Ông gắng, tôi xin đi! Phiến liền dốc túi thuốc độc, uống xong, nhắm mắt” [43, tr.215].

Còn Nguyễn Duy Hiệu chứng kiến xong cái chết bi tráng của người đồng chí tâm phúc, ông đã về viếng mẹ già ở Thanh Hà, sau đó ông ra miếu thờ Quan Công ở giữa trảng cát của làng, mặc áo dài đen, vấn khăn cẩn thận, ngồi xếp bằng tự tại ngay trước bàn thờ, nhờ người đi báo nhà chức trách đến bắt. Khi bị đóng cũi đưa về Huế, hỏi cung Nguyễn Duy Hiệu đã nói: “Nghĩa Hội Quảng Nam ở ba tỉnh, không dưới vài trăm, đều là người có tên tuổi, nhưng can tâm làm giặc duy chỉ có mình Hiệu mà thôi. Kỳ dư đều bị ép theo. Họ sợ bị thiêu hủy nhà cửa, không dám không theo, ngoài ra không có bụng gì khác. Vậy chém một mình Hiệu cũng đủ, chớ nhọc lòng hỏi tội những kẻ khác làm gì!” [43, tr.216].

Trong hồi kí của viên khâm sứ Pháp J.L.Baille khi chứng kiến cái chết của Nguyễn Duy Hiệu tại pháp trường đã viết: “Hiệu đợi chết như người thuộc nòi giống của ông, thuộc hàng ngũ bậc của ông, nghĩa là đón nó không chút sợ sệt và nhận lấy nó như một cái gì đã đến phải đến. Cũng như những người đã từng thấy ở Nam Kỳ và Trung Kỳ, họ vẫn làm thơ khi đi ra pháp trường, rồi họ viết những câu thơ trên đầu ngọn bút lông, không chút run tay, không để lộ một chút xúc động tầm thường” và Nguyễn Duy Hiệu đã “thung dung ra pháp trường chịu chém với nụ cười trên môi”[43, tr.216].

Những sự thật lịch sử trên về Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã nghe kể biết bao nhiêu lần qua biết bao người trong “những ngày lang thang trong xóm làng hay trôi theo dòng tản cư vĩ đại” [63, tr.237] và nhà văn “chỉ muốn vẽ lại trung thành cái nhìn lịch sử bằng con mắt của dân chúng, của những diễn viên hoặc khán giả của chính lịch sử ấy mà tự họ đã để thực tế, sự kiện lùi dần nhường chỗ cho huyền thoại lan ra” [63, tr.238].

Nếu ta đem đối chiếu những sự thật lịch sử trên với nhân vật, chi tiết trong Hương Máu thì dường như ta thấy yếu tố hư cấu rất ít. Đây là đoạn văn trong Hương Máu viết về Nguyễn Duy Hiệu khi quyết định giải tán Nghĩa Hội:

Khi lễ xong, ông Hường ra hiệu cho tất cả mọi người lại gần […]. Ông cho biết là từ thất bại này sang thất bại khác, đại cuộc đã hỏng, không hi vọng nào kéo dài thêm nữa […]. Ngày nay để giữ bí mật hoạt động của các đảng nhân, để khỏi mảy may tiết lộ các chân tướng của những người cộng sự với Hội ta thì người thủ xướng tức là Phan đại nhân và tôi sẽ chịu chết. Phan đại nhân là người giữ tất cả giấy tờ giao thiệp của đảng nhân ba tỉnh, là cái hồn của công cuộc tổ chức Nghĩa Hội ở ba tỉnh, sẽ đốt hết giấy tờ quan hệ tại đây và cũng chết ngay tại đây, để cho ai nấy tin chắc là mọi sự bí mật của Nghĩa Hội, mọi hoạt động của hội chỉ có trời đất biết. Dẫu ai có muốn tố cáo, muốn phanh phui gì cũng không có bằng chứng nào để vin vào mà di hại đảng nhân ta nữa. Còn tôi, tôi sẽ đi chết ở một nơi khác. Ở nơi khác đó tôi sẽ tự nhận tất cả tội đã bắt buộc mọi người phải qui phục và như thế không quyền lực nào còn vin vào đâu để sát hại, bắt bớ đảng nhân ta nữa [63, tr.260-263]. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Và đoạn văn cuối trong Hương máu kể về những giây phút cuối cùng của Nguyễn Duy Hiệu ở chốn pháp trường:

Dân chúng nghe tin bắt được đại thủ lĩnh “phiến loạn” và đem hành quyết thì từ nguồn chí biển đều đổ xô về tới tấp. Họ dành sẵn từ sáng sớm trên con đường tù nhân sẽ đi qua với tất cả vẻ nghiêm trang của giờ lịch sử trọng đại. Họ chờ một con người như thế nào? Hình như vóc dáng, kích thước và tư thế một bậc anh hùng phải khác. Vì ở đây, họ chỉ gặp một nhà nho tuấn tú, phương phi, trắng trẻo. Nhà nho đó không nhìn một ai, không một chút chú ý đến mọi động tĩnh chung quanh của dân chúng vốn quen ồn ào giờ bỗng trở nên im lặng, kính cẩn và nhiều kẻ khóe mắt rưng rưng….[63, tr.276 – 277].

Còn về Trần Cao Vân và Thái Phiên thì các nhà nghiên cứu lịch sử ghi chép:

So với Trần Cao Vân, Thái Phiên nhỏ tuổi hơn nhiều (1882 – 1916), thuở nhỏ có học chữ Hán, sau theo Tây học, ra làm nhân viên cho một thầu khoán người Pháp. Năm 21 tuổi, ông tham gia phong trào Duy Tân, Đông Du (1903), phong trào chống thuế (1908), nhờ may mắn thoát khỏi lưới khủng bố của giặc. Năm 1913 – 1914, ông gia nhập Việt Nam Quang phục hội, có công trong việc tổ chức tiếp xúc với vua Duy Tân, tiến hành tổ chức và lãnh đạo các cuộc khởi nghĩa ở Huế với tư cách là phó quân sư. Mưu khởi nghĩa bị bại lộ, ông cùng với Trần Cao Vân và hai đồng chí khác hi sinh tại An Hòa (Huế) ngày 17/5/1916 [43, tr.226].

Còn đây là đoạn văn Nguyễn Văn Xuân tả Thái Phiên và Trần Cao Vân chốn pháp trường:

Có tiếng ai nói và trỏ vào tội nhân đi đầu. Tất cả chen nhìn cho được con người nẫm thấp trạc băm sáu, băm bảy đi một cách khó nhọc dưới một chiếc gông tạ do bốn người lính tuần sai dìu bốn góc. Thái Phiên vốn gầy, bây giờ chỉ còn lại da bọc xương nên trong bé hẳn đi khiến những ai không quen chính sự đều tưởng mình trông lầm. Vì lẽ nào chàng thư sinh bạch diện, tóc tơ rối rắm kia lại có gan sắt đá đủ làm kinh hồn, táng đởm cả một kinh thành? Tiếp theo là Trần Cao Vân, cũng không lấy gì làm cao lớn, mặt hơi rỗ hoa, râu dài với chiếc áo dài rộng tay kiểu đạo sĩ không bao giờ rời nó làm cho người xem càng muốn đoán sâu, hiểu sâu thêm tư tưởng con người theo “vạn pháp quy tôn” kia đang biến chuyển ra sao? Và ông có đủ phép thuật thần thông để thoát khỏi giờ phút hiểm nghèo không? [63, tr.257].

Về danh tướng Hoàng Diệu thì Nguyễn Q. Thắng đã ghi chép trong Quảng Nam Đất Nước và Nhân Vật: “Hoàng Diệu, liệt sĩ, danh tướng, tự Quang Viễn, hiệu Tĩnh Trai, quê ở làng Xuân Đài, huyện Diên Phước, tỉnh Quảng Nam (nay thuộc huyện Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng). Ông vốn tên là Hoàng Kim Tích, sau mới đổi là Hoàng Diệu, sinh ngày 10/2 âm lịch năm Mậu Tí (Minh Mạng thứ 9)” [50, tr.257]. Và Hoàng Diệu đã đỗ phó bảng, giữ nhiều trọng trách: tri huyện Tuy Phước, tri phủ Tuy Viễn, tri phủ Lạng Giang, Án Sát Nam Định, Bố chánh Bắc Ninh, đến năm 1880 làm “Tổng Đốc Hà Ninh, lãnh chức Thượng Thư bộ binh gồm coi cả việc thương chánh để giao thiệp với người nước ngoài” [50, tr.258]

Sự kiện thành Hà Nội thất thủ được Nguyễn Q. Thắng ghi lại như sau:

Đầu năm 1882, đại tá Pháp Henri Rivière đem quân ra Bắc lấy cớ bảo vệ sinh mạng và tài sản Pháp kiều….5 giờ ngày 8-3 Nhâm Ngọ, Henri Rivière sai thông dịch tên Phong đưa tối hậu thư, yêu sách ba điều: ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

  • Phá các tạo tác phòng thủ trong thành.
  • Giải giới binh lính.
  • Đúng 8 giờ các vị tổng đốc, tuần vũ, bố chính, án sát và chánh phó lãnh binh phải thân đến trình diện tại dinh đại tá [50, 259].

Trước tối hậu thư vô lý của Henri Rivière, Hoàng Diệu kiên quyết đối phó nhưng “Tôn Thất Bá chạy trốn làm nội tuyến, bố chính Nguyễn Văn Tuyển, Đề đốc Lê Trinh và các lãnh binh bỏ chạy, còn tuần phủ Hoàng Hữu Xứng trốn trong hành cung” [50, tr.260]. Khi thành thất thủ, Hoàng Diệu đã vào Võ miếu, viết bài biểu xưng tội với vua và treo cổ tự vẫn.

Còn trong Viên đội hầu những hình ảnh, sự kiện về giây phút cuối cùng của Hoàng Diệu được Nguyễn Văn Xuân kể: Quan Tổng đốc tiến vào võ miếu. Vợ chồng ông thủ từ già nua lúc đó đang ngơ ngác, nghe ngóng tiếng súng đạn vọng lại. Ban đầu, ông thủ từ không nhận ra quan Tổng đốc vì thường ông đi đến võ miếu với mũ cao, áo rộng, hốt ngà, đai ngọc, tiền hô hậu ủng. Hôm nay, áo quần ông bám đầy khói thuốc súng và cát bụi [….] Quan Tổng đốc khấn vái rồi phủ phục, rồi lại khấn vái. Lần phủ phục sau cùng khá lâu. Lúc ngửng lên, ông thủ từ thấy hai con mắt quan Tổng đốc hơi ướt nhưng giọng vẫn nói bình tĩnh:

– Ta đến đây để chịu tội với các tiên liệt trước khi ta phải chết. Khuya hôm nay, ta đã viết sẵn hai phong thư bỏ vào trong hai cái hộp bằng thiếc như cái này. Phong kia, ta đã cho người đưa về Quảng Nam cho gia đình ta. Phong này, ta để trên túi áo, nơi ngực ta. Chừng năm ba tháng nữa, thế nào cũng có người ở làng Xuân Đài ra, đến tại Võ miếu đây để lo việc rước thi hài ta. Vậy, hễ ai có đưa cái hộp như thế này tới ông sẽ chỉ chỗ chôn ta. Còn tuyệt nhiên, không được cho ai biết cả. Chôn ta thì chờ lúc nửa khuya, không cần tẩm liệm, chỉ quấn một chiếc chiếu là đủ. Cần nhất là không được tiết lộ mộ phần ta. Đây là món tiền ta cho vợ chồng ông để lo hậu sự cho ta. Khi người nhà ta tới, ta cũng có biểu sẽ thưởng cho ông một món tiền lớn nữa. Phải hết sức nhớ lời ta dạy. Thôi, chào vợ chồng ông ở lại.

Quan Tổng đốc giao cái gói nhỏ cho ông thủ từ, cất cái hộp thiếc mỏng nơi ngực rồi đi lại cây đại thụ trước võ miếu, leo lên. Đến một cành cao, lá um tùm, ông cởi khăn nhiễu quấn đầu đem buộc một đầu nơi cành rồi đầu kia làm một cái thòng lọng. Lần cuối cùng ông nhìn lại vợ chồng ông thủ từ đang quỳ hướng về phía ông, rồi đưa cổ vào thòng lọng, đu mình ra giữa đám lá rậm. Các cành lá rung động ào ào…[63, tr.292 – 293].

Qua so sánh những lời kể dựa trên tư liệu lịch sử với những diễn biến sự việc, chi tiết trong hai truyện ngắn: Hương máu, Viên đội hầu, ta thấy những sự kiện chính liên quan đến hành trạng, phẩm chất của nhân vật được tác giả giữ nguyên theo lời kể của nhân dân về những con người lịch sử có thật này. Chính vì không phải là nhân vật hư cấu nên trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân họ tồn tại cả hai mặt: tốt và xấu. Nguyễn Văn Xuân không “thần thánh hóa”, không “vô trùng hóa” nhân vật. Nguyễn Duy Hiệu (Hương máu) là một người tài giỏi ở vai trò chỉ huy Nghĩa Hội, sẵn sàng nhận cái chết để nêu tấm gương yêu nước, căm thù giặc. Nhưng Nguyễn Duy Hiệu cũng là một con người đa nghi, nóng nảy đến mức cực đoan: ông không bao giờ thuyết phục mà sẵn sàng trừng trị bất kì ai mà ông nghi có nhị tâm muốn đầu hàng giặc “ông đã nói chém là chém, giết là giết; thương quân sĩ không ai bằng nhưng có thể phút trước vừa khen thưởng, phút sau đã truyền chặt đầu; lệnh chặt đầu của ông đã ban ra, ít khi có ai đủ can đảm xin thay đổi”[63, tr.246]. Khi tả nhân vật Thái Phiên (Rồi máu lên hương) can trường dũng cảm trong chiến đấu, thản nhiên nhận lấy cái chết lúc đại sự không thành thì nhà văn cũng hé mở cho người đọc thấy Thái Phiên là người lạnh lùng, không yêu con gái người thầu khoán nhưng sẵn sàng cưới để lấy số tiền lớn của người cha vợ giàu có mà đi lo việc nước. Chỉ động phòng hoa chúc một đêm, rồi từ đó ông đi biền biệt, mặc cho người vợ trẻ ngày đêm trông ngóng cho đến ngày ông bị bắt, xử tử hình. Với cách viết truyện ngắn trung thành với những chi tiết lịch sử có thật, cách xây dựng nhân vật có cả điểm tốt và không tốt trong tính cách….tác giả muốn chứng minh rằng đây là những con người có thật. Chính vì vậy, lòng yêu nuớc, trung can nghĩa đảm của họ không phải là sự thổi phồng, hư cấu trên trang giấy. Từ đó, tăng tính khách quan và thuyết phục của câu chuyện. Nói về tính xác thực của câu chuyện, tính cách nhân vật, nhà văn Nguyễn Văn Xuân đã tâm sự: “Tôi không muốn nhiều chuyện lắm. Vì hoặc nó quá đúng một cách thô thiển, hoặc nó quá sai vì giàu tưởng tượng và nhất là nó không mấy vinh dự cho các danh nhân được nhiều người ngưỡng mộ. Nhưng chính các bô lão khi kể cho tôi nghe thì họ kể một cách hăng hái, nhiệt thành đến độ tôi tưởng nếu không phải như thế mới là không thật không hùng mà tôi đã nghe, đã yêu, đã gìn giữ trong tâm khảm qua nhiều năm tháng” [63, tr.238]. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Ngoài những nhân vật lịch sử có thật, sáng tác của Nguyễn Văn Xuân còn viết về những nhân vật hư cấu, những anh hùng vô danh của Quảng Nam. Nhân vật Bốn trong truyện Cái giỏ, ông tú Bình trong Về làng….là kiểu nhân vật hư cấu. Tuy nhiên sự thống nhất trong lời nói, việc làm của họ thể hiện rõ bản lĩnh của những con người kiên cường, giàu lòng yêu nước, khiến người đọc như thấy dáng dấp của con người Quảng Nam. Trong Cái giỏ, đêm nào Bốn cũng nằm mơ chặt được đầu Tây dâng Nghĩa Hội. Bốn đã hăng hái bố trí thanh niên trong làng chặt đầu Tây. Anh đã dùng cuốc đập chết tươi con chó cưng vì sợ tiếng sủa của nó làm lộ bí mật….Ta thấy nhân vật Bốn ẩn giấu trong tâm hồn một cá tính mạnh mẽ, khẳng khái đến ngang tàng.

Trở lại nhân vật ông Tú Bình trong Về làng, giữa cái sống nhục nhã và cái chết giữ tròn tiết tháo nhà nho, ông đã chọn một. Qua ông Tú Bình, tác giả gợi người đọc liên tưởng đến hình ảnh người thầy Trần Văn Dư, hội chủ Nghĩa Hội và hình ảnh của bao kẻ sĩ Quảng Nam trong những biến động dữ dội của thời cuộc. Cái khẳng khái của một kẻ sĩ hòa trong khí chất cứng cỏi của con người Quảng Nam đã tạo nên tính cách ông Tú Bình.

Như vậy, những nhân vật hư cấu trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân có tính cách, hành động, lời nói, việc làm tiêu biểu cho những con người có thật ngoài đời. Đó chính là những con người Quảng Nam trong cuộc đấu tranh giữ nước. Điều đó, không có gì là lạ. Sự sáng tạo của nhà văn đã bắt nguồn từ quan sát, ghi chép cụ thể về con người và cuộc sống diễn ra trong ngôi làng của mình.

3.2.2. Chất ký trong đề tài – cốt truyện

Xét từ gốc gác và bản chất, thì kí không nhằm thông tin thẩm mĩ, mà là thông tin sự thật” [25, tr.424]. Nhưng kí cũng là một thể loại văn học nên tự thân nó có tính nghệ thuật. Hơn nữa, ngay trong hiện thực được ghi chép trong kí đã có cái thẩm mĩ. Chính vì kết hợp hai yếu tố thông tin và thẩm mĩ nên truyện ngắn có chất kí của Nguyễn Văn Xuân luôn hấp dẫn người đọc bởi nét riêng trong ngòi bút sáng tạo của ông. Phần lớn những truyện ngắn trong Hương máu đều liên quan đến cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp ở Quảng Nam. Việc chọn đề tài lịch sử làm cho sáng tác của Nguyễn Văn Xuân trở thành loại truyện kí lịch sử. Thế nên, tác phẩm của ông vừa có giá trị như những tư liệu lịch sử quý giá vừa thông qua những con người lịch sử cụ thể để tác động đến tư tưởng tình cảm của người đọc. Từ một lịch sử trong quá khứ chưa xa, nhà văn hướng người đọc đến một lịch sử hiện tại hôm nay. Câu hỏi nhà văn đặt ra trong lời bạt của tập Hương máu đã nâng ý nghĩa của những truyện ngắn đề tài lịch sử lên một tầm cao, vượt khỏi dung lượng hạn hẹp của nó “Chết cho biết chết sẽ chỉ dành cho những ai sống một cuộc đời đáng sống. Mà tất cả chúng ta có thật ai ai và bao giờ cũng sống cuộc đời đáng sống hay không?”[63, tr.239]. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Những truyện ngắn giàu chất kí của Nguyễn Văn Xuân là những truyện ngắn được xây dựng có cốt truyện tương đối hoàn chỉnh: mở đầu, phát triển, thắt nút, đỉnh điểm, kết thúc…Nhưng cần thấy rằng các bước của kết cấu cốt truyện không hoàn toàn cứng nhắc mà có sự “co giãn”. Nhà văn không miêu tả đầy đủ các giai đoạn trong cuộc đời, hành trạng của nhân vật mà “khuynh hướng của tác giả được toát ra từ tình thế và hành động” [25, tr.435] của nhân vật. Đó là tình thế Nghĩa Hội bị quân Nguyễn Thân dồn ép vào vùng rừng núi Trung Lộc; tình thế phải lựa chọn giữa: hàng địch hay tử thủ của Tổng đốc Hoàng Diệu; tình thế bị bắt xử tử ở pháp trường An Hòa của Thái Phiên và Trần Cao Vân. Qua những tình thế cụ thể ấy, những suy nghĩ và hành động của nhân vật được đặt trong những sự biến căng thẳng nhất và đi đến kết thúc. Đan xen vào loại kết cấu cốt truyện này là những đoạn nghị luận trữ tình, bộc lộ cảm xúc chủ quan của người kể. Nhân vật trần thuật trong những truyện kí của Nguyễn Văn Xuân rất linh hoạt. Có khi là lời kể của Viên đội hầu về chủ tướng của mình (Viên đội hầu), có khi là lời kể của một người lính vô danh trong tổ chức Nghĩa Hội…Trong Hương máu khi nói về cái chết của Nguyễn Duy Hiệu và Phan Bá Phiến, người lính vô danh đã nghĩ: “Tôi không cần tả lại dông dài cái giờ phút ông chấm dứt những bài thơ tuyệt bút để mỉm cười thọ hình. Nó cũng diễn ra theo cái truyền thống oanh oanh liệt liệt với nụ cười lặng lẽ của các chí sĩ Việt Nam. Cái chết không còn có tính cách bị chặt đầu một cách thảm hại mà cốt đạt cho được bốn chữ “thung dung tựu nghĩa” để gây một xúc động bất tuyệt trong lòng kẻ hậu sinh, cốt truyền tiếp một niềm tin tưởng không bao giờ dứt” [63, tr.277].

Tóm lại, chất kí trong truyện ngắn đã làm nên nét đặc biệt trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Đọc truyện ngắn viết về lịch sử của ông, người đọc như gặp không khí thời lịch sử đau thương mà anh dũng của cuộc kháng chiến chống Pháp. Từ những sử liệu bi tráng của cuộc chiến đấu chống xâm lược ở đất Quảng Nam Nguyễn Văn Xuân đã cho người đọc thấy được phẩm chất con người ở một vùng đất, phẩm chất của người Việt Nam trong truyền thống lịch sử hào hùng của dân tộc. Có thể nói, chất kí đã tô đậm giá trị phản ánh hiện thực của tác phẩm, còn yếu tố hư cấu của truyện ngắn làm cho chất kí trong truyện thêm màu sắc trữ tình. Sự hòa quyện ấy đã tạo nên những truyện kí hấp dẫn.

3.3. Kết cấu độc đáo

Xem xét một cách bao quát tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân ta thấy tuy đề tài, nhân vật, sự kiện…..có khác nhau nhưng các sáng tác của ông đều có điểm chung trong kết cấu. Điều này thể hiện ở cốt truyện, tình huống, cách kết thúc, việc xây dựng nhân vật…..Nếu có thể phân chia tác phẩm theo loại hình, thì có thể nói những tiểu thuyết và truyện ngắn của ông là những sáng tác mang đậm yếu tố “kịch hóa”. Yếu tố này thể hiện ở cốt truyện của tiểu thuyết lẫn truyện ngắn.

3.3.1. Cốt truyện giàu kịch tính ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Kịch tính được xem là chất liệu cơ bản tạo nên cốt truyện của những sáng tác văn học có yếu tố “kịch hóa”, nhất là truyện ngắn. Sự kiện, hành động giàu kịch tính được thể hiện ở va chạm, xung đột mâu thuẫn giữa các nhân vật… Nhà văn sáng tạo cốt truyện trên cơ sở hai thế lực đối đầu nhau làm nền tảng cho việc xây dựng sự kiện, tình tiết, nhân vật. Trong Bão rừng là sự đối đầu giữa bọn thực dân thống trị, chủ đồn điền áp bức bóc lột với dân phu lao động bán mạng cho đồn điền. Trong Hương máu là sự đối lập giữa bọn thực dân, tay sai bán nước với sĩ phu và nhân dân Quảng Nam yêu nước trong cuộc kháng chiến chống xâm lược. Trong Dịch Cát là cuộc đối đầu giữa những người lao động nghèo, tha phương cầu thực với thiên nhiên khắc nghiệt núi rừng, sông biển của Quảng Nam. Trong Cây đa đồn cũ là sự đối lập, thù hằn giai cấp giữa bọn địa chủ phong kiến với bọn tay sai bám gót thực dân. Trên cơ sở các tuyến đối lập ấy, nhà văn đã ngợi ca phẩm chất của con người Quảng Nam trong chiến đấu bảo vệ Tổ quốc và lao động để sinh tồn, mở cõi. Cuộc chiến của Hoàng Diệu, Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến với Nguyễn Thân, thực dân Pháp….làm nổi bật những cái chết tiến công cũng như lòng trung dân, ái quốc của sĩ phu Quảng Nam. Cuộc sống đói nghèo, chật vật trong một vùng cát mênh mông (Dịch Cát, Xóm mới) của những con người như chị Sinh, anh Bỉnh, ông Hương Là…hay cuộc chiến với những dòng sông đầy thác lũ của anh Năm Cụt (Cây đa đồn cũ) đã làm nổi bật phẩm chất cứng cỏi, can trường, cần cù kiếm sống nơi “Ô Châu ác địa”. Từ cái nền của cốt truyện giàu kịch tính, Nguyễn Văn Xuân đã nâng tầm vóc những con người bình dị vượt xa hơn những ngôi làng nhỏ bé họ đang sinh sống.

3.3.2. Tình huống truyện đặc biệt

Nói đến truyện ngắn là nói đến tình huống. Với dung lượng của truyện ngắn, qua những tình huống mà nhân vật bộc lộ tính cách, phẩm chất của mình. Tình huống trong truyện ngắn giống như một phép thử, qua đó bản chất con người bộc lộ rõ ràng mà nhà văn không cần giải thích, bình giá thêm. Mỗi truyện ngắn, nhà văn đều chọn một tình huống gây ấn tượng, kích thích trí tò mò của người đọc. Trong Dịch Cát Xóm mới là tình huống người lao động nghèo bị đẩy vào cuộc sống khó khăn: cất nhà trên bờ cát cạnh khe suối; phải đối diện với căn bệnh “dịch cát” đầy bí ẩn. Trong Chạy đua với tử thần nhân vật Liễn bị đặt vào tình huống ngặt nghèo cơ may sống sót chỉ có một, nó thuộc về ai chạy giỏi. Trong Viên đội hầu, Hoàng Diệu phải giữ thành khi không có sự ủng hộ của triều đình, một số quan lại phản bội, hàng địch….Có thể nói, mỗi truyện ngắn là một tình huống được nhà văn chọn lọc nhằm mục đích làm rõ hiện thực cuộc sống cũng như ứng xử của con người Quảng Nam trong quan hệ với cộng đồng và thiên nhiên.

3.3.3. Kết thúc bất ngờ đầy yếu tố lạc quan

Tài nghệ của nhà văn trong việc tạo ra những tác phẩm văn học có sức lôi cuốn người đọc chẳng những ở cốt truyện, tình huống truyện mà còn chăm chút cả trong cách kết thúc. Có thể nói dư âm của tác phẩm phụ thuộc rất nhiều vào cách kết thúc. Tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân đều có cách kết thúc bất ngờ, gieo vào lòng người đọc niềm tin vào cuộc sống. Nguyễn Văn Xuân thường viết về cuộc sống nhọc nhằn đói khổ của dân phu, của những người tha phương cầu thực, những người rơi vào hoàn cảnh éo le, những người bị xử tội tử hình….Nhìn chung tác phẩm của ông nhuốm màu sắc bi kịch của những số phận con người. Nhưng với cách kết thúc truyện độc đáo, ông đã biến những bi kịch ấy thành bi kịch lạc quan. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Trở lại với tiểu thuyết Bão rừng, khi viết về cuộc phản kháng của dân phu chống ách bóc lột của lão Mẹc, của mụ La, người đọc tưởng như nhân vật Liếng không thể nào thoát khỏi sự vây ráp, lùng sục của mật thám. Nhất là khi Liếng đã hứng chịu những trận đòn hội đồng thừa chết thiếu sống. Nhưng cuối tác phẩm, người đọc thở phào nhẹ nhõm khi thấy Liếng và Trão đã lội suối băng rừng với mo cơm thừa dự trữ bên mình. Họ đã vượt khỏi nhà ngục của lão Mẹc, bây giờ “họ hồn nhiên vui vẻ. Nhưng trong ánh mắt của họ vẫn sáng lên những cương nghị lạ lùng” [63, tr.233]. Kết thúc đầy yếu tố bất ngờ còn thể hiện trong hàng loạt truyện ngắn của nhà văn: Rồi máu lên hương, Cây đa đồn cũ, Chạy đua với tử thần, Một cuộc tấn công. Trong Cây đa đồn cũ, người đọc ngỡ rằng nhân vật Cát sẽ trả thù được Hương Chỉnh vì hắn đã bị trói bỏ vào bao, bị bỏ đói khát, bị chém một nhát rựa vào vai….Cát chỉ còn kể tội xong là quẳng con người ấy xuống sông, giữa dòng nước lũ chảy xiết. Nhưng khi “hét một tiếng mạnh, Cát vung tay ném Hương Chỉnh ra giữa dòng nước chảy […] Hương Chỉnh đã nhảy chồm trên hai chân theo đà tay vung của Cát, phóng hết sức mạnh của đầu vào ngực Cát làm Cát tung bắn đi” [63, tr.392]. Trong Chạy đua với tử thần tưởng rằng chỉ có một cơ hội sống sót duy nhất cho ai chiến thắng khi chạy dưới làn đạn bắn tỉa của quan lớn. Nhưng kết thúc truyện đã có đến hai người sống sót: một người là vô địch Giàng, còn một người nữa đã nhảy qua lan can cầu xuống nước sâu, chảy mạnh của sông Cẩm Lệ.

Đôi khi, người đọc thấy một số kết thúc bất ngờ trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân lại ngầm ý vị mỉa mai, châm biếm hoặc cười ra nước mắt…..Một quang cảnh rùng rợn được nhân vật tôi kể trong Một cuộc tấn công : “không biết cơ man nào họng súng cắm lưỡi lê tua tủa chĩa vòng theo khu trại. Lính Anh và thuộc địa Anh thế là đã bao vây hẳn trại chúng tôi. Nét mặt họ ngùn ngụt sát khí. Càng khủng khiếp hơn là hai chiếc xe tăng đồ sộ, lù lù tiến qua hàng rào dây thép gai vào án ngữ ngay trước mặt tiền. Các miệng súng liên thanh chĩa thẳng vào trại. Trên các chòi canh cao ngất, lính gác cũng quay mũi súng về phía chúng tôi” [63, tr.419]. Cuộc bố ráp qui mô với vũ khí tối tân, các tay súng thiện chiến của quân đội Anh là để “vây bắt” giống sâu mà“Tây thì họ gọi chúng là “bu” không kể đực cái, sống trong áo quần hay trên tóc. Còn ta thì cộc lốc gọi nó là chí, rận” [63, tr.420]. Ta có thể tìm thấy cách kết thúc bi hài ấy trong các truyện ngắn: Thằng Thu, Con hiện sinh, Buổi tắm tất niên…..

Đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân người đọc như luôn được tiếp thêm niềm tin bởi những bi kịch trong tác phẩm của ông phần lớn là những bi kịch lạc quan. Có điều lạ, ông là nhà văn thuộc bộ phận văn học yêu nước 1945 – 1975, đôi khi còn bị xem là thờ ơ với thời cuộc, nhưng cách viết truyện của ông lại tiếp cận phương pháp sáng tác của chủ nghĩa hiện thực xã hội chủ nghĩa, với nhãn quan duy vật biện chứng, theo quy luật phát triển của cuộc sống. Tác phẩm của ông đã: “tả cuộc sống trong quá trình phát triển cách mạng và hướng về tương lai” [25, tr.606]. Những nhân vật lịch sử như Nguyễn Duy Hiệu, Phan Bá Phiến, Thái Phiên, Trần Cao Vân…cuối cùng đều hi sinh cho đất nước nhưng những cái chết của họ không làm nản lòng, thoái chí người đọc, mà khơi lên bao hi vọng về một ngày mai tươi sáng, sẽ có người nối tiếp lòng trung dân ái quốc của họ, chiến đấu và chiến thắng kẻ thù. Niềm tin ấy thể hiện trong giấc mơ của nhân vật “tôi” ở cuối truyện Hương máu:

Đêm ấy, tôi ngủ và chiêm bao thấy hàng trăm kỵ sĩ ruổi rong khắp xóm làng tỉnh Quảng Nam mang theo những lá đại kỳ viết bằng chữ lớn, báo tin thủ lĩnh phiến loạn đã chết. Nhưng đột nhiên những kỵ sĩ áo màu kia biến mất nhường chỗ cho những người gầy gò, xanh xao. Họ chạy qua mặt tôi, lớn tiếng gọi và vẫy tay. Tôi sửng sốt chạy lại thì thấy toàn những bộ mặt rất quen mà tôi đã gặp suốt ba năm trời ở núi rừng. Nhưng khi họ trưng thẳng lá cờ, tôi không thấy hung tin mà thấy một chữ “Tiệp” rất lớn. Rồi lại thấy đoàn kỵ sĩ áo quần rực rỡ hiện ra và tất cả cùng đua nhau chạy về phía sương mù [63, tr.278].

Giáo sư Trần Hữu Tá đã nhận xét: “Có thể nói, đó là kết thúc một bi kịch lạc quan” [49, tr.105].

Tương tự cách kết thúc ấy, những con người lao động tha phương cầu thực trong Xóm mới dù bị cuốn trôi nhà cửa, tài sản nhưng ngay ngày hôm sau họ đã nương tựa vào nhau “lần lượt từ giã địa phương để tìm kế mưu sinh”[63, tr.448]. Còn người phụ nữ trong Con hiện sinh đã sắp đặt công phu trả thù “tình địch” nhưng khi gặp nhân ngãi của chồng thì lại ôm vào lòng vỗ về, ứa nước mắt vì “nhân ngãi” ấy chỉ bằng tuổi con gái mình. Cách kết thúc ấy khiến cho người đọc tin rằng với lòng yêu thương, với bản lĩnh văn hóa mà người mẹ đã tiếp nhận từ bề dày truyền thống văn hóa của dân tộc thì dù kẻ thù có dùng những thủ đoạn xâm lăng văn hóa thâm độc như thế nào, nhân dân ta cũng sẽ vượt qua.

Qua cách kết thúc tác phẩm đầy lạc quan, nhà văn gián tiếp thể hiện cảm hứng ca ngợi, lòng tin yêu đối với cuộc sống và con người nơi đầu sóng ngọn gió. Nhà văn muốn truyền niềm tin ấy cho các thế hệ người đọc, khơi dậy ý thức trách nhiệm công dân đối với Tổ quốc. Giá trị thời đại trong sáng tác của nhà văn có thể là kết quả của: “những luồng gió mới” trong không khí toàn quốc kháng chiến thổi vào tâm hồn ông.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

3.4. Nghệ thuật sử dụng ngôn ngữ ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Ngôn ngữ có tầm quan trọng đặc biệt trong việc phản ánh đời sống hiện thực trong sáng tác văn học. Qua ngôn ngữ người đọc hiểu về cuộc sống, tính cách con người, tài năng, sự sáng tạo của tác giả. Ngôn ngữ trong sáng tác văn chương là ngôn từ nghệ thuật“giàu tính hình tượng nhất và giàu sức biểu hiện nhất được tổ chức một cách đặc biệt để phản ánh đời sống, thể hiện tư tưởng, tình cảm và tác động thẩm mĩ tới người đọc” [25, tr.185]. Ngôn ngữ trong sáng tác văn chương vừa tuân thủ quy tắc chung có tính chất toàn dân vừa là những nét sáng tạo riêng của mỗi nhà văn phụ thuộc vào tuổi tác, giới tính, quan hệ xã hội, sự tiếp thu chiều sâu văn hóa dân tộc, nét đặc trưng riêng của từng vùng, miền…..

Giọng văn của Nguyễn Văn Xuân điềm đạm, mực thước của người từng trãi, hiểu biết sâu sắc về lịch sử, về dân tộc học, về đất Quảng Nam. Điều đó làm cho sáng tác của nhà văn vừa gần gũi với người đọc trên mọi miền đất nước vừa thể hiện được những nét riêng của một nhà văn được đồng nghiệp, bạn bè mến yêu gọi là “ông thầy Quảng”. Chất Quảng thể hiện rõ ở cách sử dụng lời ăn tiếng nói hàng ngày: chân chất, sát thực tế, không cầu kì ước lệ mà vẫn không thô tục trong hành văn.

3.4.1.Sử dụng nhuần nhuyễn ngôn ngữ sinh hoạt hằng ngày

Nguyễn Văn Xuân là nhà văn của một ngôi làng. Từ lúc thiếu thời đến khi trở thành nhà văn, cái nơi chôn nhau cắn rốn ấy đã hình thành trong ông một lớp văn hóa nền, văn hóa vùng….Khi cầm bút sáng tác chiều sâu văn hóa ấy đã tràn vào sáng tác của nhà văn qua lớp ngôn ngữ của đời sống sinh hoạt hàng ngày phong phú, đa dạng…Đọc truyện của Nguyễn Văn Xuân, chúng ta có dịp làm quen với lời ăn tiếng nói của người xứ Quảng qua ngôn ngữ của nhân vật và của chính người kể chuyện.

3.4.1.1. Từ ngữ xưng hô

Trước hết là cách dùng từ ngữ xưng hô, gọi tên nhân vật mang đậm phong cách Nam Bộ. Người Nam Bộ thường xưng hô với nhau theo quan hệ huyết thống, dòng tộc, xóm giềng, tuổi tác: anh, bác, chú, thím, dì, dượng… Cũng giống như những nhà văn Nam Bộ khác, Nguyễn Văn Xuân cũng đặt cho nhân vật những cái tên quen thuộc: bác Trùm, anh Bốn, chị Mừng, chú Từ, anh Cát, anh Phương… Những cái tên gắn liền với nghề nghiệp, đặc điểm bản thân khiến người đọc dễ nhớ: Anh Năm Cụt (anh này bị cụt một cánh tay), anh bếp (làm nghề nấu bếp cho vợ chồng chủ đồn điền); anh bồi (làm việc lặt vặt, hầu hạ chủ). Ngoài ra, ta còn gặp trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân những cách gọi tên nhân vật đi kèm với việc bộc lộ thái độ của tác giả đối với nhân vật: “bả”, “mụ”, “con mẹ này”, “thằng”…

Ngoài lối xưng hô quen thuộc đậm phong cách Nam Bộ như trên, trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân còn có lối xưng hô rất đặc trưng của miền Trung nói chung và Quảng Nam nói riêng. Hầu hết các nhân vật trong tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn được gọi thẳng tên đi kèm với một từ chỉ cách xưng hô: chị Mừng, anh Phương, anh Bỉnh, chú Niên, bác Liễn, anh Cát, chị Sinh… Điều này có điểm khác biệt so với lối xưng hô quen thuộc trong Nam: tên đi kèm với thứ tự trong gia đình (Ông Sáu Bộ, anh Tư Đạt, chú thiếm Tư Đinh…). Đặc biệt hơn, trong cách gọi tên thì người Quảng Nam thường gọi người con thứ bốn trong gia đình bằng tên Bốn (chứ không gọi Tư như miền Nam). Có thể nói, cách xưng hô gọi thẳng tên nhân vật, không kèm theo thứ tự trong gia đình là một trong những biểu hiện của đời sống văn hóa tinh thần của người xứ Quảng. Khi giao tiếp với nhau, họ nói thẳng vấn đề, gọi ngay tên người, sự vật, sự việc… không rào đón vòng vo, không màu mè tình cảm giả tạo. Đó là lối ứng xử của những người bộc trực, thích rạch ròi phân minh. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Kết hợp những đặc điểm vừa nêu với lối tả sinh hoạt hàng ngày bằng lời lẽ giản dị, mực thước, tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân rất bình dị mà có sức hấp dẫn người đọc.

Đây là một đoạn đối thoại trong Bão rừng:

Mụ chủ nghe xong báo cáo, không cần nghĩ ngợi, mắng ngay:

– Đồ ăn hại. Giữ có mấy con bò mà giữ cũng không xong.

Có lẽ mụ nghĩ mình mắng cũng vô lý, nhưng trong những trường hợp ấy không mắng chửi thì mụ lại tấm tức. Mụ hằn học bỏ đi lên nhà trên.

Người phu giữ bò thấy mụ đi khuất, mới dám phân trần:

– Giữ với ai? Giữ với cọp à! May mà bò không ra, chớ lỡ tuôn ra nó đánh chết cả lũ mới làm sao?

Anh bếp nói:

  • Theo ý thì lúc có cọp, anh phải chạy ra nói: Ăn tao đây, đừng ăn bò của ! Như thế chắc không rầy la gì đâu [63, 63].

Hay một đoạn văn khác kể về cuộc trò chuyện của những người phu đồn điền, trong đó có bác Liễn là người bệnh sốt rét rất nặng:

Bác cầm mẩu đường, run run đưa vào mồm. Bác nhai phều phào rồi đòi một cốc nước chè đậm. Bác uống một hơi cạn cốc. Những người lo ngại cho bác chớm thấy trong mắt, trên khóe miệng ánh vui mừng. Liếng giục:

  • Thôi, “cha” có “tẩu mã” được thì làm, không thì con đỡ “cha” “hạ mã” cho khỏe.

Bác Liễn mỉm cười, hai mắt nhấp nháy một cách tinh nghịch, bảo Liếng:

  • Bây giờ mầy có giỏi thì đi mượn con dao về tao cạo sơ qua mấy cái râu này.

Liếng tru tréo lên:

  • Đau liệt giường mà còn làm “điếm”. Thôi con lạy “cha”. Người bệnh kỵ nhất là soi gương, cạo râu đó “cha” à.

Bác hoa năm ngón tay mỏng đét phản đối:

Mày nói dốt lắm. Đó là đàn bà, con gái mới sợ đồng căn đồng kiếp. Chứ tao

đã hai thứ tóc rồi còn sợ cái quái gì [63, tr.114].

Thông qua những đoạn đối thoại trên, ta thấy từ cách xưng hô đến lời nói của nhân vật đều rất gần gũi, quen thuộc với người dân xứ Quảng: mộc mạc, bình dị. Qua đó, nhà văn đã truyền tải tâm tư tình cảm, tính cách của nhân vật từ nguyên mẫu có thực ngoài đời vào văn chương. Họ là những người hiền lành, bộc trực, nghĩ sao nói vậy. Bao niềm vui, nỗi buồn trong cuộc sống họ đều thể hiện ra ngoài. Trong lời ăn tiếng nói của họ lại pha nét hỏm hỉnh đáng yêu của những con người “hay cãi”. Bằng cách dùng từ xưng hô, dùng ngôn ngữ diễn đạt gần gũi với cuộc sống hàng ngày, nhà văn đã cho người đọc hình dung về cuộc đời đang diễn ra hết sức sinh động. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

3.4.1.2. Khẩu ngữ góp phần thể hiện tính cách nhân vật

Sáng tác của Nguyễn Văn Xuân dựa trên sự thực của cuộc sống chiến đấu, lao động của nhân dân Quảng Nam nên nhà văn không ngại ngần khi đưa những lời ăn tiếng nói đậm chất khẩu ngữ đến độ “thô tục” vào trong lời nói của nhân vật (những từ khẩu ngữ bình thường chúng tôi không đề cập đến ở đây).

Tiêu biểu là lời nói của nhân vật anh bồi trong Bão rừng:

Đ….mẹ, về là ngậu sị lên” [63, tr.33].

Đ….mẹ nó!. Nó tưởng nó chửi mình là nó hơn à? Tao là thân trâu ngựa thì tao cũng biết chơi như thế nào như trâu ngựa chứ” [63, tr.45].

Đ….mẹ, bà lại có lịnh gì đấy” [63, tr.63].

Những tiếng “Đ…mẹ” và những lời thô tục như “kệ cha nó”, “chó”, “trâu”, “đái”, “cứt”…..được nhà văn sử dụng như chất liệu của ngôn ngữ đời thường làm nên diện mạo muôn màu muôn vẻ của cuộc sống. Nhưng cần thấy rằng việc sử dụng loại từ “thô tục” này hoàn toàn có chủ đích, phù hợp với nội dung câu chuyện, tính cách nhân vật chứ không phải là cách dùng từ bừa bãi của những tay giang hồ anh chị mà ta thấy trong sáng tác của một số nhà văn. Anh bồi trong Bão rừng hay chửi thề nhưng chỉ chửi thề khi nói tới bà chủ đồn điền. Còn trong quan hệ, lời ăn tiếng nói hàng ngày với những người đồng cảnh ngộ thì anh chưa bao giờ sử dụng thứ ngôn ngữ này. Điều này chứng tỏ đối với anh bồi và những người yếu thế như anh thì “chửi thề” trong lời nói là một cách ngấm ngầm chống đối, phản kháng, không cam chịu của những người thấp cổ bé họng.

Những từ thô tục trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân luôn xuất hiện “hợp tình, hợp cảnh”, khiến người đọc có cảm giác “phải như vậy” thì mới là chất hiện thực trong tác phẩm.

Đây là đoạn văn nói về đêm cuối cùng của những người tử tù ở một trại giam :

  • Ê, ông già. Ông đái cùng ra đây!

Tiếng người nông dân gắt lên ở phía sau, khiến Liễn quay phắt lại.

Cái bộ buồn thảm thất thiểu của anh nông dân mới rồi được thay bằng một vẻ giận dữ, hằn học đối với một người mà anh biết không cần dè dặt:

  • Sao đái tùm lum, tèm lem ra vậy?

Ông già sửng sốt, nhìn xuống nền nhà. Vội vàng, sợ hãi, ông cỡi ngay chiếc áo đang mặc lau lấy, lau để. Liễn nhìn thấy cả bộ xương sườn của ông giơ ra, nhưng anh không thương hại, vì chính ông già đái trên chỗ anh nằm.

…..Anh cảm thấy ngứa lưng, như thế chính mình mới nằm trên vũng nước đái. Ông già luống cuống lau, ông lau tràn sang cả chỗ không bị nước đái [63, tr.508].

3.4.2. Việc vận dụng phương ngôn trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

“Phương ngữ, tiếng địa phương, thổ ngữ là biến thể địa phương của ngôn ngữ toàn dân. Quan hệ giữa phương ngữ và ngôn ngữ toàn dân là quan hệ giữa cái riêng và cái chung, giữa cái biến thể và cái bất biến thể, giữa cái cụ thể và cái trừu tượng” [43, tr.517]. Theo nhận xét của Ths. Đinh Thị Hựu về Từ ngữ địa phương Quảng Nam thì tiếng địa phương của một vùng luôn có quan hệ chặt chẽ với ngôn ngữ toàn dân. Có lẽ vì vậy, khi đọc sáng tác của một số nhà văn có sử dụng từ địa phương, người đọc vừa nhận ra cách nói rất riêng của địa phương đó vừa có thể đặt vào ngữ cảnh của lời nói trong hệ thống ngôn ngữ toàn dân để hiểu nghĩa của từ mà đôi khi không cần sự chú giải của nhà văn. Trong tác phẩm của Nguyễn Văn Xuân có nhiều trường hợp phương ngôn đã được sử dụng như vậy.

Có một số từ ngữ trong tiểu thuyết và truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân mà ta chỉ thấy xuất hiện trong cộng đồng người Quảng: xanh nghít, ai biểu, nạm lấy, chết giá rồi, ăn nói cà xốc, rấn rốn cãi, lóc cóc chạy, đường kiệt, ai xúi xử, bày biểu, lổng chổng, lúi húi, thấu triệt, dòm dỏ

Khi xem xét các từ ngữ có nét đặc trưng của xứ Quảng thì ta nhận thấy những từ ngữ này thường kết thúc bằng những vần thuộc thanh trắc. Có phải vì thế mà khi nghe người Quảng nói ta thường cảm thấy cái “thô ráp” trong lời nói, ngữ điệu.

Người ta thường nói “nói ngọt thì lọt đến xương” nhưng giọng nói xứ Quảng với những phương ngữ kết thúc bằng thanh trắc không đem lại cái dư vị “ngọt dịu”, nếu có cũng không nhiều. Có lẽ cuộc sống lên rừng, xuống biển để mưu sinh, chống chọi với thiên nhiên làm cho con người ở đây không có thời gian để “làm dáng”, “pha duyên” mà họ nghĩ sao nói vậy, có sao nói vậy. Đã nói là phải diễn tả chính xác ngay tính chất, đặc điểm của sự việc, sự vật, không vòng vo, uyển chuyển.

Việc giảng giải kỹ về một danh từ như vừa nêu trên đã cho chúng ta hiểu thêm tài hoa của những người thợ ở một làng đúc đồng. Nhờ sự cần cù khéo léo của đôi tay và một tâm hồn nhạy cảm mà họ có thể tạo ra một loại nhạc cụ phức tạp như thế. Đồng thời qua đó người đọc khâm phục nhà văn Nguyễn Văn Xuân, tuy chỉ là nhà văn của một ngôi làng nhưng có tầm kiến văn rộng rãi của một ông thầy Quảng.

Qua những từ ngữ trong lời ăn tiếng nói của người dân tộc, người đọc có dịp hiểu được sắc thái đa dạng của nền văn hóa cộng cư ở Quảng Nam.

Ngoài từ địa phương, trong một số văn cảnh nhất định, Nguyễn Văn Xuân không ngần ngại sử dụng tiếng Pháp trong lời thoại của nhân vật làm cho nhân vật hiện lên trong tác phẩm hết sức sinh động.

Cách sử dụng này làm tăng thêm tính hài hước của câu chuyện về lão chủ người Pháp dê xồm. Còn trong đoạn văn miêu tả cuộc Chạy đua với tử thần thì nhà văn tả những hành động và lời nói của tên quản Tây nên không cần pha tiếng bồi mà là tiếng Pháp chính gốc: A vos marques, Prêt!, Partez….Và nhà văn không hề chú giải về nghĩa của những từ ngữ này. Có thể vì tính thông dụng của từ ngữ, vì tôn trọng sự hiểu biết của người đọc…và vì tác giả đã đặt những từ ngữ ấy vào một ngữ cảnh nhất định mà chắc rằng người đọc sẽ hiểu.

Khi viết những truyện ngắn liên quan đến lịch sử của thời “Cần Vương”, nhà văn đã dùng một số lượng lớn những từ Hán Việt trong lời kể, lời thoại của các nhân vật. Nhờ vậy không khí của thời kỳ lịch sử đã qua, lời ăn tiếng nói của những nhân vật xuất thân “cửa Khổng sân Trình” được tái hiện một cách sinh động. Đây là đoạn văn kể về lời “hiểu dụ” quân sĩ của phó bảng Nguyễn Duy Hiệu, người lãnh đạo Nghĩa Hội:

Như vậy, việc đa dạng hóa cách sử dụng từ ngữ trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là điều mà tất cả chúng ta đều dễ dàng nhận thấy khi tiếp cận với tác phẩm của ông. Vấn đề là khi nào sử dụng từ ngữ địa phương, văn cảnh nào sử dụng từ ngữ người Đê, ngữ cảnh nào dùng tiếng Pháp, từ Hán Việt…dường như đã có sự cân nhắc kỹ càng, không tùy tiện. Cái tài của nhà văn là tuy đã có sự tính toán cân nhắc nhưng mọi sự lại diễn ra hết sức tự nhiên như cuộc sống vốn như vậy. Nếu ngôn ngữ là biểu hiện của văn hóa thì nhà văn không chỉ hiểu văn hóa mà còn hiểu bề dày, chiều sâu của văn hóa. Và tự do bao giờ cũng thuộc về những người hiểu biết.

3.4.3. Vận dụng thành ngữ ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Thành ngữ, tục ngữ vốn là những đơn vị ngôn ngữ tồn tại trong lời ăn tiếng nói hàng ngày của nhân dân. Những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân viết về cuộc sống thực của người dân Quảng Nam nên khi tìm hiểu về sáng tác của nhà văn chúng tôi không thể không nói đến một lượng thành ngữ tương đối lớn trong một số tác phẩm của ông. Một số nhà nghiên cứu về văn học đô thị miền Nam thường đề cập đến tài năng sử dụng thành ngữ trong sáng tác của Sơn Nam, nhà văn cùng thời với Nguyễn Văn Xuân. Nếu làm một so sánh nhỏ giữa hai tác phẩm của hai nhà văn, ta thấy:

(Bảng thống kê chi tiết xin đính kèm ở phần phụ lục)

Còn trong thế đối sánh với những sáng tác của chính Nguyễn Văn Xuân thì có sự chênh lệch trong việc vận dụng những thành ngữ giữa tiểu thuyết và các truyện ngắn. Số lượng thành ngữ được nhà văn sử dụng nhiều nhất trong tiểu thuyết Bão rừng, còn lại các truyện ngắn chỉ sử dụng số lượng ít. Một phần có thể do số trang của quyển tiểu thuyết này dày dặn hơn so với số trang của tất cả các truyện ngắn còn lại. Nhưng điều quan trọng là ở Bão rừng tác giả tập trung viết về đời sống dân phu ở một đồn điền cà phê. Ngôn ngữ trong tác phẩm là ngôn ngữ đời thường, tiết tấu chậm, đều đặn như nhịp sống. Thế nên, khi đối thoại, các nhân vật trong Bão rừng đã vận dụng những thành ngữ, những cách so sánh quen thuộc trong dân gian. Nhờ vậy, câu chuyện trở nên sinh động, dễ hiểu. Còn các truyện ngắn trong hai tập Hương máu Dịch cát đều có tiết tấu nhanh, giàu kịch tính, lời trần thuật của tác phẩm chiếm một số lượng nhiều hơn lời thoại của nhân vật. Với vai trò người kể chuyện ở ngôi thứ ba, tác giả miêu tả, kể những điều mắt thấy tai nghe hoặc giả tương tự như vậy.

Trong quá trình vận dụng thành ngữ, có khi Nguyễn Văn Xuân giữ nguyên mẫu thành ngữ những cũng có khi ông sử dụng theo cách riêng. Những thành ngữ được sử dụng nguyên mẫu như:“mèo đàng chó điếm”, “tích thiểu thành đa”, “ăn chưa no, lo chưa tới”, “còn nước còn tát”. Còn các thành ngữ được sử dụng theo cách riêng của nhà văn thì phần lớn là thêm vào các quan hệ từ cho rõ nghĩa hơn: Chờ thì được, ước thì thấy (chờ được, ước thấy); Tốt mã nhưng rã đám ( tốt mã rã đám); Phép vua còn thua lệ làng (Phép vua thua lệ làng ); Ở hiền thì gặp lành

(Ở hiền gặp lành ).

Việc thêm các quan hệ từ vào trong thành ngữ là thói quen khi nói chuyện của người dân Quảng Nam (theo lối tách và ghép từ). Họ thường nhấn mạnh vào điều mình đề cập để tác động trực tiếp đến người nghe.

Những thành ngữ, tục ngữ, kết hợp với lối nói ví von so sánh làm cho văn phong của Nguyễn Văn Xuân giàu tính hình tượng, mang tính khái quát khá cao.

Khi tả về tiếng kêu kinh hoàng, sợ hãi của mụ La vì con voi điên, tác giả viết: “mụ kêu e é như chính con voi đang hò hét” [63, tr.170].

Khi nói về bản chất gian ngoa, hiểm độc, tham lam của mụ La tác giả viết: “thối tha hơn phân chó”[63, tr.42].

Khi nhân vật chị Sáu bị cơn sốt rét rừng, run cả giường chiếu thì nhà văn so sánh: “Chiếc khăn giăng trên đó cứ như bị động kinh” [63, tr.187].

Để nói về việc đánh bạc của công nhân đồn điền như một việc tất nhiên, tác giả viết: “ở đồn điền không đánh bạc giống như ở cửa quan không ăn hối lộ” [63, tr.178].

Những thành ngữ, tục ngữ, lối nói ví von so sánh được Nguyễn Văn Xuân sử dụng có mức độ, có chủ đích trong một số sáng tác cụ thể. Nhờ vậy nhà văn phát huy được mặt tích cực của ngôn ngữ sinh hoạt đời thường trong tác phẩm của mình. Điều đó làm cho tác phẩm của ông gần gũi, dễ hiểu đối với người đọc. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân ta thấy tuy dung lượng của mỗi truyện rất ngắn nhưng không vì thế mà ý nghĩa của nó kém phần sâu sắc. Có được như vậy một phần là do những đoạn văn trữ tình và những đoạn văn đầy tính triết lý tạo nên. Đây là một đoạn tiêu biểu:…Buổi sáng, tôi dậy sớm. Tôi lấy chiếc ghế nhỏ ra ngồi dưới gốc cây xơ ri. Mặt trời chưa lên. Ánh sáng đầu tiên bôi một lớp hồng nhạt lấp lánh phía sau các khu rừng. Chim chóc ríu ra ríu rít đủ thứ giọng. Trên những cây cổ thụ cao vút như muốn vói trời, vài con chim đen, rất bé, từ ngọn sà xuống và thốt nhiên trở nên to lớn lạ thường, đập cánh sàn sạt bay qua không gian.

Bỗng một tiếng mưa rào phát ra từ những đám mây xanh ngắt tiến nhanh như vũ bão che khuất mặt trời mới lên. Đó là muôn vạn con chim xanh mỏ đỏ, thi nhau bay biễu diễn với ánh sáng đầu tiên. Những tiếng kêu bí mật ban đêm tan biến. Bóng tối trong lá cây rậm không còn tỏa ra màu đen ảm đạm, và lại biến thành những nét chấm phá linh động: bóng râm thu ngắn và đậm nét tiếng chim ca [63, tr.60].

Và đây là một đoạn tả trăng trong Dịch cát :… Nhưng chị chưa phải là hoàn toàn tuyệt vọng. Vì trăng đã lên. Ở chân trời trăng vùn vụt như một khối lửa lạnh lẽo, không có ánh sáng, phi nhanh vào không gian. Khi nó dừng lại dưới một hình thù bé nhỏ hơn thì ánh sáng rực rỡ, tỏa ra làm lung linh những ngọn sóng bạc đầu. Trăng chiếu qua những mảnh rách trên cửa, trên phên, làm sáng cả gian nhà bé nhỏ của chị Sinh. Ánh sáng êm đềm kia còn đủ sức gây một niềm nghị lực tiềm tàng nơi chị [63, tr.408].

Những đoạn văn tả cảnh trên là những đoạn thể hiện những cảm xúc mạnh mẽ của nhà văn với một tâm hồn nhạy bén, tinh tế trước những thay đổi của cuộc sống chung quanh. Và trên hết là một tình yêu mãnh liệt đối với con người, đối với cuộc đời.

Nhiều đoạn văn còn mang tính triết lý khá sâu sắc. Chẳng hạn đoạn văn nói về những suy nghĩ của nhân vật Liễn trong đêm trước khi buộc phải Chạy đua với tử thần:…. Liễn nhìn ra bên ngoài, vẫn ánh sáng chập chờn lạnh ngắt của chiếc đèn bão và tiếng guốc lạch cạch rời rạc của người lính. Tiếng guốc của người còn sống! Tiếng guốc đó có những gì khác hẳn với những tiếng động trong cái phòng đầy nghẹt những người sắp chết này? Không biết bây giờ là mấy giờ rồi? Liễn cố đứng lên cho đỡ mỏi. Biết được mấy giờ là biết được bao nhiêu người còn sống? Mình sống? Thì có gì là lạ. Cũng như bây giờ mình đang sống đây. Nào có gì là quí giá? Hay có lẽ sự sống ở ngoài kia, ở trong ánh sáng, trong tiếng chim ca, trong tự do? Tất cả những cái đó mình biết quá rồi. Có một lần Liễn ngồi trên thảm cỏ đẹp giữa buổi chiều êm ái, với tiếng sáo diều và tiếng chuông chùa, nghĩa là tất cả những vẻ đẹp, nên thơ như trong sách tả. Liễn nói thật to “mình là người sung sướng” rồi lắng nghe sự sung sướng đi vào tâm hồn” [63, tr.517].

Có những đoạn văn được tác giả lý giải rất dài nhưng người đọc không thấy nhàm chán vì nó có ý vị sâu xa, kiến giải độc đáo, tầm triết lý bao quát. Chẳng hạn đoạn văn luận về sự khác nhau của dòng âm nhạc thính phòng với những nghệ sĩ được đào tạo trường lớp cùng những nhạc cụ hoàn hảo so với dòng âm nhạc dân gian với những người biểu diễn dân dã, dụng cụ đơn sơ:

…Anh Qúi cầm cái dùi thật lớn ban đầu dập vào cái nướm của chiêng. Âm thanh dội lên, ngân vang… rồi cứ như thế. Quí đập lần lần xuống cả mặt chiêng. Trong khi đó, anh Cảo đứng xoạc chân, lùi dần, tay thọc choãi vào trong hai cái túi áo, lắng nghe như một nhà chân tu lắng nghe tiếng chuông chùa, như một tội nhân lắng nghe tiếng sinh hoạt bên ngoài lao xá, như một kẻ đói lắng nghe tiếng rao hàng. Hình như anh không chỉ nghe tiếng chiêng bên ngoài mà còn nghe vọng tiếng chiêng trong tâm hồn anh. Đôi mắt của anh mang nặng một sắc màu rừng rú rất khó tả mà đôi môi thì rung rung như đang muốn phát ra những âm thanh nào tương ứng. Tự nhiên tôi muốn so sánh anh với một số nhạc sĩ mà tôi đã đọc tiểu sử của họ. Tôi không hiểu tại sao có sự so sánh đó vì giữa hai nghề, tôi không nghĩ là đáng được so sánh: một bên là nghệ thụât cao siêu của những nghệ sĩ tài hoa, xuất thân ở các viện âm nhạc, gần như bay chập chờn trên những kinh đô ánh sáng; một bên chỉ là anh thợ làm nhạc cụ bằng đồ đồng, phần lớn cho loại khách chưa có chút kiến thức nào về nghệ thuật. Một loại thợ mà ngay dân ở sát làng tôi cũng chẳng ai chú ý bao giờ! Trước mắt tôi bày ra cái cảnh huy hoàng của những khán giả tri thức chen nhau đến các hí viện im lặng với vẻ sùng kính tôn giáo khi nghe một bản nhạc cổ điển để thấy nổi bật lên cảnh những lái buôn nghèo khổ, băng núi băng ngàn đi bán mấy nhạc cụ bằng đồng có khi không lấy được tiền mà phải đổi chác một con trâu cổ, một mớ lâm sản, một bộ da cọp, sừng nai; rồi những người Thượng đem vào một góc núi mịt mờ mà nhảy múa hò hét như điên cuồng! [63, tr.476-477]. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Tóm lại, chất hiện thực trong tiểu thuyết, chất ký trong truyện ngắn của Nguyễn Văn Xuân được tô đậm nhờ kết cấu độc đáo, cách thức xây dựng nhân vật, sử dụng ngôn ngữ sinh hoạt hàng ngày đậm chất khẩu ngữ, thành ngữ, phương ngôn… đã làm nên phong cách sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Cách kể và dẫn dắt truyện sinh động, ngôi kể linh hoạt…Tất cả những yếu tố nghệ thuật trên trở thành phương tiện để nhà văn bộc lộ trực tiếp cái nhìn của mình đối với cuộc sống, thể hiện những tâm tư tình cảm của mình đối với những con người rất đỗi gần gũi thân thương ở vùng đất “đầu sóng ngọn gió”, những người bình thường mà rất đổi phi thường qua những trang văn của Nguyễn Văn Xuân.

KẾT LUẬN

Nguyễn Văn Xuân là một trong những nhà văn sáng tác không nhiều nhưng mỗi trang viết của ông đều để lại ấn tượng sâu sắc cho người đọc về vùng đất và con người xứ Quảng. Tuy số lượng tác phẩm có hạn nhưng giai đoạn văn học nào cũng có sự góp mặt của ngòi bút Nguyễn Văn Xuân. Trước 1954, Nguyễn Văn Xuân đã được biết đến với tác phẩm đầu tay Ánh sáng và bóng tối (đạt giải thưởng); hai truyện ngắn Ngày giỗ cha Ngày cuối năm trên đảo được tuyển đăng trong Tổng tập văn học Việt Nam, Tập 33. Tiểu thuyết và truyện ngắn giai đoạn 1954 – 1975: Bão rừng; Hương máu; Dịch cát…. một lần nữa khẳng định sự thành công của ông trong lĩnh vực sáng tác văn học.

Cuộc sống và con người đất Quảng qua diễn trình lịch sử của dân tộc chính là nguồn cảm hứng dồi dào và mãnh liệt trong cuộc đời sáng tác của Nguyễn Văn Xuân. Tuy ông ít vượt khỏi biên giới “Quảng Nam quốc”, cũng không có sự đột phá về đề tài sáng tác, nhưng những sáng tác văn học của ông có cái duyên ngầm của người biết khai phá “cày xới” trên vùng đất có người canh tác. Hai đề tài bao trùm toàn bộ sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là cuộc sống chiến đấu bảo vệ đất nước và lao động sinh tồn của con người xứ Quảng. Cái tài của các nhà văn là đưa người đọc đi qua một tiểu thuyết và gần 20 truyện ngắn thuộc hai đề tài trên nhưng người đọc không gặp sự nhàm chán, đơn điệu….Chính điều đó giúp người đọc nhận ra tài năng và tấm lòng yêu quê hương đất nước của một nhà văn xứ Quảng. Nguyễn Văn Xuân sống và viết trong những ngày miền Nam sống dưới gót giày xâm lược của Mỹ Diệm và ngay trên vùng đất “đầu sóng ngọn gió” của Tổ quốc trong những trận đối đầu lịch sử. Thế nên, thông qua những sáng tác văn học của mình, nhà văn đã truyền đến bạn đọc đương thời, các thế hệ mai sau tình cảm thiêng liêng đối với Tổ quốc, đồng bào. Nhà văn đã không dùng “đao to búa lớn”, không dùng sự hoành tráng của số lượng mà chủ yếu cần cái “tinh túy” của chất lượng. Chính vì thế, sáng tác của ông vừa đứng được trên văn đàn công khai ở Sài Gòn, Hà Nội….lúc bấy giờ vừa tác động sâu xa đến sự thức tỉnh ý thức trách nhiệm đối với Tổ quốc trong tình cảm của người đọc. Tên tuổi của Nguyễn Văn Xuân được sánh ngang hàng với Sơn Nam, Vũ Hạnh, Võ Hồng, Trang Thế Hy, Lê Vĩnh Hòa… trong văn học Việt Nam giai đoạn 1954 – 1975 như một sự thừa nhận những đóng góp đích thực của ông đối với sự phát triển của văn học nước nhà.

Sống và viết ngay trên vùng đất Quảng trong những ngày ác liệt của chiến tranh, giai đoạn nào của sự chuyển biến lịch sử xã hội, ngòi bút của Nguyễn Văn Xuân đều ghi nhận, phản ánh: kháng chiến chống Pháp, hiệp định Giơnevơ, đế quốc Mỹ xâm lược….Để những nội dung sáng tác trên xuất hiện ở văn đàn công khai, nhà văn đã khéo léo tận dụng lợi thế của văn học vượt qua sự kiểm duyệt gắt gao của chính quyền Sài Gòn, chuyển tải được những thông điệp cần thiết đến người đọc. Có thể thấy, đọc những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân là đọc lịch sử đấu tranh, trưởng thành, đi tới của một vùng đất. Ngoài ra, đọc sáng tác của Nguyễn Văn Xuân chúng ta hiểu được quá trình lao động sinh tồn của cư dân đất Quảng. Cuộc sống lên rừng xuống biển của những người phải chịu cảnh tha phương cầu thực, bão lũ triền miên, bệnh dịch hoành hành. Những trang viết ngồn ngộn chất hiện thực mang đến cho người đọc những rung động sâu xa, vốn tri thức phong phú về thiên nhiên và cuộc sống của con người vùng “Ô Châu ác địa”. ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Nguyễn Văn Xuân là “nhà văn của một ngôi làng” là “một con người từ một ngôi làng”. Chính vì thế, hơn ai hết, nhà văn hiểu rõ những con người từ những “ngôi làng” ấy và đã dựng lên bức chân dung về họ. Họ là những con người cần cù lao động, can trường dũng cảm kiếm sống sinh tồn trên vùng quê nghèo khó. Sinh tồn đối với những cư dân đất Quảng không chỉ là sống cho bản thân mà còn sống cho, sống vì cộng đồng, Tổ quốc. Qua những trang viết của Nguyễn Văn Xuân, chúng ta còn thấy hiển hiện những con người đất Quảng yêu nước nồng nàn, ý thức trách nhiệm chính trị của những người ở vùng đất “phên giậu” đã ngấm sâu vào máu thịt họ. Họ chẳng những tạo dựng nên những ngôi làng mà ý chí chiến đấu bảo vệ làng mạc, cộng đồng, Tổ quốc đã truyền từ thế hệ này sang thế hệ khác trong dòng chảy chung của mạch ngầm tình yêu Tổ quốc. Lao động và chiến đấu đã trui rèn tính cách, khí chất của người xứ Quảng: cứng cỏi ngang tàng; cởi mở, nhạy bén với cái mới; nhân hậu, đa cảm, đa tình… Nguyễn Văn Xuân đã ca ngợi những phẩm chất tốt đẹp của con người xứ Quảng song hành với cảm hứng tố cáo phê phán. Bộ mặt thật của thực dân, đế quốc xâm lược, bản chất gian xảo, hám lợi của tư sản, địa chủ… tất cả đều bị phanh phui dưới ngòi bút của ông. Dù ca ngợi hay phê phán, tố cáo, ngòi bút của nhà văn đều vươn tới tầm khái quát những vấn đề có ý nghĩa xã hội nhân sinh sâu sắc. Từ một ngôi làng vươn tới cả cộng đồng; từ sự hiểu biết về cộng đồng soi rọi phẩm chất, lối sống của những con người ở một vùng đất. Đó chính là điểm độc đáo trong sáng tác của Nguyễn Văn Xuân, người được xưng tụng là một nhà “Quảng Nam học”.

Chất hiện thực đã khiến cho sáng tác của Nguyễn Văn Xuân khi viết về những cái chết của người đất Quảng mang đậm tính chất của ký – lịch sử. Nhà văn như một thư ký ghi chép trung thành những biến động lịch sử xã hội ở một vùng đất, nơi mà ông đã may mắn sớm được thụ hưởng những mạch nguồn giá trị lịch sử – văn hóa truyền thống của một vùng địa linh nhân kiệt.

Văn của Nguyễn Văn Xuân mang đậm bản sắc của vùng đất Quảng, từ phong cảnh thiên nhiên đến tính cách con người. Nhà văn đã sử dụng ngôn ngữ địa phương một cách có ý thức. Ông đã đưa vào sáng tác của mình cảnh núi rừng âm u, tiếng sóng biển gầm thét, dòng xoáy bão lũ cuồn cuộn… của một vùng thiên nhiên khắc nghiệt. Đặc biệt là những địa danh như gắn liền với cuộc đời của nhà văn từ lúc ông được sinh ra đến khi cầm bút sáng tác. Chất giọng xứ Quảng trong sáng tác của nhà văn không làm người đọc khó hiểu mà chỉ góp phần tô đậm thêm khí chất con người Quảng Nam. Chất triết lý đã làm nên vẻ thâm trầm sâu sắc của một ngòi bút có nhiều trãi nghiệm.

Nắng, gió, bão, lũ, rừng âm u ….cùng với thời gian của vùng đất mở cõi đã kết tinh thành độ bền của sáng tác Nguyễn Văn Xuân. Không ồn ào như những sự kiện vang dội mà thầm lặng, bền bỉ, giản dị như chính cuộc đời của nhà văn, những sáng tác của ông đã trãi qua sàng lọc thời gian để người đọc nhận chân giá trị của nó. Nhắc đến những tên tuổi làm nên diện mạo văn học Việt Nam 1954 – 1975 không thể không nhắc đến Nguyễn Văn Xuân.…Đôi khi người ta “lướt”qua ông và những sáng tác của ông như lướt qua sự tồn tại hiển nhiên của một lớp trầm tích, mà không có nó sẽ không hình thành nên những địa tầng kiến trúc phía trên. Bão rừng, Hương máu, Dịch cát không trở thành những “kì thư” nhưng vinh dự của nó là vinh dự của những tác phẩm chứa trong lòng văn hóa của vùng đất mở cõi. Có thể nói không ngoa rằng sẽ không hiểu biết đất nước con người Việt Nam nếu không hiểu vùng đất và con người xứ Quảng. Bởi nơi ấy chính là điểm giao nhau giữa những gì thuộc về truyền thống đã hình thành trong lòng xã hội Bắc hà với những gì thuộc về sự chắt lọc thích ứng trong môi trường mới. Cội nguồn và vươn tới là tất cả những gì có thể nói về sáng tác của Nguyễn Văn Xuân.

Ngày nay, trong giai đoạn hội nhập, giao lưu với kinh tế, văn hóa toàn cầu, hơn bao giờ hết chúng ta cần phải giữ gìn cội nguồn, bản sắc văn hóa của dân tộc. Đó cũng là chủ trương lớn của Đảng và nhân dân ta. Trên tinh thần ấy, những sáng tác của Nguyễn Văn Xuân càng có ý nghĩa hơn.

Tìm hiểu về đặc điểm tiểu thuyết và truyện ngắn của nhà văn Nguyễn Văn Xuân giai đoạn 1954 – 1975, chúng tôi đã đi vào một vùng đất “chưa được khai phá”. Với việc làm ấy, chúng tôi chỉ mong muốn được khẳng định giá trị tiếng nói yêu nước của Nguyễn Văn Xuân trong dòng văn học đô thị miền Nam giai đoạn 1954 – 1975. Đồng thời, nếu được, chúng tôi xem công trình này như một nén tâm hương mà những người hậu bối thắp lên trước hương hồn ông để kính cẩn nói rằng: “ông đã sống một cuộc đời đáng sống!” ( Luận Văn: Đặc Điểm Nghệ Thuật Văn Học Đô Thị Miền Nam )

Kiến thức nông cạn, thời gian hạn hẹp, nhưng với một tấm lòng, chúng tôi hi vọng luận văn sẽ góp một phần nhỏ trong việc tìm hiểu sự nghiệp văn chương của Nguyễn Văn Xuân, một trong những cây bút tiêu biểu của văn học đô thị miền Nam, của văn hóa xứ Quảng giai đoạn 1954 – 1975

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Nguyên Văn Xuân và vùng đất văn học đô thị miền Nam

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537