Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.
3.1. KHÁI QUÁT KINH TẾ – XÃ HỘI ẢNH HƯỞNG ĐẾN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.1.1. Vị trí địa lý và điều kiện tự nhiên
Hồ Chí Minh có tọa độ địa lý 10°10′ – 10°38′ Bắc và 106°22′ – 106°54′ Đông, phía Bắc giáp tỉnh Bình Dương, Tây Bắc giáp tỉnh Tây Ninh, Đông và Đông Bắc giáp tỉnh Đồng Nai, Đông Nam giáp tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu, Tây và Tây Nam giáp tỉnh Long An và Tiền Giang. Trung tâm Thành phố cách bờ biển Đông 50 km theo đường chim bay. Với vị trí tâm điểm của khu vực Đông Nam Á, TP. Hồ Chí Minh là một đầu mối giao thông quan trọng về cả đường bộ, đường thủy và đường hàng không, nối liền các tỉnh trong vùng và còn là một cửa ngõ quốc tế.
Nằm ở vùng hạ lưu hệ thống sông Ðồng Nai – Sài Gòn, TP. Hồ Chí Minh có mạng lưới sông ngòi kênh rạch rất đa dạng. Trong một năm, TP. Hồ Chí Minh có hai mùa: mùa mưa và mùa khô. Mùa mưa được bắt đầu từ tháng 5 tới tháng 11 (khí hậu nóng ẩm, nhiệt độ cao mưa nhiều), còn mùa khô từ tháng 12 tới tháng 4 năm sau (khí hậu khô, nhiệt độ cao và mưa ít).
Hồ Chí Minh bao gồm 19 quận và 5 huyện, tổng diện tích 2.095,06 km². Tính đến năm 2014, dân số Thành phố là 7.981.900 người (theo số liệu của Tổng cục Thống kê). Sự phân bố dân cư ở TP. Hồ Chí Minh không đồng đều. Trong khi một số quận như 4, 5, 10 và 11 có mật độ lên tới trên 40.000người/km², thì huyện ngoại thành Cần Giờ có mật độ tương đối thấp, 98 người/km². Về mức độ gia tăng dân số, trong khi tỷ lệ tăng tự nhiên khoảng 1,07% thì tỷ lệ tăng cơ học lên tới 2,5%. Những năm gần đây dân số các quận trung tâm có xu hướng giảm, trong khi dân số các quận mới lập vùng ven tăng nhanh, do đón nhận dân từ trung tâm chuyển ra và người nhập cư từ các tỉnh đến sinh sống. Đây cũng là một trong các lý do giáo dục nói chung, giáo dục tư thục nói riêng trên địa bàn Thành phố phát triển rất nhanh và không đồng đều ở các quận, huyện.
3.1.2. Về kinh tế – xã hội ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Giữ vai trò quan trọng trong nền kinh tế Việt Nam, tỷ trọng kinh tế Thành phố trong nền kinh tế đất nước ngày càng cao, từ 18,3% năm 2011 tăng lên 21,5% năm 2014. Kinh tế tăng trưởng khá cao, cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng định hướng, gắn với chuyển đổi mô hình tăng trưởng, các nguồn lực xã hội được phát huy, góp phần cùng cả nước kiểm soát lạm phát, ổn định kinh tế vĩ mô. Chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh được cải thiện, đóng góp của yếu tố năng suất tổng hợp (TFP) vào tăng trưởng kinh tế ngày càng tăng, giai đoạn 2011 – 2015 đạt 33,1%; tăng trưởng kinh tế giảm phụ thuộc vào vốn đầu tư xã hội; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực, đúng định hướng dịch vụ, công nghiệp, nông nghiệp (59,9% – 39,2% – 0,9%), nhất là chuyển dịch cơ cấu kinh tế nội ngành, tăng dần tỷ trọng các ngành dịch vụ có giá trị gia tăng cao, 4 ngành công nghiệp trọng yếu, phát triển nông nghiệp đô thị. Chỉ số giá tiêu dùng được kiểm soát tốt, đã huy động được nguồn lực cho đầu tư phát triển. Đóng góp thu ngân sách của Thành phố vào ngân sách cả nước năm sau cao hơn năm trước, vượt dự toán hàng năm, tăng gấp hai lần giai đoạn 2006 – 2010, năm 2011 đóng góp 27,7% ngân sách Nhà nước, năm 2014 tăng lên 30%. Góp phần cùng cả nước ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát, bảo đảm an sinh xã hội. GRDP bình quân đầu người tăng 12%/năm, đến cuối năm 2015 ước đạt 5.538 USD/người.
Quy hoạch, quản lý và phát triển đô thị có chuyển biến tích cực, đạt kết quả thiết thực, thúc đẩy phát triển kinh tế, cải thiện dân sinh và hình thành đô thị văn minh, hiện đại. Kết cấu hạ tầng đô thị (giao thông, cấp nước, thoát nước, điện, viễn thông, vệ sinh môi trường, vv…) được tập trung đầu tư, cải tạo, nâng cấp. Từng bước giảm ùn tắc giao thông, giảm ngập nước tại một số khu vực, giảm ô nhiễm môi trường; hệ thống giao thông đường thủy được tăng cường đầu tư, góp phần nâng cao năng lực vận tải đường thủy, gắn với phát triển cảng biển cùng dịch vụ logistic về phía Đông và phía Nam Thành phố. Đầu tư chỉnh trang, nâng cấp đô thị hiện hữu theo hướng văn minh, hiện đại và bảo tồn bản sắc văn hóa dân tộc; xây dựng mới khoảng 39 triệu m2 nhà ở, diện tích nhà ở bình quân đầu người đạt 17m2, tạo điều kiện cho nhân dân cải thiện nhà ở. Đẩy mạnh thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng trục chính trung tâm đô thị mới Thủ Thiêm. Hệ thống hạ tầng giao thông đô thị được đầu tư, tạo diện mạo mới, là cơ sở để phát triển không gian đô thị, kết nối vùng đô thị TP. Hồ Chí Minh. Khu công nghệ cao Thành phố đã bước đầu thu hút đầu tư của các tập đoàn, công ty sản xuất công nghiệp công nghệ tiên tiến, giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Khoa học xã hội và nhân văn được chú trọng đầu tư và phát huy hiệu quả. Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư, phát huy tác dụng, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt, giải trí lành mạnh của nhân dân. Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm. Tập trung đầu tư đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế; hệ thống khám, chữa bệnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được nâng cấp; chất lượng khám, chữa bệnh được cải thiện. Huy động nguồn lực, cơ bản hoàn thành Chương trình xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, thay đổi diện mạo nông thôn, đời sống cư dân nông thôn [15].
Sự phát triển mạnh và ổn định của kinh tế – xã hội Thành phố những năm gần đây cùng với cơ chế, chính sách thông thoáng đã tạo điều kiện cho giáo dục nói chung, giáo dục tư thục nói riêng trên địa bàn Thành phố phát triển không ngừng lớn mạnh, tương thích, đáp ứng và thúc đẩy sự phát triển của kinh tế – xã hội Thành phố.
Có thể bạn quan tâm:
3.2. THỰC TRẠNG GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.2.1. Khái quát giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Theo số liệu của Cục Thống kê TP. Hồ Chí Minh, tính đến năm học 2015– 2016, toàn Thành phố có 944 cơ sở giáo dục phổ thông. Trong đó có 490 trường tiểu học, 264 trường THCS và 190 trường THPT. Tổng số lớp là 28.832 lớp với 1.163405 học sinh. Tổng số giáo viên hiện có là 49.500 giáo viên [15].
Giáo dục Thành phố thời gian qua có nhiều chuyển biến tích cực. Ngân sách đầu tư vào giáo dục tăng hàng năm, phát triển cơ sở vật chất theo quy hoạch, khang trang, từng bước hiện đại; chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ở các ngành học, bậc học; đổi mới phương pháp giảng dạy, coi trọng giáo dục nhân cách, lối sống, đạo đức, lý tưởng cho học sinh; xã hội hóa giáo dục – đào tạo đạt kết quả tích cực; hệ thống giáo dục – đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào việc đào tạo nhân lực; công tác quản lý giáo dục – đào tạo được đổi mới, đạt hiệu quả; phát huy vai trò của gia đình phối hợp với nhà trường, xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ; chất lượng dạy và học được nâng cao, là cơ sở để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo Thành phố. Tổng kết năm học 2015-2016, toàn Thành phố có 140.577 học sinh THCS, THPT đạt danh hiệu học sinh giỏi, có 463.747 học sinh Tiểu học được khen thưởng cuối năm do có thành tích tốt trong học tập và rèn luyện, có 3.782 học sinh giỏi cấp Thành phố, 117 học sinh giỏi cấp quốc gia, có 01 học sinh đạt Huy chương Bạc kỳ thi Olympic Tin học Châu Á Thái Bình Dương, 01 học sinh đạt Huy chương Bạc kỳ thi Olympic Toán Quốc tế. Cuộc thi học sinh nghiên cứu khoa học năm học 2015 – 2016 có 480 đề tài tham gia, 18 đề tài được chọn thi quốc gia và đạt 13 giải, 1 đề tài đạt giải Ba kì thi Intel ISEF được tổ chức tại Hoa Kỳ. Bậc tiểu học đạt 2 giải Nhất, 3 giải Nhì và 3 giải Ba cuộc thi Robotics khu vực và 2 giải khuyến khích tại cuộc thi Robocon Quốc tế [15].
Mặc dù đạt được những bước tiến quan trọng trong thời gian gần đây nhưng giáo dục TP. Hồ Chí Minh vẫn còn nhiều hạn chế. Tại Hội nghị tổng kết năm học 2015-2016 và triển khai nhiệm vụ năm học mới 2016 – 2017 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh (ngày 12/8/2016), Bí thư Thành ủy TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra nhiều điều bất cập, yếu kém như:
- Dạy thêm, học thêm; thiếu cơ sở và giáo viên được đào tạo theo chuẩn cho việc chăm sóc trẻ em ở tuổi mầm non;
- Chương trình dạy kiến thức còn tạo áp lực lên học sinh và các bậc phụ huynh; hiện tượng quá tải về số học sinh trong một lớp học còn xảy ra ở khắp nơi;
- Vẫn còn để xảy ra bạo lực học đường từ cả phía giáo viên và học sinh, sinh viên.
- Chất lượng chuyên môn của giáo viên, đặc biệt là giáo viên môn Tiếng Anh cũng còn nhiều hạn chế;
- Chưa thống nhất được đầu mối quản lý trong giáo dục nghề nghiệp khiến còn buông lỏng công việc này ở nhiều nơi;
- Quản lý cơ sở giáo dục có yếu tố nước ngoài còn nhiều bất cập.
3.2.2. Thực trạng giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.2.2.1. Quy mô trường, lớp, học sinh
Tính đến năm học 2015 – 2016, số trường THPT tư thục (bao gồm cả trường phổ thông có nhiều cấp học) trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là 85 trường với trên 100 cơ sở trường lớp ở khắp các quận, huyện. Trong đó có 18 trường gồm nhiều cấp học TH – THCS – THPT và 36 trường có hai cấp học THCS – THPT. Tổng số học sinh cấp THPT là 31.968 học sinh với 1.056 lớp (bình quân 30,3 HS/lớp), phân bố tại các quận, huyện (Bảng 3.1).
Trong đó, số lượng học sinh có hộ khẩu từ các tỉnh thành khác ở nội trú là 12.833 học sinh (chiếm 40,1%). Số học sinh phân bố không đồng đều ở các trường, có 29 trường có số học sinh chưa đến 100. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Một số trường có quy mô học sinh lớn là Trường THCS và THPT Nguyễn Khuyến với 5.589 học sinh; Trường Tiểu học, THCS và THPT Trương Vĩnh Ký có
3.208 học sinh; Trường THCS và THPT Hồng Hà có 1.277 học sinh; Trường THCS và THPT Hồng Đức có 1.002 học sinh.
Các trường có yếu tố nước ngoài chủ yếu nhận học sinh là người nước ngoài, dạy theo chương trình nước ngoài. Do nhu cầu xã hội nên một số trường đã xin và được phép thí điểm nhận học sinh người Việt Nam (học theo chương trình nước ngoài) như Trường Quốc tế dạy bằng tiếng Anh, Trường Tiểu học, THCS và THPT Khai Sáng, Trường Tiểu học, THCS và THPT Quốc tế Anh Việt, Trường Quốc tế TP. Hồ Chí Minh [16].
3.2.2.2. Biên chế đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên
Thống kê năm học 2015 – 2016, tổng số cán bộ quản lý các trường tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh là 216 người (bình quân 2,6 CBQL/trường). Số cán bộ quản lý ở mỗi trường có khoảng từ 1 – 6 người tùy theo quy mô phát triển của trường; cá biệt có trường số phó hiệu trưởng là 5 người (THCS – THPT Đức Trí, TH – THCS – THPT Thanh Bình, THCS – THPT Nguyễn Khuyến).
Đội ngũ cán bộ quản lý các trường tư thục phần lớn từ nguồn cán bộ quản lý các trường công lập đã nghỉ hưu nhưng sức khỏe tốt, có nhiều kinh nghiệm trong điều hành hoạt động của trường. Trong những năm gần đây, các trường THPT tư thục đã chú trọng việc xây dựng đội ngũ kế cận, cử tuyển giáo viên học các lớp bồi dưỡng nghiệp vụ cán bộ quản lý trường học; vì vậy đội ngũ cán bộ quản lý các trường đã được trẻ hóa, được bồi dưỡng nghiệp vụ quản lý, tạo thêm tính năng động, sáng tạo trong công tác quản lý nhà trường.
Về đội ngũ giáo viên các trường tư thục trên địa bàn Thành phố, theo thống kê năm học 2015-2016 là 3.384 người (bình quân 3,2 GV/lớp); trong đó, số có trình độ trên đại học chiếm tỷ lệ khoảng 14,5% [15]. Một số trường có bố trí giáo viên chuyên phụ trách công tác Đoàn – Đội trong nhà trường.
Đặc điểm chung của đội ngũ giáo viên hệ thống các trường tư thục là được tuyển chọn từ nhiều nguồn như hợp đồng giáo viên tự do, giáo viên đã về hưu, hoặc thỉnh giảng giáo viên từ các trường công lập tham gia giảng dạy. Một số trường có sử dụng giáo viên nước ngoài trong giảng dạy ngoại ngữ và một số chủ đề giáo dục kỹ năng sống. Đội ngũ giáo viên hầu hết được đào tạo chính quy đạt chuẩn và trên chuẩn, có tinh thần trách nhiệm cao, nhiệt tình công tác, có kinh nghiệm giảng dạy, có lòng yêu nghề, quan tâm chăm sóc học sinh, có ý thức rèn luyện đạo đức, phẩm chất chính trị, lối sống, luôn học tập để nâng cao tay nghề, đạt hiệu quả giảng dạy cao.
3.2.2.3. Về cơ sở vật chất
Thống kê năm học 2015 – 2016, tổng số phòng học khu vực các trường ngoài công lập là 1.583 phòng học, trong đó số phòng học kiên cố là 1.529 phòng.
Về cơ bản, cơ sở vật chất phục vụ giảng dạy của các trường như phòng ốc, trang thiết bị, thư viện, vv… phục vụ học tập của học sinh ngày càng được đầu tư tốt hơn. Trong quá trình phát triển, nhiều trường đã xây mới trường lớp và trang bị các thiết bị dạy học theo chuẩn quy định, điển hình là các trường: Tiểu học, THCS và THPT Ngô Thời Nhiệm; Tiểu học, THCS và THPT Nguyễn Khuyến; THCS và THPT Bắc Mỹ; THCS và THPT Ngôi Sao; THCS và THPT Trí Đức; THCS và THPT Nhân Văn; Tiểu học, THCS và THPT Thanh Bình; THCS và THPT Sao Việt; THCS và THPT Duy Tân; THPT Hòa Bình; THCS và THPT Hồng Đức; Tiểu học, THCS và THPT Vạn Hạnh, vv… Một số trường còn phải thuê mướn cơ sở vật chất, thường là các tòa nhà được cải tạo thành cơ sở dạy học với trang thiết bị nhìn chung đảm bảo tương đối đầy đủ các điều kiện phục vụ dạy học và có cam kết xây dựng trường sau 5 năm hoạt động. Các trường có yếu tố nước ngoài có diện tích mặt bằng rộng, đầu tư nhiều về cơ sở vật chất nên trường lớp khang trang, sạch đẹp. Hầu hết các trường đều đảm bảo các điều kiện cơ sở vật chất phục vụ ăn ở, sinh hoạt, giải trí cho học sinh nội trú tại trường.
3.2.2.4. Tổ chức triển khai các hoạt động dạy học và giáo dục
– Việc xây dựng các kế hoạch hoạt động ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Hằng năm, căn cứ chỉ đạo của Sở Giáo dục và Đào tạo, các trường THPT tư thục đều tiến hành xây dựng và tổ chức triển khai các kế hoạch hoạt động nhằm thực hiện tốt các nhiệm vụ dạy học và giáo dục theo mục tiêu năm học. Các loại kế hoạch được xây dựng và triển khai thực hiện như: Kế hoạch năm học; Kế hoạch giáo dục chính trị, tư tưởng; Kế hoạch chuyên môn; Kế hoạch tổ chức hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp; Kế hoạch tổ chức dạy nghề, hướng nghiệp; Kế hoạch tổ chức dạy học 02 buổi/ngày, vv… Tất cả các kế hoạch này đều được Sở Giáo dục và Đào tạo kiểm tra và phê duyệt.
– Việc triển khai các hoạt động dạy học
Các trường thực hiện dạy học theo phân phối chương trình được quy định tại Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ cần đạt được ban hành theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Từ năm học 2011 – 2012, nội dung dạy học ở từng môn được điều chỉnh giảm tải theo công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo để phù hợp với chuẩn kiến thức, kĩ năng, phù hợp với thời lượng dạy học và điều kiện thực tế ở từng địa phương.
Các trường xây dựng và thực hiện kế hoạch giáo dục định hướng phát triển năng lực học sinh trên cơ sở đảm bảo chuẩn kiến thức, kỹ năng và thái độ của từng cấp học trong chương trình giáo dục phổ thông và đảm bảo theo khung thời gian 37 tuần thực học, đảm bảo thời gian thống nhất theo chỉ đạo của Bộ Giáo dục và Đào tạo, có đủ thời lượng dành cho luyện tập, ôn tập, thí nghiệm, thực hành, tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo và kiểm tra định kỳ.
Những trường có đầy đủ điều kiện về giáo viên, cơ sở vật chất, được sự thỏa thuận của gia đình học sinh đã thực hiện dạy học và sinh hoạt 2 buổi/ngày, có tổ chức thêm một số nội dung tự chọn thuộc các môn học và tăng cường thêm số tiết dạy ngoại ngữ, tin học và một số môn học khác ngoài số tiết theo quy định của chương trình dạy học.
Ngoài ra, các nội dung tích hợp theo các chủ điểm như: Giáo dục đạo đức, học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; Giáo dục pháp luật; Giáo dục phòng chống tham nhũng; Giáo dục chủ quyền quốc gia về biên giới, biển, đảo; Sử dụng năng lượng tiết kiệm và hiệu quả; Bảo vệ môi trường; Đa dạng sinh học và bảo tồn thiên nhiên; Giáo dục về tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; Ứng phó với biến đổi khí hậu, phòng tránh và giảm nhẹ thiên tai; Giáo dục an toàn giao thông; Hướng dẫn tham quan, học tập thông qua di sản, vv… cũng được các trường triển khai theo hướng dẫn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
Tiếp tục thực hiện đổi mới phương pháp dạy học, phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh; khắc phục lối truyền thụ áp đặt một chiều, ghi nhớ máy móc; tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức; tập trung dạy cách học, cách nghĩ, khuyến khích tự học; bảo đảm cân đối giữa trang bị kiến thức, rèn luyện kỹ năng và định hướng thái độ, hành vi cho học sinh; chú ý việc tổ chức dạy học phân hoá theo năng lực của học sinh dựa theo chuẩn kiến thức, kỹ năng của chương trình giáo dục phổ thông; đa dạng hóa các hình thức học tập, chú trọng các hoạt động trải nghiệm sáng tạo, nghiên cứu khoa học của học sinh; đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học. Tăng cường kỹ năng thực hành, vận dụng kiến thức, kỹ năng vào giải quyết các vấn đề thực tiễn góp phần hình thành, phát triển năng lực và qua đó giúp học sinh xác định động cơ, thái độ học tập.
Chỉ đạo giáo viên và học sinh tích cực tham gia các hoạt động dạy học và tìm kiếm tài liệu trên mạng “Trường học kết nối” của Bộ Giáo dục và Đào tạo theo tinh thần công văn số 3535/BGDĐT-GDTrH ngày 27/5/2013 về áp dụng phương pháp “Bàn tay nặn bột” và các phương pháp dạy học tích cực; công văn số 5555/BGDĐT-GDTrH ngày 08/10/2014 của Bộ Giáo dục và Đào tạo. Đẩy mạnh việc vận dụng dạy học giải quyết vấn đề, các phương pháp thực hành, dạy học theo dự án trong các môn học. Tích cực nghiên cứu và ứng dụng giáo dục tích hợp STEM – Science (khoa học), Technology (công nghệ), Engineering (kỹ thuật) và Math (toán học) – trong việc thực hiện chương trình giáo dục phổ thông ở những môn học liên quan.
Tiếp tục đổi mới kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh. Các hình thức kiểm tra, đánh giá đều hướng tới phát triển năng lực của học sinh, coi trọng đánh giá để giúp đỡ học sinh về phương pháp học tập, động viên sự cố gắng, hứng thú học tập của các em trong quá trình dạy học. Chỉ đạo và tổ chức chặt chẽ, nghiêm túc, đúng quy chế ở tất cả các khâu ra đề, coi, chấm và nhận xét, đánh giá học sinh trong việc thi và kiểm tra; đảm bảo thực chất, khách quan, trung thực, công bằng, đánh giá đúng năng lực và sự tiến bộ của học sinh. Chú trọng đánh giá quá trình: đánh giá trên lớp; đánh giá bằng hồ sơ; đánh giá bằng nhận xét; tăng cường hình thức đánh giá thông qua sản phẩm dự án; bài thuyết trình; kết hợp kết quả đánh giá trong quá trình giáo dục và đánh giá tổng kết cuối kỳ, cuối năm học. Chủ động kết hợp một cách hợp lý, phù hợp giữa hình thức trắc nghiệm tự luận với trắc nghiệm khách quan, giữa kiểm tra lý thuyết và kiểm tra thực hành trong các bài kiểm tra. Thực hiện nghiêm túc việc xây dựng đề thi, kiểm tra theo ma trận; chỉ đạo việc ra các câu hỏi trắc nghiệm khách quan nhiều lựa chọn đúng thay vì chỉ có các câu hỏi 1 lựa chọn đúng như trước đây. Tiếp tục triển khai ứng dụng phần mềm soạn đề và quản lý đề kiểm tra, đề thi; xây dựng “Ngân hàng câu hỏi” dùng phục vụ cho kiểm tra, đánh giá. Tăng cường xây dựng “Nguồn học liệu mở” (thư viện) câu hỏi, bài tập, đề thi, kế hoạch bài dạy, tài liệu tham khảo có chất lượng trên website của Bộ (http://truongtructuyen.edu.vn/). ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Hầu hết các trường đều đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và dạy học như: Thực hiện quản lý, sử dụng sổ gọi tên và ghi điểm điện tử theo hướng dẫn của công văn số 3260/GDĐT-GDTrH ngày 09/10/2015 của Sở Giáo dục và Đào tạo TP. Hồ Chí Minh; trang bị đầy đủ máy chiếu, bảng tương tác; tổ chức các khóa tập huấn về sử dụng các phần mềm hỗ trợ soạn giảng theo định hướng E-learning nhằm nâng cao năng lực sử dụng công nghệ thông tin và truyền thông cho đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục, giáo viên và học sinh; triển khai các phương pháp dạy học tiên tiến: dạy học tương tác trên môi trường Internet, dạy học E-learning, sử dụng các phần mềm tạo bài giảng trực truyến đơn giản dễ dùng như Adobe Presenter, i-Spring và Articulate. Tích cực tham gia các cuộc thi về ứng dụng công nghệ thông tin và truyền thông trong dạy và học như cuộc thi “Thiết kế hồ sơ bài giảng E-learning”, cuộc thi “Giáo viên sáng tạo trên nền tảng công nghệ thông tin”, vv… do Bộ Giáo dục và Đào tạo tổ chức.
- Về các hoạt động ngoại khóa, hướng nghiệp và giáo dục ngoài giờ lên lớp
Các trường cũng rất chú trọng đến việc rèn luyện văn thể mỹ, đạo đức, ý thức, lý tưởng, hoài bão cho học sinh qua các hoạt động ngoại khóa, hướng nghiệp, ngoài giờ lên lớp, sinh hoạt dã ngoại, vv… giúp các em phát triển toàn diện về năng lực, trí lực, thể lực.
Hoạt động giáo dục hướng nghiệp cho học sinh được thực hiện theo chương trình giáo dục phổ thông ban hành theo Quyết định số 16/QĐ-BGDĐT ngày 05 tháng 5 năm 2006 và các văn bản hướng dẫn hiện hành của Bộ GDĐT với thời lượng 9 tiết/năm học ở 3 chủ đề: (1) Chủ đề tháng 9: Thanh niên với học tập, rèn luyện vì sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; (2) Chủ đề tháng 12: Thanh niên với xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; (3) Chủ đề tháng 3: Thanh niên với vấn đề lập nghiệp.
Một số trường tham mưu với cấp ủy, chính quyền địa phương huy động các doanh nghiệp, các lực lượng kinh tế – xã hội, các trường đại học, cao đẳng, vv… tham gia vào quá trình giáo dục hướng nghiệp cho học sinh.
Hoạt động giáo dục ngoài giờ lên lớp (GDNGLL) được thực hiện tích hợp lồng ghép một số nội dung theo văn bản số 3092/GDĐT-TrH ngày 04/09/2014 của Sở GDĐT và theo 9 chủ điểm quy định trong năm học được bố trí 2 tiết/tháng trong giờ chính khoá. Giáo viên chủ nhiệm là người hướng dẫn, cố vấn cho học sinh chủ động tổ chức và điều hành các hoạt động trong quá trình thực hiện GDNGLL.
Nhiều trường đã tổ chức các hoạt động ngoại khóa cho học sinh với các nội dung và hình thức sinh động, thiết thực như:
Trường THPT Việt Úc tổ chức cho học sinh nghe ông George F. Smoot giải NOBEL Vật lí 2006 nói chuyện tại Đại học Quốc tế – Đại học Quốc gia TP.HCM; giao lưu với Đại Sứ Quán Newzealand tại cơ sở 3 tháng 2; tham quan Nhà máy Nhiệt điện tại Bà Rịa.
Trường THPT Việt Mỹ Anh tổ chức cho học sinh tham quan Xí nghiệp Gốm sứ; khu bảo tồn Làng tre… tại Bình Dương.
Trường THPT Việt Mỹ tổ chức cho học sinh tham quan và học tập tại xưởng sản xuất kẹo, cơ sở nuôi ong tại Bến Tre.
Trường THPT Việt Âu tổ chức cho học sinh ngoại khóa tại Nha Trang, tham quan khu di tích lịch sử đền Bến Dược tại Củ Chi.
Trường THPT Văn Lang tổ chức cho học sinh tham quan học tập ngoại khóa ở Nông trường cao su bến Cũi, Tòa thánh Tây Ninh và Khu di tích Trung ương Cục miền Nam, vv…
Mời bạn tham khảo thêm:
3.2.2.5. Kết quả các mặt giáo dục ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
- Những kết quả đạt được:
Giáo dục tại các trường trung học phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh đã góp phần tạo nên những thành tựu chung của giáo dục – đào tạo Thành phố. Đánh giá chung về những thành tựu của giáo dục – đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh thời gian qua, Báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ Thành phố đã nhận định: Giáo dục – đào tạo có chuyển biến tích cực; đẩy mạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực.
Ngân sách đầu tư vào giáo dục – đào tạo tăng hàng năm, phát triển cơ sở vật chất theo quy hoạch, khang trang, từng bước hiện đại; chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ở các ngành học, bậc học; đổi mới phương pháp giảng dạy, coi trọng giáo dục nhân cách, lối sống, đạo đức, lý tưởng cho học sinh; xã hội hóa giáo dục – đào tạo đạt kết quả tích cực; hệ thống giáo dục – đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào việc đào tạo nhân lực; công tác quản lý giáo dục – đào tạo đổi mới tích cực, đạt hiệu quả; phát huy vai trò của gia đình phối hợp với nhà trường, xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ; chất lượng dạy và học được nâng cao, là cơ sở để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo Thành phố”.
- Về phát triển trường lớp:
Kể từ năm 1996 đến nay, các trường được thành lập đều đặn trung bình mỗi năm có từ 3 đến 5 trường mới. Năm học 2004-2005, Sở Giáo dục và Đào tạo quản lý 36 trường phổ thông ngoài công lập, trong đó có 29 trường dân lập và 07 trường tư thục với tổng số học sinh là 22.735, trong đó học sinh có hộ khẩu ngoài thành phố là 12.467. Các trường phổ thông ngoài công lập chủ yếu tập trung tại các quận nội thành và các quận vùng ven.
Giai đoạn từ năm học 2005-2006 đến năm học 2009-2010, tiếp tục thực hiện chính sách xã hội hóa giáo dục và đáp ứng nhu cầu học tập của học sinh thành phố cũng như số lượng học sinh từ các tỉnh khác về theo học ngày càng nhiều, số lượng trường phổ thông ngoài công lập phát triển ngày càng nhanh về số lượng và chất lượng. Trong giai đoạn này, theo quy định của Điều lệ trường phổ thông, các trường phổ thông dân lập đã thực hiện thủ tục chuyển đổi loại hình từ dân lập sang tư thục nên số lượng trường phổ thông dân lập giảm dần, số lượng trường phổ thông tư thục thành lập mới tăng trung bình mỗi năm từ 4 đến 5 trường. Đây là thời kỳ số lượng học sinh ngoài công lập (kể cả học sinh từ các địa phương khác về thành phố học) tăng nhanh nhất kể từ năm 2005 đến nay. Vì vậy, tổng số trường phổ thông tư thục được thành lập mới trong giai đoạn này là 41 trường đã hoàn toàn đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh. Số lượng các trường phổ thông ngoài công lập tăng nhanh nhất trong 3 năm: 2009 thành lập 10 trường, năm 2010 thành lập 15 trường, năm 2011 thành lập 12 trường.
Đến cuối năm học 2009 – 2010, số lượng trường phổ thông ngoài công lập trên địa bàn thành phố là 73 trường, trong đó có 11 trường dân lập và 62 trường tư thục. Tổng số học sinh là 33.730, trong đó học sinh có hộ khẩu ngoài thành phố là 16.267 học sinh.
– Về kết quả học tập:
Kết quả học tập của học sinh THPT tư thục có thể thấy qua sự phát triển theo các giai đoạn như sau: Năm học 2005 – 2006, số học sinh xếp loại giỏi: 3.222 học sinh (đạt 14,2%); loại khá: 8.531 học sinh (đạt 37,5%); trung bình: 9.960 học sinh (đạt 43,8%); yếu, kém: 1.022 học sinh (đạt 4,5%); tỷ lệ đậu tốt nghiệp phổ thông trung học trên 95%, nhiều trường đạt 100%.
Năm học 2009 – 2010 số học sinh xếp loại giỏi: 4.871 học sinh (14,5%); loại khá: 14.176 học sinh (42,0%); trung bình: 14.353 học sinh (42,6%); yếu, kém: 330 học sinh (0,9%). Tỷ lệ học sinh đạt loại khá, giỏi tăng; tỷ lệ đậu tốt nghiệp phổ thông trung học tương đương giai đoạn trước.
Năm học 2013 – 2014 số học sinh xếp loại giỏi: 10.964 học sinh (27,1%); loại khá: 17.907 học sinh (44,2%); trung bình: 10.649 học sinh (26,3%); yếu, kém: 994 học sinh (2,4%). Nhiều trường có tỷ lệ tốt nghiệp phổ thông đạt 100% do các trường hết sức nỗ lực và có nhiều phương pháp tác động để không ngừng nâng cao chất lượng giảng dạy. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Nhìn chung, trong xu thế cạnh tranh để tồn tại, các trường THPT tư thục đang có nhiều biện pháp để nâng cao chất lượng giáo dục, đã có không ít trường tư thục có chất lượng dạy học nổi trội hơn hẳn các trường công lập như: Trường Tiểu học, THCS và THPT Ngô Thời Nhiệm; Trường Tiểu học, THCS và THPT Nguyễn Khuyến, v.v.
– Một số hạn chế, bất cập
Hạn chế, yếu kém lớn nhất của giáo dục – đào tạo Thành phố nói chung như Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ thành phố Hồ Chí Minh lần thứ X nhiệm kỳ 2015 – 2020 đã đánh giá: Chất lượng giáo dục – đào tạo chưa đáp ứng nhu cầu phát triển và hội nhập.Nội dung, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chưa gắn với thực tiễn, thực hành ít. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng về số lượng, chất lượng. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài công lập chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xây dựng xã hội học tập chưa thực chất, kết quả thấp [52].
Thể hiện của những khó khăn, bất cập này ở khối trường THPT tư thục cụ thể trên các mặt như:
Học sinh đầu vào thường là có học lực yếu kém, hạnh kiểm chưa ngoan; thường xuyên chuyển đến, chuyển đi trong năm học; không có động cơ học tập đúng đắn. Không ít học sinh do ảnh hưởng từ mạng thông tin và các tệ nạn bên ngoài nên còn một số biểu hiện tiêu cực trong lối sống, trong cách ứng xử với mọi người xung quanh và cả việc nhận thức về chuẩn mực đạo đức xã hội.
Số lượng giáo viên cơ hữu còn ít, đa số là thỉnh giảng thường xuyên thay đổi nên có nhiều khó khăn trong điều hành, chỉ đạo các hoạt động chuyên môn. Một số cán bộ quản lý, giáo viên còn ngán ngại trong việc thực hiện đổi mới, có tâm lý trông chờ sự hướng dẫn của cấp trên, còn duy trì cách quản lý, dạy dỗ bắt buộc, áp đặt một chiều theo lối cũ nặng về truyền thụ và đánh giá kiến thức, chưa chú trọng phát triển năng lực học sinh, làm hạn chế khả năng tích cực, chủ động của học sinh.
Một số phụ huynh lo công việc làm ăn, kinh doanh, ít quan tâm đến học sinh, không có thời gian để nhắc nhở, hướng dẫn các em trong học tập, trong cuộc sống thường nhật; có cả không ít trường hợp bất lực trong nuôi dạy con, phó mặc cho nhà trường.
3.2.2.6. Nhận xét về thực trạng giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
Những kết quả đạt được:
Mạng lưới trường lớp tư thục được phát triển phù hợp với tình hình địa phương đáp ứng được nhu cầu học tập của một bộ phận học sinh Thành phố và học sinh đến từ các tỉnh thành khác. Nhiều trường được xây mới theo hướng kiên cố hóa, chuẩn hóa. Cơ sở vật chất, trang thiết bị được đầu tư, tăng cường đồng bộ và hiện đại đáp ứng được nhu cầu dạy và học.
Việc tổ chức các hoạt động dạy học và giáo dục đảm bảo thực hiện theo các quy định của ngành. Kết quả học tập và rèn luyện các mặt ngày càng được nâng cao.
Đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, nhân viên cơ bản đủ, đúng chuẩn, tận tâm với nghề, có tinh thần trách nhiệm, năng động, sáng tạo, tích cực trong hoạt động dạy học và tham gia các phong trào thi đua; năng lực quản lý và giảng dạy không ngừng được nâng lên.
Nguyên nhân của những thành tựu trước hết là do sự ổn định về chính trị cùng với những thành tựu phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố tạo nền tảng cho sự phát triển giáo dục nói chung, giáo dục tư thục nói riêng. Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố đã sâu sát trong chỉ đạo, quản lý và tổ chức thực hiện các nhiệm vụ; triển khai thực hiện chương trình các môn học theo chuẩn kiến thức kĩ năng, đảm bảo tính linh hoạt, vừa sức, phù hợp với đối tượng học sinh và thực tiễn; triển khai thực hiện đổi mới phương pháp dạy học; tăng cường kiểm tra, giám sát hoạt động dạy học tại các trường tư thục. Đa số cán bộ quản lý, giáo viên tâm huyết, luôn nêu cao tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, phấn đấu hoàn thành nhiệm vụ. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Tuy nhiên, cũng còn một số hạn chế và yếu kém như:
- Chất lượng giáo dục nhìn chung từng bước được nâng lên nhưng chưa cao. Công tác giáo dục truyền thống, giáo dục đạo đức, lý tưởng chưa được chú trọng, vẫn còn không ít học sinh trung bình, yếu về phẩm chất, đạo đức, có nhiều biểu hiện vi phạm nội quy nhà trường, ham chơi, biếng học, thiếu trung thực trong thi cử, gây lộn, đánh
- Đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên tuyển từ nhiều nguồn khác nhau với trình độ chuyên môn không đồng đều, trình độ trên chuẩn chưa cao. Một số chưa mạnh dạn, tích cực đổi mới trong quản lý cũng như trong giảng dạy. Năng lực của đội ngũ cán bộ quản lý chưa ngang tầm với yêu cầu nhiệm vụ; công tác quản lý ở một số trường còn lỏng lẻo, chủ quan, hiệu quả chưa
- Cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học ở một số trường chưa đủ đáp ứng nhu cầu dạy học.
Nguyên nhân của những hạn chế, yếu kém:
- Nhận thức, tâm lý và hành động của một số cán bộ quản lý, giáo viên về đổi mới giáo dục chưa phù hợp với yêu cầu thực tiễn; chưa tích cực, chủ động trong tổ chức hoạt động nhằm thực hiện nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục nhà trường theo yêu cầu của Nghị quyết số 29-NQ/TW Hội nghị lần thứ tám Ban chấp hành Trung ương khóa
- Năng lực của một số cán bộ quản lý ở các trường không đủ đáp ứng với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay; trình độ, kỹ năng điều hành, quản lý còn hạn chế. Đa số làm việc dựa trên kinh nghiệm cá nhân, chưa chú trọng đến công tác dự báo, xây dựng chiến lược và kế hoạch hoạt động; phong cách làm việc còn lúng túng, một số cán bộ quản lý còn thiếu chủ động, chưa sáng tạo, trông chờ vào hướng dẫn của cấp trên, còn chậm trễ trong việc giải quyết các vấn đề ở cơ sở, chưa có sự linh hoạt, mạnh dạn trong quản lý, khả năng thuyết phục quần chúng còn hạn chế; phương pháp làm việc chưa thật sự đáp ứng yêu cầu của nhiệm vụ.
- Một số giáo viên còn tư tưởng làm thuê, thiếu tâm huyết, chưa đầu tư tốt cho các hoạt động dạy học và giáo dục; chưa thực sự cố gắng tu dưỡng, rèn luyện phẩm chất đạo đức và năng lực chuyên môn; kỹ năng sử dụng thiết bị, đồ dùng và ứng dụng công nghệ thông tin trong dạy học còn hạn chế; chậm đổi mới phương pháp dạy học dẫn đến chất lượng dạy học chưa
- Sự phối hợp giữa nhà trường, gia đình và xã hội chưa thực sự hiệu quả. Những tiêu cực, tệ nạn trong xã hội đang tác động mạnh mẽ đến nhận thức, lẽ sống của giới trẻ trong khi nhiều phụ huynh chưa nhận thức rõ tầm quan trọng của giáo dục, một số khác có hoàn cảnh khó khăn nên chưa thực sự quan tâm đến việc giáo dục con em. ( Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo )
Mặt khác, vì là trường tư thục nên kinh phí do Hội đồng quản trị cấp chủ yếu cho lương; kinh phí cho các hoạt động phong trào, khen thưởng rất hạn chế dẫn đến chưa khuyến khích được giáo viên và học sinh, chưa thúc đẩy hiệu quả các hoạt động thi đua dạy học; một số cơ chế, chính sách quản lý nhà nước nói chung đối với các trường tư thục cũng còn nhiều bất cập gây trở ngại không ít cho sự phát triển của các trường.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
