Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT

Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.

2.3. MỤC TIÊU, CHỦ THỂ, NỘI DUNG, PHƯƠNG THỨC QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC PHỔ THÔNG VÀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC

2.3.1. Mục tiêu của giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục

Mục tiêu của giáo dục và giáo dục trung học phổ thông tư thục gồm những nội dung chính sau:

  • Giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục phải phù hợp với hệ thống giáo dục phổ thông theo tinh thần Nghị quyết số 29-NQ/TW ngày 04 tháng 11 năm 2013 Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương khóa XI, Nghị quyết số 88/2014/QH13 ngày 28 tháng 11 năm 2014 của Quốc hội và tuyên bố của Tổ chức Giáo dục, Khoa học và Văn hóa của Liên hợp quốc: “Học để biết – Học để làm – Học để chung sống – Học để tự khẳng định mình”, góp phần tạo chuyển biến căn bản, toàn diện về chất lượng, hiệu quả giáo dục và phát triển con người Việt Nam toàn diện về đức, trí, thể, mỹ, hướng tới “công dân toàn cầu”.
  • Giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục phải coi trọng dạy người với dạy chữ, rèn luyện, phát triển cả về phẩm chất và năng lực; chú trọng giáo dục tinh thần yêu nước, lòng tự hào dân tộc, đạo đức, nhân cách, lối sống; phát hiện, bồi dưỡng năng khiếu và định hướng nghề nghiệp cho mỗi học sinh; tăng cường năng lực ngoại ngữ, tin học và các kỹ năng sống, làm việc trong điều kiện hội nhập quốc tế; đẩy mạnh ứng dụng, phát huy thành quả khoa học công nghệ thế giới, nhất là công nghệ giáo dục và công nghệ thông
  • Giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục, lấy học sinh làm trung tâm, phát huy tính chủ động, tích cực, sáng tạo, khả năng tự học của học sinh; tăng cường tính tương tác trong dạy và học giữa thầy với trò, trò với trò và giữa các thầy giáo, cô giáo.
  • Phát triển giáo dục, đào tạo phải hướng vào mục tiêu phát triển toàn diện con người, tạo lập đội ngũ nhân lực có trình độ chuyên môn cao, thể lực và đạo đức tốt, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh trong thời kỳ đẩy nhanh sự nghiệp CNH, HĐH và hội nhập khu vực, quốc tế; tập trung nâng cao chất lượng giáo dục và đào tạo; thường xuyên, kịp thời phát hiện, bồi dưỡng nhân tài; đáp ứng nhu cầu không ngừng học hỏi, trang bị, cập nhật và nâng cao kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp ngày càng cao của nhân dân. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )
  • Phát triển giáo dục, đào tạo gắn với phát triển kinh tế – xã hội và đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH của Thành phố theo hướng chuẩn hóa, tiên tiến và hiện đại phù hợp với yêu cầu hội nhập trong nước và quốc tế. Quy hoạch phát triển giáo dục, đào tạo mang tính chất động, cần kịp thời cập nhật, điều chỉnh, bổ sung quy hoạch đáp ứng những yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội trong từng thời kỳ.
  • Phát triển giáo dục, đào tạo có trọng tâm, trọng điểm: Giáo dục phổ thông là nền tảng; đào tạo nhân lực chất lượng cao là khâu đột phá; bồi dưỡng, đào tạo cán bộ, công chức là khâu cơ bản, có ý nghĩa quyết định đến sự phát triển nhanh, bền vững kinh tế-xã hội của Thành phố. Mở rộng và đẩy mạnh ứng dụng những thành tựu khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin để đổi mới phương pháp, công cụ dạy và học, đổi mới quản lý giáo dục, đào tạo.
  • Phát triển giáo dục, đào tạo là sự nghiệp của Đảng, Nhà nước và toàn dân để xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện cho mọi người, mọi lứa tuổi, mọi trình độ được tiếp cận tới hệ thống giáo dục, được học tập thường xuyên và học suốt đời. Thực hiện công bằng trong giáo dục, đào tạo, ưu tiên phát triển giáo dục những địa bàn khó khăn, tạo cơ hội để các nhóm dân cư nghèo được đi học và đào tạo. Đẩy mạnh XHH trong phát triển giáo dục, đào tạo. Đa dạng hoá và thực hiện lồng ghép các nguồn vốn đầu tư cho giáo dục đào tạo một cách có hiệu quả; khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư phát triển giáo dục – đào tạo, nhất là đào tạo nghề.
  • Phân bố và phát triển hệ thống, mạng lưới các cơ sở giáo dục, đào tạo trên cơ sở kế thừa và phát huy những thành quả của hệ thống, mạng lưới các cơ sở giáo dục, đào tạo hiện có, thiết thực và hiệu quả; đồng thời phải phù hợp với phân bố dân cư và kinh tế trong Thành phố để tạo mọi điều kiện thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp, tổ chức tiếp cận các cơ sở giáo dục và đào tạo.
  • Tăng cường, mở rộng hợp tác, liên kết trong nước và quốc tế để phát triển giáo dục, đào tạo, nhất là các mô hình giáo dục, đào tạo trình độ và chất lượng cao. Liên kết chặt chẽ quy hoạch phát triển giáo dục, đào tạo của Thành phố với Quy hoạch hệ thống mạng lưới đào tạo chung của vùng Đông Nam Bộ, vùng KTTĐ phía Nam và của cả nước.

2.3.2. Chủ thể và đối tượng quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

  • Chủ thể quản lý

Theo Luật Giáo dục 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi 2009, Điều 100 quy định cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục:

  • Chính phủ thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục. Chính phủ trình Quốc hội trước khi quyết định những chủ trương lớn có ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ học tập của công dân trong phạm vi cả nước, những chủ trương về cải cách nội dung chương trình của một cấp học; hằng năm báo cáo Quốc hội về hoạt động giáo dục và việc thực hiện ngân sách giáo dục;
  • Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục;
  • Bộ, cơ quan ngang bộ phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo thẩm quyền;
  • Uỷ ban nhân dân các cấp thực hiện quản lý nhà nước về giáo dục theo sự phân cấp của Chính phủ và có trách nhiệm bảo đảm các điều kiện về đội ngũ nhà giáo, tài chính, cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của các trường công lập thuộc phạm vi quản lý, đáp ứng yêu cầu mở rộng quy mô, nâng cao chất lượng và hiệu quả giáo dục tại địa phương.

Nghị định số 115/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 và Nghị định 127/2018/NĐ- CP, ngày 21/9/2018 (có hiệu lực thi hành từ ngày 15 tháng 11 năm 2018) của Chính phủ quy định trách hiệm quản lý nhà nước về giáo dục như sau:

  • Về nguyên tắc quy định trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục
  1. Bảo đảm tính thống nhất, thông suốt và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục.
  2. Bảo đảm tương ứng giữa nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm với nguồn lực tài chính, nhân sự và các điều kiện cần thiết khác để thực hiện nhiệm vụ được
  3. Phân công, phân cấp và xác định cụ thể nhiệm vụ, thẩm quyền, trách nhiệm về lĩnh vực giáo dục của các Bộ, UBND các cấp và các cơ quan có liên quan, đồng thời phát huy cao nhất tính chủ động, sáng tạo của cơ quan quản lý giáo dục các cấp trong việc thực hiện chức trách và nhiệm vụ được
  • Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Bộ Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm trước Chính phủ về quản lý nhà nước về giáo dục theo quy định của Luật Giáo dục năm 2005, Luật sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Giáo dục năm 2009 và Nghị định của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Nghị định này và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của các Bộ

Các Bộ có trách nhiệm thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn quản lý nhà nước quy định tại Nghị định của Chính phủ về chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Bộ; đồng thời phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo bảo đảm thống nhất quản lý nhà nước về giáo dục. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Đối với các Bộ có cơ sở giáo dục trực thuộc có trách nhiệm :

  1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch dài hạn, năm năm và hàng năm về đào tạo, phát triển nhân lực của ngành, lĩnh vực thuộc thẩm quyền quản lý, phù hợp với chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển nhân lực quốc gia, đáp ứng yêu cầu nhân lực của ngành và của xã hội;
  2. Phối hợp với Bộ Giáo dục và Đào tạo trong việc quy định cụ thể việc đào tạo, quy định văn bằng công nhận trình độ kỹ năng thực hành, ứng dụng cho những người được đào tạo chuyên sâu sau khi tốt nghiệp đại học ở một số ngành chuyên môn đặc biệt; xây dựng chương trình khung đào tạo trình độ trung cấp chuyên nghiệp;
  3. Chỉ đạo, kiểm tra các cơ sở giáo dục đại học, trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc Bộ trong việc bảo đảm các điều kiện về thành lập trường, hoạt động giáo dục, mở ngành đào tạo; thực hiện quy chế tuyển sinh, đào tạo, liên kết đào tạo; quản lý, cấp phát văn bằng, chứng chỉ; thu, chi học phí, công khai chất lượng giáo dục, công khai các điều kiện bảo đảm chất lượng giáo dục; công khai tài chính; việc đào tạo gắn với nhu cầu xã hội; xây dựng quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, thực hiện chính sách với nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục theo quy định của pháp luật;
  4. Quyết định mở ngành đào tạo đối với các trường trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc Bộ, các trường trung cấp chuyên nghiệp trực thuộc các doanh nghiệp do Bộ thực hiện một số quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu đối với doanh nghiệp đó theo quy định của pháp luật;. v.

– Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp tỉnh

UBND cấp tỉnh chịu trách nhiệm trước Chính phủ về phát triển giáo dục, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn tỉnh.

Nghị định 115/2010/NĐ-CP, ngày 24/12/2010 của Chính phủ quy định Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có 15 nội dung quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo trên địa bàn cấp tỉnh. Ví dụ: Xây dựng và trình hội đồng nhân dân cấp tỉnh quyết định quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục trên địa bàn; chỉ đạo, hướng dẫn, kiểm tra và tổ chức thực hiện quy hoạch, kế hoạch, chương trình, dự án, chính sách phát triển giáo dục sau khi đã được cấp có thẩm quyền phê duyệt. Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật về giáo dục; ban hành các chính sách của địa phương để phát triển giáo dục trên địa bàn. Bảo đảm chất lượng giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục thường xuyên và giáo dục trung cấp chuyên nghiệp do địa phương quản lý; giám sát việc bảo đảm chất lượng giáo dục của các cơ sở giáo dục cao đẳng, đại học và trung cấp chuyên nghiệp khác theo quy định của pháp luật; chỉ đạo và tổ chức thực hiện phổ cập giáo dục, chống mù chữ và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn..v.v. [Điều 6].

Trách nhiệm của Sở Giáo dục và Đào tạo Sở Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tham mưu, giúp UBND cấp tỉnh thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục. Sở giáo dục và Đào tạo có 12 nhiệm vụ.

Ví dụ: Hướng dẫn, tổ chức thực hiện công tác xã hội hóa giáo dục, huy động các nguồn lực để phát triển giáo dục; ban hành các quy định để bảo đảm quyền tự chủ, nghĩa vụ tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục trực thuộc; quản lý tài chính, tài sản, cơ sở vật chất được giao theo quy định của pháp luật. Thực hiện cải cách hành chính, thực hành tiết kiệm, phòng chống tham nhũng, lãng phí, công tác thanh tra, kiểm tra, giải quyết khiếu nại, tố cáo, kiến nghị có liên quan đến giáo dục, xử lý vi phạm theo quy định của pháp luật. Giúp UBND cấp tỉnh quản lý các cơ sở giáo dục trực thuộc, gồm: trường cao đẳng, trường trung cấp chuyên nghiệp (không bao gồm các trường cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp công lập của các Bộ đóng trên địa bàn), trường cán bộ quản lý giáo dục tỉnh (nếu có), trường trung học phổ thông, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó có cấp trung học phổ thông), trung tâm giáo dục thường xuyên, trung tâm ngoại ngữ, tin học, trung tâm giáo dục – hướng nghiệp; trường phổ thông dân tộc nội trú, trường phổ thông dân tộc bán trú và các cơ sở giáo dục trực thuộc khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp tỉnh.

– Trách nhiệm quản lý nhà nước về giáo dục của UBND cấp huyện

UBND cấp huyện có trách nhiệm thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện; chịu trách nhiệm trước UBND cấp tỉnh về phát triển giáo dục mầm non, tiểu học, trung học cơ sở và xây dựng xã hội học tập trên địa bàn huyện. Cấp huyện có 10 nhiệm vụ trong QLNN về giáo dục đào tạo.

Ví dụ: Quyết định thành lập (đối với các trường công lập), cho phép thành lập (đối với các trường ngoài công lập), sáp nhập, chia, tách, đình chỉ hoạt động, giải thể (bao gồm cả các cơ sở giáo dục có sự tham gia đầu tư của các tổ chức, cá nhân nước ngoài) đối với các cơ sở giáo dục mầm non, trường tiểu học, trung học cơ sở, trường phổ thông có nhiều cấp học (trong đó không có cấp học trung học phổ thông), trung tâm học tập cộng đồng và các cơ sở giáo dục khác (nếu có) thuộc thẩm quyền quản lý của UBND cấp huyện [Điều 6].

– Trách nhiệm của Phòng Giáo dục và Đào tạo

Phòng Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm tham mưu giúp UBND cấp huyện thực hiện chức năng quản lý nhà nước về giáo dục trên địa bàn huyện. Cấp huyện thực hiện 6 nhiệm vụ quản lý nhà nước về giáo dục đào tạo trên địa bàn huyện. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Ngày 28 tháng 3 năm 2011, Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Thông tư số 13/2011 về Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục; theo đó: Trường phổ thông tư thục chịu sự quản lý nhà nước của Ủy ban nhân dân các cấp theo quy định của Luật Giáo dục và các quy định có liên quan khác; chịu sự quản lý trực tiếp của phòng giáo dục và đào tạo đối với trường tiểu học, trường trung học cơ sở và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học cơ sở, của sở giáo dục và đào tạo đối với trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học có cấp học cao nhất là trung học phổ thông.

  • Đối tượng quản lý

Đối tượng quản lý nhà nước về giáo dục, giáo dục trung học phổ thông tư thục:

  • Hệ thống trường phổ thông tư thục được thành lập và hoạt động theo quy định của pháp luật.
  • Các tổ chức tham gia vào thành lập và hoạt động trường phổ thông tư thục theo quy định của pháp luật.
  • Cá nhân tham gia vào thành lập và hoạt động trường phổ thông tư thục theo quan điểm xã hội hóa giáo dục và thể

Tóm lại: chủ thể QLNN về GD – ĐT là Nhà nước với hệ thống các cơ quan quyền lực mà trực tiếp là Chính phủ và hệ thống bộ máy QLNN về GD – ĐT từ trung ương (Chính phủ, Bộ GD & ĐT và các Bộ – ngành chức năng liên quan) đến địa phương, bao gồm: UBND cấp tỉnh, Sở Giáo dục và Đào tạo; UBND cấp huyện, Phòng Giáo dục và Đào tạo; UBND cấp xã – phường – thị trấn.

Khách thể của QLNN về GD – ĐT là hệ thống các cơ sở GD – ĐT và những người tham gia vào quá trình GD – ĐT.

Có thể bạn quan tâm:

BẢNG GIÁ DỊCH VỤ VIẾT THUÊ LUẬN VĂN THẠC SĨ

2.3.3. Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục và giáo dục trung học phổ thông tư thục

Nội dung quản lý nhà nước về giáo dục, trong đó có quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục được quy định cụ thể trong Luật Giáo dục 2005 (Điều 99) và Luật Giáo dục sửa đổi 2009. Tuy nhiên, do đặc thù của giáo dục phổ thông tư thục, tác giả tập trung vào một số nội dung cơ bản sau, gắn với hoạt động giáo dục phổ thông tư thục nói chung và giáo dục trung học phổ thông tư thục nói riêng. Cụ thể là:

Xây dựng và thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch phát triển giáo dục trong đó có giáp dục trung học phổ thông tư thục

Giáo dục nước ta trong thập kỷ tới phát triển trong bối cảnh thế giới có nhiều thay đổi nhanh và phức tạp. Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế về giáo dục đã trở thành xu thế tất yếu. Cách mạng khoa học công nghệ, công nghệ thông tin và truyền thông, kinh tế tri thức ngày càng phát triển mạnh mẽ, tác động trực tiếp đến sự phát triển của các nền giáo dục trên thế giới. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Để có thể phát triển giáo dục trung học phổ thông tư thục, trước tiên, cần có một lộ trình, một kế hoạch phát triển với những mục tiêu cụ thể, rõ ràng. Điều này khẳng định vai trò của Nhà nước trong việc xây dựng một tầm nhìn thông qua việc xây dựng và thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch cho giáo dục trung học phổ thông tư thục.

Lộ trình trong tương lai được hoạch định ra là chiến lược, các quy hoạch, kế hoạch sẽ cụ thể hóa các chiến lược đó vào thực tiễn, trên cơ sở sự cân đối giữa thực trạng và mong muốn trong thời gian tới, sự hài hòa giữa các mục tiêu của ngàn giáo dục với các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội với khả năng đáp ứng của hệ thống quản lý.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội 2011 – 2020 đã khẳng định phấn đấu đến năm 2020 nước ta cơ bản trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại; chính trị

– xã hội ổn định, dân chủ, kỷ cương, đồng thuận; đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt; độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ được giữ vững; vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế tiếp tục được nâng cao; tạo tiền đề vững chắc để phát triển cao hơn trong giai đoạn sau.

Chiến lược cũng đã xác định rõ một trong ba đột phá là phát triển nhanh nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao, tập trung vào việc đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân, gắn kết chặt chẽ phát triển nguồn nhân lực với phát triển và ứng dụng khoa học, công nghệ. Sự phát triển của đất nước trong giai đoạn mới sẽ tạo ra nhiều cơ hội và thuận lợi to lớn, đồng thời cũng phát sinh nhiều thách thức đối với sự nghiệp phát triển giáo dục.

Chiến lược phát triển giáo dục đến năm 2020, tỷ lệ đi học đúng tuổi ở tiểu học là 99%, trung học cơ sở là 95% và 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ học vấn trung học phổ thông và tương đương; có 70% trẻ em khuyết tật được đi học.

Để đạt được các mục tiêu trên thì việc xây dựng chiến lược, qui hoạch, kế hoạch phát triển giáo dục trong đó có giáp dục trung học phổ thông tư thục cần phải đi trước một bước. Hội nhập quốc tế sâu, rộng về giáo dục trên cơ sở bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc, giữ vững độc lập, tự chủ, định hướng xã hội chủ nghĩa. Mở rộng giao lưu hợp tác với các nền giáo dục trên thế giới, nhất là với các nền giáo dục tiên tiến hiện đại; phát hiện và khai thác kịp thời các cơ hội thu hút nguồn lực có chất lượng.

  • Xây dựng thể chế và chính sách quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục

Xây dựng và thực hiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách về giáo dục trung học phổ thông tư thục là hành lang pháp lý cho hoạt động quản lý nhà nước và các chủ thể trong đó vận hành. Chính vì thế, pháp luật, chính sách là những công cụ quản lý cơ bản thể hiện ý chí của Nhà nước trong quản lý giáo dục trung học phổ thông tư thục. Là những quy định, chuẩn mực thể hiện sự ưu tiên, tác động, những hỗ trợ tích cực từ phía Nhà nước cho việc dạy và học của thầy trò trong các trường tư thục nói riêng. Hệ thống pháp luật, chính sách về giáo dục trung học phổ thông tư thục cần phải được đảm bảo tính hệ thống và tính hiệu quả trong cả hai khâu xây dựng, ban hành và tổ chức thực hiện.

Hệ thống thể chế và chính sách của nhà nước ban hành làm cơ sở cho quản lý nhà nước đối với giáo dục trung học phổ thông tư thuc phải tthể hiện được sự thống nhất quản lý của nhà nước đối với các cơ sở giáo dục trung học phổ thông tư thục phù hợp với cơ chế thị trường theo định hướng XHCN để hoạt động của hệ thống GD – ĐT ngày càng có chất lượng, hiệu quả hơn;

Thể chế, chính sách quy định mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục; tiêu chuẩn nhà giáo, cơ sở vật chất và thiết bị trường học; việc biên soạn, xuất bản, in và phát hành sách giáo khoa, giáo trình; quy chế thi và cấp văn bằng, chứng chỉ đối với giáo dục đào tạo nói chung và đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục nói riêng.

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật và chính sách cho giáo dục trung học phổ thông tư thục phải trên cơ sở nhận thức về đổi mới hoạt động cung cấp DVC, chuyển từ việc Nhà nước là người duy nhất cung cấp DVC trong cơ chế tập trung, bao cấp sang tư duy là những ai có thể thực hiện hoạt động cung cấp DVC thì Nhà nước sẽ động viên, khuyến khích, hỗ trợ và tạo điều kiện cho họ tham gia cung cấp DVC đó, nhằm huy động và phát huy một cách tốt nhất mọi nguồn lực xã hội tham gia vào giáo dục – đào tạo. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

  • Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục

Tổ chức bộ máy quản lý giáo dục trung học phổ thông tư thục có một vai trò quan trọng trong việc hiện thực hóa các mục tiêu, nhiệm vụ trong chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, xây dựng và thực hiện các chính sách, pháp luật về giáo dục trung học phổ thông tư thục. Bộ máy quản lý nhà nước trong lĩnh vực này cần được tổ chức và hoàn thiện. Trên cơ sở xác định rõ trách nhiệm, nhiệm vụ, quyền hạn của từng cấp, từng cơ quan quản lý nhà nước, các chủ thể dễ dàng, thuận lợi trong việc quản lý cũng như phối hợp với nhau để đạt được hiệu quả cao nhất.

Do đặc điểm của giáo dục trung học phổ thông tư thục, vai trò của Nhà nước là chính yếu, không chỉ là định hướng, điều tiết mà còn kiêm cả cung cấp dịch vụ giáo dục, cho nên bộ máy quản lý nhà nước phải đảm nhiệm khối lượng công việc lớn, cần sự kiểm soát chặt chẽ, sự thống nhất, phối hợp nhịp nhàng giữa các cấp quản lý Bộ – Sở – Phòng, giữa UBND các cấp tại các địa phương, giữa bộ phận phụ trách công tác giáo dục tư thục với các cơ quan quản lý ngành giáo dục. QLNN đối với lĩnh vực giáo dục tư thục phải trên cơ sở nhận thức: phát triển và đa dạng hóa các thành phần cung ứng dịch vụ giáo dục, tăng cường yếu tố cạnh tranh trong hệ thống là một trong những động lực phát triển giáo dục. Thay đổi phương thức quản lý trên cơ sở:

  • Đề cao vai trò Nhà nước gắn với trách nhiệm quản lý, thực hiện tốt chức năng quản lý vĩ mô, tập trung vào việc “cầm lái” thay vì “vừa cầm lái, vừa chèo thuyền”. Đưa cơ chế cạnh tranh vào hoạt động của các cơ sở giáo dục, đặt giáo dục NCL trong sự chi phối nhất định của yếu tố thị trường.
  • Phân cấp quản lý; trường tư thục được giao quyền tự chủ nhiều hơn, chịu sự giám sát và chi phối của 2 khu vực: Nhà nước, thị trường với vai trò là đối tác của Nhà nước và đối trọng của thị trường.

Bộ máy QLNN cần những người quản lý mẫn cán, có năng lực và có tính chuyên nghiệp, công bằng. Minh bạch hóa gắn với trách nhiệm giải trình; có sự giám sát, đánh giá vừa của Nhà nước và cả xã hội để hệ thống các cơ sở giáo dục tư thục trở thành một lĩnh vực đầu tư thực sự hiệu quả, phù hợp với thực tiễn.

Quản lý, đào tạo, bồi dưỡng giáo viên trung học phổ thông tư thục và cán bộ, công chức quản lý giáo dục trung học phổ thông tư thục có vai trò quan trọng. Yếu tố con người luôn luôn quan trọng trong quản lý. Để giáo dục trung học phổ thông tư thục phát triển, cả đội ngũ giáo viên và cán bộ, công chức quản lý giáo dục đều cần có năng lực tốt trong thực thi công việc. Điều này cần được chuẩn hóa đội ngũ giáo viên và cán bộ công chức quản lý giáo dục ngay từ khâu tuyển dụng, sử dụng, đào tạo, bồi dưỡng,… để thích ứng tốt với bối cảnh xã hội và yêu cầu quản lý ngày càng thay đổi, nhất là bài toán về sự mất cân bằng giữa tình trạng thiếu về số lượng, yếu về chất lượng của đội ngũ giáo viên trung học phổ thông tư thục hiện nay.

  • Đầu tư các nguồn lực trong quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục

Quản lý, sử dụng các nguồn lực để phát triển sự nghiệp giáo dục trung học phổ thông tư thục là nội dung chủ yếu nhằm bảo đảm cho giáo dục loại hình này hình thành, tồn tại và phát triển. Nguồn lực từ công tác xã hội hóa giáo dục có vai trò chính trong giáo dục trung học phổ thông tư thục, góp phần không nhỏ vào việc thực hiện những mục tiêu giáo dục phổ thông nơi đây. Bên cạnh đó, giáo dục trung học phổ thông tư thục còn nhận được sự hỗ trợ lớn từ nguồn ngân sách quốc gia và ngân sách địa phương.

Tuy nhiên, để nguồn lực này phục vụ đắc lực và hiệu quả cho việc dạy và học của thầy trò cần tuân theo quy định của nhà nước về quản lý tài chính công, tránh lãng phí, thất thoát, sai mục đích nhằm bảo đảm tính linh hoạt, phù hợp với điều kiện thực tế địa phương. Hơn nữa, cần có những cải cách, điều chỉnh tích cực từ phía chính quyền để thu hút ngày càng nhiều các nguồn tài trợ từ các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước.

  • Nhà nước khuyến khích, tạo điều kiện cho tổ chức, cá nhân đầu tư, đóng góp trí tuệ, công sức, tiền của cho giáo dục.
  • Các khoản đầu tư, đóng góp, tài trợ của doanh nghiệp cho giáo dục và các chi phí của doanh nghiệp để mở trường, lớp đào tạo tại doanh nghiệp, phối hợp đào tạo với cơ sở giáo dục, cử người đi đào tạo, tiếp thu công nghệ mới phục vụ cho nhu cầu của doanh nghiệp là các khoản chi phí hợp lý, được trừ khi tính thu nhập chịu thuế.
  • Các khoản đóng góp, tài trợ của cá nhân cho giáo dục tư thục được xem xét để miễn, giảm thuế thu nhập đối với người có thu nhập cao theo quy định của Chính phủ.
  • Tổ chức, cá nhân đầu tư xây dựng công trình phục vụ cho giáo dục; đóng góp, tài trợ, ủng hộ tiền hoặc hiện vật để phát triển sự nghiệp giáo dục được xem xét để ghi nhận bằng hình thức thích hợp.
  • Kiểm định chất lượng giáo dục, tổng kết, đánh giá xây dựng mô hình quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục

Chất lượng giáo dục luôn là vấn đề quan tâm không chỉ của các nhà quản lý mà của toàn xã hội. Đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục, đảm bảo chất lượng giáo dục như thế nào, kiểm định chất lượng giáo dục ra sao để hoạt động này đi vào thực chất, giúp các cơ quan quản lý và các cơ sở đào tạo nhìn nhận, đánh giá đúng thực trạng để có những giải pháp nâng cao. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Cơ quan, tổ chức có thẩm quyền kiểm định chất lượng chương trình đào tạo và cơ sở giáo dục phổ thông tư thục là cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam hoặc cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục nước ngoài được Bộ Giáo dục và Đào tạo hoặc Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội công nhận.

Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo, Bộ trưởng Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội quy định cụ thể tiêu chí, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục; nhiệm vụ, trách nhiệm và quyền hạn của cơ quan, tổ chức kiểm định chất lượng giáo dục Việt Nam đối với kiểm định chất lượng chương trình giáo dục phổ thông tư thục.

Trong quá trình hoạt động, cơ sở giáo dục tư thục chịu trách nhiệm về chất lượng hoạt động giáo dục, định kỳ triển khai hoạt động tự đánh giá và kiểm định chất lượng giáo dục rheo quy định của pháp luật Việt Nam hoặc nước ngoài.

Song, bên cạnh đó, chất lượng giáo dục trung học phổ thông tư thục cũng đòi hỏi khâu quản lý phải rất thận trọng, linh hoạt, mềm dẻo trên cơ sở tìm hiểu kĩ các đặc thù của giáo dục trung học phổ thông tư thục để tránh những sai lầm đáng tiếc.

  • Thanh tra, kiểm tra trong quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục

Thanh tra, kiểm tra và xử lý các hành vi vi phạm pháp luật về giáo dục trung học phổ thông tư thục được coi là một trong những hoạt động quan trọng không thể thiếu trong quản lý. Thanh tra, kiểm tra và xử lý các vi phạm pháp luật về giáo dục trung học phổ thông tư thục hướng tới hai mục đích chính. Một là, thanh tra, kiểm tra giúp cơ quan quản lý nhà nước có cơ sở đánh giá về sự phù hợp, hiệu quả của những chính sách, biện pháp quản lý, của hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục của hệ thống cơ quan quản lý, của các địa phương, từ đó có những giải pháp hoàn thiện hay điều chỉnh cho phù hợp. Hai là, giúp phát hiện những điển hình tiên tiến để biểu dương, khen thưởng, học tập kinh nghiệm cũng như những sai phạm để kịp thời xử lý, răn đe, hạn chế thiệt hại, nhanh chóng khắc phục hậu quả.

Thanh tra giáo trung học phổ thông tư thục thực hiện quyền thanh tra trong phạm vi quản lý nhà nước về giáo dục nhằm bảo đảm việc thi hành pháp luật, phát huy nhân tố tích cực, phòng ngừa và xử lý vi phạm, bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân trong lĩnh vực giáo dục. Thanh tra chuyên ngành về giáo dục trung học phổ thông tư thục có những nhiệm vụ:

+ Thanh tra việc thực hiện chính sách và pháp luật về giáo dục;

+ Thanh tra việc thực hiện mục tiêu, kế hoạch, chương trình,  nội dung, phương pháp giáo dục; quy chế chuyên môn, quy chế thi cử, cấp văn bằng, chứng chỉ; việc thực hiện các quy định về điều kiện cần thiết bảo đảm chất lượng giáo dục ở cơ sở giáo dục;

+ Thực hiện nhiệm vụ giải quyết khiếu nại, tố cáo trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo;

+ Xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

+ Thực hiện nhiệm vụ phòng ngừa và đấu tranh chống tham nhũng trong lĩnh vực giáo dục theo quy định của pháp luật về chống tham nhũng.

Mời bạn tham khảo thêm:

→  Danh mục tài liệu Luận văn Thạc Sĩ

2.3.4. Phương thức quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

  • Quản lý bằng công cụ pháp luật, chính sách

Trong quá trình phát triển lịch sử nhân loại, cùng với Nhà nước, pháp luật ra đời nhằm điều chỉnh các mối quan hệ xã hội, pháp luật là phương tiện, công cụ quan trọng để duy trì, bảo vệ trật tự xã hội, tạo điều kiện và định hướng cho sự phát triển xã hội. Bên cạnh tập quán, đạo đức, tín điều tôn giáo, các quy định của tổ chức xã hội, dư luận xã hội, các quy ước của cộng đồng dân cư thì pháp luật là công cụ quản lý xã hội chủ yếu của Nhà nước, giữa Nhà nước và pháp luật luôn có mối quan hệ qua lại, tác động tương hỗ lẫn nhau.

Từ khi xuất hiện, pháp luật luôn gắn với giai cấp cầm quyền. Đối với xã hội có phân chia và đối kháng giai cấp, mọi hoạt động của đời sống xã hội được đưa vào trong khuôn khổ pháp luật nhằm mang lại lợi ích cho giai cấp thống trị. Trên thực tế, pháp luật của những Nhà nước gắn với giai cấp tiên tiến của thời đại thì thường phù hợp với xu hướng phát triển tiến bộ, vì nó bao hàm những chuẩn mực, những quy định nhằm bảo vệ lợi ích chân chính và phẩm giá con người.

Do đó, xã hội phải được quản lý bằng pháp luật, trên phương diện lý luận cũng như thực tiễn, pháp luật luôn có vai trò bảo vệ các giá trị chân chính, bảo vệ các quyền lợi chính đáng của con người, đồng thời, tạo điều kiện cho con người phát huy những năng lực thực tiễn của mình. Việc thực thi pháp luật cũng đồng nghĩa với việc đảm bảo trên thực tế các quyền thiêng liêng của con người, sự tôn trọng các giá trị xã hội. Một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh, thể hiện đúng đắn ý chí và nguyện vọng của số đông, phù hợp với xu thế vận động của lịch sử sẽ góp phần thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội.

Hiện nay, Nhà nước quản lý các hoạt động của đời sống xã hội bằng Hiến pháp, Bộ luật, luật và các văn bản quy phạm pháp luật khác. Trong công tác quản lý nhà nước đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục hiện nay, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền sử dụng như: Hiến pháp 2013; Luật Giáo dục năm 2005 và các văn bản quy phạm khác có liên quan.

  • Quản lý bằng tuyên truyền, giáo dục

Để xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa ở Việt Nam, Hiến pháp năm 2013 đã khẳng định: Nhà nước quản lý xã hội bằng Hiến pháp và pháp luật. Nhiệm vụ đầu tiên là phải ban hành pháp luật, tiếp đến là tổ chức thực hiện pháp luật, trong đó, nhiệm vụ tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật (PBGDPL) được xem là cầu nối giữa đưa các chủ trương, chính sách, pháp luật của Nhà nước đến với các tầng lớp nhân dân. Mục đích của nhiệm vụ tuyên truyền, PBGDPL là nhằm xây dựng ý thức pháp luật, làm cho nhân dân, cán bộ, công chức có lòng tin vào pháp luật, có thói quen, động cơ tích cực trong thực hiện pháp luật.

Sinh thời, V.I. Lênin từng chỉ rõ: Tuyên truyền là cần thiết và chúng ta không nên sợ phải lặp đi lặp lại… Và nếu chúng ta nghĩ rằng chúng ta đã quá chú ý nhiều đến việc tuyên truyền, thì cần nói rằng chúng ta còn phải làm việc đó nhiều hơn gấp trăm lần nữa [76]. Đảng Cộng sản Việt Nam cũng đã đặc biệt coi trọng công tác giáo dục pháp luật, ngay từ Đại hội VII Đảng ta đã nhấn mạnh: Phải coi trọng công tác giáo dục, tuyên truyền, giải thích pháp luật. Đưa việc giáo dục pháp luật vào hệ thống các trường của Đảng, của Nhà nước (kể cả các trường phổ thông, đại học), của các đoàn thể nhân dân. Cán bộ quản lý các cấp từ trung ương đến đơn vị cơ sở phải có kiến thức về quản lý hành chính và hiểu biết pháp luật [53].

Ngày 17/01/2003, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 13/2003/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình phổ biến, giáo dục pháp luật từ năm 2003 – 2007. Để tiếp tục đưa công tác phổ biến, giáo dục pháp luật lên một tầm cao mới, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam xã hội chủ nghĩa, ngày 09/12/2003, Ban Bí thư Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam đã ban hành Chỉ thị số: 32-CT/TW về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Chỉ thị đã tạo một bước phát triển mới về nhận thức và lãnh đạo công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, thể hiện quyết tâm của Đảng và Nhà nước, toàn dân ta trong việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân. Để triển khai thực hiện Chỉ thị này, Chính phủ ban hành Quyết định số: 212/2004/QĐ-TTg ngày 16/12/2004 phê duyệt Chương trình hành động quốc gia phổ biến, giáo dục pháp luật và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật cho cán bộ, nhân dân ở xã, phường, thị trấn từ năm 2005 đến năm 2010. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

  • Quản lý bằng công cụ hành chính – kinh tế

Nhà nước sử dụng phương thức quản lý hành chính đó là tác động trực tiếp đến các cá nhân, tổ chức thuộc đối tượng quản lý bằng quy định trực tiếp nghĩa vụ của họ qua những mệnh lệnh dựa trên quyền lực nhà nước và sự phục tùng.

Công cụ kinh tế được nhà nước sử dụng một cách gián tiếp tác động lên đối tượng quản lý thông qua các đòn bẩy kinh tế. Nó được thể hiện dưới hai dạng: thưởng hoặc phạt liên quan trực tiếp đến lợi ích kinh tế.

Các cơ quan nhà nước có thẩm quyền trong phạm vi quyền hạn và khả năng của mình có thể áp dụng hình thức thưởng đối với các tổ chức giáo dục, đào tạo, các cá nhân liên quan có thành tích tốt trong hoạt động giáo dục, đào tạo theo quy định của pháp luật. Hình thức thưởng mà các cơ quan nhà nước thưởng sử dụng có thể bằng tiền, hiện vật quy đổi, vv…

Phạt đối với các cá nhân, tổ chức giáo dục đào tạo có những hành vi, hoạt động liên quan đến hoạt động giáo dục, đào tạo trái với quy định của Hiến pháp, pháp luật. Tùy vào mức độ và hậu quả gây ra, các cơ quan nhà nước có thẩm quyền có thể áp dụng biện pháp xử phạt hành chính, cưỡng chế hoặc khởi tố hình sự.

2.4. Kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục

2.4.1. Kinh nghiệm của một số quốc gia

– Trung Quốc

Năm 2003, Trung Quốc đã đề ra chiến lược tăng cường hơn nữa công tác bồi dưỡng, đào tạo nhân tài nhằm thực hiện mục tiêu xây dựng toàn diện xã hội khá giả được đề ra trong Đại hội XVI của Đảng Cộng sản Trung Quốc. Nội dung của chiến lược là lấy nhân tài chấn hưng đất nước, xây dựng đội ngũ đông đảo nhân tài có chất lượng cao; kiên quyết quán triệt phương châm tôn trọng lao động, trí thức, tôn trọng nhân tài và sự sáng tạo, lấy thúc đẩy phát triển làm xuất phát điểm cơ bản của công tác nhân tài, điều chỉnh nhân tài một cách hợp lý, lấy xây dựng năng lực làm điều cốt lõi, ra sức đẩy mạnh công tác bồi dưỡng nhân tài, kiên trì đổi mới sáng tạo, nỗ lực hình thành cơ chế đánh giá và sử dụng nhân tài một cách khoa học. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Trong quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục của Trung Quốc bao gồm: i/ Trường THPT tư thục phát triển đáp ứng theo nhu cầu (thất học do cha mẹ vô học, di cư về thành phố không có hộ khẩu, nhu cầu nhà giàu muốn được chăm sóc tốt hơn công lập, cá tính học sinh không phù hợp với quy chế THPT công lập); ii/ Giáo dục THPT do các tỉnh quản lý, Chính phủ trung ương chỉ ban hành chính sách; iii/ Giáo dục THPT Trung Quốc không được ưu tiên gì đặc biệt và cũng phải đóng các loại thuế như doanh nghiệp; iv/ Nhà nước địa phương thanh tra các trường THPT tư thục ; v/ Chương trình giáo dục như các trường THPT địa phương; vi/ Nơi nào có sự ủng hộ của Đảng, chính quyền thì giáo dục tư thục phát triển.

– Hàn Quốc

Là một nước không giàu tài nguyên, Hàn Quốc cũng sớm xác định việc phát triển nguồn nhân lực chính là yếu tố quyết định sự tăng trưởng kinh tế của đất nước. Thực tế, giáo dục đã chuyển Hàn Quốc thành một quốc gia có nguồn nhân lực dồi dào, được giáo dục tốt, có kỷ luật cao và kỹ năng lành nghề và là nguyên nhân tạo nên thần kỳ của kinh tế Hàn Quốc, tích tụ tri thức thông qua giáo dục và đào tạo đóng góp 73% vào tốc độ tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc. Chính phủ Hàn Quốc coi đào tạo nhân lực là nhiệm vụ ưu tiên trong giáo dục để đảm bảo có nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa. Giáo dục được thực hiện song hành với tiến trình công nghiệp hóa. Trong giai đoạn đầu của công nghiệp hóa, vào những năm 60 đến những năm 70 của thế kỷ XX, Hàn Quốc tập trung vào phát triển công nghiệp nhẹ và điện tử, Hàn Quốc đã tập trung hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học, phát triển giáo dục trung học cơ sở, khuyến khích trung học nghề và kỹ thuật, hạn chế chỉ tiêu giáo dục đại học.

Hàn Quốc quan niệm giáo dục và đào tạo nguồn nhân lực phải bắt nhịp với yêu cầu phát triển kinh tế. Giáo dục giáo dục nghề nghiệp và kỹ thuật được coi trọng ngay từ cấp trung học. Ngay trong chương trình giáo dục phổ thông, tính thực hành được coi trọng hơn tính hàn lâm, yêu cầu phân luồng được thực hiện ráo riết. Sau khi tốt nghiệp trung học cơ sở, học sinh được phân luồng vào trường trung học phổ thông và trung học nghề (bao gồm cả trường trung học thuộc các hãng công nghiệp), năm 2005 có 70% vào trung học phổ thông và 30% vào trung học nghề. Với sự ra đời của Luật thúc đẩy giáo dục công nghiệp, các trường trung học nghề, chương trình đào tạo công nghiệp và đào tạo tại nhà máy phát triển rất mạnh mẽ ở Hàn Quốc: Giáo dục Hàn Quốc tự do học thuật, trung lập về chính trị; Giáo dục tư thục bình đẳng như giáo dục công lập cả về tài chính và đào tạo giáo viên; THPT Hàn Quốc phát triển rất tốt do được kiểm soát bởi Nhà nước và nhân dân mà trực tiếp là phụ huynh học sinh; Thi vào đại học hàng đầu rất căng thẳng.

Hàn Quốc cũng đã có những chính sách tài chính đối với khu vực giáo dục tư nhân. Nguồn tài chính chủ yếu của khu vực tư nhân là học phí và lệ phí. Chính phủ đã ban hành Luật được miễn thuế cho các trường tư nhân trong khoản tiền thu được, hỗ trợ một phần để chi trả thù lao cho giáo viên và chi phí điều hành. Ngoài ra, chính phủ còn cho các trường tư vay tiền để mở rộng quy mô và đổi mới trang thiết bị. Hàng năm, ngân sách trung ương phân bổ cho khu vực giáo dục tư nhân đều tăng lên dưới hình thức trợ cấp nghiên cứu, trợ cấp hoạt động cho học sinh – sinh viên, học bổng.

– Hoa Kì

Hoa Kỳ đã xác định rõ phương châm “nguồn nhân lực là trung tâm của mọi sự phát triển”. Để giữ vị trí siêu cường về kinh tế và khoa học, công nghệ, chiến lược nguồn nhân lực tập trung vào đào tạo nguồn nhân lực và thu hút nhân tài. Trong đào tạo nguồn nhân lực, Mỹ đã xây dựng một hệ thống giáo dục với hai đặc trưng là tính đại chúng và tính khai phóng.

i/ Giáo dục tư thục chiếm vị trí chủ đạo trong giáo dục quốc dân và do chính quyền các bang quản lý, 90% kinh phí do nhân dân trực tiếp đóng góp; ii/ Giáo dục THPT có 2 hình thức lợi nhuận và phi lợi nhuận (Việt Nam là phi lợi nhuận); iii/ Các công ty và nhà thờ có vai trò lớn trong giáo dục THPT tư thục cả về đầu tư, bảo trợ và kiểm soát hoạt động; vi/ Hệ thống chương trình giáo dục đa dạng theo các bang. Sự thống nhất trong giáo dục THPT chỉ ở đánh giá chất lượng; v/ Học sinh giỏi không cần đến trường mà chỉ đăng kí học và kiểm tra chất lượng ở các trường THPT; vi/ Phong trào trường nhỏ, lớp nhỏ phù hợp với các cộng đồng dân cư đa dạng.

Mô hình hóa đơn trường học hay hóa đơn (chứng chỉ) giáo dục (A chool Voucher, Also Called An Education Voucher) là chứng nhận được chính phủ phát hành dành cho cha mẹ học sinh thanh toán cho việc học tập của con cái học ở bất kì trường học tư nhân nào mà họ tự do lựa chọn.

Mô hình trường học ủy nhiệm và sự đa dạng hóa mô hình trường học: Trường học ủy nhiệm (Charter Schools) là những trường học hợp pháp thuộc hệ thống giáo dục quốc gia chủ yếu ở cấp giáo dục cơ bản và cấp giáo dục trung học đã hình thành ở Hoa Kì. Những trường này do Chính phủ hoặc các tổ chức và cá nhân xây dựng với mục tiêu phi lợi nhuận và sau đó được ủy quyền tự chủ cho nhà trường và nhà trường phải chịu trách nhiệm pháp lí trước xã hội. Giáo viên chịu trách nhiệm về kết quả học tập của học sinh. Những trường này nhận được tiền từ công quỹ Chính phủ, nhân dân đóng góp hoặc các tổ chức tài trợ khác.

2.4.2. Kinh nghiệm của thành phố Hà Nội ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Hà Nội là thủ đô, trung tâm chính trị, văn hóa, kinh tế của cả nước. Trong những năm gần đây, nhà nước đang có chương trình chiến lược ưu tiên phát triển Hà Nội thành một Thủ đô có quy mô lớn, tầm cỡ quốc tế, là trung tâm chính trị – hành chính quốc gia, trung tâm lớn về văn hoá, khoa học, giáo dục, kinh tế và giao dịch quốc tế với khoảng 7.654,8 nghìn người (năm 2017, Theo Cổng giao tiếp điện tử Hà Nội). Sau đợt mở rộng địa giới hành chính vào tháng 8 năm 2008, Hà Nội hiện nay có diện tích 3.345,0 km², gồm 12 quận, 1 thị xã và 17 huyện ngoại thành.

Hà Nội cũng là một trung tâm giáo dục và đào tạo hàng đầu. Thành phố Hà Nội luôn phấn đấu phát triển một nền giáo dục toàn diện, nâng cao chất lượng đại trà và chất lượng mũi nhọn. Hà Nội tiếp tục là đơn vị dẫn đầu cả nước về số lượng và chất lượng trong kỳ thi học sinh giỏi cấp quốc gia. Hà Nội đã bố trí bổ sung triển khai xây dựng thêm 26 trường học đạt chuẩn quốc gia tại 13 huyện khó khăn, từng bước xây dựng hệ thống nhà trường tại Thủ đô theo hướng kiên cố hóa, hiện đại hóa, chuẩn hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế. Qua hoạt động thực tiễn, theo các báo cáo tổng kết của Sở giáo dục Hà Nội về giáo dục trung học phổ thông tư thục thì hoạt động này có một số bài học như sau:

  • Cần đổi mới nhận thức về giáo dục ngoài công lập. Xây dựng cơ sở khoa học phát triển giáo dục ngoài công lập, từ đó xác định lòng tin về vai trò quan trọng của hệ thống giáo dục ngoài công lập nói chung và giáo dục THPT tư thục nói riêng trong nhân dân và đội ngũ cán bộ quản lý giáo dục nhằm trả lại cho giáo dục tư thục giá trị đích thực và chức năng dân chủ hóa xã hội của nó; thực hiện sự bình đẳng thực sự giữa giáo dục công lập và giáo dục ngoài công lập trên địa bàn Thủ đô.
  • Định kỳ (1 năm, 3 năm, 5 năm…) tiến hành đánh giá hoạt động quản lý nhà nước về giáo dục ngoài công lập nói chung và giáo dục THPT tư thục nói riêng trên địa bàn Thủ đô. Kết hợp với đánh giá QLNN về giáo dục nói chung và giáo dục THPT tư thục nói riêng trên phạm vi cả nước để kịp thời bổ sung thể chế, chính sách phù hợp để hệ thống này phát triển bình đẳng và ổn định.
  • Thường xuyên rà soát, các văn bản pháp quy, hệ thống chính sách đối với các trường tư thục nhằm tháo gỡ những khó khăn, bất cập, những cản trở sự phát triển đối với loại hình giáo dục này. Hiện nay, các văn bản pháp quy quản lý Nhà nước đối với các trường THPT tư thục có nhiều loại, nhiều cấp, nhiều phạm vi áp dụng. Các văn bản ra sau thường ghi: các văn bản trước đây trái với quy định trong văn bản này bị hủy bỏ, nhưng không chỉ rõ là các văn bản nào, quy định nào … đã tạo ra nhiều khe hở pháp luật cản trở sự phát triển của các trường.
  • Xây dựng mô hình trường THPT tư thục kiểu mới phù hợp với đặc trưng của trường tư thục trên địa bàn Hà Nội. Mô hình trường tư thục hiện nay được hình thành theo Điều lệ trường phổ thông, quy chế tổ chức và hoạt động của các trường tư thục, Luật Giáo dục năm 2005 và các văn bản liên bộ có liên quan về cơ bản không khác gì nhiều trường THPT công lập. Mô hình này hiện nay tỏ ra không phù hợp với đặc điểm của trường tư thục. Xây dựng mô hình trường THPT tư thục được trao quyền tự chủ nhiều hơn phù hợp với đặc điểm sở hữu tư nhân, phù hợp với các điều kiện kinh tế, văn hóa xã hội, phù hợp với đặc điểm của Hà Nội.

2.4.3. Bài học kinh nghiệm cho Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Một là, đa dạng hóa loại hình trường. Đa dạng hóa loại hình trường trong phát triển giáo dục hiện nay là xu thế tất yếu. Từ sự phát triển các trường dân lập ở Trung Quốc, Hàn Quốc, Hoa Kỳ cho thấy: hệ thống trường tư thục trước đây chỉ phát triển ở các nước phương tây, nước có nền kinh tế thị trường phát triển.

Nhưng đến những năm của thập kỷ 90, Trung Quốc, Liên bang Nga đã cụ thể hóa và cho phép mở các trường dân lập. Chương trình học của các các trường ngoài công lập cũng đa dạng, như cho học sinh học tiếng Anh từ lớp 1 (trường công lập từ lớp 3). Các môn tin học, giáo dục thẩm mĩ, kĩ năng sống được dạy cho học sinh.

Hai là, thường xuyên rà soát, bổ sung hệ thống thể chế, chính sách cho phù hợp với phát triển kinh tế-xã hội, làm cơ sở cho QLNN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục của Thành phố.

Ba là, cần tăng cường công tác quản lý nhà nước đối với hệ thống trường tư thục trong phạm vi Thành phố với cơ chế và phương thức quản lý thích hợp để đảm bảo cho giáo dục phổ thông tư thục phát triển đa dạng, năng động, hài hòa giữa lợi ích xã hội và lợi ích chính đáng của nhà đầu tư.

Bốn là, từ kinh nghiệm của các nước trên thế giới về sự đa dạng và linh hoạt của các loại hình trường ngoài công lập, cần lưu ý là: TP. Hồ Chí Minh là một trung tâm lớn về kinh tế, xã hội, Thành phố năng động nhất cả nước. Bởi vậy, giáo dục nói chung, giáo dục trung học phổ thông tư thục nói riêng trên địa bàn Thành phố cần có các mô hình mang tính đa dạng và linh hoạt, thực hiện cơ chế phi tập trung hóa.

Phi tập trung hóa với 2 nội dung: i/ Phân quyền mạnh mẽ và rõ ràng về quyền hạn, trách nhiệm từ Thành phố đến đến cơ sở đi đôi với sự huy động sự tham gia có hiệu quả của cộng đồng, các tổ chức phi chính phủ vào phát triển giáo dục; ii/ Chú trọng vai trò của chính quyền địa phương và Hội đồng giáo dục địa phương; tăng cường quyền tự chủ với tính độc lập cao của trường tư thục kể cả về chương trình lẫn nội dung giáo dục. Tự chủ về mọi mặt nhưng phải trong khuôn khổ của pháp luật. Ở một số nước phát triển, nhà nước không can thiệp vào hoạt động của các trường tư thục mà để cho thị trường tự điều tiết.

Năm là, Thành phố phải phát huy vai trò quản lý và điều tiết trong cơ chế thị trường định hướng XHCN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục của Thành phố. Vai trò của Thành phố trong cơ chế thị trường là nắm giữ định hướng chính trị của giáo dục; đưa ra các biện pháp, các nguyên tắc để đảm bảo sự bình đẳng cho các chủ thể đầu tư thành lập trường tư thục. Bởi vì, thị trường ảnh hưởng trực tiếp hoặc gián tiếp tới số lượng và chất lượng của giáo dục tư thục. Ở tầm vĩ mô, trách nhiệm của Nhà nước là ban hành quy tắc, tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh; phát huy vai trò của cộng đồng và các tổ chức xã hội.

Phi tập trung hóa đi đôi với tăng quyền tự  chủ thực sự cho các trường phổ thông tư thục trên địa bàn TP. Hồ Chí Minh. Chú trọng việc tham gia kiểm tra, kiểm soát của hội đồng giáo dục địa phương và của xã hội trên cơ sở phát triển xã hội công dân, phát huy vai trò của cộng đồng. XHHGD trong quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN luôn tìm câu trả lời về cơ chế hoạt động của giáo dục trong nền kinh tế thị trường. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Kinh nghiệm cho thấy, cần sự vận hành đồng bộ giữa vai trò của Thành phố, tác động thị trường, sự tham gia kiểm soát xã hội sẽ góp phần nâng hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường tư thục. Tạo hành lang pháp lý, quản lý bằng pháp luật và cơ chế; tôn trọng quyền lợi chính đáng, quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của nhà đầu tư; thể chế hóa và phát huy vai trò giám sát của cộng đồng, các hội nghề nghiệp, các tổ chức chính trị – xã hội là những vấn đề cần tiếp tục quan tâm trong lĩnh vực QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục ở TP. Hồ Chí Minh.

Thể chế hóa và có giải pháp phù hợp để các chủ thể đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục ở Thành phố được tiếp cận nguồn lực công một cách minh bạch, có điều kiện và công bằng; góp phần phát triển kinh tế – xã hội, theo quan điểm xã hội thụ hưởng thành quả giáo dục chứ không chỉ người học và gia đình người học.

Kết luận Chương 2

Với Chương 2, luận án đã nghiên cứu làm rõ được những nội dung sau:

Thứ nhất, luận án đã nghiên cứu và làm sáng tỏ những cơ sở lý luận một cách có hệ thống, khoa học về quản lý nhà nước giáo dục trung học phổ thông tư thục, gồm: khái niệm Quản lý, quản lý nhà nước, giáo dục, đào tạo, giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở, giáo dục trung học phổ thông, trường tư thục, xã hội hóa, xã hội hóa giáo dục, quản lý Nhà nước về giáo dục, quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông làm căn cứ cho việc giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.

Thứ hai, luận án phân tích làm rõ sự cần thiết quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục. Quản lý giáo dục phổ thông tư thục là thực hiện chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội. Nhà nước có nhiều chức năng, trong đó có chức năng phối hợp quản lý nhà nước theo ngành và theo lãnh thổ. Bởi vậy, để quản lý nhà nước về giáo dục bảo đảm tính hiệu lực và hiệu quả, các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục cần phối hợp, kết hợp chặt chẽ với các địa phương trong tổ chức thực hiện nội dung, phương thức QLNN về giáo dục. ( Luận văn: Phương hướng quản lý nhà nước về giáo dục THPT )

Bên cạnh đó, tác giả đã phân tích làm rõ những nhân tố ảnh hưởng, tác động đến quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục. Tác giả chia thành hai nhóm nhân tố đó là những nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan có tác động, ảnh hưởng trục tiếp đến giáo dục phổ thông tư thục ở nước ta hiện nay

Thứ ba, luận án đã làm rõ được mục tiêu, chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức quản lý nhà nước đối với giáo dục phổ thông tư thục. Đây là những nội dung quan trọng, là căn cứ, cơ sở để luận giải quyết nhiệm vụ trong những chương tiếp theo của luận án.

Thứ tư, trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục của một số quốc gia và kinh nghiệm quản lý của ngành Giáo dục Hà Nội, tác giả đã khái quát và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho ngành Giáo dục Thành phố Hồ Chí Minh trong quản lý nhà nước đối với giáo dục phổ thông tư thục.

Các bạn có thể tham khảo thêm:

Luận văn: Giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý giáo dục đào tạo

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537