Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.
3.3. PHÂN TÍCH THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.3.1. Xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch về giáo dục trung học phổ thông và giáo dục trung học phổ thông tư thục
Nghị quyết các kỳ Đại hội của Đảng luôn khẳng định quan điểm của Đảng và chính sách của Nhà nước về đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục để phát huy tinh thần dân chủ, huy động các nguồn lực xã hội tham gia vào các hoạt động giáo dục. Quan điểm QLNN về giáo dục nói chung và đối với trung học phổ thông tư thục nói riêng được thể hiện cụ thể trong Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) như sau:
Theo phân cấp quản lý, Sở Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh hoặc thành phố thuộc trung ương có chức năng tham mưu giúp UBND cấp tỉnh/thành phố thực hiện chức năng QLNN về giáo dục đào tạo, có trách nhiệm trực tiếp quản lý tất cả các cơ sở giáo dục phổ thông trên địa bàn tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương.
Phòng Giáo dục và Đào tạo là cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp quận/huyện, thị xã có chức năng tham mưu giúp UBND cấp quận/huyện, thị xã thực hiện chức năng QLNN về giáo dục đào tạo, có trách nhiệm trực tiếp quản lý các cơ sở giáo dục trung học cơ sở, tiểu học và mầm non trên địa bàn quận/huyện, thị xã. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Riêng đối với giáo dục tư thục, Luật cũng quy định rõ nhiệm vụ, quyền hạn, chế độ tài chính, tài sản và các chính sách ưu đãi như:
- Chịu sự quản lý của cơ quan QLNN về giáo dục theo quy định của Chính phủ.
- Có nhiệm vụ và quyền hạn như trường công lập trong việc thực hiện mục tiêu, nội dung, chương trình, phương pháp giáo dục và các quy định liên quan đến tuyển sinh, giảng dạy, học tập, thi cử, kiểm tra, công nhận tốt nghiệp, cấp văn bằng, chứng chỉ.
- Tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục.
- Văn bằng, chứng chỉ do trường dân lập, trường tư thục, trường công lập cấp có giá trị pháp lý như nhau.
- Hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, kiểm toán.
- Thu nhập được dùng để chi cho các hoạt động cần thiết của nhà trường, thực hiện nghĩa vụ đối với ngân sách nhà nước, thiết lập quỹ đầu tư phát triển và các quỹ khác của nhà trường. Thu nhập còn lại được phân chia cho các thành viên góp vốn theo tỷ lệ vốn góp.
- Thực hiện chế độ công khai tài chính và có trách nhiệm báo cáo hoạt động tài chính hằng năm cho cơ quan quản lý giáo dục và cơ quan tài chính có thẩm quyền ở địa phương.
- Tài sản, tài chính của trường được Nhà nước bảo hộ theo quy định của pháp luật.
- Việc rút vốn và chuyển nhượng vốn được thực hiện theo quy định của Chính phủ, bảo đảm sự ổn định và phát triển của nhà trường.
- Được hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao theo đơn đặt hàng, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng, được Nhà nước bảo đảm kinh phí để thực hiện chính sách đối với người học theo quy định.
Quan điểm, đường lối này được cụ thể hóa ở nhiều văn bản dưới luật và trong các công văn hướng dẫn, triển khai tổ chức hoạt động của Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh trên các lĩnh vực.
Các cấp QLNN ở Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng chiến lược, quy hoạch phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục nhưng tính khả thi chưa cao.
- Sở Giáo dục – Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã có kế hoạch, đề án XHHGD – định hướng phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục giai đoạn 2005
- 2010, 2010 – 2015 (trên cơ sở thực hiện Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ) được HĐND thành phố thông qua và UBND thành phố phê duyệt – ban hành. Hướng phát triển trường phổ thông tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh ở tất cả các bậc mầm non chất lượng cao, tiểu học, trung học cơ sở và
- Trong quá trình tổ chức – thực hiện, với tư cách là cơ quan tham mưu – giúp việc UBND thành phố thực hiện chức năng QLNN về giáo dục, các Sở Giáo dục – Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Công đoàn ngành vận động – tuyên truyền, tác động nhận thức trong nội bộ ngành, các lực lượng xã hội và cấp ủy
- chính quyền các địa phương về XHHGD, đa dạng hóa loại hình trường – lớp; đồng thời thực thi những giải pháp cụ thể để phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục, những giải pháp đã thực hiện chủ yếu. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
+ Điều tra cơ bản được tiến hành về trình độ văn hóa theo độ tuổi, điều chỉnh kế hoạch phát triển giáo dục và mạng lưới trường – lớp gắn với yêu cầu XHHGD, chuyển đổi loại hình đối với một số trường công lập để tạo điều kiện phát triển hệ thống trường bán công ở nhiều địa bàn (trong giai đoạn 2010 – 2015); tích cực hỗ trợ – bố trí cơ sở vật chất trường lớp (nguyên là của trường công lập), tạo điều kiện cho một số tổ chức chính trị – xã hội đầu tư thành lập được một số trường phổ thông dân lập.
+ Căn cứ, mặt bằng dân trí, yêu cầu phát triển giáo dục của thành phố, điều kiện KT – XH và điều kiện ngân sách, v.v… để định ra chỉ tiêu tuyển sinh vào lớp 6, lớp 10 hệ công lập, phân nguồn đầu vào đối với các trường phổ thông tư thục (căn cứ điều kiện về cơ sở vật chất, đội ngũ giáo viên của nhà trường). Dựa vào đó, Sở Giáo dục – Đào tạo là cơ quan đầu mối tổ chức duyệt kế hoạch, phương án phát triển cho từng trường, kể cả trường phổ thông tư thục. Thời gian lập kế hoạch, phê duyệt kế hoạch tuyển sinh cho các trường phổ thông dân lập được tiến hành vào tháng 4 hàng năm.
Trong hầu hết các bản kế hoạch phát triển trường phổ thông tư thục, thiếu hệ thống giải pháp về quy hoạch, về chính sách thu hút đầu tư; việc bố trí quỹ đất cho phát triển trường phổ thông tư thục chưa được quan tâm và còn gặp nhiều khó khăn. Vì vậy, tính khả thi của các kế hoạch phát triển giáo dục phổ thông tư thục chưa cao.
Đa số ý kiến phản hồi trong 151 phiếu khảo sát ý kiến đã được đánh giá: các cấp QLNN tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa có quy hoạch dài hạn (62,3%), công tác lập kế hoạch phát triển trường phổ thông tư thục tuy đã thực hiện nhưng chưa tốt, thiếu tính khả thi (53,3%).
Có thể bạn quan tâm:
3.3.2. Xây dựng thể chế quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục
- Xây dựng và ban hành văn bản quản lý hành chính nhà nước của các cấp
QLNN đối với hệ thống trường phổ thông trung học tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh được quan tâm và tiến hành thường xuyên tạo nền tảng cho quản lý.
Công tác xây dựng và ban hành văn bản quản lý, chỉ đạo đối với hệ thống trường phổ thông tư thục của các cơ quan có thẩm quyền – chức năng quản lý về giáo dục, đào tạo tại Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện tương đối tốt; đã tạo cơ sở quan trọng cho việc thực hiện chức năng QLNN đối với các lĩnh vực hoạt động chủ yếu của hệ thống trường phổ thông NCL, những khó khăn, vướng mắc và các vấn đề phát sinh về quản lý tài chính, tuyển sinh, chuyên môn – nghiệp vụ dạy học và giải quyết chế độ chính sách cho giáo viên tư thục đã được giải quyết cơ bản cho trường hoạt động bình thường.
Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã phối hợp với Sở Tài chính, Sở Lao động – Thương binh và Xã hội, Sở Nội vụ soạn thảo và tham mưu – đề xuất UBND thành phố và HĐND thành phố ban hành một số văn bản quy phạm pháp luật; một số văn bản quản lý hành chính nhà nước để chỉ đạo, hướng dẫn nhằm cụ thể hóa chủ trương và giải pháp của Đảng, Nhà nước, từng bước tạo hành lang pháp lý cho các trường phổ thông dân lập, bán công hoạt động.
Các văn bản quy phạm pháp luật của cấp trên và các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn liên quan đến công tác thực hiện chế độ chính sách, quản lý về cơ sở vật chất – thiết bị; về hoạt động giáo dục, quy chế chuyên môn, thực hiện chương trình và kế hoạch dạy – học. . . đều được ban hành đầy đủ đến các trường phổ thông NCL cũng như đối với các trường công lập khác.
Thực thi chính sách ưu đãi, khuyến khích đầu tư – phát triển trường trung học phổ thông tư thục. Nhà nước đã có một số chủ trương chính sách về xã hội hóa và đổi mới cơ bản, toàn diện về giáo dục đào tạo như: Nghị quyết số 90/1997/ NQ – CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao; Nghị quyết số 29/NQ-TW, ngày 04/11/2013, BCHTW về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục đào tạo đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH; Nghị định số 73/1999/NĐ – CP ngày 19/8/1999 về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hoá, thể thao. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Một số chính sách ưu đãi khuyến khích XHH, hỗ trợ phát triển trường tư thục như:
- Nghị định 53/2006/NĐ-CP ngày 25/5/2006 của Chính phủ Về chính sách
khuyến khích phát triển các cơ sở cung ứng dịch vụ ngoài công lập;
- Nghị định 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ ngày 30/5/2008 Về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường và các văn bản hướng dẫn của Bộ Tài chính đã được phổ biến – quán triệt kịp thời đến các đơn vị cơ sở trong ngành giáo dục, đào tạo và các cấp QLNN địa phương (Bảng 3).
Thành phố Hồ Chí Minh chưa có văn bản cụ thể hóa và vận dụng phù hợp một số chính sách khuyến khích phát triển trường NCL theo Nghị quyết 05/NQ-CP của Chính phủ.
Chọn mẫu tại 4 quận lớn: Quận Tân Bình, Quận 2, Quận 11 và Quận Phú Nhuận với đối tượng khảo sát là công chức ở UBND quận, thành phố; CBQL trường phổ thông tư thục, một số cá nhân đầu tư – thành lập trường phổ thông tư thục, NCS thu nhận ý kiến đánh giá, nhận xét việc thực thi chính sách của các cơ quan QLNN Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển trường phổ thông trung học tư thục trên địa bàn.
3.3.3. Xây dựng chính sách về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh
3.3.3.1. Chính sách quản lý đối với tổ chức bộ máy giáo dục
– Về việc thành lập trường tư thục
Hoạt động của các trường ngoài công lập trong hệ thống giáo dục quốc dân đã được cho phép từ nhiều năm nay trong các văn bản chỉ đạo của Đảng và Nhà nước. Nghị quyết 4 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa VII (1993) đã khẳng định các loại hình giáo dục ngoài công lập là: bán công, dân lập và tư thục. Đến Nghị quyết 2 Ban Chấp hành Trung ương Đảng Khóa VIII (1996) khẳng định: “Tiếp tục phát triển các trường dân lập ở tất cả các bậc học. Từng bước phát triển vững chắc các trường lớp tư thục ở giáo dục mầm non, phổ thông trung học, trung học chuyên nghiệp, dạy nghề và đại học,…”. Nghị quyết số 90/CP ngày 21/8/1997 của Chính phủ về phương hướng và chủ trương xã hội hoá các hoạt động giáo dục và Nghị định số 69/2008/NĐ-CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường: “Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các loại trường, lớp bán công, dân lập, tư thục tại thành phố, thị xã, thị trấn và những vùng có kinh tế thuận lợi” và những quy định về giao đất, cho thuê đất, giảm thuế thu nhập, ưu đãi tín dụng. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Luật Giáo dục 2005 và Nghị định số 75/2006/NĐ-CP ngày 02/8/2006 của Chính phủ hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Giáo dục đã khẳng định duy nhất một loại hình ngoài công lập là trường tư thục ở các ngành học phổ thông, giáo dục nghề nghiệp và giáo dục đại học: Không thành lập cơ sở giáo dục dân lập ở giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp, giáo dục đại học. (Điều 18, Nghị định 75).
Bảng 3.3. Tổng hợp ý kiến đánh giá, nhận xét việc thực thi chính sách của các cơ quan QLNN Thành phố Hồ Chí Minh về phát triển trường phổ thông trung học tư thục trên địa bàn
Trình tự, thủ tục, điều kiện thành lập trường phổ thông tư thục được quy định cụ thể trong Điều lệ trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học [24].
Điều kiện để được thành lập trường là: (1) Có đề án thành lập trường phù hợp với quy hoạch phát triển kinh tế – xã hội và quy hoạch mạng lưới cơ sở giáo dục đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt; (2) Đề án thành lập trường xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, chương trình và nội dung giáo dục; đất đai, cơ sở vật chất, thiết bị, địa điểm dự kiến xây dựng trường, tổ chức bộ máy, nguồn lực và tài chính; phương hướng chiến lược xây dựng và phát triển nhà trường.
Điều kiện để được phép hoạt động là: (1) Có quyết định thành lập hoặc quyết định cho phép thành lập trường; (2) Có đất đai, trường sở, cơ sở vật chất, trang thiết bị đáp ứng yêu cầu hoạt động giáo dục; (3) Địa điểm của trường bảo đảm môi trường giáo dục, an toàn cho học sinh, giáo viên, cán bộ và nhân viên; (4) Có chương trình giáo dục và tài liệu giảng dạy, học tập theo quy định phù hợp với mỗi cấp học; (5) Có đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý đạt tiêu chuẩn về phẩm chất và đạt trình độ chuẩn được đào tạo theo quy định của Luật Giáo dục đối với cấp học; đủ về số lượng theo cơ cấu về loại hình giáo viên đảm bảo thực hiện chương trình giáo dục và tổ chức các hoạt động giáo dục; (6) Có đủ nguồn lực tài chính theo quy định để đảm bảo duy trì và phát triển hoạt động giáo dục; (7) Có quy chế tổ chức và hoạt động của nhà trường.
Đối với trường có yếu tố nước ngoài, các điều kiện thành lập và hoạt động về vốn đầu tư, cơ sở vật chất, đội ngũ giảng viên, chương trình dạy học,… được quy định tại Nghị định 73/2012/NĐ-CP ngày 26/02/2012 của Chính phủ Quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục (thay thế cho Nghị định số 18/2001/NĐ-CP ngày 04 tháng 5 năm 2001 của Chính phủ và Nghị định số 06/2000/NĐ-CP ngày 06 tháng 3 năm 2000 của Chính phủ).
Theo đó, căn cứ hồ sơ xin thành lập trường do tổ chức, cá nhân khi gửi đến, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố tiếp nhận, xem xét các điều kiện theo quy định tại Điều lệ, có ý kiến bằng văn bản và gửi hồ sơ đến Ủy ban nhân dân Thành phố đề nghị ra quyết định thành lập hoặc cho phép thành lập trường. Sau đó, căn cứ hồ sơ đề nghị cho phép hoạt động giáo dục do trường tư thục gửi đến, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố tiếp nhận, xem xét các điều kiện để được cho phép hoạt động giáo dục theo quy định (tại khoản 2 Điều 9 của Điều lệ), trong thời hạn 20 ngày, Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo ra quyết định cho phép nhà trường tổ chức hoạt động giáo dục. Trường hợp chưa quyết định cho phép hoạt động giáo dục, Sở sẽ có văn bản thông báo cho trường biết rõ lí do và hướng giải quyết.
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách đối với việc thành lập hệ thống trường THPT tư thục trên địa bàn Thành phố:
Việc cho phép thành lập các trường THPT tư thục có lúc chưa căn cứ đầy đủ vào nhu cầu về nhân lực, cũng như khả năng của nhà đầu tư, chưa gắn với việc nâng cao chất lượng và hiệu quả đào tạo. Hệ thống trường ngoài công lập chưa có quy hoạch mạng lưới, được hình thành tự phát theo năng lực của chủ đầu tư, dẫn đến phân bố không đồng đều, tập trung ở một số địa bàn (Tân Phú, Tân Bình, Gò Vấp); một số trường chưa đủ điều kiện thành lập (chủ yếu là thiếu quỹ đất), chưa thực hiện cam kết xây dựng đầu tư, không phát triển được về số lượng và chất lượng (nhiều trường có số học sinh chưa đến 100 em). Trong hai năm 2014 và 2015 đã có 15 trường ngưng hoạt động và bị đình chỉ tuyển sinh. Có ý kiến cho rằng quy trình cấp phép đầu tư còn lỏng lẻo, dễ dãi nên mới dẫn tới tình trạng hằng năm Sở giáo dục và đào tạo Thành phố phải ngừng giao chỉ tiêu cho một loạt trường vì không đảm bảo những điều kiện ở mức tối thiểu nhất [6]. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Diện tích mặt bằng xây dựng trường có yếu tố nước ngoài yêu cầu với mức bình quân ít nhất là 06 m2/học sinh đối với khu vực thành phố, thị xã và 10 m2/học sinh đối với khu vực nông thôn; có diện tích dùng cho học tập, giảng dạy đảm bảo mức bình quân ít nhất là 2,5 m2/học sinh. Điều kiện quỹ đất ở Thành phố hiện nay là khó đảm bảo được được quy định này.
Các cơ sở có vốn đầu tư nước ngoài được phép tiếp nhận học sinh Việt Nam, nhưng số học sinh Việt Nam ở trường THPT không quá 20% tổng số học sinh của trường. Điều này làm hạn chế khả năng phát triển của trường, đồng thời nhiều gia đình có điều kiện nhưng con em không được tiếp nhận vào học các trường được đầu tư tiên tiến.
Nguồn vốn đầu tư của trường tư thục, khác với trường công lập, toàn bộ là từ cá nhân, hoặc tập thể (nhóm người, hoặc công ty, tập đoàn). Từ đó, mục đích và sứ mạng cũng khác nhau. Các trường tư thục hoạt động chủ yếu để tìm kiếm lợi nhuận (ngoại trừ một số ít có mong muốn không vì lợi nhuận). Trong lúc đó, trường công thực hiện những nhiệm vụ mà Nhà nước giao cho, được hưởng ưu đãi từ nguồn vốn ngân sách. Nhưng trong thực tế, do chính sách tự chủ hoặc tự chủ một phần đối với trường công hiện nay nên nhiều trường cũng không ngừng tìm mọi cách tạo ra nguồn thu, không khác gì các trường tư vì lợi nhuận. Điều này dẫn đến sực cạnh tranh thiếu công bằng.
Mặt khác, hiện nay, nhiều trường THPT công lập đang được Thành phố đầu tư rất hiện đại theo hướng mở rộng quy mô, chuẩn hóa, hiện đại hóa, tiên tiến hội nhập dẫn đến thu hút số học sinh tăng nhanh. Tỷ lệ tuyển sinh hàng năm giao cho các trường công lập cũng khá cao (khoảng 70% – 80% số học sinh tốt nghiệp THCS). Điều này đã tạo ra một sân chơi bất bình đẳng, ngày càng ảnh hưởng không ít đến chất lượng, gây nhiều khó khăn cho trường tư.
Những hạn chế, bất cập trên đòi hỏi Thành phố phải có những chính sách phù hợp về quỹ đất, quy hoạch mạng lưới, phân luồng học sinh, v.v. tạo điều kiện cho sự phát triển đúng hướng của các trường tư thục.
3.3.3.2. Chính sách về quản lý tổ chức bộ máy nhà trường ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Các chính sách quản lý về tổ chức bộ máy của trường tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh được căn cứ vào Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục (Ban hành kèm theo Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo).
Cơ cấu tổ chức bộ máy trường THPT tư thục bao gồm: Hội đồng quản trị (nếu có); Ban Kiểm soát; Hiệu trưởng và các Phó Hiệu trưởng; Các tổ chuyên môn; Tổ văn phòng; Tổ chức đảng và các tổ chức đoàn thể; Các lớp, tổ học sinh, khối lớp; Hội đồng thi đua và khen thưởng; Hội đồng kỷ luật và các hội đồng tư vấn khác do Hiệu trưởng thành lập theo yêu cầu cụ thể của từng công việc.
Nhiệm vụ, quyền hạn, quy chế hoạt động của các cá nhân, tổ chức, bộ phận trong bộ máy của trường cũng được quy định cụ thể trong Thông tư 13. Một số quy định cụ thể như:
Hội đồng quản trị có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Xây dựng định hướng chiến lược phát triển và kế hoạch hoạt động hàng năm của trường để trình Đại hội đồng thành viên góp vốn tại các kỳ họp.
- Xây dựng Quy chế tổ chức và hoạt động của trường
- Xây dựng và ban hành các quy định về chế độ, tiêu chuẩn, định mức thu, chi tài chính của trường; quy định về việc hoàn vốn, rút vốn và chuyển nhượng vốn phù hợp với quy định của pháp luật về chế độ quản lý tài chính.
- Huy động các nguồn vốn để xây dựng trường; phê duyệt dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm do Hiệu trưởng nhà trường trình; giám sát việc quản lý tài chính và tài sản của nhà trường; báo cáo về tài chính hàng năm của trường tại cuộc họp để Đại hội đồng thành viên góp vốn xem xét thông qua.
- Đề cử và đề nghị công nhận hoặc hủy bỏ việc công nhận Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng; trình cơ quan có thẩm quyền ra quyết định.
- Phê duyệt phương án tổ chức bộ máy, biên chế, nhân sự của trường trên cơ sở đề xuất của Hiệu trưởng.
- Có kế hoạch và tổ chức giám sát việc thực hiện quy chế dân chủ trong các hoạt động của trường, giám sát việc thực hiện các quyết định của Hội đồng quản trị, giám sát Hiệu trưởng và Kế toán trưởng trong việc chấp hành các quy định của Nhà nước, Bộ Giáo dục và Đào tạo và cơ quan quản lý trực tiếp.
- Triệu tập Đại hội đồng thành viên góp vốn họp thường kỳ mỗi năm một lần hoặc họp đột xuất khi có yêu cầu của Chủ tịch Hội đồng quản trị.
Chủ tịch Hội đồng quản trị có nhiệm vụ và quyền hạn:
- Chỉ đạo, điều hành hoạt động của Hội đồng quản trị; có quyền triệu tập các cuộc họp của Hội đồng quản trị; chịu trách nhiệm chính về các quyết nghị của Hội đồng quản trị, giám sát quá trình tổ chức thực hiện các quyết nghị của Hội đồng quản trị; chủ trì các cuộc họp của Đại hội đồng thành viên góp vốn.
- Chịu trách nhiệm trước các cơ quan quản lý về toàn bộ hoạt động của nhà trường và kiểm soát việc điều hành của Hiệu trưởng;
- Ký hợp đồng lao động với Hiệu trưởng, Phó Hiệu trưởng sau khi được cấp có thẩm quyền công nhận.
- Được quyền điều hành bộ máy tổ chức và sử dụng con dấu của trường trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ của Hội đồng quản trị và ký các văn bản, quyết định của Hội đồng quản trị. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Thực hiện các quyền và nhiệm vụ khác theo Quy chế tổ chức và hoạt động của trường.
Hiệu trưởng trường phổ thông tư thục ngoài nhiệm vụ, quyền hạn quy định tại Điều lệ trường phổ thông còn có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị;
- Tổ chức triển khai việc huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực, hoạt động dạy học và các hoạt động khác của trường theo quy định, bảo đảm chất lượng, đúng quy định của pháp luật và kế hoạch đã được Hội đồng quản trị phê duyệt nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường;
- Dự kiến tổ chức bộ máy, biên chế và nhân sự của trường trình Hội đồng quản trị phê duyệt; trực tiếp ký hợp đồng lao động sử dụng giáo viên, nhân viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên và người học theo quy định của pháp luật sau khi được Hội đồng quản trị thông
- Lập dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm, trình Hội đồng quản trị phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính theo quy định của trường; báo cáo định kỳ với Hội đồng quản trị và các cấp quản lý liên quan về công tác tài chính và các hoạt động của nhà trường;
- Bảo đảm trật tự, an ninh và bảo vệ môi trường, an toàn trong trường;
- Được tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị (nếu không phải là thành viên) nhưng không có quyền biểu quyết; có trách nhiệm báo cáo trước Đại hội đồng thành viên góp vốn về các hoạt động dạy học của trường; có quyền bảo lưu ý kiến không nhất trí với quyết định của Hội đồng quản trị và báo cáo cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp xem xét, xử lý.
Ngoài ra, trên cơ sở các quy định chung, căn cứ vào sự thỏa thuận với cha mẹ học sinh và điều kiện thực tế mà các trường có quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan quản lý giáo dục trong việc tổ chức, điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm chất lượng giáo dục và hoạt động của trường trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao.
Năm học 2016-2017, Ủy ban nhân dân Thành phố cũng đã có chỉ thị cho phép các trường “đẩy mạnh thực hiện phân cấp quản lý giáo dục theo tinh thần tăng cường tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm về việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục; tăng cường thanh tra, kiểm tra và xử lý nghiêm các vi phạm nhằm đảm bảo tính đồng bộ và hiệu quả QLNN” [128].
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách quản trị trường tư thục:
Theo quy định, hội đồng quản trị của các trường bao gồm những người có vốn góp xây dựng trường hoặc người đại diện cho tổ chức hoặc cá nhân có số vốn góp được có tiếng nói và tham gia quyết định các vấn đề của trường. Tuy nhiên, chính hiệu trưởng mới là người phải chịu trách nhiệm quản lý, điều hành và giải quyết các vấn đề liên quan đến dạy học, giáo dục trước giáo viên, học sinh và phụ huynh học sinh trong khi bất cập là hiệu trưởng lại không có toàn quyền quyết định vì ở nhiều trường hiệu trưởng không phải là chủ tịch hội đồng quản trị.
Một hệ quả là trong cơ cấu đó, quyền lực phần lớn sẽ nằm trong tay những người điều hành. Nhà đầu tư, do e sợ rủi ro, sẽ trực tiếp nắm quyền điều hành và trong nhiều trường hợp thiếu năng lực quản trị nhà trường, từ đó dẫn đến những yếu kém hiện nay của giáo dục tư thục.
Cũng với quan điểm muốn kiểm soát nhà trường tránh khỏi tự do hóa, thương mại hóa, vì lợi nhuận mà Nhà nước lúng túng, chưa có những chính sách minh bạch, nhất quán đối với các hoạt động dịch vụ của trường tư thục, cũng như chính sách phát triển dài hạn dẫn đến hoạt động các trường chủ yếu hướng đến mục tiêu, tầm nhìn ngắn hạn, không đầu tư cho chất lượng lâu dài mà chỉ chạy theo lợi nhuận, không tính đến sự phát triển bền vững. Quá trình tìm kiếm, ban hành các chủ trương chính sách để hạn chế tiêu cực trong giáo dục tư thục đã kéo theo một hệ lụy là kiềm hãm cả sự phát triển của các trường ở khu vực này.
Các chính sách về giáo dục của Nhà nước thay đổi thường xuyên dẫn đến phát sinh nhiều phức tạp trong quản lý và xử lý các công việc sự vụ. Ví dụ việc thay đổi tên trường, thay đổi con dấu, thay đổi Hội đồng quản trị,…
Cần có những quy định tách biệt chức năng quản lý, đại diện của Hội đồng quản trị (quản trị, giám sát) với chức năng quản lý, điều hành của hiệu trưởng.
3.3.3.3. Chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Khoản 2, Điều 65 của Luật Giáo dục 2005 và Luật Giáo dục sửa đổi 2009 quy định: “Trường dân lập, trường tư thục tự chủ và tự chịu trách nhiệm về quy hoạch, kế hoạch phát triển nhà trường, tổ chức các hoạt động giáo dục, xây dựng và phát triển đội ngũ nhà giáo, huy động, sử dụng và quản lý các nguồn lực để thực hiện mục tiêu giáo dục” [86]. Đây là quan điểm, đường lối, chính sách chung nhất trong quản lý đội ngũ cán bộ quản lý và nhà giáo tại các trường tư thục. Theo quy định này, hiệu trưởng trường phổ thông tư thục phải là người có đủ các tiêu chuẩn được quy định tại Điều lệ trường phổ thông, khi được đề cử không quá 70 tuổi và không là công chức, viên chức trong biên chế nhà nước. Hiệu trưởng là người trực tiếp quản lý và điều hành hoạt động của nhà trường; chịu trách nhiệm trước pháp luật, cơ quan quản lý giáo dục và Hội đồng quản trị (nếu có) về việc tổ chức, điều hành các hoạt động chuyên môn, nghiệp vụ, bảo đảm chất lượng giáo dục và hoạt động của trường trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn được giao. Nhiệm kỳ của hiệu trưởng là 5 năm [88].
Đối với trường phổ thông tư thục có Hội đồng quản trị, hiệu trưởng do Hội đồng quản trị đề cử và bầu theo nguyên tắc bỏ phiếu kín với quá nửa số phiếu tán thành, được Đại hội đồng thành viên góp vốn thông qua và cấp có thẩm quyền ra quyết định công nhận.
Hiệu trưởng trường phổ thông tư thục có nhiệm vụ, quyền hạn sau đây:
- Tổ chức thực hiện các nghị quyết của Hội đồng quản trị;
- Tổ chức triển khai việc huy động, quản lý, sử dụng các nguồn lực, hoạt động dạy học và các hoạt động khác của trường theo quy định, bảo đảm chất lượng, đúng quy định của pháp luật và kế hoạch đã được Hội đồng quản trị phê duyệt nhằm thực hiện mục tiêu phát triển nhà trường;
- Dự kiến tổ chức bộ máy, biên chế và nhân sự của trường trình Hội đồng quản trị phê duyệt; trực tiếp ký hợp đồng lao động sử dụng giáo viên, nhân viên; bổ nhiệm, miễn nhiệm, khen thưởng, kỷ luật đối với giáo viên, nhân viên và người học theo quy định của pháp luật sau khi được Hội đồng quản trị thông
- Lập dự toán và quyết toán ngân sách hàng năm, trình Hội đồng quản trị phê duyệt; tổ chức thực hiện kế hoạch tài chính theo quy định của trường; báo cáo định kỳ với Hội đồng quản trị và các cấp quản lý liên quan về công tác tài chính và các hoạt động của nhà trường;
- Bảo đảm trật tự, an ninh và bảo vệ môi trường, an toàn trong trường;
- Được tham dự các cuộc họp của Hội đồng quản trị (nếu không phải là thành viên) nhưng không có quyền biểu quyết; có trách nhiệm báo cáo trước Đại hội đồng thành viên góp vốn về các hoạt động dạy học của trường; có quyền bảo lưu ý kiến không nhất trí với quyết định của Hội đồng quản trị và báo cáo cơ quan quản lý giáo dục trực tiếp xem xét, xử lý.
Giáo viên trường phổ thông tư thục phải có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và sức khỏe theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ trường phổ thông. Nhiệm vụ và quyền của giáo viên tư thục: Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo hợp đồng lao động đã ký với nhà trường; có nhiệm vụ và quyền theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ trường phổ thông; Được hưởng chế độ tiền công, tiền lương, tiền thưởng do trường chi trả theo hợp đồng lao động, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và có quyền tham gia các tổ chức xã hội và đoàn thể theo quy định của pháp luật; Giáo viên được khen thưởng khi có thành tích theo quy định của các cấp quản lý giáo dục, nếu có đủ các tiêu chuẩn theo quy định thì được xét phong tặng các danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân và Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Cũng theo quy định, cán bộ quản lý, giáo viên cơ hữu, nhân viên của trường phổ thông tư thục là những người không phải là công chức, viên chức nhà nước; được nhà trường tuyển dụng và áp dụng các chế độ làm việc và thực hiện chính sách theo quy định của pháp luật lao động.
Như vậy, đội ngũ cán bộ quản lý, nhà giáo của các trường tư thục có tránh nhiệm và cũng được hưởng các quyền lợi về đào tạo, bồi dưỡng, tham quan học tập, các chính sách khác của người lao động như đối với cán bộ, giáo viên các trường công lập. Tuy nhiên, trong thực tế vị trí và quyền lợi của giáo viên ở các trường tư thục có khác nhau và tùy thuộc vào lợi nhuận cũng như chính sách của nhà đầu tư.
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách đối với đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên các trường phổ thông trung học tư thục:
Sự chồng chéo quy định về tổ chức hoạt động, về quản lý con người,… do có quá nhiều văn bản hướng dẫn, sửa đổi và được ban hành từ nhiều cơ quan quản lý ở các bộ, ngành khác nhau dẫn đến những cách hiểu, vận dụng khác nhau ở các trường, gây khó khăn không ít cho đội ngũ cán bộ quản lý. Chẳng hạn về cách đánh giá, xếp loại giáo viên hàng năm đang phải thực hiện theo quy định của Bộ Nội vụ, của Bộ Giáo dục và Đào tạo, của Luật Thi đua khen thưởng,…
Về nguyên tắc đội ngũ cán bộ quản lý các trường phải điều hành, tổ chức các hoạt động theo chỉ đạo của ngành trong khi hội đồng quản trị chỉ muốn dạy học, hạn chế các hoạt động khác để giảm chi phí, tạo lợi nhuận cho người góp vốn. Đây là một khó khăn lớn của ban giám hiệu các trường tư thục.
Việc tuyển dụng đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý trong các trường tư thục là rất khó khăn dẫn đến đội ngũ giáo viên cơ hữu ở nhiều trường tư thục một phần là cao tuổi đã nghỉ hưu, một phần là giáo viên trẻ không được tuyển vào trường công lập. Số lượng giảng viên trẻ thường mới tốt nghiệp, trình độ thấp, được đào tạo từ nhiều nguồn khác nhau. Đội ngũ này lại thường xuyên thay đổi, không ổn định. Đây là bất cập lớn nhất ảnh hưởng đến chất lượng dạy học các trường, mà cho đến nay vẫn chưa có chính sách thu hút, cách thức tháo gỡ khó khăn này.
Thực trạng trên dẫn đến ở các trường trung học phổ thông tư thục khó đảm bảo được tỷ lệ số giáo viên theo quy định. Theo Điều 16 của Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tư thục, trường THPT tư thục phải bảo đảm từ năm học đầu tiên tỉ lệ số giáo viên cơ hữu phải có ít nhất 40% so với tổng số giáo viên theo quy định ở trường phổ thông công lập.
Để giải quyết các mục tiêu một cách hài hòa, nhiều trường đã đặt ra các quy định, những chính sách, chế độ riêng, tạo ra sự bất nhất giữa các trường, đồng thời ít nhiều ảnh hưởng đến chất lượng lao động. Chẳng hạn chế độ làm việc toàn thời gian ở một số trường (không theo định mức số tiết dạy mà theo chế độ tuần 40 giờ), chế độ sa thải, khen thưởng, xử phạt riêng của mỗi trường,…
3.3.3.4. Chính sách quản lý đối với các hoạt động dạy học và giáo dục ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Luật Giáo dục quy định: “Chương trình giáo dục thể hiện mục tiêu giáo dục; quy định chuẩn kiến thức, kỹ năng, phạm vi và cấu trúc nội dung giáo dục, phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động giáo dục, cách thức đánh giá kết quả giáo dục đối với các môn học ở mỗi lớp, mỗi cấp học hoặc trình độ đào tạo” (Điều 6).
Trên cơ sở đó, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ban hành Chương trình chuẩn của từng môn học được quy định tại Quyết định 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 và được xây dựng cụ thể trong sách giáo khoa của từng môn học, từng lớp học.
Hoạt động dạy học và giáo dục ở các trường THPT nói chung và THPT tư thục nói riêng trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh được thực hiện theo Quyết định số 16/2006/QĐ-BGDĐT ngày 05/5/2006 Bộ Giáo dục và Đào tạo và công văn số 5842/BGDĐT-VP ngày 01/9/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo hướng dẫn thực hiện giảm tải nội dung chương trình ở các cấp học, bậc học.
- Về kế hoạch giáo dục
Kế hoạch dạy học các môn và các hoạt động giáo dục cụ thể ở từng cấp lớp trong bậc học THPT như sau : Mỗi năm học có 37 tuần. Mỗi tuần học 6 buổi (từ thứ hai đến thứ bảy). Mỗi buổi học không quá 5 tiết. Mỗi tiết học 45 phút. Các trường dạy học hơn 6 buổi/tuần theo hướng dẫn tại công văn số 7291/BGDĐT-GDTrH ngày 01/11/2010 của Bộ GDĐT.
- Về chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ cần đạt
Chương trình giáo dục phổ thông cũng đề ra các yêu cầu cơ bản, tối thiểu về kiến thức, kỹ năng của môn học, hoạt động giáo dục và yêu cầu về thái độ mà mỗi học sinh cần phải và có thể đạt được cho từng lớp và cho cả cấp học. Chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ cần đạt đối với người học trong bộ chương trình giáo dục phổ thông được thể hiện trong chương trình từng môn học, ở cuối chương trình môn học, nêu rõ những gì học sinh cần đạt được cụ thể sau mỗi đơn vị kiến thức; đồng thời chuẩn kiến thức, kỹ năng và yêu cầu về thái độ cần đạt cũng được thể hiện ở phần cuối của chương trình mỗi cấp học với những gì người học cần đạt được sau khi hoàn thành cấp học.
Nhìn một cách bao quát, cấu trúc chương trình giáo dục THPT phổ thông có khả năng đảm bảo hình thành và phát triển một nhân cách toàn diện cho người học, đó là: Hệ thống tri thức về tự nhiên, xã hội, tư duy, kỹ thuật và phương pháp nhận thức; Hệ thống kỹ năng, kỹ xảo hoạt động trí tuệ và thực hành; Hệ thống kinh nghiệm trong hoạt động sáng tạo; Hệ thống kinh nghiệm về thái độ đối với thế giới và con người. Đây chính là những kết quả mà mục tiêu giáo dục phổ thông hướng tới.
Hàng năm, căn cứ hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ năm học của Bộ và các văn bản đã ban hành, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã xây dựng những chủ trương, chính sách cụ thể đối với các hoạt động dạy học và giáo dục tại các trường trên địa bàn Thành phố (Bảng 3.4).
Trong năm học 2016 – 2017, Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành các văn bản như: Công văn số 2587/GDĐT-GDTrH ngày 05/8/2016 về hướng dẫn lập kế hoạch giáo dục năm học 2016 – 2017; Công văn số 2940/GDĐT- TrH ngày 01/9/2016 về hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ Giáo dục Trung học năm học 2016 – 2017; Công văn số 2967/GDĐT-TrH 06/9/2016 hướng dẫn các trường THCS, THPT xây dựng kế hoạch giáo dục ngoài giờ lên lớp và các hoạt động trải nghiệm sáng tạo trong trường trung học năm học 2016- 2017, Công văn số 2615/GDĐT-GDTrH về việc hướng dẫn xây dựng Kế hoạch năm học và tổ chức hoạt động chuyên môn trường dạy học 02 buổi/ngày v.v. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Về kiểm tra, đánh giá kết quả các hoạt động giáo dục
Việc kiểm tra, đánh giá các hoạt động giáo dục của hoc sinh THPT được thực hiện theo Thông tư 58/2011/TT-BGDĐT ngày 12/12/2011 của Bộ GDĐT về Quy chế đánh giá, xếp loại học sinh trung học cơ sở và học sinh trung học phổ thông.
Đánh giá hạnh kiểm của học sinh căn cứ vào biểu hiện cụ thể về thái độ và hành vi đạo đức; ứng xử trong mối quan hệ với thầy giáo, cô giáo, cán bộ, công nhân viên, với gia đình, bạn bè và quan hệ xã hội; ý thức phấn đấu vươn lên trong học tập; kết quả tham gia lao động, hoạt động tập thể của lớp, của trường và của xã hội; rèn luyện thân thể, giữ gìn vệ sinh và bảo vệ môi trường;
Hạnh kiểm học sinh được xếp thành 4 loại: Tốt, Khá, Trung bình, Yếu sau mỗi học kỳ và cả năm học. Việc xếp loại hạnh kiểm cả năm học chủ yếu căn cứ vào xếp loại hạnh kiểm học kỳ II và sự tiến bộ của học sinh. Đánh giá, xếp loại học lực của học sinh được căn cứ vào: Mức độ hoàn thành chương trình các môn học và hoạt động giáo dục trong Kế hoạch giáo dục cấp THCS, cấp THPT; Kết quả đạt được của các bài kiểm tra. Về hình thức đánh giá: kết hợp đánh giá bằng nhận xét và cho điểm, cụ thể: Đánh giá nhận xét (đạt yêu cầu, chưa đạt yêu cầu) đối với các môn Âm nhạc, Mỹ thuật, Thể dục; Kết hợp đánh giá cho điểm và nhận xét đối với môn GDCD; Đánh giá cho điểm đối với các môn còn lại. Về hình thức kiểm tra: Kiểm tra miệng (hỏi – đáp); Kiểm tra viết (tự luận – trắc nghiệm); Kiểm tra thực hành. Các loại bài kiểm tra: Kiểm tra thường xuyên (KTtx) gồm: kiểm tra miệng; kiểm tra viết dưới 1 tiết; kiểm tra thực hành dưới 1 tiết; Kiểm tra định kỳ (KTđk) gồm: kiểm tra viết từ 1 tiết trở lên; kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên; kiểm tra học kỳ. Số lần kiểm tra: Số lần KTđk được quy định trong kế hoạch dạy học; Số lần KTtx: ít nhất 2 lần đối với môn học có 1 tiết trở xuống/tuần. Ít nhất 3 lần đối với môn học có từ trên 1 tiết đến dưới 3 tiết/tuần. Ít nhất 4 lần đối với môn học có từ 3 tiết trở lên/tuần.Nguồn: [29] Hệ số điểm các loại bài kiểm tra: Đối với các môn học đánh giá bằng cho điểm: Điểm KTtx tính hệ số 1, điểm kiểm tra viết, kiểm tra thực hành từ 1 tiết trở lên tính hệ số 2, điểm kiểm tra học kỳ tính hệ số 3; Đối với các môn học đánh giá bằng nhận xét: Kết quả nhận xét của các bài kiểm tra đều tính một lần khi xếp loại môn học sau mỗi học kỳ.
Kết quả cuối học kỳ 1, cả năm được xếp thành 5 loại: Giỏi, Khá, Trung bình, Yếu, Kém. Căn cứ kết quả học tập và rèn luyện, giáo viên bộ môn kết hợp với giáo viên chủ nhiệm xét lên lớp, ở lại, thi lại và khen thưởng.
- Về chế độ thi cử, văn bằng
Chế độ thi cử, văn bằng được thực hiện thống nhất, không có sự phân biệt giữa học sinh các hệ công lập và ngoài công lập, được căn cứ vào Thông tư 02/2015/TT-BGDĐT ngày 26/02/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo về Quy chế thi trung học phổ thông quốc gia; Thông tư 02/2016/TT-BGDĐT ngày 10/3/2016 về việc sửa đổi, bổ sung một số điều của quy chế thi trung học phổ thông quốc gia ban hành kèm theo Thông tư số 02/2015/TT-BGDĐT và Thông tư 19/2015/TT- BGDĐT ngày 08/9/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành quy chế quản lý văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân. Thi THPT quốc gia nhằm hai mục đích: Lấy kết quả để xét công nhận tốt nghiệp THPT; cung cấp thông tin để đánh giá chất lượng giáo dục phổ thông; Cung cấp dữ liệu làm căn cứ để tuyển sinh cao đẳng, đại học.
Học sinh học hết chương trình trung học phổ thông có đủ điều kiện theo quy định của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo thì được dự thi và nếu đạt yêu cầu thì được Giám đốc Sở Giáo dục và Đào tạo tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương cấp bằng tốt nghiệp trung học phổ thông. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Thông tư số 19/2015/TT-BGDĐT ngày 08/9/2015 của Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành Quy chế văn bằng, chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân quy định văn bằng của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học sau khi tốt nghiệp cấp học hoặc trình độ đào tạo. Chứng chỉ của hệ thống giáo dục quốc dân được cấp cho người học để xác nhận kết quả học tập sau khi được đào tạo hoặc bồi dưỡng nâng cao trình độ học vấn, nghề nghiệp.
Văn bằng của hệ thống giáo dục phổ thông bao gồm: Bằng tốt nghiệp trung học cơ sở; Bằng tốt nghiệp trung học phổ thông.
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách quản lý đối với các hoạt động dạy học và giáo dục trung học tư thục :
Những hạn chế trong chính sách quản lý đối với các hoạt động dạy học và giáo dục ở phổ thông nói chung đã được xã hội đặt ra lâu nay với bất cập lớn nhất là việc giáo dục cả nước đang thực hiện một chương trình chung nhất mà nội dung dạy học mang tính hàn lâm, nặng lý thuyết, xa rời thực tiễn; chuẩn kiến thức kỹ năng và các yêu cầu cần đạt của chương trình còn nhiều bất hợp lý không đáp ứng được nhu cầu học tập, yêu cầu thi cử; việc đánh giá kết quả theo định hướng nội dung, không đánh giá được khả năng người học vận dụng kiến thức, kỹ năng để giải quyết các vấn đề đặt ra trong đời sống. Các hoạt động ngoại khóa, giáo dục ngoài giờ lên lớp mang tính áp đặt, khép kín trong lớp học, trường học, thiếu các kỹ năng mềm, thiếu các hoạt động trải nghiệm dẫn đến không phát triển được năng lực của người học. Kiểm tra, đánh giá là khâu quan trọng trong quy trình đào tạo nhưng chưa được thực hiện một cách khoa học, khách quan và nghiêm túc. Phương thức thi cử thường xuyên thay đổi; nhiều biểu hiện tiêu cực trong thi cử chưa được xử lý triệt để v.v. Đây cũng chính là những vấn đề gây khó khăn, lúng túng nhiều nhất trong thực tế công tác quản lý, điều hành các hoạt động dạy học và giáo dục ở các trường THPT tư thục nói chung.
Về những hạn chế này chính các nhà làm chính sách cho giáo dục cũng đã nhận thấy và đang tích cực sửa đổi: đổi mới nội dung chương trình sách giáo khoa (dự kiến thực hiện từ năm học 2018 – 2019, một chương trình với nhiều bộ sách giáo khoa), cải tiến chế độ thi cử, đẩy mạnh đổi mới phương pháp dạy học, tăng cường dạy học phân hóa, dạy học tích hợp,…
Mời bạn tham khảo thêm:
3.3.4. Tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực quản lý nhà nước về giáo dục phổ thông trung học tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Về tổ chức bộ máy quản lý
Về tổ chức bộ máy các cơ quan thẩm quyền QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục : UBND Thành phố điều hành và phân công Sở Giáo dục và Đào tạo là đơn vị đầu mối trong công tác tham mưu và giúp việc UBND Thành phố thực hiện chức năng QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục.
Các sở Kế hoạch và Đầu tư, Tài chính, Sở Nội vụ, Lao động – Thương binh và Xã hội, Thanh tra Thành phố làm nhiệm vụ theo chức năng quản lý chuyên ngành để phối hợp với Sở Giáo dục và Đào tạo tham mưu – đề xuất hoặc thực hiện những nhiệm vụ QLNN liên quan đối với hệ thống trường tư thục.
Phòng “Tiếp nhận và giải quyết thủ tục hành chính” (bộ phận 1 cửa) tại Văn phòng Sở Giáo dục và Đào tạo chịu trách nhiệm tiếp nhận và là đầu mối phối hợp giải quyết các hồ sơ, thủ tục hành chính liên quan đến trường phổ thông tư thục, chủ yếu là tiếp nhận hồ sơ xin thành lập trường, giải quyết việc cấp phép hoạt động cho trường phổ thông tư thục.
Sự phân công này trên thực tế chưa thật cụ thể và quy định phối hợp giữa các Sở – ngành chức năng. Vai trò của Sở Giáo dục và Đào tạo chưa được phát huy tốt, chưa có đầu mối hoặc bộ phận chuyên trách tại Sở để theo dõi và quản lý hệ thống trường phổ thông tư thục; chưa quy định rõ trách nhiệm, quyền hạn, nhiệm vụ quản lý cụ thể cho từng phòng – ban chức năng.
- Nguồn nhân lực quản lý
Về nhân sự quản lý, tham mưu và giúp việc cho UBND Thành phố thực hiện chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông NCL, qua khảo sát – phỏng vấn tìm hiểu của nghiên cứu sinh tại một số cơ quan QLNN như Sở Nội vụ, Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Kế hoạch và Đầu tư, Sở Tài Chính Thành phố, ý kiến chung cho thấy: do UBND thành phố, Sở Giáo dục và Đào tạo và các Sở – ngành chức năng liên quan chưa có bộ phận chuyên trách hoặc kiêm nhiệm để theo dõi, tham mưu, xử lý tác nghiệp liên quan đến giáo dục phổ thông tư thục như yêu cầu Chính phủ đã đề ra trong Nghị quyết 05/NQ-CP nên công tác lập kế hoạch, tham mưu về chính sách và giải pháp phát triển hệ thống trường phổ thông NCL còn nhiều hạn chế.
Thực hiện yêu cầu trong đổi mới QLNN về giáo dục phổ thông tư thục, việc phân cấp quản lý đối với các trường phổ thông NCL đã được Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện đúng theo quy định của Chính phủ và Bộ Giáo dục và Đào tạo. Nhưng xuất phát từ những hạn chế của tổ chức bộ máy, năng lực nhân sự tham mưu và thực thi các chức năng QLNN, vai trò Nhà nước chưa rõ, hiệu lực QLNN có chưa hiệu quả, cơ chế quản lý đối với hệ thống trường phổ thông tư thục nhìn chung chậm đổi mới.
Trên thực tế, trong giai đoạn 2010 – 2015 vừa qua, QLNN về tài chính đối với giáo dục phổ thông tư thục là lĩnh vực chưa có nhiều đổi mới, nặng về cơ chế cũ và quản lý không khác gì nhiều so với trường phổ thông công lập. Việc ban hành các văn bản chỉ đạo chưa chú trọng nhiều đến yêu cầu tạo sự thông thoáng, tăng tính linh hoạt trong tự chủ – tự chịu trách nhiệm để các trường phổ thông tư thục. Một số văn bản quy định về việc thực hiện Kế hoạch thời gian năm học, công tác tuyển sinh, về thực hiện chương trình – kế hoạch dạy và học chưa phù hợp với đặc thù loại hình trường tư thục.
Tổng hợp ý kiến từ các phiếu khảo sát cho thấy với đánh giá QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục có đổi mới và thông thoáng hơn, số đồng ý và chưa đồng ý gần như tương đương (46,1% – 42,9%). Nhưng đa số ý kiến (56,5%) cho rằng cơ chế QLNN tại Thành phố Hồ Chí Minh vẫn chưa theo kịp được xu hướng phát triển của Thành phố.
Bảng 3.6 là tổng hợp ý kiến đánh giá về cơ chế và phương thức quản lý của cơ quan QLNN về giáo dục phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh qua phiếu khảo sát. Chúng tôi chọn mẫu tại 4 quận lớn: Quận Tân Bình, Quận 1, Quận 11 và Quận Phú Nhuận. Đối tượng khảo sát: công chức ở UBND quận, thành phố; CBQL trường phổ thông tư thục, một số cá nhân đầu tư – thành lập trường phổ thông tư thục. Số phiếu phát ra: 200, số phiếu thu vào: 151, đạt 75,5%.
Nhìn chung, các cơ quan QLNN của phần lớn tại Thành phố Hồ Chí Minh chưa quan tâm đúng mức việc sử dụng hiệu quả các công cụ quản lý để điều tiết vĩ mô. Do đó, cơ chế QLNN chưa phù hợp, chưa tôn trọng đúng mức quyền tự chủ – tự chịu trách nhiệm của trường phổ thông tư thục; chưa chú trọng vận dụng và phát huy mặt tích cực đồng thời hạn chế, ngăn ngừa tác động tiêu cực từ những mặt trái của cơ chế thị trường.
3.3.5. Đầu tư các nguồn lực cho quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Phát triển các nguồn lực vật chất
Tạo điều kiện để phát triển các nguồn lực đẩy mạnh công tác xã hội hóa giáo dục là một chính sách lớn của Đảng và Nhà nước ta và được cụ thể hóa trong các văn bản quy định từ nhiều năm nay.
Luật Giáo dục (2005) quy định: “Trường dân lập, trường tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi, thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, kiểm toán (Điều 66); Trường dân lập, trường tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, giao hoặc cho thuê cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao theo đơn đặt hàng, được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế và tín dụng; Chính phủ quy định cụ thể chính sách ưu đãi đối với trường dân lập, trường tư thục” [106].
Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục cũng xác định rõ: “Trường phổ thông tư thục được Nhà nước giao hoặc cho thuê đất, cơ sở vật chất, hỗ trợ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao; được hưởng các chính sách ưu đãi về thuế, tín dụng và chính sách ưu đãi khác theo quy định của pháp luật” [17].
Nhiều văn bản cũng đã hướng dẫn cụ thể các nội dung tạo điều kiện phát triển các nguồn lực tài chính, tài sản đối với các cơ sở giáo dục ngoài công lập. Về chế độ tài chính, theo Điều lệ tại Thông tư 13 quy định: “Trường phổ thông tư thục hoạt động theo nguyên tắc tự nguyện góp vốn, tự chủ về tài chính, tự cân đối thu chi; thực hiện các quy định của pháp luật về chế độ kế toán, kiểm toán, nghĩa vụ với ngân sách nhà nước và những quy định hiện hành khác liên quan; Nguồn tài chính của trường phổ thông tư thục bao gồm: (1) Vốn góp của tổ chức, cá nhân thành lập trường và nguồn tài chính bổ sung từ kết quả hoạt động hàng năm của nhà trường;
Học phí, lệ phí thu từ người học theo quy định của pháp luật; (3) Lãi tiền gửi tại ngân hàng, Kho bạc Nhà nước và các tổ chức tín dụng; (4) Các khoản đầu tư, tài trợ, viện trợ, ủng hộ, quà tặng của các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước; (5) Vốn vay của các ngân hàng, tổ chức tín dụng, cá nhân; (6) Hỗ trợ từ ngân sách khi thực hiện nhiệm vụ do Nhà nước giao; (7) Các khoản thu hợp pháp khác”.
Về chính sách khuyến khích đầu tư cơ sở vật chất, nhiều văn bản hướng dẫn chi tiết chế độ miễn giảm, thủ tục hồ sơ, khung giá cho thuê nhà, giao đất, thuê đất, chi phí bồi thường mặt bằng, chuyển nhượng, xây dựng cơ sở vật chất, … như: Nghị quyết 05/2005/NQ-CP ngày 18/4/2005 của Chính phủ về đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao; Nghị định số 69/2008/NĐ- CP ngày 30/5/2008 của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường; Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 69/2008/NĐ-CP; Nghị định 73/2012/NĐ-CP ngày 26/02/2012 của Chính phủ Quy định về hợp tác, đầu tư của nước ngoài trong lĩnh vực giáo dục; Thông tư 156/2014/TT-BTC ngày 32/10/2014 sửa đổi, bổ sung một số điều Thông tư số 135/2008/TT-BTC ngày 31/12/2008 của Bộ Tài chính hướng dẫn Nghị định số 69/2008/NĐ-CP của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hoá đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hoá, thể thao, môi trường. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Về cơ bản, các chính sách phát triển nguồn lực vật chất đối với các trường tư thục đã được ban hành khá đầy đủ và không ngừng được cải thiện để phù hợp với quá trình phát triển trong thực tiễn giáo dục cũng như trong nhận thức của các nhà quản lý về vai trò của hệ thống các trường tư thục.
- Phát triển các nguồn lực con người
Tiêu chuẩn, quyền và nhiệm vụ của giáo viên, cán bộ, nhân viên các trường THPT tư thục được quy định tại Điều 15 trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tư thục, cụ thể:
- Giáo viên trường phổ thông tư thục phải có đủ các tiêu chuẩn về phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và sức khỏe theo quy định của Luật Giáo dục và Điều lệ trường phổ thông.
- Nhiệm vụ và quyền của giáo viên, cán bộ, nhân viên:
+ Thực hiện đầy đủ nhiệm vụ theo hợp đồng lao động đã ký với nhà trường; có nhiệm vụ và quyền theo quy định của Luật giáo dục và Điều lệ trường phổ thông.
+ Được hưởng chế độ tiền công, tiền lương, tiền thưởng do trường chi trả theo hợp đồng lao động, được đóng bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và có quyền tham gia các tổ chức xã hội và đoàn thể theo quy định của pháp luật.
+ Giáo viên được khen thưởng khi có thành tích theo quy định của các cấp quản lý giáo dục, nếu có đủ các tiêu chuẩn theo quy định thì được xét phong tặng các danh hiệu Nhà giáo ưu tú, Nhà giáo nhân dân và Kỷ niệm chương vì sự nghiệp giáo dục.
Theo Nghị định 73, đối với các cơ sở giáo dục phổ thông có đầu tư nước ngoài: Giáo viên ít nhất phải có trình độ đại học sư phạm hoặc tương đương đối với giáo dục tiểu học, giáo dục trung học cơ sở và giáo dục trung học phổ thông; Số lượng giáo viên ít nhất phải đảm bảo tỷ lệ: 1,5 giáo viên/lớp đối với trường tiểu học, 1,95 giáo viên/lớp đối với trường trung học cơ sở và 2,25 giáo viên/lớp đối với trường trung học phổ thông. Đây là cơ sở để thực hiện các chính sách phát triển nguồn lực con người trong hệ thống các trường phổ thông ngoài công lập.
Thực hiện chính sách phát triển các nguồn lực đối với các cơ sở giáo dục tư thục nói chung, trường THPT tư thục nói riêng trên địa bàn, Thành phố Hồ Chí
Minh trong những năm qua cũng đã có nhiều chính sách phát triển đội ngũ nhà giáo. Chỉ thị nhiệm vụ năm học 2016 – 2017 (Chỉ thị 17/CT-UBND ngày 19/9/2016) nêu rõ: “Sở Nội vụ hướng dẫn, chỉ đạo các quận huyện thực hiện tốt công tác quy hoạch cán bộ quản lý giáo dục, thuyên chuyển, tuyển dụng nhằm đảm bảo số lượng, chất lượng cán bộ, giáo viên các cấp học, bậc học”; “Chăm lo đời sống vật chất và tinh thần cho đội ngũ giáo viên, cán bộ, nhân viên ngành giáo dục – đào tạo”. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Quyết định 34/2016/QĐ-UBND của UBND Thành phố ngày 13/9/2016 cũng đã quy định cơ chế thu, quản lý học phí, chính sách miễn giảm, hỗ trợ chi phí học tập từ năm học 2016 – 2017 đến năm học 2020 – 2021, trong đó cho phép “Cơ sở giáo dục ngoài công lập tự quyết định mức thu học phí và sử dụng học phí theo quy định của Chính phủ về chính sách khuyến khích xã hội hóa đối với các hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, dạy nghề, y tế, văn hóa, thể thao, môi trường”. Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố cũng đã phối hợp chỉ đạo các đơn vị ngoài công lập điều chỉnh lương tối thiểu vùng từ 3.100.000đ lên 3.500.000đ để làm căn cứ đóng BHXH theo Nghị định 122/2015/NĐ-CP ngày 14/11/2015 có hiệu lực từ 01/01/2016.
Công tác phát triển chuyên môn cho đội ngũ cán bộ quản lý và giáo viên cũng được Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố đặc biệt quan tâm. Nhiều hoạt động tập huấn, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ được tổ chức hàng năm như:
- Tổ chức tốt các đợt tập huấn chuyên môn: Dạy học và kiểm tra đánh giá theo định hướng phát triển năng lực học sinh; Dạy học toán và các môn khoa học bằng tiếng Anh; Tổ chức dạy học và kiểm tra, đánh giá theo chuyên đề tích hợp, liên môn; Tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo,…
– Triển khai bồi dưỡng thường xuyên đối với giáo viên trong mỗi năm học; chú trọng bồi dưỡng cán bộ quản lý và giáo viên cốt cán các môn học; đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên về chuyên môn và nghiệp vụ theo chuẩn hiệu trưởng, chuẩn nghề nghiệp giáo viên theo các hướng dẫn của Bộ GDĐT. Tăng cường các hình thức bồi dưỡng giáo viên, cán bộ quản lý và hỗ trợ hoạt động dạy học và quản lý qua trang mạng “Trường học kết nối”.
- Tiếp tục rà soát đánh giá năng lực giáo viên ngoại ngữ (môn tiếng Anh), tổ chức bồi dưỡng theo chuẩn quy định của Bộ GDĐT đáp ứng việc triển khai Đề án “Dạy và học ngoại ngữ trong hệ thống giáo dục quốc dân giai đoạn 2008 -2020”. Những giáo viên chưa đạt chuẩn năng lực tiếng Anh hoặc chưa được bồi dưỡng về phương pháp dạy tiếng Anh được bố trí đi học để đạt chuẩn/yêu cầu.
- Triển khai diễn đàn trên mạng và hỗ trợ hoạt động đổi mới sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn trong trường phổ thông; tiếp tục đẩy mạnh và nâng cao chất lượng sinh hoạt tổ/nhóm chuyên môn dựa trên nghiên cứu bài học; tăng cường tổ chức sinh hoạt chuyên môn tại trường, cụm trường, phòng/sở GDĐT (trực tiếp và qua mạng).
- Tiếp tục tổ chức hội thi giáo viên THCS, THPT dạy giỏi cấp cơ sở theo Thông tư số 21/2010/TT-BGDĐT, tổ chức hội thi giáo viên chủ nhiệm giỏi/ tổng phụ trách Đội giỏi cấp cơ sở; tổ chức tốt và động viên giáo viên tham gia cuộc thi dạy học theo chủ đề tích hợp dành cho giáo viên trung học,…
Các trường THPT tư thục đã chủ động tổ chức nhiều hoạt động nhằm phát triển chuyên môn cho đội ngũ một cách thiết thực qua các hội thảo khoa học, sinh hoạt chuyên đề trong tổ bộ môn, tổ chức nhiều buổi tập huấn như: Trường THCS – THPT Nguyễn Khuyến tổ chức lớp học “Dạy học theo dự án Intel” cho các giáo viên của trường; Trường THPT An Dương Vương tổ chức bồi dưỡng công tác chủ nhiệm lớp cho đội ngũ giáo viên chủ nhiệm, v.v.
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách phát triển các nguồn lực đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục:
Nhà nước đã có chủ trương giao đất, cho các trường thuê đất nhưng thực tế để có đất xây dựng, mở trường, các trường đã phải tự thân vận động và gặp không ít những khó khăn, rào cản về thủ tục. Chính sách về thuế, dành quỹ đất cho các trường tư thục hay nói chung chủ trương xã hội hóa giáo dục chưa thật sự được nhận thức đầy đủ ở các cấp có thẩm quyền.
Thiếu những chủ trương, chính sách phát triển riêng cho đội ngũ thuộc hệ thống các trường tư thục. Nhiều chương trình, đề án được sự đầu tư từ nguồn vốn lớn của Nhà nước, từ sự tài trợ của các tổ chức nước ngoài hiện nay lại chỉ dành riêng cho đội ngũ các trường công lập (đào tạo, bồi dưỡng phát triển chuyên môn, tham quan học tập ở nước ngoài). Nhiều trường tư thục phải tự tổ chức tập huấn, bồi dưỡng theo điều kiện riêng của trường nên rất hạn chế trong hoạt động này.
3.3.6. Kiểm định chất lượng giáo dục trung học phổ thông tư thục ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Kiểm định chất lượng giáo dục là nhiệm vụ nhằm giúp cơ sở giáo dục xác định mức độ đáp ứng mục tiêu giáo dục trong từng giai đoạn, để xây dựng kế hoạch cải tiến chất lượng giáo dục, nâng cao chất lượng các hoạt động giáo dục; thông báo công khai với các cơ quan QLNN và xã hội về thực trạng chất lượng của cơ sở giáo dục; để cơ quan QLNN đánh giá và công nhận cơ sở giáo dục đạt tiêu chuẩn chất lượng giáo dục.
Chính sách về kiểm soát chất lượng được quy định chung đối với các cơ sở giáo dục trong Điều 17 của Luật Giáo dục như sau: “Kiểm định chất lượng giáo dục là biện pháp chủ yếu nhằm xác định mức độ thực hiện mục tiêu, chương trình, nội dung giáo dục đối với nhà trường và cơ sở giáo dục khác. Việc kiểm định chất lượng giáo dục được thực hiện định kỳ trong phạm vi cả nước và đối với từng cơ sở giáo dục. Kết quả kiểm định chất lượng giáo dục được công bố công khai để xã hội biết và giám sát. Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo có trách nhiệm chỉ đạo thực hiện kiểm định chất lượng giáo dục”.
Quy chế tổ chức và hoạt động của trường tiểu học, trường trung học cơ sở, trường trung học phổ thông và trường phổ thông có nhiều cấp học loại hình tư thục (Ban hành kèm theo Thông tư số 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) cũng xác định: “Trường phổ thông tư thục có trách nhiệm tổ chức thực hiện việc tự kiểm tra các hoạt động của trường theo các quy định hiện hành. Trường phổ thông tư thục chịu sự kiểm tra, thanh tra của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền theo quy định của luật pháp. Trường phổ thông tư thục có trách nhiệm thực hiện công tác kiểm định chất lượng giáo dục theo các quy định hiện hành của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo”.
Những quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục, quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông nói chung và đối với các trường tư thục nói riêng cũng được xác định rõ tại Thông tư số 42/2012/TT- BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên.
Hiện nay, công tác kiểm soát chất lượng các trường THPT tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu được thực hiện qua các phương thức sau:
- Tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra các hoạt động dạy học, giáo dục tại các cơ sở nhằm ngăn ngừa các hiện tượng tiêu cực, chạy theo lợi nhuận, không thực hiện đầy đủ các nhiệm vụ giáo dục; đồng thời tư vấn, thúc đẩy các hoạt động nhằm nâng cao chất lượng giáo dục của các trường.
- Đẩy mạnh phong trào thi đua hằng năm giữa các trường tư thục trong cụm thi đua [40].
- Triển khai công tác đánh giá chất lượng giáo dục theo quy định tại Thông tư 42/2012/TT-BGDĐT ngày 23/11/2012 của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định về tiêu chuẩn đánh giá chất lượng giáo dục và quy trình, chu kỳ kiểm định chất lượng giáo dục cơ sở giáo dục phổ thông, cơ sở giáo dục thường xuyên.
Hạn chế, bất cập và những vấn đề đặt ra trong chính sách kiểm soát chất lượng đối với giáo dục THPT tư thục:
Các tiêu chí, tiêu chuẩn kiểm định chất lượng tại Thông tư 42/2012/TT- BGDĐT có nhiều điểm không phù hợp với các tôn chỉ, mục tiêu của các trường tư thục. Chẳng hạn tỷ lệ học sinh xếp loại trung bình trở lên đạt 85%; tỷ lệ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn ít nhất 15% là khó khả thi trong điều kiện tuyển sinh đầu vào từ nhiều nguồn khác nhau, có không ít học sinh yếu kém và việc tuyển dụng giáo viên là không dễ như đã trình bày ở mục 3.2.2.2.
Theo nhận định của các trường, việc thanh tra, kiểm tra thường xuyên của các cơ quan quản lý gây không ít khó khăn cho hoạt động của các trường; trong khi nhu cầu thật sự là cần ban hành những chính sách hướng dẫn dạy học, giáo dục nhằm đảm bảo chất lượng.
Công tác kiểm soát chất lượng ở Việt Nam được thực hiện chưa lâu (trong khoảng 10 năm gần đây) do vậy nhận thức, hiểu biết và cả cơ chế, chính sách cho hoạt động này còn nhiều bất cập từ các cấp quản lý cho đến từng giáo viên. Cần tiếp tục nghiên cứu chính sách phù hợp riêng cho đối tượng kiểm định là các trường ngoài công lập.
3.3.7. Thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Công tác thanh tra – kiểm tra đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trong những năm qua đã được UBND các cấp, các Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính và Thanh tra Nhà nước Thành phố quan tâm và chú trọng; cơ bản đảm bảo được yêu cầu theo các chức năng quản lý, tập trung chủ yếu vào các lĩnh vực: thanh tra toàn diện, thanh tra chuyên đề, thanh tra quản lý, kiểm tra quyết toán hoặc thanh tra tài chính. Ngoài các đợt thanh tra định kỳ, một số đợt kiểm tra đột xuất cũng là dịp bổ sung thông tin quản lý, đánh giá hoạt động của trường phổ thông tư thục.
Bên cạnh đó, các đợt thanh tra toàn diện, thanh tra quản lý của các Sở Giáo dục và Đào tạo đối với trường tư thục như công tác kế hoạch, bố trí – sử dụng đội ngũ, tuyển sinh; thực hiện chương trình, chất lượng, nề nếp giảng dạy – học tập, thực hiện quy chế chuyên môn; bảo quản – sử dụng, tu sửa và xây dựng cơ sở vật chất, quản lý tài chính và tài sản.
Theo năm học, các tổ thanh tra chuyên môn của ngành Giáo dục tiến hành thanh tra hoạt động sư phạm của nhà giáo, đánh giá – xếp loại giáo viên theo quy chế và quy trình do Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.
Nhìn chung, công tác thanh tra – kiểm tra đối với hệ thống trường phổ thông tư thục được thực hiện tương đối tốt, có tác dụng trong việc phục vụ thông tin quản lý, cơ bản kịp thời chấn chỉnh những lệch lạc – tiêu cực nhằm đảm bảo các trường tư thục hoạt động nề nếp và đúng hướng.
Trên thực tế so với yêu cầu thì công tác thanh tra, kiểm tra – kiểm soát vẫn tồn tại những hạn chế như: Tình trạng phụ đạo tràn lan, có tính chất đồng loạt, không chọn lọc, phân hóa đối tượng ở nhiều trường chưa được quan tâm làm rõ và chấn chỉnh kịp thời; chưa xử lý kiên quyết và nghiêm minh đối với một số trường phổ thông tư thục không chấp hành đúng quy định về tuyển sinh, chuyển trường, tổ chức thi lên lớp; về sĩ số học sinh/ lớp theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo đối với từng cấp học. Lĩnh vực kiểm tra – thanh tra tài chính được các cơ quan chức năng QLNN rất quan tâm nhưng vẫn đang bộc lộ không ít thiếu sót – bất cập : Chậm phát hiện những sai sót, tùy tiện của một số trường trong việc thực hiện định mức và nguyên tắc cũng như kỷ cương thu – chi tài chính như tình trạng lạm thu – đặt ra một số khoản thu tùy tiện; chưa chú ý kiểm tra – kiểm soát hoạt động dịch vụ phục vụ học sinh trong một số trường phổ thông tư thục,…
Vai trò giám sát của các tổ chức – các lực lượng xã hội, của cộng đồng và phụ huynh học sinh chưa được chú trọng, ít tác dụng.
Công tác kiểm định vẫn còn khá mới mẽ đối với các Sở Giáo dục và Đào tạo, lực lượng nhân sự còn mỏng, chưa được đào tạo – bồi dưỡng bài bản về quy trình, kỹ thuật, chuyên môn – nghiệp vụ về kiểm định cơ sở giáo dục gắn với những yêu cầu có tính chất đặc thù của loại hình trường phổ thông tư thục, đến nay vẫn chưa có trường phổ thông NCL nào trong vùng Đông Nam Bộ được tiến hành đánh giá ngoài theo quy trình và yêu cầu kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục do Bộ Giáo dục và Đào tạo đề ra.
3.4. ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
3.4.1. Kết quả đạt được ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
Nhìn chung, việc thực hiện chủ trương xã hội hóa giáo dục, phát triển hệ thống các trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố trong những năm qua đã đa dạng hóa các loại hình trường lớp, đảm bảo có đủ chỗ học, đáp ứng được nhu cầu học tập cho học sinh của Thành phố và một bộ phận học sinh đến từ các tỉnh thành khác; giảm áp lực về sĩ số cho các trường phổ thông công lập; tạo công ăn việc làm cho một bộ phận không nhỏ lao động; góp phần ổn định về an sinh, kinh tế – xã hội của Thành phố.
Các cấp trong hệ thống QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh đã khắc phục mọi khó khăn chăm lo phát triển hệ thống trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn phát triển.
Thành phố đã tổ chức thực hiện tốt các quy định của nhà nước về phát triển trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố. Căn cứ vào đặc thù của Thành phố để xây dựng và ban hành hoàn thiện hệ thống văn bản pháp luật làm cơ sở cho quản lý loại hình giáo dục này.
Thành phố đã xây dựng một hệ thống chính sách tạo điều kiện cho loại hình trung học phổ thông tư thục của Thành phố hình thành và phát triển; nhằm phát huy mọi nguồn lực, mọi thành phần kinh tế trên địa bàn Thành phố tham gia vào phát triển loại hình giáo dục này.
Các trường trung học phổ thông tư thục đã thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa giáo dục của Đảng và Nhà nước. Huy động được nhiều nguồn lực của các cá nhân, tổ chức trong và ngoài nước, xây dựng được nhiều trường mới hàng năm, đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng lớn và đa dạng của học sinh trong và ngoài nước trên địa bàn Thành phố và của khu vực.
Việc thành lập hệ thống trường phổ thông tư thục đã tạo thêm việc làm, cải thiện đời sống cho một bộ phận lớn giáo viên (kể cả giáo viên nước ngoài) của Thành phố.
Hệ thống trường tư thục đã góp phần làm tốt công tác phổ cập giáo dục tại Thành phố Hồ Chí Minh. Việc tổ chức, cá nhân tham gia xây dựng nhiều trường học mới tạo thêm chỗ học cho học sinh, góp phần giảm bớt ngân sách của Nhà nước đầu tư xây trường công lập. Ở Thành phố Hồ Chí Minh, nơi có dân số cao và dân nhập cư cơ học tăng nhanh gây áp lực rất lớn trong việc đáp ứng nhu cầu học tập của con em nhân dân thì các trường phổ thông tư thục đã góp phần rất lớn cho việc phát triển sự nghiệp giáo dục và đào tạo Thành phố.
3.4.2. Những hạn chế và nguyên nhân hạn chế
Những hạn chế:
- Hệ thống giáo dục phổ thông tư thục nói chung và giáo dục trung học phổ thông tư thục nói riêng ở Thành phố Hồ Chí Minh còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ, nhất là về định hướng và trong quá trình thực hiện chủ trương chuyển đổi các loại hình trường.
- Hệ thống thể chế làm nền tảng cho QLNN đối với giáo dục phổ thông trung học tư thục còn nhiều nội dung cần phải tiếp tục hoàn thiện. Ví dụ: cơ chế huy động nguồn lực; việc tạo cơ sở vật chất nhất là việc giao đất để tạo cơ sở nền tảng cho trường tư thục hình thành và phát triển cần được bổ sung làm rõ. ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
- Hệ thống chính sách cho giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố còn cần phải bổ sung, hoàn thiện. Cần có một hệ thống chính sách đồng bộ trong quản lý và phát triển loại hình trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố. Bên cạnh việc thực hiện các chính sách chung của Nhà nước, Thành phố Hồ Chí Minh cần có những chính sách riêng, đặc thù. Như chính sách về đầu tư, cổ phần, chính sách về thu chi học phí; chính sách đào tạo, bồi dưỡng giáo viên; chính sách về đánh giá xếp hạng nhà trường; kiểm định chất lượng đào tạo và thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quá trình thực hiện QLNN đối với hoạt động của trường trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.
- Hệ thống văn bản pháp luật quy định đối với các loại hình trường trung học tư thục cho cả nước nói chung và cho TP. Hồ Chí Minh chưa đầy đủ và kịp thời, hầu hết đều thực hiện theo các văn bản quy định chung đối với các trường THPT công lập. Một số chính sách về giáo dục của Nhà nước trong đó có giáo dục trung học phổ thông tư thục còn đơn giản. Việc triển khai, thực hiện có nơi còn tùy tiện, nhất là trong việc thực thi một số chính sách về đất đai, miễn giảm thuế có nơi làm chưa thật sự tao điều kiện cho loại hình giáo dục THPT tư thục phát triển. Có nơi gây không ít khó khăn cho công tác quản lý.
- Công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển GDTHPT tư thục còn hạn chế. Quy hoạch điểm trường chưa hợp lý, trong những năm qua phát triển trường PTTT của Thành phố mới chú trọng tập trung ở các quận nội thành, nơi dân cư tập trung nên các cơ sở giáo dục công lập chưa đáp ứng được nhu cầu của người dân và là nơi dân cư có mức sống, thu nhập cao hơn các vùng ngoại thành, vùng xa trung tâm.
- g) Việc thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố chưa thực hiện thường xuyên.
Nguyên nhân của tình trạng trên, theo chúng tôi là do một số nguyên nhân sau:
- Quản lý nhà nước đối với hệ thống các trường tư thục nói riêng, các trường PTTH tư thục nói chung chưa thích ứng mới loại hình dịch vụ này, cả ở tầm quốc gia và các địa phương. Hệ thống pháp luật và thể chế chính sách đối với các trường tư thục chưa hoàn chỉnh. Điều đó dẫn đến hệ quả như mục d ở trên chúng tôi đã đề cập: Hệ thống văn bản pháp luật quy định đối với các loại hình trường trung học tư thục cho cả nước nói chung và cho TP. Hồ Chí Minh chưa đầy đủ và kịp thời, hầu hết đều thực hiện theo các văn bản quy định chung đối với các trường THPT công lập.
- Quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho giáo dục là đầu tư cho phát triển đã từng bước được các cấp, các ngành quan tâm; nhưng chưa thật sự được quán triệt sâu sắc tạo điều kiện cho giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố phát triển. Nhận thức của các cấp lãnh đạo ở TP. Hồ Chí Minh về xã hội hóa các hoạt động giáo dục, trong đó có giáo dục trung học phổ thông tư thục có nơi chưa thật sự đầy đủ. Trong ý nghĩ của nhiều gười, trường tư thục không thể được coi ngang hàng với trường công lập.
- Một trong các nguyên nhân, theo chúng tôi, dẫn đến những hạn chế trong quản lý các trường tư thục nói chung, các trường PTTH tư thục nói riêng là do hiện chưa có cán bộ chuyên trách cho loại hình này ở Sở Giáo dục và Đào tạo cũng như ở các phòng Giáo dụ
Kết luận chương 3
Ở chương 3, luận án đã nghiên cứu và làm sáng tỏ nhiều nội dung liên quan đến thực trạng giáo dục phổ thông tư thục và QLNN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh. Có thể khái quát kết quả đạt được của chương 3 như sau:
Thứ nhất, luận án phân tích, chỉ ra những nhân tố về tự nhiên, kinh tế – xã hội có tác động, ảnh hưởng đến phát triển giáo dục của Thành phố nói chung, giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố nói riêng.
Thứ hai, luận án cũng đã nghiên cứu và làm sáng tỏ về thực trạng giáo dục phổ thông tư thục và QLNN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, gồm : (i) thực trạng quy mô trường, lớp, học sinh; (ii) thực trạng biên chế đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên; (iii) thực trạng cơ sở vật chất; ( Luận văn: Phân tích thực trạng quản lý giáo dục đào tạo THPT )
(iv) thực trạng tổ chức triển khai các hoạt động dạy học và giáo dục.
Thứ ba, qua tổ chức điều tra nghiên cứu, tác giả phân tích thực trạng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ở các mặt : (i) xây dựng và tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch, quy hoạch; (ii) xây dựng thể chế QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục; (iii) xây dựng chính sách về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh;
(iv) tổ chức bộ máy và nguồn nhân lực QLNN; (v) đầu tư các nguồn lực QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục; (vi) kiểm định chất lượng giáo dục trung học phổ thông tư thục; (vii) thanh tra, kiểm tra, giám sát trong quản lý Nhà nước về giáo dục phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố
Thứ tư, qua tổ chức điều tra nghiên cứu thực trạng, tác giả đánh giá thực trạng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh : (i) kết quả đạt được; (ii) những hạn chế và nguyên nhân của những hạn chế.
Có thể khẳng định, những kết quả nghiên cứu ở chương 3 là những luận cứ quan trọng cho việc tiếp tục nghiên cứu các nội dung của chương 4 và đề xuất các giải pháp nhằm từng bước nâng cao chất lượng QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
