Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT dưới đây là bài luận văn thạc sĩ giáo viên đánh giá cao trong quá trình làm bài. Bởi tác giả biết và nhận định Nền Giáo dục – đào tạo có vai trò quan trọng đối với sự phát triển của mỗi con người và sự phát triển kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia. Các nhà nghiên cứu về giáo dục và xã hội học cho rằng giáo dục là nhân tố đảm bảo sự tồn tại và phát triển của xã hội, đồng thời sự tồn tại và phát triển của giáo dục luôn chịu sự chi phối của trình độ phát triển xã hội. Đề tài: Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh làm đề tài nghiên cứu Thạc sĩ của tác giả.
4.1.1. Quan điểm của Đảng về phát triển giáo dục đào tạo
– Thứ nhất, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu
Đảng ta từ khi ra đời đã xem văn hoá – giáo dục là mặt trận hàng đầu để xoá chính sách ngu dân của thực dân, đế quốc sau hàng trăm năm đô hộ. Cương lĩnh 1991 của Đảng đã xác định: Khoa học và công nghệ, GDĐT phải được xem là quốc sách hàng đầu. Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định quan điểm: “Phát triển GDĐT cùng với khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, đầu tư cho GDĐT là đầu tư phát triển” [41]. Đây là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu kinh tế – xã hội, xây dựng vào bảo vệ đất nước. Phải coi đầu tư cho GD là một trong những hướng chính của đầu tư phát triển, tạo điều kiện cho GD đi trước và phục vụ đắc lực sự phát triển kinh tế – xã hội. Nếu GD mà không làm được nhiệm vụ đón đầu mà chỉ chạy theo kinh tế thì không thể tạo ra sự phát triển.
Thứ hai, giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục chỉ rõ vai trò vị trí của GDĐT: “GDĐT có sứ mệnh nâng cao dân trí, phát triển nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần quan trọng phát triển đất nước, xây dựng nền văn hoá và con người Việt Nam” [42].
Thứ ba, giáo dục phải vừa gắn chặt với yêu cầu phát triển đất nước, vừa phù hợp với xu thế tiến bộ của thời đại
Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội (bổ sung, phát triển năm 2011) tiếp tục khẳng định quan điểm: “Đổi mới căn bản và toàn diện GDĐT theo nhu cầu phát triển của xã hội; nâng cao chất lượng theo yêu cầu chuẩn hoá, hiện đại hoá, xã hội hoá, dân chủ hoá và hội nhập quốc tế, phục vụ đắc lực sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Đẩy mạnh xây dựng xã hội học tập, tạo cơ hội và điều kiện cho mọi công dân học tập suốt đời” [42]. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Thực hiện một nền giáo dục thường xuyên cho mọi người, xác định học tập suốt đời là trách nhiệm của mỗi công dân, cải cách nội dung và phương pháp giáo dục theo hướng hiện đại, thiết thực, có hiệu quả; loại bỏ những hình thức và nội dung giáo dục không còn thích hợp, kịp thời đưa các thành tựu khoa học, kỹ thuật hiện đại và công nghệ mới vào iaos dục. Kế thừa Đại hội X, nghị quyết đại hội XI chỉ rõ: “Thực hiện đồng bộ các giải pháp phát triển và nâng cao chất lượng GD, ĐT. Đổi mới chương trình, nội dung, phương pháp dạy và học, phương pháp thi, kiểm tra theo hướng hiện đại; nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, đặc biệt coi trọng giáo dục lý tưởng, đạo đức, lối sống, năng lực sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp, ý thức trách nhiệm xã hội…” [68].
Thứ tư, xã hội hoá, đa dạng hóa các hình thức giáo dục và đào tạo
Cùng với đổi mới mô hình tăng trưởng và cơ cấu kinh tế từ chủ yếu phát triển theo chiều rộng sang phát triển hài hòa giữa chiều rộng và chiều sâu, vừa mở rộng quy mô vừa chú trọng chất lượng, hiệu quả, giảm dần đầu tư từ ngân sách nhà nước. Đối với giáo dục và đào tạo, nghị quyết đại hội XI chỉ rõ: “Hoàn thiện cơ chế, chính sách XHH GDĐT trên cả ba phương diện: động viên các nguồn lực trong xã hội; phát huy vai trò giám sát của cộng đồng; khuyến khích các hoạt động khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, tạo điều kiện để người dân được học tập suốt đời” [56].
Huy động toàn xã hội làm giáo dục, động viên các tầng lớp nhân dân góp vào xây dựng nền giáo dục quốc dân dưới sự quản lý của nhà nước. Phải tiến hành tốt việc XHH các nguồn đầu tư. Ngoài ngân sách nhà nước, cần huy động các nguồn đầu tư khác ở trong và ngoài nước, thực hiện phương châm “Nhà nước và nhân dân cùng làm”.
Phải mở nhiều hình thức GDĐT, có đóng học phí, không hạn chế người cũng như tuổi đi học, tạo điều kiện mở rộng diện học tập cho đông đảo mọi người, thật sự thể hiện tinh thần giáo dục là sự nghiệp của toàn dân, với sự đầu tư thích đáng của Nhà nước. Đi đôi với phổ cập giáo dục lấy kinh phí từ ngân sách, khuyến khích mở trường, lớp dân lập (tư thục) ở các bậc phổ thông, đại học, dạy nghề.
Thực hiện công bằng trong giáo dục: người đi học phải đóng học phí, người sử dụng lao động qua đào tạo phải đóng góp chi phí đào tạo. Nhà nước có chính sách bảo đảm cho người nghèo và các đối tượng chính sách đều được đi học.
Có thể bạn quan tâm:
4.1.2. Định hướng phát triển giáo dục – đào tạo của Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Nghị quyết đại hội Đảng bộ Thành phố Hồ Chí Minh nhiệm kỳ 2015 – 2020 chỉ rõ: “Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là, đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý giỏi; đội ngũ cán bộ khoa học, công nghệ, văn hóa đầu đàn; đội ngũ doanh nhân và lao động lành nghề” [52]. Phải có quyết tâm cao và có chính sách đầu tư hữu hiệu để sớm nâng cao cả mặt bằng lẫn đỉnh cao dân trí nước ta lên trình độ của một quốc gia phát triển, tức là tạo ra khả năng lao động ở một trình độ mới, cao hơn nhiều so với trước đây.
Thành phố Hồ Chí Minh được xem là trung tâm kinh tế của cả nước, do đó, lực lượng di dân đến Thành phố ngày càng nhiều, ngành Giáo dục – Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh phải đáp ứng nhu cầu học tập không những cho người dân Thành phố mà còn cho số di dân từ các tỉnh khác đến Thành phố, chiếm 9,84% trên tổng số dân Thành phố. Do đó, dù ngân sách Thành phố chi cho ngạch giáo dục khá lớn (20 đến 22% tổng ngân sách Thành phố), riêng năm Giáo dục 1999, Thành phố đã bố trí đến 25% vốn đầu tư từ ngân sách Thành phố cho việc xây dựng và sửa chữa hệ thống trường phổ thông công lập ở Thành phố nhưng áp lực về cơ sở trường lớp vẫn không giảm.
Hệ thống trường phổ thông tư thục thực sự đã chia sẻ số lượng học sinh quá tải của Thành phố. Ngoài ra với hệ thống bán trú và nội trú còn đáp ứng được nhu cầu của một bộ phận phụ huynh không có điều kiện đưa đón, chăm sóc con, đáp ứng nhu cầu học tập cho học sinh ở các địa phương khác (30% trên tổng số học sinh ngoài công lập), giải quyết cho một bộ phận giáo viên công lập có điều kiện dạy thêm tăng thu nhập, giải quyết được một số lao động.
Theo mục tiêu chung của ngành Giáo dục – Đào tạo thì đến năm 2020, tỷ lệ học sinh ngoài công lập như sau: mẫu giáo 70%; THPT 40%; THCN 30%; CĐ – ĐH 40%. Do đó, hệ thống trường ngoài công lập sẽ tiếp tục phát triển về quy mô để đáp ứng yêu cầu học của nhân dân. Vì vậy, Thành phố đã có một số định hướng cụ thể như sau:
- Huy động toàn bộ hệ thống chính trị để tuyên truyền, phổ biến chủ trương và tổ chức thực hiện đẩy mạnh xã hội hóa giáo trong lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, thể dục thể thao của Đảng và Chính phủ (Nghị quyết số 05/2005/NQ-CP của Chính phủ về đấy mạnh xã hội hóa lĩnh vực giáo dục, y tế,, văn hóa, thể thể dục thể thao), để mọi tầng lớp nhân dân, các thành phần kinh tế đều biết, hiểu và tích cực tham
- Thành phố bổ sung và hoàn chỉnh quy hoạch mạng lưới trường tư thục, tăng thêm quỹ đất phát triển các trường tư thục; tham mưu Ủy ban nhân dân Thành phố ban hành các chính sách ưu tiên về đất, dành quỹ đất để xây dựng trường tư thục cũng như có chính sách ưu tiên về thuế và một số chính sách khác.
- Thường xuyên rà soát, bổ sung, ban hành, hoàn chỉnh các văn bản chỉ đạo của Thành phố đối với trường tư thục theo quy định của Nhà nước, các bộ, ngành để công tác quản lý có hệ thống và hiệu quả. Bảo đảm cho hoạt động giáo dục trung học phổ thông tư thục có hiệu lực, hiệu quả.
- Tổ thức thực hiện và bổ sung các chính sách có liên quan trực tiếp đến đến giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn cho phù hợp với trình độ phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố. Góp phần thỏa mãn nhu cầu học tập và xây dựng xã hội học tập suốt đời của công dân.
- Thường xuyên đổi mới công tác giảng dạy và học tập tại các trường trung học phổ thông tư thục; tổ chức dạy học theo phương pháp tích cực; chuyển đổi từ cách dạy áp đặt một chiều sang cách dạy tương tác đa chiều; tăng cường thực hành, giảm lý thuyết; nâng cao năng lực tự học, tự tìm tòi của học sinh; giáo dục các kỹ năng sống cho học
- Tăng cường kiểm tra công tác đầu tư cơ sở vật chất, trường lớp và trang thiết bị dạy học của các trường. Kiên quyết không tái cấp phép cho các trường có cơ sở vật chất chật hẹp, không đảm bảo điều kiện giảng dạy và học tập.
- Chú trọng công tác bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên đạt chuẩn theo qui định của Bộ Giáo dục và Đào tạo (chuẩn hiệu trưởng, chuẩn giáo viên);
- Đánh giá, kiểm định chất lượng các trường tư thục nói chung và trường trung học phổ thông tư thục nói riêng trên địa bàn Thành phố theo chuẩn của Bộ Giáo dục và Đào tạo.
- Tăng cường thanh tra, kiểm tra, giám sát; giải quyết khiếu nại, tố cáo các hoạt động giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố. Bảo đảm chất lượng giảng dạy, học tập; bảo đảm bảo đảm quyền lợi của người học, quyền lợi hợp pháp cho chủ đầu tư.
4.1.3. Xu hướng phát triển giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Đối với mỗi quốc gia, giáo dục và đào tạo là một vấn đề hết sức quan trọng trong sự phát triển của đất nước, là thước đo trình độ phát triển chính xác nhất. Bằng nhãn quan thiên tài, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đặt vấn đề “nạn dốt” là vấn đề cấp bách trong sáu nhiệm vụ cấp bách của Nhà nước Việt Nam dân chủ mới ra đời. Đảng và Nhà nước từ rất sớm đã xác định sự nghiệp giáo dục và đào tạo là một nhiệm vụ quan trọng của Cách mạng Việt Nam, là quốc sách hàng đầu. Tư tưởng chỉ đạo về giáo dục và đào tạo này đã được phát triển, bổ sung, hoàn thiện qua các kỳ Đại hội (V, VI, VII, VIII, IX, X, XI) của Đảng Cộng sản Việt Nam. Nghị quyết Trung ương II khóa VIII xác định “cùng với khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo là quốc sách hàng đầu, là nền tảng động lực thúc đẩy phát triển kinh tế xã hội trong giai đoạn đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước” [62].
Trong hệ thống giáo dục quốc dân Việt Nam, giáo dục phổ thông được Đảng ta nhìn nhận là một bậc giáo dục có tầm quan trọng đặc biệt, vừa là “bản lề”, vừa là “cốt lõi” của toàn bộ quá trình hình thành và phát triển nhân cách của lứa tuổi thiếu niên và thanh niên, giúp các em từ bước đi chập chững, từ nhận biết đơn sơ đến nắm bắt được nhiều kiến thức cơ bản về văn hóa, văn hóa làm người và định hướng được cuộc sống của mình là phục vụ sự nghiệp của Đảng, của dân tộc. Nhận thức vai trò to lớn của giáo dục phổ thông trong hệ thống giáo dục quốc dân cũng như phát triển chất lượng giáo dục bậc THPT nhằm “Nâng cao dân trí, đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, góp phần tích cực vào công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, xây dựng Thành phố ngày càng giàu đẹp, văn minh và công bằng xã hội”, trong những năm qua, Đảng và Nhà nước đã thường xuyên chăm lo, tạo điều kiện để chất lượng giáo dục phổ thông từng bước được đổi mới và phát triển vững chắc. Do vậy, từ đội ngũ giáo viên, học sinh, cơ sở vật chất trường lớp nghèo nàn, lạc hậu, đến nay, thành phố đã có đội ngũ giáo viên của bậc học không chỉ lớn về số lượng mà còn mạnh cả về chuyên môn; cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy – học ngày càng hiện đại góp phần tạo nên bộ mặt ngành giáo dục ngày càng đổi mới.
Ngành giáo dục, đào tạo đã có bước phát triển mới, góp phần quan trọng xây dựng đất nước, xây dựng nền văn hóa và con người Việt Nam sánh vai với các cường quốc năm châu. Tuy nhiên, trước xu thế hội nhập với khu vực và quốc tế, trước những đòi hỏi ngày càng cao của thời kỳ đổi mới, thời kỳ đẩy mạnh CNH – HĐH đất nước, phát triển kinh tế tri thức và hội nhập kinh tế quốc tế và khu vực; trước thực tiễn của nền giáo dục của đất nước chưa thực sự là một động lực thúc đẩy và là một điều kiện cơ bản bảo đảm việc thực hiện những mục tiêu KT – XH, xây dựng và bảo vệ đất nước,… mà nguyên nhân sâu xa là quá trình tiếp cận các xu thế giáo dục mới để định hướng cho quá trình đổi mới, phát triển công tác giáo dục ở các nhà trường còn chậm, thiếu chủ động, chưa sáng tạo và kịp thời.
Trong giai đoạn hiện nay cần phải huy động mọi lực lượng của xã hội tham gia vào công tác đổi mới và phát triển giáo dục, trong đó việc nghiên cứu xu thế phát triển giáo dục của các nước trên thế giới và thực tiễn giáo dục ở Việt Nam, ứng dụng những kết quả dự báo của nó vào công cuộc đổi mới, xây dựng và phát triển nền giáo dục nước nhà trong thời kì hiện nay là vấn đề có ý nghĩa đặc biệt quan trọng bảo đảm tính kế thừa và sự đón đầu trong quá trình chấn hưng nền giáo dục.
Cung ứng dịch vụ công là một trong những chức năng cơ bản của nhà nước. Để khắc phục nền hành chính truyền thống, hành chính hiện đại cho rằng nhà nước có trách nhiệm cung cấp dịch vụ công để thỏa mãn nhu cầu công dân. Ở nước ta, hệ thống giáo dục ngoài công lập hiện đang là tiêu điểm xem xét của xã hội, lĩnh vực này đã và đang gây ra nhiều bức xúc cho xã hội. Trong đó, chất lượng giáo dục trong hệ thống các trường ngoài công lập được xã hội quan tâm hàng đầu. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Trong những năm qua, Đảng và Nhà nước ta đã có nhiều nỗ lực trong đổi mới quan điểm, chính sách giáo dục trong đó có giáo dục ngoài công lập. Tuy nhiên, bên cạnh những thành quả đạt được cũng còn nhiều bất cập; trong đó có nhiều bất cập về thể chế, chính sách, hiệu quả quản lý,… chưa đáp ứng được nhu cầu xã hội.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn của cả nước. Cùng với sự phát triển đi lên của các tỉnh, thành phố trong cả nước, Thành phố Hồ Chí Minh đã và đang là trung tâm rất sôi động trong sự phát triển về mọi mặt; trong đó có giáo dục. Việc tìm ra biện pháp tăng cường QLNN về giáo dục phổ thông trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, trong đó có giáo dục phổ thông tư thục đạt hiệu quả hơn và phù hợp với bối cảnh, xu thế toàn cầu hóa hiện nay là một việc làm hết sức cần thiết và quan trọng.
Số lượng học sinh tại các trường THPT tư thục hiện nay vẫn tăng nhưng tốc độ chậm dần vì nhiều trường tư thục và nhiều phòng học mới tại các trường công lập trên địa bàn Thành phố được đầu tư xây dựng hàng năm, đáp ứng được nhu cầu học tập của học sinh. Số lượng học sinh tại các tỉnh thành khác đang theo học tại các trường THPT tư thục trên địa bàn Thành phố cũng có chiều hướng giảm trong những năm gần đây vì số lượng trường tư thục tại các tỉnh lân cận có xu hướng tăng, tạo điều kiện thuận lợi cho phụ huynh học sinh gửi con em theo học ngay tại địa phương. Ngoài ra, chi phí học tập, lưu trú, đi lại cho con em theo học tại Thành phố khá cao trong tình hình kinh tế chung hiện nay nên phụ huynh học sinh ở các tỉnh hạn chế việc đưa con em lên Thành phố học.
Đánh giá tình hình phát triển như trên, quan điểm chung của Sở GD và ĐT Thành phố là tiếp tục củng cố và phát triển các trường tư thục giảng dạy nghiêm túc đảm bảo đúng mục tiêu giáo dục, đầu tư chất lượng.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục ngoài công lập là yêu cầu tất yếu của xã hội, một mình nhà nước không thể đáp ứng nhu cầu học tập ngày càng đa dạng của người dân, nhất là trong thời đại hội nhập toàn cầu, học tập suốt đời là yêu cầu của hội nhập quốc tế.
Sự phát triển của hệ thống giáo dục ngoài công lập ngày càng khẳng định chủ trương đúng đắn của Đảng ta về xã hội hóa giáo dục đã được sự đồng tình cao của nhân dân và các tổ chức xã hội trong và ngoài nước. Tuy nhiên, hệ thống các trường ngoài công lập cần được nhà nước định hướng phát triển để đóng góp nhiều hơn nữa cho công cuộc đổi mới giáo dục nước nhà.
4.1.4. Mục tiêu giáo dục trung học phổ thông tư thục của Thành phố ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Mục tiêu tổng quát
Trong những năm tới, tình hình thế giới và trong nước sẽ có những thuận lợi, thời cơ và nhiều khó khăn, thách thức, đan xen phức tạp. Đất nước ta tiếp tục hội nhập quốc tế sâu rộng hơn, thực hiện lộ trình các cam kết quốc tế; vấn đề Biển Đông, biên giới Tây Nam, vấn đề biến đổi khí hậu, nước biển dâng,… sẽ là sức ép rất lớn cả về năng lực cạnh tranh và ổn định chính trị trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh, đòi hỏi Đảng bộ và nhân dân Thành phố phải nỗ lực phấn đấu mạnh mẽ hơn nữa. Ban Chấp hành Đảng bộ Thành phố xác định mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu của nhiệm kỳ 2015 – 2020, trong đó mục tiêu tổng quát như sau:
Xây dựng Đảng bộ Thành phố thật trong sạch, vững mạnh; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước; không ngừng đổi mới, năng động, sáng tạo, giữ vững ổn định chính trị – xã hội; nâng cao chất lượng tăng trưởng và năng lực cạnh tranh của kinh tế Thành phố, gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo vệ môi trường; nâng cao phúc lợi xã hội và chất lượng cuộc sống của Nhân dân. Xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình; có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; sớm trở thành một trong những trung tâm lớn về kinh tế, tài chính, thương mại, khoa học – công nghệ.
- Đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục – đào tạo
Phấn đấu đến năm 2020, hệ thống giáo dục – đào tạo Thành phố được chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa, hội nhập với các nền giáo dục tiên tiến trong khu vực và trên thế giới, giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc. Bổ sung, hoàn thiện cơ chế để đào tạo nghề theo yêu cầu, tiêu chí của doanh nghiệp. Xây dựng Thành phố Hồ Chí Minh thành một thành phố học tập, một trung tâm giáo dục – đào tạo chất lượng cao của cả nước và khu vực Đông Nam Á. Đánh giá kết quả giáo dục của Thành phố: Giáo dục – đào tạo có chuyển biến tích cực; đẩy mạnh nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; hoạt động nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ góp phần tích cực vào quá trình phát triển; chăm lo phát triển văn hóa – xã hội, không ngừng cải thiện, nâng cao đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của nhân dân.
Ngân sách đầu tư vào giáo dục – đào tạo tăng hàng năm, phát triển cơ sở vật chất theo quy hoạch, từng bước hiện đại; chuẩn hóa đội ngũ giáo viên ở các ngành học, bậc học; đổi mới phương pháp giảng dạy, coi trọng giáo dục nhân cách, lối sống, đạo đức, lý tưởng cho học sinh; xã hội hóa giáo dục – đào tạo đạt kết quả tích cực; hệ thống giáo dục – đào tạo ngoài công lập góp phần đáng kể vào việc đào tạo nhân lực; công tác quản lý giáo dục – đào tạo đổi mới tích cực, đạt hiệu quả; phát huy vai trò của gia đình phối hợp với nhà trường, xã hội trong giáo dục thế hệ trẻ; chất lượng dạy và học được nâng cao, là cơ sở để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo Thành phố. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực được thực hiện khá tốt, gắn với nhu cầu xã hội ở các lĩnh vực; đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thành phố được trang bị cơ bản về lý luận chính trị, chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng công tác; việc đào tạo nghề nghiệp đã góp phần trực tiếp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thành phố.
Quan tâm đầu tư nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ phục vụ sản xuất và đời sống, tỷ lệ ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn, phát triển các sản phẩm công nghệ cao tăng lên, một số lĩnh vực tiếp cận trình độ tiên tiến khu vực. Chú trọng đổi mới, hoàn thiện cơ chế quản lý, liên kết, phối hợp, phát huy hoạt động nghiên cứu, chuyển giao công nghệ của các viện nghiên cứu, các trường đại học trên địa bàn thành phố; thực hiện thí điểm chính sách thu hút chuyên gia khoa học – công nghệ và chính sách phát triển khoa học – công nghệ theo hướng xã hội hóa. Quan tâm đầu tư, nâng cao hiệu quả hoạt động các khu công nghệ, kỹ thuật cao. Khu công nghệ cao thành phố đã bước đầu thu hút đầu tư của các tập đoàn, công ty sản xuất công nghiệp công nghệ tiên tiến, giá trị xuất khẩu tăng mạnh. Khoa học xã hội và nhân văn được chú trọng đầu tư và phát huy hiệu quả.
Gắn tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hóa, xây dựng, phát triển con người. Hệ thống thiết chế văn hóa được đầu tư, phát huy tác dụng, từng bước đáp ứng nhu cầu học tập, sinh hoạt, giải trí lành mạnh của Nhân dân. Hoạt động văn học nghệ thuật khá phong phú, sôi động, có nhiều sáng tạo; việc sáng tác, quảng bá các tác phẩm có giá trị tư tưởng và nghệ thuật cao được đầu tư. Xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở, xây dựng môi trường văn hóa đạt kết quả quan trọng, quan tâm khuyến khích các hoạt động văn hóa lành mạnh, phát động Nhân dân đấu tranh bài trừ sản phẩm phi văn hóa, độc hại, tệ nạn xã hội. Nhiều di sản văn hóa vật thể, phi vật thể được bảo tồn và phát huy tác dụng. Xã hội hóa hoạt động văn hóa ngày càng mở rộng, góp phần đáp ứng nhu cầu của người dân. Công tác quản lý Nhà nước về văn hóa được tăng cường; thể chế văn hóa từng bước được hoàn thiện. Hoạt động thông tin truyền thông, báo chí, xuất bản phát triển. Hoạt động thể dục – thể thao, rèn luyện thân thể với nhiều hình thức đa dạng, phong phú, góp phần nâng cao thể chất nhân dân, xây dựng môi trường xã hội lành mạnh; đào tạo huấn luyện viên, vận động viên và đầu tư cơ sở vật chất để phát triển thể thao thành tích cao được thực hiện có trọng điểm và phát huy hiệu quả nhất định. Công tác xã hội hóa các hoạt động thể dục – thể thao có định hướng, ngày càng đi vào nề nếp, tác dụng tích cực.
Công tác chăm sóc sức khỏe nhân dân được quan tâm. Tập trung đầu tư đào tạo, nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ y tế; hệ thống khám, chữa bệnh, cơ sở vật chất, trang thiết bị y tế được nâng cấp; chất lượng khám, chữa bệnh được cải thiện. Chú trọng thực hiện tốt chính sách y tế cho trẻ dưới 6 tuổi, người có công, đối tượng chính sách xã hội, người nghèo. Nhận thức về trách nhiệm tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế của các đơn vị sử dụng lao động, của người lao động và các tầng lớp nhân dân được nâng lên. Tập trung hoàn thiện đề án phát triển hệ thống y tế đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025, triển khai xây dựng các bệnh viện ở cửa ngõ thành phố, thực hiện đề án giảm tải các bệnh viện tuyến thành phố, thực hiện cơ chế viện – trường. Một số bệnh viện tư nhân, bệnh viện có vốn đầu tư nước ngoài, cơ sở y tế kỹ thuật cao đi vào hoạt động hiệu quả.
Hoàn thành mục tiêu giảm hộ nghèo giai đoạn 2009 – 2015 trước 2 năm; thực hiện đồng bộ các giải pháp tổng hợp chương trình giảm nghèo bền vững giai đoạn 2014 – 2015 đạt hiệu quả, đến nay hộ nghèo có thu nhập dưới 16 triệu đồng/người/năm còn 0,89%; hộ cận nghèo có thu nhập dưới 21 triệu đồng/người/năm còn 2,39%. Cả hệ thống chính trị và toàn xã hội chung sức thực hiện các chương trình an sinh, phúc lợi xã hội, hỗ trợ người nghèo, cận nghèo, công nhân, lao động có hoàn cảnh khó khăn, giúp người nghèo tiếp cận các nguồn vốn tín dụng và dịch vụ xã hội cơ bản có chất lượng. Thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công, quan tâm chăm lo các đối tượng bảo trợ xã hội. Thành phố luôn quan tâm giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, cải thiện đời sống vật chất, văn hóa tinh thần của các tầng lớp Nhân dân, kéo giảm chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn. Huy động nguồn lực, cơ bản hoàn thành chương trình xây dựng nông thôn mới, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, lao động, thay đổi diện mạo nông thôn, đời sống cư dân nông thôn.
Chất lượng giáo dục – đào tạo và nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập quốc tế; khoa học – công nghệ chưa thật sự là động lực thúc đẩy phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội; khắc phục một số vấn đề bức xúc trên lĩnh vực văn hóa – xã hội chậm. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Nội dung, phương pháp giáo dục chậm đổi mới, chưa gắn với thực tiễn, thực hành ít. Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục chưa đáp ứng về số lượng, chất lượng. Quản lý hoạt động giáo dục ngoài công lập chưa đáp ứng yêu cầu. Việc xây dựng xã hội học tập chưa thực chất, kết quả thấp. Đầu tư cho khoa học – công nghệ chưa đáp ứng yêu cầu; chưa tạo được đột phá trong cơ chế tài chính phát triển khoa học – công nghệ; kết quả ứng dụng các công trình nghiên cứu khoa học vào sản xuất và đời sống còn hạn chế; thị trường khoa học và công nghệ phát triển chậm. Trình độ công nghệ của nhiều ngành, lĩnh vực và nhiều doanh nghiệp còn lạc hậu.
Phát triển văn hóa, giáo dục chưa tương xứng với vai trò, vị trí là trung tâm văn hóa lớn của vùng và cả nước. Đầu tư phát triển thiết chế văn hóa còn yếu. Công tác giáo dục chính trị tư tưởng và cơ chế, phương thức quản lý chưa đủ mạnh để tăng sức đề kháng chống lại sự xâm lăng văn hóa. Sản phẩm phi văn hóa, độc hại diễn biến rất phức tạp, đang tấn công vào đạo đức, lối sống trong xã hội, nhất là thanh – thiếu niên. Việc xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở còn nhiều khó khăn; mức thụ hưởng văn hóa giữa nội thành và ngoại thành, giữa các nhóm dân cư còn chênh lệch lớn. Công tác quản lý Nhà nước trên lĩnh vực văn hóa chưa đáp ứng yêu cầu.
Việc giải quyết tình trạng quá tải ở các bệnh viện chuyên khoa, đa khoa lớn chưa đạt chuyển biến căn bản, chậm đầu tư xây dựng các bệnh viện ở các cửa ngõ thành phố; quản lý vệ sinh, an toàn thực phẩm chưa đạt yêu cầu; hiệu quả giảm nghèo còn thiếu bền vững; kết quả một số môn thể thao thành tích cao sụt giảm, cơ sở vật chất, điều kiện đảm bảo công tác huấn luyện, tập luyện chưa được đầu tư đúng mức, chưa triển khai đầu tư xây dựng Khu liên hợp thể thao Rạch Chiếc; chưa có những cơ sở phục vụ giải trí, chăm sóc sức khỏe mang tầm quốc gia, khu vực.
4.2. GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN QUẢN LÝ NHÀ NƯỚC VỀ PHÁT TRIỂN GIÁO DỤC TRUNG HỌC PHỔ THÔNG TƯ THỤC TRÊN ĐỊA BÀN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
4.2.1. Nhóm giải pháp về xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch hỗ trợ phát triển hệ thống trường phổ thông trung học tư thục trên địa bàn Thành phố ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Mục đích của nhóm giải pháp:
Thành phố Hồ Chí Minh cần có hướng chỉ đạo ưu tiên thực hiện đồng bộ các lĩnh vực xây dựng quy hoạch, chiến lược phát triển; sử dụng công cụ chính sách, nhất là chính sách về tài chính, chính sách đặc thù của Thành phố nhằm mục đích thực sự khuyến khích và thu hút đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục; tạo điều kiện cho hệ thống trường phổ thông tư thục phát triển, đáp ứng nhu cầu nâng cao dân trí, tạo nguồn nhân lực cho phát triển bền vững thành phố trong những năm tới.
- Cơ sở để đề xuất nhóm giải pháp:
Trên cơ sở lý luận, việc quy hoạch và kế hoạch đưa ra phải phù hợp với mục tiêu QLNN và mang tính khả thi. Kế hoạch phát triển trường tư thục trên địa bàn Thành phố có nhiều mặt phải khác kế hoạch phát triển hệ thống trường công lập, chủ yếu mang tính định hướng và gắn với các chính sách thu hút đầu tư. XHH là một trong những định hướng phát triển giáo dục, nhưng việc đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục lại thuộc về các cá nhân hoặc tổ chức ngoài nhà nước và việc này còn tùy thuộc rất nhiều yếu tố. Nhà nước không thể “muốn là được”, để kế hoạch được thực thi, rất cần hệ thống chính sách đồng bộ và hữu hiệu. Quan niệm ngân sách Nhà nước chỉ dành cho các cơ sở giáo dục công lập là không phù hợp và yêu cầu cải cách dịch vụ công, theo nguyên tắc dù dịch vụ giáo dục do Nhà nước hay tư nhân được Nhà nước cho phép hoạt động thì Nhà nước vẫn phải là người chịu trách nhiệm trước xã hội.
Tuy trong Nghị quyết 05/NQ-CP đã có đề ra yêu cầu “bố trí ngân sách dành cho XHH” nhưng chủ trương này cần được thể chế hóa bằng những quy định và hướng dẫn cụ thể. Trên thực tế, do Nhà nước vẫn đóng hai vai, vừa là chủ thể QLNN, vừa là nhà cung cấp dịch vụ; sự không rõ ràng này dẫn đến tình trạng “độc quyền” phân bổ và sử dụng ngân sách nhà nước chỉ dành cho đơn vị sự nghiệp công. Do đó, cần phát huy vai trò Nhà nước trong việc sử dụng ngân sách hỗ trợ dưới nhiều hình thức cho trường tư thục hoạt động thuận lợi và phát triển. Ngay cả những nước phát triển như Hoa Kỳ, Nhà nước vẫn dành ngân sách hỗ trợ trường tư thục dưới nhiều hình thức tài trợ công.
Qua nghiên cứu thực trạng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh, thực tế cho thấy: Trong những năm qua việc quy hoạch, xây dựng kế hoạch phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục còn mang dấu ấn của cơ chế tập trung, quan liêu, có phần duy ý chí và thiếu tính khả thi. Chính sách của trung ương phải được thể chế hóa và đi vào thực tiễn tại các địa phương, đảm bảo sự nhất quán và điều chỉnh kịp thời. Mặt khác, các chính sách của địa phương cũng rất quan trọng để quá trình phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục và hoạt động QLNN vừa đáp ứng yêu cầu vừa phù hợp điều kiện KT – XH của Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh là một trong những địa bàn thu hút đầu tư tư nhân về giáo dục tư thục nhiều nhất trên cả nước, tuy vậy các cấp QLNN cần phải có kế hoạch cụ thể, hoạch định chính sách đặc thù của các địa phương phù hợp yêu cầu và điều kiện KT – XH Thành phố để các ngành, các cấp có cơ sở thực hiện.
4.2.2. Các giải pháp: ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Thứ nhất, cấp ủy Đảng Thành phố cần tăng cường lãnh đạo công tác XHHGD. Hội đồng Nhân dân Thành phố có chương trình kiểm tra – giám sát các cấp QLNN, các Sở – ngành chức năng về việc triển khai – thực hiện chính sách, giải pháp đã được Chính phủ đề ra về khuyến khích phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục.
Mặt chính trị: Với nhận thức trường phổ thông tư thục và cả chủ thể đầu tư thành lập trường vừa là đối tượng quản lý vừa là đối tác đồng hành trên con đường XHHGD, các cấp QLNN cần chú trọng hơn nữa việc khuyến khích – động viên và tạo điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư góp vốn làm giáo dục; tôn vinh những người hoạt động vì xã hội và sự nghiệp giáo dục, những người hiến tặng; có chính sách cụ thể thu hút đầu tư từ nơi khác, từ nước ngoài.
Mặt kinh tế: Hỗ trợ trường phổ thông tư thục thông qua công cụ chính sách tài trợ công, chính sách thuế, quy hoạch gắn với giao đất và trách nhiệm của Nhà nước về đền bù – giải phóng mặt bằng.
Mặt quản lý: các cá nhân hoặc tổ chức mở trường tư thục cùng với Nhà nước góp sức tạo lập thị trường giáo dục phổ thông tư thục, cho phép các trường phổ thông tư thục mở rộng địa bàn tuyển sinh. Tạo cơ chế thông thoáng, tôn trọng quyền tự chủ nhưng vẫn phải có sự giám sát – chế tài về học phí, kết hợp với kiểm tra – kiểm định chất lượng để trên cơ sở đó phổ thông tư thục tạo lập thương hiệu, thúc đẩy cạnh tranh trong toàn hệ thống trường phổ thông nói chung, hệ thống trường phổ thông tư thục nói riêng.
Điều kiện thực hiện:
Cần có sự lãnh đạo sâu sát của Thành ủy TP. Hồ Chí Minh và sự quản lý có hiệu quả của UBND Thành phố đối với giáo dục của Thành phố nói chung và của giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố nói riêng. Thành phố cần có những nghị quyết, những quyết định mang tính chuyên đề (chuyên sâu) đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục phù hợp với tình hình phát triển kinh tế – xã hội của cả nước và của TP. Hồ Chí Minh.
Thứ hai, UBND Thành phố cần xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển cụ thể và khả thi, công khai quy hoạch và chính sách, tạo điều kiện cho nhà đầu tư tiếp cận cơ hội, chính sách ưu đãi của Chính phủ và của Thành phố
Lập quy hoạch phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục giai đoạn 2015 – 2020 và đến năm 2025 của từng quận, có sự phân công – phân nhiệm và phối hợp tốt giữa các Sở – ngành chức năng. Trong đó, chú trọng giải pháp về chính sách; bố trí quỹ đất dành cho XHH, kinh phí giải quyết mặt bằng. Việc XHH dịch vụ công cộng thường đem lại hiệu quả cao hơn so với sự cung ứng mang tính bao cấp của Nhà nước, nhưng cần xử lý hài hòa giữa lợi ích của xã hội với sự quan tâm lợi ích chính đáng của nhà đầu tư. XHH là giải pháp mang tính định hướng trong QLNN, nhưng việc phát triển trường phổ thông tư thục lại tùy thuộc chủ thể ngoài nhà nước, vì vậy rất cần thiết phát huy vai trò của Nhà nước trong cơ chế, chính sách và việc thiết lập môi trường với điều kiện phù hợp để thu hút đầu tư.
Hoạch định chiến lược thu hút đầu tư, tập trung chỉ đạo lập quy hoạch và kế hoạch phát triển (có dự án, bố trí quỹ đất, chính sách ưu đãi, công khai quy hoạch và các kế hoạch liên quan), chủ động quảng bá – mời gọi đầu tư.
Xác định địa điểm trọng yếu, phù hợp và có điều kiện phát triển cũng như thu hút đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục. Không nhất thiết theo tỷ lệ định hướng chung trong văn bản của trung ương hoặc theo tỷ lệ phát triển của các quận có điều kiện KT – XH phát triển và thuận lợi hơn. Cân nhắc nhiều yếu tố như: điều kiện KT – XH, mức sống của dân cư, trình độ dân trí, yêu cầu phổ cập giáo dục, không chỉ dựa vào nhu cầu phát triển và khả năng ngân sách như khi mở một trường công lập.
Các Sở – ngành chức năng cần được giao việc cụ thể trong quy hoạch, bố trí quỹ đất cho XHHGD gắn với việc lập đề án để từ đó khuyến khích – thu hút đầu tư theo hướng xây dựng trường tư thục chất lượng cao. Đảm bảo cho các tổ chức ngoài nhà nước và tư nhân tiếp cận cơ hội đầu tư công bằng. Mặt khác, chống lợi dụng chính sách, chạy dự án theo cơ chế “xin – cho”. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Điều kiện thực hiện:
Thành phố cần làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch theo quy định của Nhà nước. Chỉ đạo các sở chuyên môn, như: nội vụ, giáo dục, kế hoạch, tài chính và các cấp chính quyền trong Thành phố làm tốt công tác quy hoạch, kế hoạch theo quy định của Trung ương và Thành phố. Coi trọng, quan tâm đúng mức tới hoạt động giáo dục trung học phổ thông tư thục.
Thứ ba, khai thác tiềm năng và điều kiện của Thành phố Hồ Chí Minh, phát huy lợi thế so sánh và mạnh dạn mời gọi – thu hút đầu tư trong và ngoài nước; sử dụng hiệu quả công cụ chính sách để tác động – thúc đẩy phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục trên địa bàn.
Quản lý nhà nước không chỉ dựa trên lý thuyết mà cần phải nghiên cứu và khai thác lợi thế so sánh cụ thể, tìm các biện pháp thích hợp để phát triển trường tư thục chất lượng cao. Đối với yêu cầu phát triển loại hình trường tư thục, trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh của một thành phố lớn như Thành phố Hồ Chí Minh, cần chú trọng tạo điều kiện và khuyến khích đầu tư theo mô hình chất lượng cao, có bán trú và nội trú; các trường phổ thông tư thục được chủ động mở rộng địa bàn tuyển sinh trong vùng và kể cả ngoài vùng gắn với việc đơn giản hóa thủ tục hành chính trong việc tiếp nhận học sinh chuyển trường.
Xác định hướng phát triển theo mô hình trường chất lượng cao, phổ thông đa cấp – có thể từ cấp tiểu học đến cấp THPT (hiện nay đang là hướng phát triển phổ biến ở nhiều tỉnh, thành khác); tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh nhằm có thêm cơ hội cho người dân có thể lựa chọn dịch vụ có chất lượng cao hơn, linh hoạt và thuận tiện hơn.
Chú trọng trong mời gọi đầu tư từ nước ngoài hoặc các chủ thể đầu tư có yếu tố nước ngoài. Một xu hướng hiện nay đang dần được phát triển: một số trường tư thục quốc tế đang tìm hiểu, xúc tiến mở chi nhánh ra các quận và tiến đến thành lập trường phổ thông quốc tế – chất lượng cao.
Đề án xây dựng và phát triển các trường phổ thông tư thục cần phải được xây dựng cụ thể để thuận lợi trong việc mời gọi đầu tư, bao gồm cả đề án thí điểm chuyển đổi một số trường phổ thông công lập thành trường phổ thông tư thục (bước đi có thể như đã áp dụng để tiến hành cổ phần hóa các doanh nghiệp nhà nước).
Điều kiện thực hiện:
Thành phố cần có chính sách mở trong hợp tác phát triển kinh tế – xã hội, thu hút đầu tư trong, ngoài nước. Mời gọi, tạo chinh sách, cơ chế cho các nhà đầu tư, các tổ chức tham gia đầu tư vào TP. Hồ Chí Minh, trong đó có đầu tư vào lĩnh vực giáo dục ní chung, giáo dục trung học phổ thông tư thục nói riêng.
4.2.3. Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy quản lý nhà nước đối với các trường phổ thông tư thục. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Mục đích của nhóm giải pháp:
Mục đích chính là tạo hành lang pháp lý để quản lý hiệu quả, nâng cao năng lực của các cấp QLNN thành phố đối với hệ thống trường phổ thông tư thục để các quyết sách không tùy thuộc quá nhiều vào suy nghĩ và ý chí chủ quan của người lãnh đạo. Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các nhà đầu tư thông qua cải cách thủ tục hành chính trong việc cấp phép thành lập trường phổ thông tư thục.
- Cơ sở để đề xuất giải pháp:
Trong thời điểm hiện nay, hệ thống thể chế còn nhiều bất cập và thiếu đồng bộ. Năng lực nhân sự trong các cơ quan QLNN còn yếu và chưa đáp ứng được yêu cầu cao.
Việc phân công, phân cấp, phối hợp giữa các ban – ngành chức năng; nhận thức và năng lực của công chức trong các cơ quan thẩm quyền có vai trò rất quan trọng trong việc tham mưu, tác nghiệp góp phần làm nên hiệu lực và hiệu quả QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
Việc QLNN nhiều khi mang tính chủ quan hoặc tùy tiện trong tình hình Nhà nước vừa đóng cả 2 vai: chủ thể QLNN, người cung cấp dịch vụ. Vì vậy, cần thiết có văn bản quy định cụ thể và đồng bộ hơn về QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
Việc cấp phép hoạt động trong những năm qua các cấp QLNN tại Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ chú trọng thủ tục cấp phép thành lập trường phổ thông tư thục, chưa quan tâm đúng mức việc kiểm tra và cho phép hoạt động; chưa thực hiện công tác thanh tra kiểm tra sau hoạt động, nhất là trong những năm đầu hoạt động của trường tư thục.
Các giải pháp:
Thứ nhất, Thành phố cần thiết lập và phân định chức năng, xác định đầu mối, yêu cầu phối hợp trong lĩnh vực tham mưu và QLNN; bồi dưỡng năng lực cho đội ngũ công chức trong các cơ quan QLNN các cấp về giáo dục.
Bố trí nhân sự, phân công – phân nhiệm cụ thể đi đôi với việc xác định trách nhiệm và phát huy vai trò của người đứng đầu, nhất là ở các Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Nội vụ, Sở Tài chính.
Sở Giáo dục và Đào tạo cần có phòng – ban hoặc bộ phận chuyên trách quản lý hệ thống trường tư (theo khung chung các trường mầm non, tiểu học, phổ thông, trung học chuyên nghiệp) và sẽ là đơn vị đầu mối – chịu trách nhiệm chính trong công tác tham mưu, thực hiện các chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
Chủ động trong các kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để thực sự nâng cao nhận thức và năng lực cán bộ – công chức liên quan trong công tác tham mưu và thực thi nhiệm vụ QLNN. Trong đó, chú ý bồi dưỡng những vấn đề về chủ trương, chính sách XHHGD; tư duy theo quan niệm hành chính công mới, cơ chế – phương thức quản lý, nhận thức về giáo dục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN; đổi mới cung ứng và quản lý DVC.
Điều kiện thực hiện:
Thành phố thực hiện hiệu quả nội dung của các cách hành chính qua các giai đoạn. Hoàn thiện tổ chức bộ máy QLNN về giáo dục của Thành phố. Cụ thể là đối với Sở Giáo dục và đào tạo của Thành phố, hoàn thiện ngay về cơ cấu tổ chức theo quy định của Thủ tướng Chính phủ và của Bộ giáo dục đào tạo. Đồng thời căn cứ vào tính đặc thù, lợi thế của Thành phố cần có những đột phá về tổ chức bộ máy của hệ thống QLNN về giáo dục trên địa bàn Thành phố.
Bên cạnh đó cần quan tâm đến đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức thực thi nhiệm vụ QLNN về giáo dục nói chung, QLNN về giáo dục THPT tư thục nói riêng có đủ năng lực kỹ năng lãnh đạo, quản lý trên địa bàn Thành phố. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Thứ hai, giải quyết tốt những yêu cầu và những vấn đề đặt ra về thể chế, chú trọng hơn nữa việc tuyên truyền, phổ biến chính sách đối với loại hình giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.
Thành phố Hồ Chí Minh cần nghiên cứu và ban hành các văn bản riêng để quy định một cách đồng bộ, cụ thể về QLNN đối với trường tư thục làm cơ sở cho các quận huyện thực hiện.
Ban hành quy định của Thành phố về điều kiện đối với nhà đầu tư một cách rộng rãi, phổ biến. Đây là một trong những vấn đề quan trọng thuộc lĩnh vực thể chế cần được tiếp tục xem xét và giải quyết trên cơ sở nhận thức đầu tư mở trường phổ thông tư thục là một lĩnh vực đầu tư đặc thù, có điều kiện. Trường phổ thông tư thục không thể là một mô hình kinh tế đơn thuần mà là một mô hình “kinh tế – giáo dục” (vì mục tiêu giáo dục, không vì mục tiêu lợi nhuận – cần xác định mục tiêu lợi nhuận thích hợp. . .).
Hệ thống hóa các văn bản về chính sách của Nhà nước bao gồm chính sách của trung ương, chính sách đặc thù của địa phương để giúp các cá nhân, tổ chức ngoài nhà nước thuận lợi trong việc tìm kiếm cơ hội đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục tại Thành phố; đồng thời làm cơ sở cho các ngành, các cấp vận dụng trong quá trình tác nghiệp.
Điều kiện thực hiện:
Thành phố và Sở Giáo dục đào tạo TP. Hồ Chí Minh cần coi trọng phương thức tuyên truyền, vận động quần chúng trong thực hiện các chủ trương, chính sách, pháp luật của Đảng và Nhà nước và của TP. Hồ Chí Minh.
Thứ ba, cải cách thủ tục hành chính, trong đó có thủ tục cấp phép, gắn với yêu cầu đổi mới, kêu gọi đầu tư trong lĩnh vực giáo dục trung học phổ thông trên địa bàn Thành phố.
Thay đổi việc cấp phép chỉ là một thủ tục hành chính đơn thuần như ngày trước chỉ ngồi chờ giải quyết thủ tục cấp phép mà trong đều kiện KT – XH hiện nay của Thành phố, chủ động mời chào, kêu gọi đầu tư trên cơ sở làm tốt việc công khai quy hoạch, kế hoạch phát triển kể cả quỹ đất dành cho phát triển trường phổ thông tư thục; thông báo và hướng dẫn cụ thể về các chính sách (chính sách trung ương ban hành, chính sách đặc thù của Thành phố). Phổ biến rộng rãi dự báo phát triển mạng lưới các cơ sở giáo dục tư thục, nhu cầu huy động nguồn lực thực hiện quy hoạch để thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước.
Đơn giản, khoa học và thuận tiện với các quy trình, thủ tục cấp phép thành lập trường tư thục. Thủ tục cấp phép thành lập trường tư thục phải thông qua cơ chế “một cửa liên thông”; gắn với yêu cầu công khai, minh bạch và thông thoáng; gắn với việc hướng dẫn và khuyến khích đầu tư. Quy định rõ từ cơ quan đầu mối tới các điều kiện và quy trình thẩm định hồ sơ, thời hạn cấp phép. Điều kiện đầu tư ban đầu, tiến trình thực hiện cam kết đầu tư cụ thể và phát triển quy mô hoạt động theo đúng quy định phải được xem xét chặt chẽ ngay từ đầu, tránh sai phạm. Quan tâm hơn nữa đến điều kiện hành nghề, cơ chế thanh kiểm tra sau hoạt động và giải pháp thu hồi giấy phép, đình chỉ hoạt động khi cần thiết.
– Xem xét thay đổi quan điểm đối với một số chủ thể xin thành lập trường tư thục trên cơ sở vận dụng nguyên tắc “công dân được phép làm những gì pháp luật không cấm, Nhà nước chỉ làm những gì pháp luật cho phép”. Chúng ta nhất quán quan điểm tách nhà trường ra khỏi tôn giáo; đầu tư mở trường tư thục vẫn là một lĩnh vực đặc biệt, một loại hình đầu tư – kinh doanh có điều kiện. Tuy nhiên, nên xem xét: nếu những người trong các cơ sở tôn giáo, nhưng chỉ với tư cách công dân, chấp hành pháp luật, tuân thủ mọi quy định, tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục phổ thông tư thục không vì lợi nhuận hoặc có lợi nhuận thích hợp; hoạt động đúng theo Luật Giáo dục, Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông tư thục; không có hoạt động nào liên quan tôn giáo trong nhà trường, tách nhà trường khỏi khuôn viên của cơ sở tôn giáo, Nhà nước nên xem xét có thể cho phép được đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục. Tất nhiên phải có cơ chế kiểm soát chặt chẽ, nghiêm cấm và xử lý thích đáng những sai phạm (nếu có) theo đúng yêu cầu và mục đích giáo dục, luật pháp và các quy chế hiện hành.
Điều kiện thực hiện giải pháp:
QLNN cần linh hoạt với yếu tố tác động từ cơ chế thị trường định hướng XHCN trên cơ sở chấp nhận quy luật cung – cầu và quy luật giá trị, yếu tố cạnh tranh, đảm bảo chất lượng dịch vụ tương xứng với giá cả dịch vụ; yếu tố lợi nhuận đối với cá nhân, tập thể, tổ chức đầu tư. Quá trình hoạt động của trường tư thục cần tạo thuận lợi cho nhà đầu tư, tôn trọng lợi ích chính đáng và những vấn đề nhà đầu tư quan tâm. Luôn phải giữ vững mục tiêu XHCN, đảm bảo công bằng xã hội; chống các biểu hiện thương mại hóa giáo dục nhưng không thể hoàn toàn chối bỏ yếu tố lợi nhuận – thừa nhận lợi ích thỏa đáng và công bằng đối với nhà đầu tư.
UBND Thành phố chú trọng hơn nữa việc chỉ đạo – thực hiện cải cách hành chính trong lĩnh vực QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục; thay đổi phong cách, lề lối làm việc của cán bộ – công chức thực thi nhiệm vụ trong các cơ quan QLNN có liên quan, nhất là ở các Sở Giáo dục và Đào tạo.
Thứ tư, thể chế hóa và thực thi chủ trương, chính sách Trung ương đã đề ra gắn với việc xây dựng và ban hành chính sách đặc thù của Thành phố. Bố trí nguồn lực tài chính từ ngân sách để hỗ trợ phát triển trường phổ thông tư thục trên địa bàn.
– Cá nhân và tổ chức tham gia đầu tư thành lập trường tư thục bao giờ cũng quan tâm chủ yếu đến lợi ích của nhà đầu tư. Đó cũng chính là khó khăn hiện nay. Vấn đề đặt ra là làm thế nào tư nhân sẽ đầu tư thành lập trường tư thục từ khía cạnh phát huy vai trò Nhà nước và việc sử dụng hiệu quả công cụ chính sách trong hoạt động QLNN. Để đạt được thành công trong lĩnh vực QLNN, thúc đẩy hệ thống trường tư thục phát triển, các cấp QLNN Thành phố Hồ Chí Minh cần quan tâm hơn những vấn đề về chính sách như: ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
+ Tăng thêm thời hạn miễn thuế thu nhập, giải quyết những vướng mắc để thực thi chính sách ưu đãi về tín dụng;
+ Tạo điều kiện thuận lợi hơn cho công tác tuyển sinh vào trường tư thục, kể cả thực hiện phương thức Nhà nước hợp đồng, nghiệm thu, thanh toán theo kết quả. Có văn bản quy định, hướng dẫn thật cụ thể về hợp đồng cung ứng dịch vụ công giáo dục giữa cơ quan QLNN có thẩm quyền với trường tư thục. Ví dụ: như cho một số học sinh, học sinh diện chính sách được học trường phổ thông tư thục chất lượng cao dưới hình thức hợp đồng này;
+ Sử dụng ngân sách, chính sách tài chính dành cho XHH không chỉ để quy hoạch, giải quyết đất đai, đền bù – giải phóng mặt bằng mà còn để hỗ trợ hoạt động và phát triển trường phổ thông tư thục. Thành phố cần có phương thức với các quy định cụ thể nhằm tạo điều kiện cho trường phổ thông tư thục vẫn được Nhà nước hỗ trợ ở một số phương diện, không chỉ sử dụng nguồn lực tài chính công cho các trường công lập như hiện nay. Dịch vụ giáo dục dù do chủ thể nào cung ứng thì giáo dục vẫn là lợi ích công. Cần phát huy vai trò Nhà nước trong việc sử dụng công cụ chính sách để tác động đến quá trình thu hút đầu tư và phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục. Trong đó, chính sách về tài chính hỗ trợ phát triển trường tư thục cần được xem xét và thể chế hóa với nhiều phương thức nhằm tạo cơ hội cho các nhà đầu tư có thể tiếp cận nguồn lực công trong việc đầu tư thành lập, vận hành và phát triển nhà trường.
Tổ chức các buổi hội thảo, tọa đàm chuyên đề (cần có sự điều hành của Bộ Giáo dục và Đào tạo, Ban Chỉ đạo của Thành phố) để đúc rút kinh nghiệm qua những năm phát triển và QLNN đối hệ thống trường phổ thông tư thục trong những năm tới. Từ đó, hoạch định chiến lược phát triển giáo dục – đào tạo; xác định rõ định hướng, mục tiêu, giải pháp tổng thể về thu hút đầu tư phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục của Thành phố trong thời gian tới.
Điều kiện thực hiện:
Với quyết tâm chính trị và tầm nhìn phát triển mới, khắc phục những hạn chế trong nhận thức và những trì trệ trong QLNN; huy động cả hệ thống chính trị, từ các cấp ủy Đảng, HĐND, cơ quan Nhà nước, các đoàn thể, các lực lượng xã hội để thực hiện XHHGD và phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục.
Cần có những cách thức để tuyên truyền sâu rộng và khuyến khích mở trường tư, khuyến khích liên kết với trường nước ngoài. Chính sách và cơ chế quản lý phải nhằm khai thác những khả năng này.
Khi chính sách còn thiếu đồng bộ và nhất quán, kém hiệu lực; việc thực thi chính sách phát triển trường phổ thông tư thục cần gắn với điều kiện KT – XH của Thành phố, mặt khác quan tâm đến lợi ích hài hòa giữa hai bên Nhà nước và đặc biệt của nhà đầu tư. Coi trọng chính sách phát triển để đảm bảo tính khả thi của các kế hoạch định hướng phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.
Tiếp tục đổi mới và thay đổi cách làm trong việc hoạch định gắn với phân tích, thẩm định chính sách. Mặt khác, cần phải thoát khỏi thói quen tư duy: chỉ tập trung chủ yếu vào xây dựng – phát triển trường công lập; chỉ có ngân sách nhà nước hoặc chủ yếu là ngân sách nhà nước đầu tư cho giáo dục phổ thông (những dấu vết của tư tưởng dựa dẫm vào sự bao cấp của Nhà nước).
Quá trình phát triển cần phải được đúc kết được những vấn đề về thực tiễn QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trong những năm qua. Cần lưu ý dịch vụ giáo dục phổ thông tư thục vẫn là một “hàng hóa công cộng” cơ bản, không thể để hoàn toàn nằm trong tay tư nhân, nhưng có thể được cơ cấu lại để tận dụng lợi thế của các lực lượng thị trường. Từ khảo sát kinh nghiệm của các nước phát triển và đang phát triển, Ngân hàng Thế giới (WB) đã có khuyến nghị phát triển loại hình trường công – tư phối hợp (PPP). Trường bán công ở Hoa Kỳ cũng khá phổ biến, nguồn lực tài chính chủ yếu vẫn là học phí và ngân sách nhà nước đầu tư – tài trợ dựa trên cơ sở số học sinh của trường. Thành lập Ban chỉ đạo của Thành phố, có sự phân công phân nhiệm và quy định phối hợp giữa các Sở – ngành chức năng để đầu tư xây dựng kế hoạch phát triển quy mô, hệ thống trường phổ thông tư thục (bao gồm cả việc bố trí quỹ đất dành cho XHHGD, xây dựng cụ thể chính sách ưu đãi đặc thù của thành phố; mục tiêu và lộ trình thực hiện).
Minh bạch và đảm bảo công khai hóa các dự án, đề án phát triển hệ thống trường tư thục nhất là trong định giá tài sản – đất đai tạo cơ hội cho các nhà đầu tư chân chính, xóa bỏ cơ chế “xin – cho’’, ngăn chặn “lợi ích nhóm” để thâu tóm thị trường.
Chú trọng hơn nữa việc phân tích chính sách, tổ chức – chỉ đạo và kiểm tra thực hiện các chính sách liên quan lĩnh vực thu hút, khuyến khích đầu tư phát triển trường tư thục ở Thành phố theo Nghị quyết 05/2005/NQ – CP để các chủ trương, chính sách của Chính phủ thực sự đi vào cuộc sống. Quan tâm hơn nữa việc phát hiện các mặt hạn chế tại Thành phố; chống lợi dụng dự án, thất thoát tài sản công trong quá trình đầu tư phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục.
Mời bạn tham khảo thêm:
4.2.4. Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế và phương thức quản lý nhà nước của Thành phố Hồ Chí Minh đối với hệ thống trường phổ thông tư thục ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Mục đích của giải pháp:
Đổi mới QLNN về cơ chế và phương thức của Thành phố Hồ Chí Minh với hệ thống trường phổ thông tư thục phải phù hợp với thực tiễn, đổi mới cung ứng dịch vụ công và yêu cầu quản trị hiệu quả cần được xem là giải pháp quan trọng, cơ bản và là khâu đột phá.
- Cơ sở đề xuất giải pháp:
Trên cơ sở lý luận thì QLNN cần được thống nhất, không phân biệt loại hình, nhưng do đặc điểm đối tượng quản lý phải có phương thức và cơ chế quản lý thích hợp, gắn với yếu tố thị trường trên cơ sở phát huy vai trò QLNN. Mặt khác, hai nhân tố là thị trường và xã hội dân sự, cơ chế QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục cần phải thực sự thay đổi. Luật Giáo dục và các văn bản quy phạm pháp luật khác của Nhà nước cũng đã quy định về quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của trường tư thục. XHHGD không chỉ là huy động nguồn lực thông qua quá trình chuyển giao nhiệm vụ tham gia cung ứng dịch vụ giáo dục mà còn bao hàm cả quá trình tạo lập cơ chế quản lý mới phù hợp với hoạt động của cơ sở giáo dục tư thục trong cơ chế thị trường định hướng XHCN.
Qua thực tiễn nghiên cứu QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trên địa bàn thành phố Hồ Chí Minh cho thấy: trong tiến trình đổi mới cung ứng dịch vụ công, xét về mặt QLNN, giáo dục là lĩnh vực chưa linh hoạt, chậm đổi mới nhất trong cung cách, phương thức và cơ chế quản lý đối với giáo dục tư thục, nhất là đối với hệ thống trường phổ thông.
Cơ chế QLNN hiện nay ở Thành phố Hồ Chí Minh tuy đã có nhiều đổi mới, song vẫn còn mang nét đặc trưng, còn ảnh hưởng của quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung, mang nặng tính hành chính, chất lượng chưa được chú ý nhiều. Vì vậy chưa thích ứng được với cơ chế thị trường đang thay đổi mạnh mẽ, đã dẫn đến nguy cơ các nhà trường nói chung, trường phổ thông tư thục nói riêng thiếu động lực cũng như tính năng động, sáng tạo; các chủ thể đầu tư sẽ còn e ngại để đầu tư chiều sâu, đồng bộ và mang tính lâu dài. Những năm qua, việc quản lý và đề ra một số quy định về tuyển sinh, học phí, phương thức quản lý tài chính đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại một số quận của Thành phố còn những bất hợp lý.
Các giải pháp:
Thứ nhất, phân cấp quản lý gắn với phân định quyền hạn và trách nhiệm của từng cơ quan hành chính Nhà nước các cấp của Thành phố; phân cấp giữa Sở giáo dục Thành phố với các trường phổ thông tư thục
Cần có sự phân cấp thống nhất nhất giữa các cơ quan QLNN của Thành phố với Sở Giáo dục Thành phố. Phân cấp giữa Sở giáo dục Thành phố với các cơ sở giáo dục công lập và tư thục; tạo điều kiện thuận lợi để các cơ sở đó cùng phát triển ổn định; bảo đảm lợi ích của từng cá nhân, tập thể và của xã hội. Tách bạch QLNN khỏi việc điều hành công việc thường xuyên của cơ sở. Một mặt trao cho trường tư thục đầy đủ quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm; mặt khác, tăng cường giám sát nhằm bảo đảm quyền sở hữu và vai trò của đại diện chủ sở hữu trong các cơ sở giáo dục tư thục. Các cấp QLNN không can thiệp sâu vào lĩnh vực quản lý hoạt động nhà trường phổ thông tư thục.
Vì vậy, việc thể chế hóa các chủ trương, có cơ chế nhằm đảm bảo thực thi hiệu quả quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các trường tư thục. Đây là một trong những yêu cầu quan trọng đã được Chính phủ đề ra trong Nghị quyết 05/2005/NQ- CP ngày 18/4/2005.
Thứ hai, việc phát huy vai trò quản lý của Nhà nước và đảm bảo tính định hướng XHCN phải tuân theo quy luật thị trường đi đôi với tạo môi trường cạnh tranh lành mạnh giữa hệ thống trường công lập và hệ thống trường tư thục và giữa các trường phổ thông tư thục với nhau.
Sự tồn tại của thị trường dịch vụ giáo dục trong những năm qua (thể hiện trong tư duy và cả trong chính sách, cơ chế và giải pháp QLNN thúc đẩy từng bước hoàn thiện thị trường này, tạo sự cạnh tranh lành mạnh và quản lý nó một cách tương thích; giải quyết hài hòa các lợi ích của xã hội, của nhà đầu tư, của người học. Mặt khác, tăng cường quản lý bằng pháp chế, kiểm tra thực hiện chính sách để góp phần tiếp tục phát huy hiệu lực QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Các tổ chức, cá nhân được đầu tư thành lập trường phổ thông tư thục phải luôn chú trọng đổi mới quản lý, nâng cao hiệu quả hoạt động để có thể tồn tại và phát triển trong cơ chế cạnh tranh, dù động cơ thúc đẩy họ vẫn chủ yếu vì lợi nhuận, để tiếp tục quan tâm tạo lập môi trường hoạt động phù hợp cho các trường phổ thông tư thục thông qua phát huy vai trò Nhà nước và sự phối hợp – tác động của các thành tố cơ bản: Nhà nước, thị trường, các trường phổ thông tư thục, vai trò giám sát – hỗ trợ của các cộng đồng, chủ thể đầu tư thành lập trường, lực lượng nhân sự trong các cơ quan QLNN, điều kiện KT – XH của Thành phố
Quan trọng là vận dụng linh hoạt 3 cơ chế: cơ chế quyền lực Nhà nước, cơ chế thị trường và cơ chế đồng thuận của các tổ chức xã hội một cách hài hòa. Từ đó, tạo nền cho việc xác lập cơ chế quản lý mới, chú trọng sự tham gia của yếu tố xã hội công dân trong QLNN về giáo dục và nâng cao hiệu lực QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Thứ ba, thực hiện cơ chế tự chủ – tự chịu trách nhiệm về học phí – hạch toán tài chính gắn với việc công khai kết quả công nhận về kiểm định chất lượng giáo dục của từng trường phổ thông tư thục cần thực thi hợp lý, có định hướng và có sự quản lý của các quan chức năng của Thành phố
Vấn đề học phí thường có ảnh hưởng rất lớn đến nhà trường, học sinh tư thục và cả xã hội. Học phí trường phổ thông tư thục cần được hiểu đúng hơn là “tiền học” với tính chất là giá cả dịch vụ học tập và các hoạt động giáo dục theo mục tiêu đào tạo của giáo dục phổ thông. Do đó, trong mối quan hệ giữa học phí – điều kiện học tập và chất lượng dịch vụ, Nhà nước cần kết hợp quản lý theo Luật giá, khác với quản lý về phí như đối với học phí trường công lập.
Trường tư thục được tự do quyết định và công khai học phí, công khai tài chính; chống lạm thu, chạy theo lợi nhuận (tiết giảm đầu tư cho các hoạt động giáo dục, sĩ số học sinh/lớp quá cao) nên có phương thức kiểm soát và xác định cơ sở để trường phổ thông tư thục tự định học phí và có sự giám sát xã hội, cộng đồng và phụ huynh. Cần quản lý ở một mức độ cần thiết và phù hợp về học phí các trường phổ thông tư thục.
Học phí của trường tư thục giao cho trường tự chủ, trên tinh thần đảm bảo chi phí đào tạo mà họ cần. Nhưng tôn trọng quyền tự chủ không có nghĩa là hoàn toàn thả nổi – không có những tác động quản lý nhất định ở mức cần thiết đối với lĩnh vực học phí trường phổ thông tư thục. Trên thực tế, tuy người dân đôi khi biết mình phải trả một mức học phí cao hơn bình thường nhưng vẫn phải chấp nhận. Vì cách tuyển sinh và quy định vào trường công đôi khi gây khó khăn cho một số đối tượng học sinh
Cần linh hoạt khung đóng học phí ở trước trường tư thục, vì mỗi trường lại có một điều kiện về cơ sở vật chất, chất lượng giảng dạy khác nhau. Các cơ quan QLNN Thành phố cần sử dụng những chuyên gia tài chính giỏi để khắc phục những yếu kém hiện nay trong việc phân tích – thẩm định và phê duyệt mức học phí của các trường tư thục đề xuất; chống móc ngoặc – tiêu cực trong lĩnh vực thẩm định và phê duyệt này.
Việc tự chủ về học phí tại các trường tư thục nhưng vẫn cần có cách quy định mức trần học phí của trường phổ thông tư thục (có thể dựa vào khung học phí tương ứng của các trường phổ thông công lập, cộng với phần kinh phí Nhà nước cấp cho các trường công lập mà các trường phổ thông tư thục không được hưởng, tính ra mức học phí trung bình để từ đó tham khảo), chú ý tính các yếu tố về đầu tư, thương hiệu và hiệu quả của nhà trường cũng như thu nhập hợp lý của nhà đầu tư. Như vậy, đảm bảo được quyền lợi cho cả nhà trường và học sinh. Mặt khác, về lâu dài, các địa phương cần xem xét – đề xuất Nhà nước điều chỉnh Luật Giáo dục để đưa vào vấn đề về quản lý học phí của trường phổ tư thục.
Thứ tư, bổ sung các quy chế hoạt động của các loại quỹ, tạo điều kiện thuận lợi về tài chính và về việc huy động nguồn lực cho trường phổ thông tư thục theo quy định của Thành phố
Trên thực tế, ngoài học phí và các khoản thu dịch vụ phục vụ học sinh (theo thỏa thuận), trong hệ thống trường phổ thông tư thục còn có một số nguồn thu từ hỗ trợ học bổng, tài trợ của một số doanh nghiệp cho học sinh và một số hoạt động giáo dục… Để đảm bảo tính minh bạch, từ góc độ quản lý, các cấp QLNN cần có tầm nhìn đón đầu nhưng thông thoáng để quy định quy chế hoạt động của các loại quỹ, vừa tạo thuận lợi cho các nhà đầu tư có thể huy động tốt hơn nguồn lực hỗ trợ trong cộng đồng – xã hội, vừa đảm bảo việc sử dụng nguồn tài trợ này công khai và đúng mục đích.
Điều kiện thực hiện:
Việc quản lý như hiện nay mới chỉ tập trung chủ yếu vào mối quan hệ cơ bản giữa Nhà nước và nhà trường. Ngoài việc xử lý khéo léo tính phức tạp và đa dạng của hệ thống, còn phải tính đến vai trò và tác động của cả ba khu vực: Nhà nước, thị trường, xã hội dân sự trong đời sống KT – XH nói chung, trong giáo dục nói riêng. Từ đó, chuyển cách tiếp cận từ cơ chế quản lý lấy nhà quản lý làm trung tâm sang cơ chế quản lý mới, lấy nhà trường tư thục làm trung tâm; hướng tới việc trao quyền, mang lại sự thuận tiện thông thoáng, dân chủ trong QLNN đối với hệ thống trường tư thục. Bằng cách tiếp cận tổng thể, toàn hệ thống, tương thích với các yêu cầu mới của sự phát triển KT – XH.
Với sự tham gia của hai nhân tố mới là thị trường và xã hội dân sự, mô hình QLNN buộc phải thay đổi, cần có sự tham khảo khung tham chiếu để phân tích yêu cầu đổi mới QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trên cả ba phương diện: tạo lập môi trường hoạt động phù hợp, xây dựng khung pháp lý và sử dụng hiệu quả công cụ quản lý vĩ mô gắn với đổi mới cơ chế quản lý trong quá trình tổ chức – thực hiện chức năng QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
Muốn việc QLNN được đổi mới đối với hệ thống trường tư thục trong tiến trình XHHGD, không thể duy trì cơ chế quản lý như đối với trường công lập. Các cấp QLNN cần tiếp cận và thực hiện theo mô hình mới. Trong đó, chú ý tăng cường phân cấp quản lý, khắc phục tính quan liêu, nâng cao tính công khai, minh bạch; lấy sự hài lòng của người dân làm thước đo chất lượng dịch vụ.
Trong lĩnh vực giáo dục, trường phổ thông tư thục được giao quyền tự chủ nhiều hơn và chịu sự giám sát, kiểm soát của 3 khu vực: Nhà nước với hệ thống luật pháp và các thể chế; thị trường với các quy luật và nhất là cơ chế cạnh tranh; xã hội dân sự với vai trò là đối tác của Nhà nước và đối trọng của thị trường. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Đổi mới cơ chế QLNN phải trên cơ sở nhận thức sâu sắc hơn về yếu tố thị trường dịch vụ giáo dục. Các nghiên cứu chỉ ra rằng thị trường giáo dục khác về bản chất với thị trường hàng hóa hoặc thị trường trong các lĩnh vực dịch vụ khác. Điểm khác biệt cơ bản là trong thị trường dịch vụ giáo dục, bên cạnh cơ chế cạnh tranh và các nhà cung ứng giáo dục tư nhân, Nhà nước vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng dịch vụ giáo dục. Trong đó, giáo dục phổ thông phải được xác định là dịch vụ công cộng cơ bản, tác động sâu sắc đến sự phát triển bền vững của từng vùng – miền và của cả đất nước.
Thị trường giáo dục được phát triển với bản chất của quá trình này là sử dụng các giải pháp, công cụ của thị trường, của cơ chế thị trường để phát triển giáo dục. Ở cấp hệ thống, cơ chế cạnh tranh được đưa vào giữa các trường học trong việc thu hút người học và các nguồn lực; ở cấp trường, phương thức quản lý theo nguyên tắc chi phí – hiệu quả và hướng tới khách hàng được áp dụng rộng rãi.
Quản lý nhà nước cần phải thay đổi lối tư duy làm việc ở một thành phố năng động như Thành phố Hồ Chí Minh, đây là điều kiện có tính chất tiên quyết trong việc tiến hành đổi mới cơ chế QLNN trên cơ sở có cách nhìn mới về việc tổ chức cung ứng, quản lý dịch vụ giáo dục phổ thông tư thục; thực sự xem chủ thể đầu tư thành lập trường tư thục vừa là đối tượng quản lý, vừa là đối tác của Nhà nước khi cung cấp dịch vụ công. Từ đó, mang lại sự thông thoáng, thuận tiện, phù hợp và hiệu quả. Mặt khác, cần có bộ phận chuyên trách hoặc kiêm nhiệm có tính chuyên nghiệp trong lĩnh vực QLNN; hoàn thiện cơ sở pháp lý và hệ thống văn bản của các cơ quan QLNN cấp Thành phố hướng dẫn, quy định về quản lý đối với hệ thống trường phổ thông tư thục.
4.2.5. Nhóm giải pháp đảm bảo hiệu lực, hiệu quả trong lĩnh vực kiểm tra, kiểm soát, kiểm định chất lượng đối với hệ thống trường phổ thông trung học tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Mục đích của giải pháp:
Tiêu chuẩn dịch vụ giáo dục phổ thông tư thục đảm bảo gắn với việc tự chủ – tự chịu trách nhiệm, yêu cầu công khai và trách nhiệm giải trình; đảm bảo công bằng xã hội (lợi ích phù hợp của nhà đầu tư, quyền lợi người học và cả lợi ích xã hội); phát huy hiệu quả hoạt động của hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh.
Hiệu lực quản lý của các cơ quan QLNN cấp thành phố được đảm bảo trong lĩnh vực kiểm tra – kiểm soát, kiểm định chất lượng đối với các trường phổ thông tư thục; thể chế hóa vai trò giám sát của cộng đồng, các Hội nghề nghiệp như Hội Cựu giáo chức, Hội Khuyến học… về chất lượng hoạt động của các trường phổ thông tư thục.
- Cơ sở để đề xuất giải pháp:
Thanh tra kiểm tra là một trong những chức năng quản lý và cũng là nội dung QLNN rất quan trọng để đảm bảo các trường phổ thông tư thục hoạt động đúng mục tiêu đào tạo của giáo dục phổ thông và đúng quy định của pháp luật; là phương thức để đảm bảo quyền lợi của học sinh và phụ huynh học sinh với tư cách “khách hàng”, “người tiêu dùng” sản phẩm dịch vụ giáo dục tư thục trong mối tương quan học phí – điều kiện chăm sóc, học tập; chất lượng và hiệu quả đào tạo theo tiêu chí, tiêu chuẩn Nhà nước quy định.
Quản lý Nhà nước trong kiểm định chất lượng là hệ thống đảm bảo chất lượng dịch vụ do các cơ sở giáo dục tư thục cung cấp mà còn là trách nhiệm với “thị trường” dịch vụ giáo dục, trách nhiệm xã hội.
Hiện nay, việc kiểm tra tiến độ đầu tư theo các cam kết trong dự án được duyệt chưa được các cấp QLNN tại Thành phố Hồ Chí Minh thực hiện tốt. Nhiều trường phổ thông tư thục chưa thực hiện tốt việc thành lập và phát huy đúng vai trò, chức năng của Hội đồng Quản trị, Ban Kiểm soát; chưa thực hiện tốt các quy định về 3 công khai: công khai tài chính, công khai chất lượng và công khai về điều kiện phục vụ dạy học, các hoạt động giáo dục.
Sự phối hợp trong việc giám sát của các tổ chức xã hội, các hội nghề nghiệp, Hội Phụ huynh học sinh đối với hoạt động của trường phổ thông tư thục chưa làm được tốt ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Các giải pháp:
Thứ nhất, Thành phố cần quy định chế độ và trách nhiệm thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm. Đồng thời, phát huy dân chủ ở cơ sở để giám sát công việc quản lý của các cấp phù hợp với những quy định của trung ương và của các bộ, ngành.
- Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố chú trọng công đoạn rà soát kiểm tra đầu tiên các điều kiện để cho phép trường phổ thông tư thục hoạt động (sau khi đã được UBND thành phố cấp phép thành lập trường).
- Cần tăng cường thanh kiểm tra sau hoạt động đối với hệ thống trường phổ thông tư thục, đặc biệt là trong những năm đầu sau khi trường phổ thông tư thục được phép hoạt động; kiểm tra tiến độ đầu tư theo các cam kết trong dự án đầu tư đã được UBND Thành phố phê duyệt khi cấp phép thành lập trường phổ thông tư thục.
Thứ hai, nghiêm túc kiểm tra, chỉ đạo trường trung học phổ thông tư thụctrên địa bàn Thành phố trong thực hiện “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông tư thục” đã được Bộ Giáo dục và Đào tạo ban hành.
- Phát huy vai trò của Hội đồng Quản trị, chú trọng chỉ đạo thành lập, Ban Kiểm soát (đã quy định trong “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông tư thục” được ban hành kèm theo Thông tư 13/2011/TT-BGDĐT ngày 28/3/2011 của Bộ Giáo dục và Đào tạo) theo đúng chức năng làm cầu nối giữa chủ sở hữu và xã hội với nhà trường, đảm bảo sự hoàn thành nhiệm vụ của bộ máy điều hành – thực thi của hiệu trưởng trường phổ thông tư thục.
- Minh bạch trong việc sử dụng nguồn lực tài chính, việc trích nộp khấu hao, tính toán chi phí và việc phân chia lợi nhuận cho các cổ đông góp vốn đầu tư thành lập trường tư thục. Lĩnh vực này không thể hoàn toàn hoặc hầu như khoán trắng; làm phát sinh những vấn đề nội bộ khá phức tạp đã từng xảy ra trong Đại hội cổ đông của một số trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí
- Loại bỏ tiêu cực nảy sinh từ mặt trái của cơ chế thị trường, dấu vết của thương mại hóa giáo dục trong việc chạy theo tỷ lệ tốt nghiệp trung học phổ thông, quảng bá không đúng thực tế để xây dựng hình ảnh và thương hiệu không thực chất; tuyển sinh tùy tiện, móc ngoặc với cơ quan quản lý chuyên ngành.
Thứ ba, thể chế hóa để tạo hành lang pháp lý nhằm phát huy tốt vai trò giám sát của cộng đồng, các tổ chức chính trị – xã hội, các hội nghề nghiệp về chất lượng hoạt động của các trường phổ thông tư thục ở Thành phố Hồ Chí Minh.
Vai trò của Hội Phụ huynh học sinh trường tư thục cần phải được phát huy tối đa, với tư cách là đại diện khách hàng (hợp tác với nhà trường trong việc giáo dục, tham gia Ban kiểm soát). Hiện nay, vai trò của cộng đồng và các tổ chức chính trị – xã hội tuy đã được quan tâm nhưng chưa được thể chế hóa, hoạt động kém hiệu quả. Cần quan tâm phát huy sự tham gia của các nhà hoạt động xã hội có tâm huyết với giáo dục, các hội nghề nghiệp (như Hội Cựu giáo chức, Hội Khuyến học…), Hội đồng giáo dục các địa phương.
Thứ tư, xây dựng hệ thống tiêu chí đảm bảo chất lượng cần được thiết lập vững chắc tại Sở Giáo dục và Đào tạo của TP. Hồ Chí Minh, thực hiện tốt quy trình kiểm định chất lượng đối với hệ thống trường phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố theo quy định hiện hành.
Kiểm định chất lượng các trường phổ thông tư thục phải được đưa lên đầu tiên khi kiểm tra, công khai kết quả kiểm định sau khi đã đánh giá ngoài. Hiện nay, các Sở Giáo dục và Đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh mới chỉ tập trung kiểm định các trường công lập, kết quả kiểm định mới chỉ mang tính chất thông tin tham khảo nội bộ. Thực hiện khách quan quy trình kiểm định – công nhận (Accreditation) xuyên suốt từ hoạt động tự đánh giá, khảo sát tại chỗ của đồng nghiệp và quyết định công nhận chất lượng của cơ quan QLNN. Giải pháp này sẽ hỗ trợ cho nhà trường giải trình công khai các hoạt động của mình cho những người có lợi ích liên quan (Stakeholders) và vì sự công bằng cho xã hội. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Phạm Phụ cho rằng thị trường dịch vụ giáo dục hiện nay chủ yếu là “thị trường của niềm tin” [104]. Vì vậy, trong lĩnh vực QLNN rất cần phương thức và cơ chế kiểm soát dịch vụ.
- TSKH. Lâm Quang Thiệp cũng đã nhận định: hệ thống giáo dục tư thục hiện nay mới chỉ đáp ứng một phần nào đó nhu cầu và nguyện vọng học tập của nhân dân, cả về số lượng lẫn chất lượng. Thách thức lớn là cần phải có được nhà kiểm định chất lượng trung thực, khách quan và có năng lực để bảo vệ người học, nhất là trước những nguy cơ khi Việt Nam mở cửa thị trường giáo dục.
Mặt khác, theo TS. Mark A. Ashwill – Giám đốc Viện Giáo dục quốc tế (IIE) tại Việt Nam: Việt Nam cần khép cửa trước những cơ sở giáo dục chỉ có ý định lợi dụng sự thiếu hiểu biết của khách hàng. TS Jane Knight (Đại học Toronto, Canada) cũng đã tư vấn và cảnh báo: hệ thống kiểm định chất lượng cũng có thể bị lợi dụng nhằm trục lợi cho một số đối tượng.
Điều kiện thực hiện:
Chính phủ, các Bộ – ngành và UBND thành phố Hồ Chí Minh cần đưa ra kế hoạch phân tích chính sách, chú trọng việc kiểm tra thực hiện chính sách tại các địa phương, không chỉ dựa vào công tác kiểm tra – giám sát của HĐND các tỉnh.
Kiểm tra, kiểm soát và kiểm định chất lượng đối với trường phổ thông tư thục là một trong những chức năng cơ bản và là trách nhiệm khá quan trọng của các cơ quan thẩm quyền chức năng QLNN về giáo dục của Thành phố. Lĩnh vực này cần có sự phối hợp đồng bộ hơn giữa các Sở Giáo dục và Đào tạo, Sở Tài chính, Thanh tra Nhà nước các cấp.
Sở Giáo dục và Đào tạo tại thành phố Hồ Chí Minh cần thiết lập và kiện toàn bộ phận Kiểm định chất lượng cơ sở giáo dục, có biện pháp tăng cường năng lực triển khai và điều phối, đảm bảo tính minh bạch và khách quan để thi hành nhiệm vụ quản lý quan trọng này. Vai trò của các tổ chức xã hội, cộng đồng và các hội nghề nghiệp cần được Nhà nước thể chế hóa.
Ngoài ra, tại các trường phổ thông tư thục phải thực hiện đúng những quy định trong Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông tư thục đã được ban hành, nghiêm túc triển khai – thực hiện các yêu cầu Thanh tra Bộ Giáo dục và Đào tạo đã quy định về tự kiểm tra nội bộ trường học; phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Hội đồng Quản trị, Hội đồng trường; hoạt động của Ban Kiểm soát trong các trường phổ thông tư thục thực sự có hiệu quả, không bị sự chi phối quá sâu của Chủ tịch Hội đồng Quản trị.
4.3. KHUYẾN NGHỊ
4.3.1. Đối với Chính phủ và các Bộ, ngành chức năng ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
- Chỉ đạo nghiên cứu thêm về loại hình trường phổ thông tư thục hoạt động theo cơ chế “nửa vì lợi nhuận” hoặc “lợi nhuận thích hợp”. Thể chế hóa những quy định về điều kiện thành lập, tổ chức hoạt động phù hợp với loại hình trường tư thục hoạt động theo cơ chế lợi nhuận, phi lợi nhuận hoặc lợi nhuận thích hợp đi đôi với chính sách và phương thức tài trợ công.
- Cần xây dựng hành lang pháp lý chặt chẽ hơn nữa cho trường tư thục phi lợi nhuận; làm rõ những vấn đề về sở hữu, tính chất lợi nhuận và phi lợi nhuận. Từ đó, có các cơ chế, chính sách hợp lý, phù hợp với từng loại hình trường tư thục. Xây dựng và ban hành nghị định riêng về QLNN đối với hệ thống cơ sở giáo dục tư thục.
- Xây dựng chính sách, hướng dẫn cụ thể về đấu thầu cung cấp dịch vụ do Nhà nước đặt hàng trong lĩnh vực giáo dục phổ thông; ban hành chính sách hỗ trợ từ ngân sách cho các trường phổ thông tư thục.
- Hệ thống trường phổ thông tư thục cần đa dạng và linh hoạt hơn để phù hợp với yêu cầu phát triển trường tư thục ở các địa bàn có điều kiện KT – XH khác nhau, không nên chỉ có một loại hình là trường tư thục. Quan tâm nghiên cứu mô hình trường phổ thông “bán công” mới trên cơ sở tiếp thu có chọn lọc kinh nghiệm của một số nước, nhất là về phương thức tài trợ công.
- Nên thành lập bộ phận chuyên trách quản lý trường tư thục (hoặc quản lý giáo dục tư thục) trong hệ thống quản lý của ngành Giáo dục và Đào tạo. Điều chỉnh, cụ thể hóa điều kiện đầu tư – thành lập trường phổ thông tư thục với tính chất là một loại hình đầu tư đặc thù và có điều kiện. Trong đó, nghiên cứu quy định thật rõ về điều kiện thành lập, tổ chức và hoạt động của trường tư thục theo cơ chế phi lợi nhuận để xem xét bổ sung “Quy chế tổ chức và hoạt động của trường phổ thông loại hình tư thục”.
- Bộ Giáo dục và Đào tạo và Bộ Tài chính: xem xét lại thuế với các trường THPT tư thục để các trường này bình đẳng với các trường công lập.
- Viện KHGD Việt Nam : tổ chức nghiên cứu đánh giá tổng thể thực trạng hoạt động và quản lý của hệ thống giáo dục ngoài công lập, xây dựng cơ sở khoa học đề xuất Chính phủ đổi mới công tác quản lý nhà trường đối với các trường ngoài công lập nhằm bảo đảm cho hệ thống giáo dục này phát triển bền vững và bình đẳng với các trường công lập.
4.3.2. Đối với UBND Thành phố, các ngành chức năng quản lý nhà nước tại Thành phố Hồ Chí Minh
- Cần quy hoạch phát triển hệ thống trường phổ thông tư thục giai đoạn mới. Chú trọng công khai quy hoạch; bố trí nguồn ngân sách hỗ trợ cho các trường tư thục; ban hành chính sách của Thành phố nhằm khuyến khích và ưu đãi đầu tư phát triển trường phổ thông tư thục.
- UBND Thành phố cần quan tâm kiểm tra và chỉ đạo các quận huyện, các Sở
- ngành chức năng tập trung giải quyết những vướng mắc, sớm hoàn thành dứt điểm kế hoạch chuyển đổi các trường dân lập sang loại hình tư thục;
- Xây dựng quy chế đấu thầu sử dụng cơ sở vật chất và đào tạo trong việc chuyển các hình thức trường bán công, công lập sang tư thục nhằm tránh tham nhũng.
- Thay đổi tiêu chuẩn thành lập trường THPT nhằm tháo gỡ khó khăn cho các vùng đất chật người đông như Hồ Chí Minh;
- Giao quyền tự chủ cho các trường trong việc lập kế hoạch giảng dạy để bảo đảm sự phù hợp với đặc trưng của học sinh tư thục và đặc trưng văn hóa và khí hậu vùng miền;
- Cho giáo viên các trường tư thục được đào tạo nâng cao bằng ngân sách Nhà nước như giáo viên trường công lập nhằm đảm bảo tính công bằng giữa hệ thống giáo dục công lập và tư thục;
- Dân chủ hóa quá trình xây dựng các chính sách cho các trường tư thục, mở rộng thành phần soạn thảo chính sách bao gồm cả giáo viên, cán bộ quản lý các trường ngoài công lập. Cần có chế tài để các văn bản pháp quy đến với các trường tư thục;
Kết luận chương 4 ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Triển khai nghiên cứu Chương 4, luận án đã đạt được một số kết quả sau:
Thứ nhất, chương 4 luận án trên cơ sở phân tích làm rõ quan điểm của Đảng về giáo dục, đào tạo, trên cơ sở nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo và định hướng phát triển kinh tế – xã hội của cả nước, tác giả đã khái quát, phân tích xu hướng phát triển của giáo dục và xu hướng phát triển giáo dục trung học tư thục trên địa bàn Thành phố trong những năm tới.
Thứ hai, chương 4 luận án đã tập trung đề xuất 04 nhóm giải pháp hoàn thiện QLNN về phát triển giáo dục phổ thông trung học tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh, đó là:
- Nhóm giải pháp về xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng kế hoạch hỗ trợ phát triển hệ thống trường phổ thông trung học tư thục trên địa bàn Thành phố;
- Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy QLNN đối với các trường phổ thông tư thục; cải cách thủ tục cấp phép;
- Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế và phương thức QLNN của Thành phố Hồ Chí Minh đối với hệ thống trường phổ thông tư thục;
- Nhóm giải pháp về đảm bảo hiệu lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực kiểm tra – kiểm soát, kiểm định chất lượng đối với hệ trường phổ thông trung học tư thục tại Thành phố Hồ Chí
Bốn nhóm giải pháp với 14 giải pháp cụ thể có tính chất đồng bộ và khả thi để đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả và hoàn thiện nội dung QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới.
Thứ ba, luận án đã có một số khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng và vứi TP.HCM để tiếp tục thức hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN dối với giáo dục trung học phổ thông tư thuc trên địa bàn Thành phố.
KẾT LUẬN
Định hướng Xã hội chủ nghĩa trong giáo dục và đào tạo: mục tiêu, nội dung giáo dục và đào tạo phải đảm bảo vì sự phát triển tốt đẹp của con người và xã hội. Nguồn lực nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư ngân sách cho giáo dục và đào tạo. Nhà nước tạo mọi điều kiện thuận lợi để thực hiện công bằng trong tiếp cận giáo dục đối với mọi người dân; Hỗ trợ, có chính sách phù hợp cho giáo dục phổ cập, giáo dục bắt buộc, giáo dục vùng dân tộc thiểu số, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn và các đối tượng diện chính sách; Thực hiện xã hội hoá giáo dục, tạo điều kiện cho giáo dục ngoài công lập phát triển.
Đề tài Quản lý nhà nước về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh đã nghiên cứu và giải quyết được những nội dung cơ bản sau:
Thứ nhất, luận án đã tổng quan những công trình trong và ngoài nước nghiên cứu về giáo dục phổ thông tư thục, giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh; khái quát được kết quả của những nghiên cứu đi trước và chỉ ra khoảng trống mà đề tài cần tiếp tục làm rõ.
Thứ hai, phân tích làm rõ cơ sở khoa học QLNN về giáo dục phổ thông tư thục với một số khái niệm cơ bản liên quan đến đề tài như: khái niệm giáo dục, đào tạo; hệ thống giáo dục quốc dân; giáo dục trung học phổ thông ; QLNN về giáo dục trung học phổ thông làm căn cứ cho việc giải quyết mục tiêu, nhiệm vụ của đề tài.
Phân tích làm rõ sự cần thiết QLNN về giáo dục phổ thông tư thục. Quản lý giáo dục phổ thông tư thục là thực hiện chức năng của nhà nước trong quản lý xã hội. Nhà nước có nhiều chức năng, trong đó có chức năng phối hợp QLNN theo ngành và theo lãnh thổ. Giáo dục, đào tạo là một ngành trong cơ cấu của nền kinh tế quốc dân. Nhưng hoạt động của giáo dục, đào tạo phải được tiến hành trên một lãnh thổ cụ thể. Bởi vậy, Nhà nước cần phải phối hợp, kết hợp quản lý theo ngành và theo lãnh thổ trong hoạt động giáo dục một cách hiệu quả. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Tác giả đã phân tích làm rõ những nhân tố ảnh hưởng, tác động đến QLNN về giáo dục phổ thông tư thục. Tác giả chia thành hai nhóm nhân tố đó là những nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan có tác động, ảnh hưởng trực tiếp đến giáo dục phổ thông tư thục ở nước ta hiện nay.
Chương 2 đã làm rõ được mục tiêu của giáo dục phổ thông tư thục. Chủ thể, đối tượng, nội dung, phương thức QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục đây là những nội quan trọng, là căn cứ, cơ sở để luận giải quyết nhiệm vụ trong những chương tiếp theo của Luận án.
Trên cơ sở nghiên cứu kinh nghiệm QLNN về giáo dục phổ thông tư thục của một số quốc gia và kinh nghiệm quản lý của Sở Giáo dục Hà Nội, tác giả đã khái quát và rút ra một số bài học kinh nghiệm cho Sở Giáo dục và đào tạo Thành phố Hồ Chí Minh trong QLNN đối với giáo dục phổ thông tư thục.
Thứ ba, nghiên cứu thực trạng QLNN về trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Thành phố Hồ Chí Minh là trung tâm kinh tế lớn nhất cả nước, chính vì thế Thành phố có nhu cầu rất lớn về nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực có trình độ học vấn, tay nghề cao. Tác giả đã phân tích chỉ ra những nhân tố về tự nhiên, kinh tế-xã hội có tác động, ảnh hưởng đến phát triển giáo dục của Thành phố; đồng thời cũng chỉ ra những nhân tố ảnh hưởng đến giáo dục trung học phổ thông tư thục trên đại bàn Thành phố.
Chương 3 đã khái quát một số đặc điểm chính của giáo dục THPT tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh hiện nay. Công tác quản lý các trường THPT tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh chủ yếu căn cứ vào các chính sách đối với hệ thống các trường THPT nói chung, chưa có những cơ chế chính sách riêng cho đối tượng các trường tư thục; các chính sách ưu tiên về thuê đất, giao đất, miễn giảm thuế,… để khuyến khích đầu tư trong giáo dục chưa được nhận thức rõ ràng, chưa được thực hiện triệt để. Định hướng trong thời gian tới Sở giáo dục-đào tạo Thành phố sẽ tăng cường tuyên truyền nâng cao nhận thức về chủ trương xã hội hóa giáo dục; kiểm tra, chấn chỉnh hoạt động của các trường THPT tư thục và tham mưu UBND Thành phố ban hành các cơ chế, chính sách cụ thể, phù hợp để thúc đẩy sự phát triển của giáo dục ngoài công lập nói chung và hệ thống các trường THPT tư thục nói riêng góp phần thực hiện tốt nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố.
Tác giả đã phân tích được thực trạng nội dung QLNN về giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố theo quy định của pháp luật hiện hành. Tác giả đã làm rõ các nội dung: xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch; xây dựng thể chế; xây dựng hệ thống chính sách, tổ chức bộ máy và đào tạo đội ngũ cán bộ, công chức làm niệm vụ quản lý; và thanh tra, kiểm tra trong QLNN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.
Trên cơ sở phân tích thực trạng QLNN, tác giả đã có nhận xét, đánh giá chỉ ra những kết quả đạt được, những hạn chế và tìm ra các nguyên nhân của hạn chế trong QLNN đối với giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố Hồ Chí Minh.
Thứ tư, trên cơ sở phân tích làm rõ quan điểm của Đảng về giáo dục, đào tạo, trên cơ sở nghiên cứu định hướng phát triển kinh tế – xã hội của Thành phố, các văn bản của Bộ giáo dục và Đào tạo và định hướng phát triể kinh tế – xã hội của cả nước, tác giả đã khái quát, phân tích xu hướng phát triển của giáo dục và xu hướng phát triển giáo dục trung học tư thục trên địa bàn Thành phố trong những năm tới.
Trên cơ sở lý luận và thực tiễn nghiên cứu, chương 4 của luận án đã tập trung đề xuất 04 nhóm giải pháp, đó là: (i) Nhóm giải pháp về xây dựng chiến lược, quy hoạch, xây dựng kế hoạch hỗ trợ phát triển hệ thống trường phổ thông trung học tư thục trên địa bàn Thành phố; (ii) Nhóm giải pháp về xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, tổ chức bộ máy QLNN đối với các trường phổ thông tư thục; cải cách thủ tục cấp phép; (iii) Nhóm giải pháp đổi mới cơ chế và phương thức QLNN của Thành phố Hồ Chí Minh đối với hệ thống trường phổ thông tư thục; (iv) Nhóm giải pháp về đảm bảo hiệu lực, hiệu quả QLNN trong lĩnh vực kiểm tra – kiểm soát, kiểm định chất lượng đối với hệ trường phổ thông trung học tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh. Bốn nhóm giải pháp với 14 giải pháp cụ thể có tính chất đồng bộ và khả thi để đổi mới, tăng cường hiệu lực, hiệu quả và hoàn thiện nội dung QLNN đối với hệ thống trường phổ thông tư thục tại Thành phố Hồ Chí Minh trong thời gian tới. ( Luận văn: Quan điểm Đảng về phát triển giáo dục đào tạo THPT )
Thứ tư, luận án đã có một số khuyến nghị đối với các cơ quan chức năng và vứi TP.HCM để tiếp tục thức hiện các giải pháp nhằm hoàn thiện QLNN dối với giáo dục trung học phổ thông tư thục trên địa bàn Thành phố.
Các bạn có thể tham khảo thêm:
→ Luận văn: Hoạt động quản lý Nhà nước đối với giáo dục THPT

Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ Chuyên cung cấp dịch vụ làm luận văn thạc sĩ, báo cáo tốt nghiệp, khóa luận tốt nghiệp, chuyên đề tốt nghiệp và Làm Tiểu Luận Môn luôn luôn uy tín hàng đầu. Dịch Vụ Viết Luận Văn 24/7 luôn đặt lợi ích của các bạn học viên là ưu tiên hàng đầu. Rất mong được hỗ trợ các bạn học viên khi làm bài tốt nghiệp. Hãy liên hệ ngay Dịch Vụ Hỗ Trợ Luận Văn Thạc Sĩ qua Website: https://hotroluanvanthacsi.com/ – Hoặc Gmail: Hotrovietluanvanthacsi@gmail.com
