Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học

Trong quá trình nghiên cứu và thực hiện đề tài khóa luận tốt nghiệp “Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học”, mình nhận thấy rằng đề tài không chỉ giúp bản thân vận dụng hiệu quả những kiến thức đã học vào thực tế mà còn góp phần củng cố, mở rộng hiểu biết và tích lũy kinh nghiệm quý báu cho công việc và chuyên môn sau này. Với mong muốn hỗ trợ các bạn sinh viên đang trong quá trình học tập và làm khóa luận, mình xin chia sẻ đề tài khóa luận tốt nghiệp: Xây dựng bản đồ nhận thức các thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế trong tâm trí học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Huế này như một tài liệu tham khảo hữu ích, hy vọng sẽ phần nào giúp các bạn định hướng tốt hơn khi nghiên cứu các vấn đề liên quan đến công tác đào tạo nguồn nhân lực trong doanh nghiệp.

2.1 Tổng quan về trường Đại học Kinh tế Huế

2.1.1 Thông tin chung về trường Đại học Kinh tế Huế

Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế là một trong 8 trường đại học thành viên thuộc Đại học Huế, được thành lập theo Quyết định số 126/QĐ-TTg ngày 27/9/2002 của Thủ tướng Chính Phủ trên cơ sở Khoa Kinh tế, Đại học Huế. Trường đã trải qua nhiều giai đoạn chuyển đổi lịch sử và có khởi nguyên từ Khoa Kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc từ năm 1969.

Những mốc lịch sử quan trọng:

  • 1969-1983: Khoa Kinh tế nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp II Hà Bắc.
  • 1984-1995: Khoa Kinh tế, Đại học Nông nghiệp II Huế.
  • 1995-2002: Khoa Kinh tế, Đại học Huế.
  • 9/2002: Trường Đại học Kinh tế trực thuộc Đại học Huế.

Trong 50 năm xây dựng và phát triển, Trường Đại học Kinh tế không ngừng nâng cao chất lượng về đào tạo, nghiên cứu khoa học và các dịch vụ khác nhằm hướng tới mục tiêu trở thành trở thành một cơ sở đào tạo đa ngành, một trung tâm nghiên cứu và chuyển giao khoa học công nghệ về lĩnh vực kinh tế và quản lý đạt chuẩn quốc gia; một số ngành đào tạo trọng điểm đạt chuẩn quốc tế đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, trình độ cao phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội của khu vực và cả nước. Trường Đại học Kinh tế luôn coi trọng vấn đề nâng cao chất lượng toàn diện trên tất cả các mặt hoạt động. Vị thế và uy tín của Nhà trường đang được nâng cao.

Các hoạt động của trường, đặc biệt là đào tạo và nghiên cứu khoa học, đã bước đầu đạt được một số thành tựu cơ bản, tạo nền tảng để trường tiếp tục phát triển theo chiều sâu. Với những thành tích đạt được qua hơn 50 năm xây dựng và phát triển Trường ĐHKT – đã được Nhà nước trao tặng Huân chương lao động hạng Ba năm (1997), Huân chương Lao động hạng Hai (năm 2009) Huân chương lao động hạng Nhất năm (2024) và nhiều bằng khen, giấy khen, phần thưởng khác của Đảng, Nhà nước và Đại học Huế Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

  • Sứ mệnh – Tầm nhìn – Giá trị cốt lõi

Sứ mệnh: Sứ mệnh của Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế là đào tạo nguồn nhân lực chất lượng, trình độ cao; thực hiện nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ, cung ứng dịch vụ về lĩnh vực kinh tế và quản lý phục vụ sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội khu vực miền Trung, Tây Nguyên và cả nước.

Tầm nhìn đến năm 2030: Đến năm 2030, Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế trở thành một cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ và cung ứng dịch vụ về lĩnh vực kinh tế và quản lý có chất lượng, uy tín, xếp vào nhóm 10 cơ sở đào tạo kinh tế và quản lý hàng đầu ở Việt Nam.

Giá trị cốt lõi: Trách nhiệm – Sáng tạo – Chất lượng – Hội nhập – Phát triển.

2.1.2 Cơ cấu tổ chức

Sơ đồ 11: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Đại học Kinh tế Huế

Trường Đại học Kinh tế Huế là một trường thành viên của Đại học Huế. Trường có 8 phòng ban chức năng, 6 khoa và 4 viện, trung tâm luôn hoạt động tương tác và phát triển nhằm không ngừng nâng cao chất lượng của các hoạt động, hướng tới mục tiêu giá trị cốt lõi của Trường Đại học Kinh Tế – Đại học Huế.

Bảng 3: Số lượng cán bộ giảng viên của trường Đại học Kinh tế Huế từ 2022-2025

ĐVT: Người Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Năm học Thay đổi
Năm 2022-2023 Năm 2023-2024 Năm 2024-2025 2023-2024/ 2022-2023 2024-2025/ 2023-2024
GS/PGS 14 18 13 4 -5
Tiến sỹ 33 57 46 24 -11
Thạc sỹ 118 147 126 29 -21
Cử nhân 43 40 8 -3 -32

Nguồn: Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Giáo dục

Về đội ngũ nhân lực, năm học 2022-2023 trường có 14 giảng viên có chức danh Phó Giáo sư, 33 giảng viên có học vị tiến sỹ, 118 giảng viên có học vị thạc sỹ và 43 giảng viên có học vị cử nhân.

Đến năm học 2023-2024, chất lượng đội ngũ của nhà trường có sự nâng lên rõ rệt với 18 Phó Giáo sư, tăng 4 Phó Giáo sư so với năm học trước, 57 Tiến sỹ, 147 Thạc sỹ và 40 cử nhân.

Tuy nhiên đến năm học 2024-2025, do một số cán bộ đến tuổi nghỉ hưu nên số lượng Phó Giáo sư của nhà trường giảm so với năm học trước 5 giảng viên, số lượng tiến sỹ giảm 11 giảng viên, thạc sỹ giảm 21 giảng viên do có nhiều thầy cô chuyển công tác. Số lượng cử nhân giảm 32 giảng viên do nhiều thầy cô đã và đang theo học các chương trình sau đại học ở trong và ngoài nước.

Có thể thấy, bộ máy nhà trường hoạt động linh hoạt, phối hợp và đồng bộ trong quản lý, điều hành góp phần thúc đẩy sự phát triển của trường. Hệ thống các văn bản quản lý điều hành nội bộ trong nhà trường được xây dựng đầy đủ, mang tính khoa học cao tạo điều kiện thuận lợi và đồng bộ trong công tác quản lý.

2.1.3 Cơ sở vật chất Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Về mặt cơ sở vật chất của nhà trường ĐHKT – ĐHH hiện tại:

Tổng diện tích đất cơ sở đào tạo quản lý sử dụng là 70.200,00 m2 gồm 2 cơ sở đào tạo: Trụ sở chính tại địa chỉ 99 Hồ Đắc Di, Tp Huế (67.615,30 m2) và cơ sở 2 tại 100 Phùng Hưng, Thành phố Huế (2.584,70) và trong đó tổng diện tích sàn xây dựng phục vụ đào tạo, nghiên cứu khoa học chiếm 23.639,00 m2 (Trụ sở chính tại 99 Hồ Đắc Di, Thành phố Huế chiếm 19.233,00 m2; Cơ sở 2 tại 100 Phùng Hưng, Thành phố Huế chiếm 2.406 m2; Trung tâm học liệu 2000 m2). Trong đó CSVC nhà trường nhằm phục vụ cho hoạt động đào tạo, nghiên cứu khoa học của nhà trường, cán bộ giảng viên và viên gồm: 4 phòng thực hành máy tính với diện tích 352 m2; 1 Hội trường với diện tích 898 m2; 63 phòng học với diện tích 13.809 m2; 1 thư viện với diện tích 2000m2; 1 trung tâm học liệu với diện tích 2000 m2 (Trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế, 2025).

Bảng 4: Cơ sở vật chất của trường Đại học Kinh tế Huế từ 2022-2025

ĐVT: Phòng

Năm học Thay đổi
2022-2023 2023-2024 2024-2025 2023-2024/ 2022-2023 2024-2025/ 2023-2024
Phòng thực hành 4 4 4 0 0
Hội trường 0 1 1 1 0
Phòng học 49 58 63 9 5
Thư viện 1 1 1 0 0
Trung tâm học liệu 1 1 1 0 0
Diện tích/sinh viên _ 11.7 11.91 _ 0.21
Diện tích sàn/Sinh viên _ 2.5 4.01 _ 1.51

Nguồn: Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Giáo dục Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Trong những năm qua, nhà trường đã có sự đầu tư về cơ sở vật chất phục vụ cho hoạt động đào tạo và nghiên cứu. Hiện nay nhà trường có 4 phòng máy tính thực hành với, 1 hội trường, 1 thư viện và sử dụng chung trung tâm học liệu với Đại học Huế. Số lượng phòng học có sự gia tăng trong 3 năm trở lại đây, năm học 2022-2023, số lượng phòng học sử dụng là 49 phòng, đến năm học 2023-2024, số lượng phòng học tăng thêm 9 phòng, đạt 58 phòng. Đến năm 2025, khi toàn bộ đơn vị hành chính chuyển từ nhà C sang nhà hành chính, số lượng phòng học tăng thêm 5 phòng, đạt 63 phòng.

Những sự đầu tư trên nếu tính trên sinh viên có thể thấy có sự gia tăng, diện tích trường/sinh viên đạt 11.91m2/sinh viên, tăng 0.21m2 so với năm học trước. Năm học 2024-2025, diện tích sàn xây dựng/sinh viên đạt 4.01m2/sinh viên, tăng 1.51m2 so với năm học 2023-2024.

2.1.4 Kết quả thu chi của trường Đại học Kinh tế Huế

Bảng 5: Các khoản thu của trường Đại học Kinh tế Huế từ 2022-2025

ĐVT: Tỷ đồng

Năm học Thay đổi
2022-2023 2023-2024 2024-2025 2023-2024/2022-2023 2024-2025/2023-2024
Tổng thu 62.7 80.35 85.66 17.65 5.31
Ngân sách 11.6 10 8.12 -1.6 -1.88
Học phí, lệ phí 48.9 68 73.35 19.1 5.35
NCKH 0 0.35 0 0.35 -0.35
Nguồn khác 2.2 2 4.19 -0.2 2.19

Nguồn: Phòng Khảo thí và Đảm bảo chất lượng Giáo dục

Có thể thấy trong 3 năm học vừa qua, nhờ vào kết quả tuyển sinh khả quan, nguồn thu của trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế có sự gia tăng mạnh. Năm học 2022-2023, trường có tổng thu 62.7 tỷ, con số này tăng lên 80.35 tỷ vào năm học tiếp theo và năm học gần nhất, năm học 2024-2025, tổng thu của nhà trường đạt 85.66 tỷ đồng.

Xét về cơ cấu nguồn thu, tỷ trọng nguồn thu của nhà trường chủ yếu dựa vào nguồn thu học phí và lệ phí với tỷ trọng từ 80-85%. Điều này cho thấy rủi ro của nhà trường khá lớn khi phụ thuộc vào 1 nguồn thu từ học phí.

2.1.5 Báo cáo công tác tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế Huế Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Bảng 6: Kết quả tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế Huế từ 2022-2025

ĐVT: Sinh viên

Năm học Thay đổi
2022-2023 2023-2024 2024-2025 2023-2024/2022-2023 2024-2025/2023-2024
Chỉ tiêu 1880 1670 1670 -210 0
Nhập học 1351 1681 1761 330 80
Tỷ lệ nhập học/chỉ tiêu 71.86 100.66 105.45 _ _

Nguồn: Phòng Đào tạo Đại học

Từ bảng trên cho thấy chỉ tiêu tuyển sinh của trường đã ổn định trong 2 năm học gần đây với 1.670 chỉ tiêu, giảm so với chỉ tiêu của năm học 2022-2023. Kết quả cũng chỉ ra rằng kết quả tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế Huế có chỉ báo tốt trong 2 năm trở lại đây với tỷ lệ nhập học so với chỉ tiêu cao hơn 100%. Cụ thể năm học 2023-2024, nhà trường tuyển được 1.681 sinh viên, đạt 100.66% so với chỉ tiêu. Năm học 2024-2025 nhà trường tuyển được 1.761 sinh viên, vượt 5.45% so với chỉ tiêu đề ra. Chính nhờ kết quả tuyển sinh trong 2 năm trở lại đây tốt nên nguồn thu của nhà trường có sự cải thiện đáng kể.

  • Về nguồn học sinh trúng tuyển, kết quả thống kê cho thấy:

Bảng 7: Kết quả tuyển sinh của trường Đại học Kinh tế Huế từ 2022-2025

ĐVT: % Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Năm học Thay đổi
2022-2023 2023-2024 2024-2025 2023-2024/2022-2023 2024-2025/2023-2024
Thừa Thiên Huế 53.7 52.65 54 -1.05 1.35
Quảng Trị 10.5 9.42 9 -1.08 -0.42
Quảng Bình 9.7 10.57 11 0.87 0.43
Khác 26.1 27.36 26 1.26 -1.36

Nguồn: Phòng Đào tạo Đại học

Nguồn thí sinh chủ yếu của nhà trường hiện tại đang là 3 tỉnh Bình Trị Thiên, trong đó nguồn học sinh từ tỉnh Thừa Thiên Huế chiếm tỷ lệ rất cao, dao động khoảng 53% mỗi năm. Tiếp theo là thí sinh từ Quảng Bình và Quảng Trị với tỷ lệ thí sinh mỗi tỉnh khoảng 10%.

Nguồn tuyển sinh của nhà trường có xu hướng không thay đổi trong 3 năm qua, điều này đặt ra cho nhà trường mối quan tâm cần phải mở rộng thị trường, tránh việc lệ thuộc vào 1 khu vực nào đó trong 1 thời gian dài.

2.2 Xây dựng bản đồ nhận thức các thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế trong tâm trí học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Huế Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Bài nghiên cứu tiến hành tìm hiểu và xây dựng bản độ nhận thức đối với thương hiệu các trường Đại học đào tạo khối ngành kinh tế trong tâm trí học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Huế. Nghiên cứu quyết định xây dựng bản đồ nhận thức 4 thương hiệu trường Đại học đào tạo khối ngành kinh tế là: Đại học Kinh tế Huế (HCE), Đại học Kinh tế Đà Nẵng (DUE), Đại học Kinh tế TP Hồ Chí Minh (UEH) và Đại học Kinh tế Quốc Dân (NEU).

2.2.1 Mô tả đặc điểm mẫu nghiên cứu

Kết quả thống kê đặc điểm cho thấy:

Bảng 8: Đặc điểm nhân khẩu học của mẫu điều tra

Tiêu chí Số lượng (người) Tỉ lệ (%)
Giới tính Nam 58 38.67
Nữ 92 61.33
 

Trường THPT

Hai Bà Trưng 50 33.33
Nguyễn Huệ 25 16.67
Nguyễn Trường Tộ 38 25.33
Gia Hội 37 24.67
Mức độ chắc chắn Rất chắc chắn 27 18
Chắc chắn 64 42.67
Phân vân, đang xem xét 59 39.33
Không chắc chắn 0 0
Thời gian tìm hiểu về trường đại học Năm lớp 10 9 6
Năm lớp 11 41 27.33
Năm lớp 12 100 66.67
Khác 0 0
Tổng 150 100

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu 2026 Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Về giới tính, theo thống kê trong 150 mẫu khảo sát có 58 học sinh nam, chiếm tỉ lệ 38,67% và 92 học sinh nữ, chiếm tỉ lệ 61,33%. Số lượng học sinh nữ được khảo sát trong phạm vi nghiên cứu có cách biệt khá lớn so với số lượng học sinh nam.

Tỉ lệ học sinh tại các trường THPT lớn nhất tại trường THPT Hai Bà Trưng với 50 học sinh (chiếm 33,33%), tiếp đến là THPT Nguyễn Trường Tộ với 38 học sinh (chiếm 25,33%), sau đó là THPT Gia Hội 37 học sinh (chiếm 24,67%) và trường THPT Nguyễn Huệ với số lượng học sinh tham gia khảo sát ít nhất, với 25 học sinh chiếm tỉ lệ 16,67%.

Về mức độ chắc chắn với ý định đăng kí xét tuyển vào một trong 4 trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế bao gồm: ĐHKT Đà nẵng, ĐHKT Huế, ĐHKT TP HCM và ĐHKT Quốc Dân, chỉ có 18% số lượng học sinh được khảo sát rất chắc chắn với ý định của bản thân. Số học sinh chắc chắn với ý định này chiêm tỉ trọng lớn nhất 42,67% với 64 học sinh và các đối tượng còn phân vân chiếm tỉ trọng 39,33%.

Về thời gian học sinh bắt đầu tìm hiểu thông tin 4 trường đại học kể trên, đa phần các bạn bắt đầu tìm hiểu về trường vào năm lớp 12, với 100 học sinh lựa chọn chiếm 66,67% tỉ lệ. Có 41 học sinh đã tìm hiểu về trường đại học từ năm lớp 11 (chiếm 27,33%) và chỉ 9 học sinh (chiếm 6%) bắt đầu tìm hiểu về các trường đại học từ năm học lớp 10.

Về ý định lựa chọn nguyện vọng đăng kí ngành học tại trường đại học đào tạo về khối ngành kinh tế trong lần thi THPT Quốc Gia 2026 sắp tới của học sinh:

Biểu đồ 1: Ý định lựa chọn trường đại học của học sinh

Qua kết quả bảng phân tích, ta thấy rằng tỉ lệ học sinh có ý định lựa chọn làm nguyện vọng đăng kí ngành học tại Đại học Kinh tế Đà Nẵng khá cao, chiếm đến 50% trên tổng mẫu khảo sát. Xếp vị trí thứ hai là Đại học Kinh tế TP HCM với 30,7%. Sau đó là Đại học Kinh tế Huế với cách biệt khá nhỏ chiếm 29,3%. Trường ít được học sinh lựa chọn nhất là Đại học Kinh tế Quốc Dân, chỉ chiếm 13,3%. Như vậy, Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang dẫn đầu trong ý định lựa chọn nguyện vọng đăng kí học của học sinh lớp 12 trong phạm vi nghiên cứu.

  • Về nguồn thông tin về các trường đại học mà học sinh được tiếp cận, tìm kiếm:

Biểu đồ 2: Nguồn thông tin tham khảo Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Nguồn thông tin quan trọng nhất giúp học sinh lựa chọn trường đại học để đăng kí nguyện vọng đó là qua bạn bè, người thân và anh chị đi trước. Trong tổng số 150 học sinh được khảo sát, có đến 128 học sinh đã có ý định đăng kí trường đại học dựa vào nguồn thông tin tham khảo từ bạn bè, người thân và anh chị đi trước, chiếm 85,3% trên tổng số. Hai nguồn thông tin quan trọng tiếp theo là qua thông tin tra cứu trên Internet, website của trường và qua thông tin nhìn thấy trên các trang mạng xã hội. Tỉ lệ học sinh tham khảo các nguồn thông tin này lần lượt là 111 học sinh (chiếm 74%) và 93 học sinh (chiếm 62%).

Từ kết quả trên ta có thể thấy rằng, mặc dù Internet và các kênh thông tin khác đang được phát triển rất mạnh mẽ, nhưng để đưa ra một quyết định lớn, dấu mốc quan trọng như việc lựa chọn trường đại học, học sinh vẫn quan tâm đến nguồn thông tin tham khảo từ gia đình, bạn bè và nhận lời khuyên từ các mối quan hệ khác mà họ xem là đáng tin cậy. Điều này là hoàn toàn phù hợp, vì một số thông tin như cảm nhận trong quá trình học tại trường, chất lượng đào tạo, các chương trình hoạt động, cơ hội việc làm thực tế sau khi ra trường… học sinh khó có thể tự tìm kiếm trên các trang thông tin tuyển sinh. Trong trường hợp này, học sinh sẽ cảm thấy lời khuyên và sự tư vấn từ bạn bè, người thân, các anh chị đi trước vẫn được ưu tiên hàng đầu và có mức độ tin cậy đối với họ cao hơn. Những đánh giá, cảm nhận, lời khuyên từ các anh chị sinh viên và cựu sinh viên của nhà trường được coi là những thông tin quý giá. Vì vậy, ngoài chất lượng đào tạo được chú trọng, các trường đại học cần quan tâm nhiều hơn đến cảm nhận của sinh viên trong quá trình theo học tại trường và các cựu sinh viên. Chính chất lượng đào tạo và cảm nhận về hình ảnh của trường tốt sẽ làm sinh viên và các cựu sinh viên hài lòng với quyết định lựa chọn trường đại học của mình. Khi đó, chính những sinh viên, cựu sinh viên này sẽ là kênh truyền thông có giá trị và hiệu quả cho trường đại học.

Ngoài ra, cũng không thể phủ nhận sức mạnh của các nguồn thông tin đến từ Internet, các trang mạng xã hội khi hai yếu tố này lần lượt xếp thứ hai và ba chỉ sau nguồn thông tin tham khảo đến từ bạn bè và người thân. Điều này là hoàn toàn phù hợp với sự phát triển công nghệ ngày nay. Học sinh vào Internet để tự tìm kiếm, so sánh thông tin về các trường đại học. Ngoài ra trên các trang mạng xã hội, học sinh ngoài tự tìm kiếm còn vô tình nhìn thấy, qua quảng cáo hoặc các lượt chia sẻ và nhận được rất nhiều thông tin về trường đại học, hoạt động tại trường đại học, cũng như các hoạt động tư vấn tuyển sinh trực tuyến.

Thống kê tỉ lệ học sinh lựa chọn nguồn tham khảo khi có ý định lựa chọn trường đại học dựa vào 3 yếu tố bạn bè, người thân, anh chị đi trước; tra cứu Internet, website nhà trường và thông tin trên các trang mạng xã hội là cao nhất. Đây là những yếu tố mà các trường đại học cần chú ý để xây dựng có hiệu quả các hoạt động tuyển sinh.

2.2.2 Xây dựng bản đồ nhận thức của học sinh về các thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

2.2.2.1 Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu

Bảng 9: Đánh giá mức độ nhận biết thương hiệu

Dựa vào kết quả nghiên cứu ta thấy, trong 150 kết quả lựa chọn cho 4 thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế được nhắc đến đầu tiên thì Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thương hiệu được nhắc đến nhiều nhất với tần số là 45 lượt lựa chọn, chiếm 30%. Tiếp theo lần lượt là thương hiệu Đại học Kinh tế Huế có 38 lượt chọn, chiếm 25,3% đứng thứ hai và Đại học Kinh tế TP HCM với 36 lượt chọn, chiếm 24% đứng thứ ba. Và cuối cùng là thương hiệu Đại học Kinh tế Quốc Dân với 31 lượt chọn, chiếm 20,7%.

Với kết quả nhận biết trên thì hiện tại Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang là thương hiệu có được sự nhận biết tốt nhất từ đối tượng học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Huế trong phạm vi nghiên cứu. Điều này phản ánh thương hiệu trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang chiếm một vị trí khá tốt trong tâm trí đối tượng học sinh lớp 12, nhưng sự cách biệt giữa số lượng học sinh nhớ đến thương hiệu đầu tiên giữa 4 trường đại học là không quá lớn.

Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế TP HCM cũng là thương hiệu trường đại học được học sinh lớp 12 nhận biết, nhớ đến đầu tiên khá tốt. Nhưng cách biệt không quá lớn giữa mức độ nhớ đến thương hiệu đầu tiên giữa 4 thương hiệu này mở ra cơ sở cho các bước đi tiếp theo trong hoạt động tuyển sinh và xây dựng thương hiệu của các trường đại học.

Với nhóm nhận biết không cần trợ giúp, từ kết quả nghiên cứu cho thấy, trong 361 kết quả trả lời của học sinh lớp 12 trong phạm vi nghiên cứu, Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là hai thương hiệu trường đại học đang được nhắc đến nhiều nhất mà không cần trợ giúp. Trong đó, Đại học Kinh tế Huế dẫn đầu với 104 lựa chọn, chiếm 69,3%. Trong khi đó Đại học Kinh tế Đà Nẵng theo ngay phía sau cùng cách biệt rất nhỏ, với 102 lựa chọn thương hiệu nhắc đến không cần sự trợ giúp, chiếm 68%. Tiếp đến là Đại học Kinh tế TP HCM với 94 lựa chọn, chiếm 62,7% và cuối cùng là Đại học Kinh tế Quốc Dân với 61 lựa chọn, chiếm 40,7% trong yếu tố thương hiệu được nhắc đến mà không cần sự trợ giúp.

Tại nhóm nhận biết cần sự trợ giúp, trong 227 kết quả trả lời của học sinh lớp 12 trong phạm vi nghiên cứu, Đại học Kinh tế Quốc Dân là trường đại học cần trợ giúp lớn nhất để gợi nhớ thương hiệu. Có đến 81 trường hợp học sinh được khảo sát, chiếm 54% tổng số cần sự gợi nhắc để nhớ đến thương hiệu Đại học Kinh tế Quốc Dân. Con số này đối với thương hiệu Đại học Kinh tế TP HCM là 52 (chiếm 34,7%). Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Vậy từ kết quả trên có thể nhận thấy, mức độ nhận biết thương hiệu của trường Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang ở mức rất tốt, toàn bộ các học sinh được khảo sát trong phạm vi nghiên cứu đều nhận biết về hai trường đại học kể trên.

Về phía Đại học Kinh tế Quốc Dân, ngoài tỉ lệ học sinh nhận biết thương hiệu nhà trường cần có sự trợ giúp nhất trong cả 4 trường, thương hiệu Đại học Kinh tế Quốc Dân còn có 5,3% số lượng trong tổng 150 mẫu nghiên không nhận biết về trường. Đối với thương hiệu Đại học Kinh tế TP HCM, số lượng học sinh không nhận biết về trường là 4 (chiếm 2.7%).

Mối quan hệ giữa thương hiệu được nhắc đến đầu tiên với trường đại học là nguyện vọng đăng kí trong lần thi THPT Quốc Gia 2026 sắp tới:

Bảng 10: Mối quan hệ giữa thương hiệu được nhắc đến đầu tiên với quyết định lựa chọn thương hiệu

Theo như kết quả nghiên cứu có được, ta thấy trong tổng số 44 học sinh có nguyện vọng lựa chọn Đại học Kinh tế Huế thì có 26 học sinh nghĩ đến thương hiệu Đại học Kinh tế Huế đầu tiên (chiếm 59,1%). Lần lượt trong số 75 học sinh có nguyện vọng lựa chọn Đại học Kinh tế Đà Nẵng có 42 học sinh nghĩ đến thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng đầu tiên (chiếm 56%) và tỉ lệ đó ở Đại học Kinh tế TP HCM là 65,2% với 30 trong tổng số 46 học sinh có nguyện vọng đăng kí trường đại học. Đặc biệt trong chỉ 20 học sinh có nguyện vọng lựa chọn Đại học Kinh tế Quốc Dân có đến 16 học sinh nghĩ đến thương hiệu Đại học Kinh tế Quốc Dân, chiếm đến 80% trên tổng số.

Như vậy, có thể thấy việc nghĩ đến đầu tiên về một thương hiệu trường đại học riêng biệt có phần làm tăng cơ hội học sinh lựa chọn trường đó, nhưng vẫn có xác suất học sinh không lựa chọn.

2.2.2.2 Mức độ quan trọng của các tiêu chí khi lựa chọn thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế để đăng kí nguyện vọng

Bảng 11: Mức độ quan trọng của các tiêu chí khi lựa chọn thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế để đăng kí nguyện vọng

Tiêu chí Quan trọng thứ nhất (%) Quan trọng thứ hai (%) Quan trọng thứ ba (%) Quan trọng thứ tư (%) Quan trọng thứ năm (%) Quan trọng thứ sáu (%)
Chất lượng đào tạo 56 22 13,3 2 5,3 1,3
Hình ảnh thương hiệu 3,3 4 6 15,3 22,7 48,7
Học phí, học bổng 12,7 27,3 15,3 14 16 14,7
Môi trường học tập, làm việc 9,3 28 28 20,7 8,7 5,3
Cơ sở vật chất 0 8,7 15,3 30,7 26,7 18,7
Điểm đầu vào 18,7 10 22 17,3 21,3 10,7

Nguồn: Kết quả xử lý số liệu 2026 Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Kết quả cho thấy, trong 6 tiêu chí thì tiêu chí chất lượng đào tạo là tiêu chí học sinh ưu tiên nhất tương ứng với 56% trên tổng số lựa chọn các tiêu chí quan trọng khi lựa chọn trường đại học. Tất nhiên trong hầu hết các quyết định lựa chọn sản phẩm, dịch vụ khách hàng đều mong muốn có được những sản phẩm, dịch vụ với chất lượng tốt. Và hơn thế, với quyết định quan trọng liên quan đến giáo dục như lựa chọn trường đại học, chất lượng càng là là yếu tố được quan tâm hàng đầu. Do đó, sinh viên đánh giá tiêu chí chất lượng đào tạo là quan trọng nhất khi lựa chọn trường đại học là khá đúng với thực tế.

Yếu tố quan trọng thứ hai được sinh viên quan tâm đến khi lựa chọn thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế là tiêu chí điểm đầu vào với 18,7% số lựa chọn của học sinh. Khác với một số thương hiệu về sản phẩm và dịch vụ khác, ở mảng giáo dục, đặc biệt là giáo dục đại học hầu hết các trường đều có một số yêu cầu nhất định để xác định học sinh đủ điều kiện đăng kí, theo học tại nhà trường. Điểm đầu vào là một tiêu chí khá quan trọng để phân loại học sinh tại các hầu hết các trường đại học, không chỉ riêng các trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế. Học sinh sau khi đăng kí vào trường cần đạt mức điểm đầu vào nhất định được nhà trường công bố mới có thể được xác nhận để bắt đầu quá trình học tập tại trường. Bởi các lí do trên, có thể thấy điểm đầu vào là một tiêu chí không thể bỏ qua và cần cân nhắc của học sinh khi lựa chọn trường đại học. Một trường đại học được học sinh nhận thức về chất lượng tốt, có thương hiệu mạnh và mang độ tin cậy cao nhưng điểm đầu vào vượt quá năng lực hiện tại của bản thân học sinh, khả năng cao dẫn đến việc không đủ điều kiện nhập học là một vấn đề nên xem xét. Một lần nữa, kết quả nghiên cứu cho thấy được thực tế của học sinh khi lựa chọn trường đại học, đó là sự quan tâm đối với yếu tố điểm đầu vào.

Tiếp theo, tiêu chí được học sinh xếp ở vị trí quan trọng thứ ba khi lựa chọn trường đại học là yếu tố liên quan đến học phí, học bổng với 12,7% lựa chọn. Đa phần đối tượng học sinh lớp 12 chuẩn bị bước vào đại học vẫn chưa có thu nhập ổn định và phụ thuộc vào khả năng chi trả của phụ huynh, người bảo hộ.

Các yếu tố còn lại là môi trường học tập, làm việc; hình ảnh thương hiệu và cơ sở vật chất lần lượt được học sinh xếp ở vị trí thứ tư (chiếm 9,3%), thứ năm (3,3%) và thứ sáu (0%). Tỉ lệ lựa chọn các tiêu chí này của học sinh đối với ưu tiên quan trọng khi lựa chọn trường đại học theo như khảo sát trong phạm vi nghiên cứu là rất thấp. Nghiên cứu có thể tập trung vào 3 yếu tố hàng đầu: chất lượng đào tạo, điểm đầu vào và học phí, học bổng hỗ trợ trong lựa chọn của học sinh để tiếp tục phân tích.

2.2.2.3 Xây dựng bản đồ nhận thức thương hiệu các trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế trong tâm trí học sinh lớp 12 trên địa bàn thành phố Huế Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Tiến hành thiết lập bảng đồ nhận thức bằng kĩ thuật đo lường đa hướng MDS với:

  • Quy mô mẫu khảo sát là
  • Số vector thuộc tính là 6 bao gồm: (1) Chất lượng đào tạo tốt nhất, (2)

Hình ảnh thương hiệu đáng tin cậy nhất, (3) Học phí, học bổng hỗ trợ hợp lý nhất, (4) Mối trường học tập, làm việc tốt nhất, (5) Cơ sở vật chất được đầu tư tốt nhất, (6) Điểm đầu vào phù hợp nhất.

  • Số thương hiệu khảo sát là 4 bao gồm: Đại học Kinh tế Đà Nẵng (DUE), Đại học Kinh tế TP HCM (UEH), Đại học Kinh tế Huế (HCE) và Đại học Kinh tế Quốc Dân (NEU).
  • Tiến hành kiểm định độ tin cậy của thang đo các thuộc tính:

Bảng 12: Kiểm định độ tin cậy thang đo các thuộc tính

Thương hiệu Số tiêu chí đánh giá Chỉ số Cronbach’s Alpha
ĐHKT Đà Nẵng 6 0,821
ĐHKT TP HCM 6 0,809
ĐHKT Huế 6 0,729
ĐHKT Quốc Dân 6 0,784

Như vậy, thang đo đã lập ra là thang đo lường sử dụng được, đáng tin cậy để tiến hành phân tích MDS.

Tiến hành điều tra sự liên tưởng và đánh giá của học sinh về 6 nhóm yếu tố, thu được kết quả thống kê về điểm trung bình của từng thương hiệu theo các thuộc tính, được thể hiện trong bảng sau:

Bảng 13: Giá trị trung bình của các thương hiệu

ĐHKT Đà Nẵng ĐHKT TP HCM ĐHKT Huế ĐHKT Quốc Dân
Chất lượng đào tạo tốt 3,85 4,25 3,19 4,19
Hình ảnh thương hiệu đáng tin cậy 3,73 4,11 3,23 4,20
Học phí, học bổng hỗ trợ hợp lý 3,55 3,30 4,09 3,22
Môi trường học tập, làm việc tốt 3,91 4,15 3,20 3,98
Cơ sở vật chất được đầu tư tốt 3,89 4,31 3,26 4,25
Điểm đầu vào phù hợp 3,85 3,75 3,99 3,53

Sau khi nhận được các giá trị trung bình của đánh giá của học sinh đối với từng yếu tố tương ứng với từng thương hiệu, tiến hành chạy lệnh MDS trong SPSS để xác định tọa độ của thuộc tính và thương hiệu trong không gian đa hướng. Kết hợp phần mềm SPSS và Excel để vẽ đồ thị có đầy đủ các tọa độ. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Để xác định được cảm nhận của học sinh đối với mỗi thương hiệu trường đại học theo từng tiêu chí, ta chiếu vuông góc vị trí của một thương hiệu lên vector của tiêu chí cần xem xét, thu được khoảng cách từ điểm chiếu đến gốc tọa độ. Khoảng cách này cho biết độ mạnh của thương hiệu về tiêu chí đang được xét trong liên tưởng của học sinh. Khoảng cách càng xa gốc tọa độ (khoảng cách so với gốc tọa độ theo hướng của vector thuộc tính) thì thương hiệu càng mạnh về tiêu chí đó và ngược lại.

Nếu không thể chiếu vuông góc từ vị trí một thương hiệu lên vector thuộc tính, có thể kết luận được là học sinh có mức liên tưởng yếu hay không có liên tưởng về thương hiệu khi nhắc đến các tiêu chí tương ứng.

Khoảng cách giữa hai đối tượng thể hiện mức độ giống nhau của hai đối tượng đó theo cảm nhận của học sinh. Khoảng cách càng nhỏ thể hiện mức độ giống nhau càng nhiều. Đối với các thương hiệu trường đại học, nếu như hai thương hiệu càng gần nhau trên bản đồ nhận thức thì điều này cho biết cảm nhận của học sinh về hai thương hiệu này là càng giống nhau trên tất cả thuộc tính đang xem xét, có nghĩa là hai thương hiệu trường đại học này có chung định vị về cảm nhận trong liên tưởng của học sinh và cạnh tranh trực tiếp với nhau.

Sơ đồ 12: Bản đồ nhận thức các thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế

Xét trên 3 tiêu chí mà học sinh đánh giá là quan trọng, ưu tiên hàng đầu khi lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế:

  • Chất lượng đào tạo
  • Điểm đầu vào
  • Học phí, học bổng hỗ trợ

Trong 3 tiêu chí trên thì chất lượng đào tạo của trường Đại học Kinh tế TP HCM được học sinh đánh giá là tốt nhất, điểm đầu vào của trường Đại học Kinh tế Huế được đánh giá là phù hợp nhất. Ở tiêu chí còn lại, học phí, học bổng hỗ trợ dù được đánh giá là có mức độ quan trọng cao ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh lớp 12 nhưng trên thực tế từ bản đồ nhận thức cho thấy, tiêu chí này đang nhận được sự liên tưởng nhạt nhòa từ học sinh đối với cả 4 thương hiệu trường đại học được nghiên cứu.

Các liên tưởng mạnh về thương hiệu của học sinh đối với các trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế dựa theo phân tích từ bản đồ nhận thức: Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

  • Trường Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Quốc Dân và Đại học Kinh tế Đà Nẵng: chất lượng đào tạo tốt, hình ảnh thương hiệu đáng tin cậy, môi trường học tập và làm việc tốt, cơ sở vật chất được đầu tư tốt.
  • Trường Đại học Kinh tế Huế: điểm đầu vào phù hợp, chất lượng đào tạo tốt, môi trường học tập và làm việc tốt, cơ sở vật chất được đầu tư tốt.

Mức độ liên tưởng về thương hiệu của học sinh lớp 12 giữa hai trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân có mức độ giống nhau khá lớn trên tất cả các thuộc tính. Trên bản đồ nhận thức, khoảng cách giữa hai thương hiệu trường đại học này rất nhỏ. Như vậy ta có thể thấy, hai thương hiệu này đang có chung định vị của học sinh và là hai thương hiệu đang cạnh tranh trực tiếp với nhau.

Ngoài ra, Đại học Kinh tế Đà Nẵng cũng nhận được sự liên tưởng về thương hiệu với các tiêu chí tương tự Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân, tuy nhiên khoảng cách từ điểm chiếu tại thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng đến gốc tọa độ gần hơn rất nhiều so với hai thương hiệu trường đại học còn lại. Điều đó thể hiện rằng thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng nhận được sự liên tưởng về thương hiệu trên các thuộc tính liên quan đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh lớp 12 tuy nhiên mức độ liên tưởng tại các yếu tố đó chưa được đánh giá cao so với các trường khác.

2.2.2.4 Phân tích hình ảnh cạnh tranh giữa các thương hiệu trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế trong tâm trí học sinh lớp 12

Trong 6 tiêu chí rút ra được từ nghiên cứu định tính, chỉ có 3 tiêu chí được học sinh quan tâm nhiều nhất: (1) Chất lượng đào tạo, (2) Điểm đầu vào, (3) Học phí, học bổng hỗ trợ. Do vậy, phân tích hình ảnh cạnh tranh giữa các trường sẽ được phân tích dựa trên 3 nhóm tiêu chí này.

2.2.2.4.1 Đánh giá mức độ liên tưởng của học sinh đối với các thương hiệu trường đại học về nhóm tiêu chí “Chất lượng đào tạo”

Theo kết quả điều tra về mức độ quan trọng của các yếu tố khi lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế thì nhóm tiêu chí “Chất lượng đào tạo” được học sinh lớp 12 đánh giá là quan trọng nhất, tiêu chí hàng đầu để xem xét, cân nhắc đưa ra sự lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Từ bản đồ nhận thức ta có thể thấy cả bốn thương hiệu trường đại học đều nhận được liên tưởng của học sinh đến nhóm tiêu chí này. Khi chiếu vuông góc vị trí của các thương hiệu trường đại học lên vector thuộc tính “Chất lượng đào tạo”, ta có khoảng cách từ gốc tọa độ đến hình chiếu của các thương hiệu lên vector thuộc tính. Làm tương tự ở cả bốn thương hiệu trường đại học, ta thấy khoảng cách từ gốc tọa độ của vector thuộc tính này có sự khác biệt giữa bốn trường, lần lượt theo độ lớn đó là Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Quốc Dân, Đại học Kinh tế Đà Nẵng và Đại học Kinh tế Huế.

Như vậy, với nhóm tiêu chí “Chất lượng đào tạo” thì Đại học Kinh tế TP HCM có được sự liên tưởng mạnh nhất trong cả bốn thương hiệu trường đại học với đánh giá của học sinh lớp 12 trong phạm vi nghiên cứu, tiếp đến với cách biệt trong liên tưởng rất bé, gần tương đương với vị trí liên tưởng mạnh nhất là Đại học Kinh tế Quốc Dân với cùng tiêu chí.

Lần lượt tiếp theo ở hai vị trí sau là Đại học Kinh tế Đà Nẵng và cuối cùng là Đại học Kinh tế Huế, qua đồ thị có thể đánh giá rằng mức độ liên tưởng với thuộc tính “Chất lượng đào tạo” ở Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang ở vị trí trung bình, và Đại học Kinh tế Huế được học sinh lớp 12 trong phạm vị nghiên cứu đánh giá là khá thấp so với ba trường đại học còn lại.

Để thấy rõ hơn đánh giá của học sinh về nhóm yếu tố “Chất lượng đào tạo” của bốn thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Quốc Dân, tiến hành kiểm định One-Sample T- Test.

  • Đối với tiêu chí “Chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài là ở mức đồng ý.

  • Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài là ở dưới mức đồng ý

Đối với trường Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài là ở trên mức đồng ý

  • Kết quả kiểm định thu được như sau: Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Bảng 14: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài

Nhìn vào giá trị Mean <4 của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng có thể dự đoán được mức độ đánh giá của học sinh mang xu hướng không đồng tình đối với tiêu chí chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài của hai trường đại học này.

Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, lần lượt là 0,0015 và 0,0025, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thấp hơn 4.

Ngược lại, giá trị Mean của Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân đều lớn hơn 4, nên có thể kết luận mức độ đánh giá của học sinh đối với tiêu chí chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài của hai trường ở mức độ phù hợp, học sinh đồng ý với tiêu chí nói trên.

Có thể kết luận rằng có sự chênh lệch và có ý nghĩa thống kê về đánh giá của học sinh với bốn thương hiệu trường đại học với tiêu chí này. Dựa theo số liệu phân tích, học sinh đánh giá cao, trên mức đồng tình với tiêu chí chương trình đào tạo tốt, nhiều chương trình chất lượng cao, chương trình liên kết với các trường đại học nước ngoài của trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân. Mặt khác, Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đang ở cùng mức đánh giá khi tiêu chí này của cả hai trường được đánh giá dưới mức đồng tình.

  • Đối với tiêu chí “Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng”: Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng là ở mức đồng ý.

  • Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng là ở dưới mức đồng ý.

  • Đối với trường Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng là ở trên mức đồng ý.

  • Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 15: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng 

Giá trị Mean của hai thương hiệu trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân lớn hơn 4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí này với hai trường đều trên mức phù hợp.

Đối với Đại học Kinh tế Huế, và Đại học Kinh tế Đà Nẵng, giá trị Mean của hai trường đều <4, tiến hành kiểm định One-Sample T-Test với µ <4, t<0 từ 2 thương hiệu này thu được Sig.=Sig./2<0,05. Điều này có nghĩa là mức độ đánh giá của học sinh đối với tiêu chí Ngành học đa dạng, tiềm năng, phù hợp với nhu cầu của bản thân cũng như xu hướng việc làm và tuyển dụng của trường bé hơn mức 4, được cho là chưa phù hợp.

Từ số liệu tính toán, có cơ sở để bác bỏ H0, chấp nhận H1.

  • Đối với tiêu chí “Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao là ở dưới mức đồng ý. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Đối với trường Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao là ở trên mức đồng ý.

  • Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 16: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao

Tiêu chí ĐHKT Đà Nẵng ĐHKT Huế ĐHKT TP HCM ĐHKT Quốc Dân
Đối thuyết H1 µ <4 µ <4 µ >4 µ >4
Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao Mean 3,72 2,99 4,34 4,25
t -4,181 -12,674 5,309 3,941
Test Value 4 4 4 4
Sig. 0,000 0,000 0,000 0,000

Giá trị Mean của hai thương hiệu trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân > 4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí này với hai trường đều trên mức phù hợp.

Trong đó, giá trị Mean của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng <4 nên có thể nói rằng mức độ đánh giá của học sinh mang xu hướng không đồng tình đối với tiêu chí Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao của hai trường đại học kể trên.

Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Tỉ lệ sinh viên có việc làm sau khi ra trường cao của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thấp hơn 4.

  • Chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0.

2.2.2.4.2 Đánh giá mức độ liên tưởng của học sinh đối với các thương hiệu trường đại học về nhóm tiêu chí “Điểm đầu vào”

Theo kết quả điều tra về mức độ quan trọng của các yếu tố khi lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế thì tiêu chí “Điểm đầu vào” được học sinh lớp 12 đánh giá là quan trọng thứ hai để xem xét, cân nhắc đưa ra sự lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế, Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Từ bản đồ nhận thức ta có thể thấy rằng chỉ duy nhất thương hiệu Đại học Kinh tế Huế nhận được liên tưởng của học sinh đến tiêu chí này. Trong một số trường hợp có thể coi đây là điểm mạnh trong nhận thức về thương hiệu của trường Đại học Kinh tế Huế. Có thể nói điểm đầu vào là một tiêu chí quan trọng ảnh hưởng đến quyết định lựa chọn trường đại học của học sinh, khi thương hiệu nhận được sự liên tưởng mạnh về một tiêu chí mang mức độ ảnh hưởng cao sẽ giúp học sinh dễ dàng nhớ đến thương hiệu hơn. Tuy nhiên, khi được đối tượng học sinh nhận thức và liên tưởng là trường đại học có điểm đầu vào phù hợp với năng lực, trong một số trường hợp có thể ảnh hưởng đến sự đánh giá của riêng đối tượng học sinh đó về chất lượng và môi trường học tập của trường. Từ đó dẫn đến một số nhận thức sai lệch về đặc tính thương hiệu.

Để thấy rõ hơn đánh giá của học sinh về nhóm yếu tố “Điểm đầu vào” của bốn thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Quốc Dân, tiến hành kiểm định One-Sample T- Test.

  • Đối với tiêu chí “Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với cả 4 trường trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Đại học Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp là ở dưới mức đồng ý.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 17: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp

Tiêu chí ĐHKT Đà Nẵng ĐHKT Huế ĐHKT TP HCM ĐHKT Quốc Dân
Đối thuyết H1 µ <4 µ <4 µ <4 µ <4
Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp Mean 3,89 3,83 3,83 3,97
t -1,447 -2,163 -2,194 -0,469
Test Value 4 4 4 4
Sig. 0,075 0,016 0,015 0,32

Giá trị Mean của cả bốn thương hiệu trường đại học đều <4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí này với bốn trường đều dưới mức phù hợp. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Đại học Kinh tế Huế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Chỉ tiêu tuyển sinh phù hợp của cả bốn trường đại học là thấp hơn 4.

Chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0.

Đối với tiêu chí “Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với cả 4 trường trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế Đại học Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân là ở dưới mức đồng ý.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 18: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân 

Giá trị Mean của cả bốn thương hiệu trường đại học đều <4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân với bốn trường đều dưới mức phù hợp.

Đại học Kinh tế Huế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Điểm tuyển sinh đầu vào phù hợp với năng lực của bản thân của cả bốn trường đại học là thấp hơn 4.

2.2.2.4.3 Đánh giá mức độ liên tưởng của học sinh đối với các thương hiệu trường đại học về nhóm tiêu chí “Học phí, học bổng hỗ trợ”

Từ kết quả điều tra có được về mức độ quan trọng của các yếu tố khi lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế thì tiêu chí “Học phí, học bổng hỗ trợ” được học sinh lớp 12 đánh giá là quan trọng thứ ba để xem xét, cân nhắc đưa ra sự lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế,

Dựa vào bản đồ nhận thức ta có thể thấy điều đặc biệt rằng tuy đây là một nhóm tiêu chí được đánh giá có mức độ quan trọng cao ảnh hưởng trực tiếp đến quyết định lựa chọn trường đại học đào tạo khối ngành kinh tế của đối tượng học sinh lớp 12 trong phạm vi nghiên cứu, tuy nhiên hoàn toàn không có thương hiệu trường đại học nào trong cả bốn thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế Huế, Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc dân nhận được sự liên tưởng của học sinh liên quan đến nhóm tiêu chí “Học phí, học bổng hỗ trợ”. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Nhưng để thấy rõ hơn đánh giá của học sinh về nhóm yếu tố “Học phí, học bổng hỗ trợ” của bốn thương hiệu Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Quốc Dân, tiến hành kiểm định One-Sample T- Test.

  • Đối với tiêu chí “Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên là ở dưới mức đồng ý.

Đối với trường Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên là ở trên mức đồng ý.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 19: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên 

Giá trị Mean của hai thương hiệu trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân > 4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí này với hai trường đều trên mức phù hợp.

Trong đó, giá trị Mean của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng <4 nên có thể nói rằng mức độ đánh giá của học sinh mang xu hướng không đồng tình đối với tiêu chí Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên của hai trường đại học kể trên.

Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Có nhiều loại học bổng khác nhau dành cho sinh viên của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thấp hơn 4. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0.

  • Đối với tiêu chí “Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học là ở dưới mức đồng ý.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 20: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học

Giá trị Mean của cả bốn thương hiệu trường đại học đều <4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học với bốn trường đều dưới mức phù hợp. Đại học Kinh tế Huế, Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và

Đại học Kinh tế Quốc Dân đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Học bổng hỗ trợ đầu vào và trong quá trình học tập đủ để trang trải việc học của cả bốn trường đại học là thấp hơn 4.

  • Đối với tiêu chí “Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế và Đại học Đà Nẵng:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế là ở dưới mức đồng ý.

Đối với trường Đại học Kinh tế TP HCM và Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế là ở trên mức đồng ý. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 21: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế

Tiêu chí ĐHKT Đà Nẵng ĐHKT Huế ĐHKT TP HCM ĐHKT Quốc Dân
Đối thuyết H1 µ <4 µ <4 µ >4 µ >4
Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế Mean 3.69 3.03 4.04 4.21
t -3.603 -11.730 0.525 2.998
Test Value 4 4 4 4
Sig. 0.000 0.000 0.030 0.0015

Giá trị Mean của hai thương hiệu trường Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc Dân > 4 nên bước đầu có thể nhận xét mức độ đánh giá của học sinh trong tiêu chí này với hai trường đều trên mức phù hợp.

Trong đó, giá trị Mean của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng <4 nên có thể nói rằng mức độ đánh giá của học sinh mang xu hướng không đồng tình đối với tiêu chí Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế của hai trường đại học kể trên.

Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Có nhiều có hội du học/trao đổi sinh viên quốc tế của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thấp hơn 4.

Chấp nhận giả thuyết H1, bác bỏ giả thuyết H0.

  • Đối với tiêu chí “Học phí thấp hơn các trường khác”:

Gọi giả thuyết H0: Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Học phí thấp hơn các trường khác là ở mức đồng ý.

Đối thuyết H1 sẽ được phát biểu như sau:

Đối với trường Đại học Kinh tế Đà Nẵng, Đại học Kinh tế TP HCM và Đại học Kinh tế Quốc dân:

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Học phí thấp hơn các trường khác là ở dưới mức đồng ý.

Đối với trường Đại học Kinh tế, Đại học Huế: Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

H1. Mức độ đánh giá trung bình của học sinh đối với ý kiến cho rằng Học phí thấp hơn các trường khác là ở trên mức đồng ý.

Kết quả kiểm định thu được như sau:

Bảng 22: Kiểm định One-Sample T- Test của học sinh về tiêu chí Học phí thấp hơn các trường khác

Nhìn vào giá trị Mean <4 của Đại học Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Quốc Dân và Đại học Kinh tế Đà Nẵng có thể dự đoán được mức độ đánh giá của học sinh mang xu hướng không đồng tình đối với tiêu chí Học phí thấp hơn các trường khác của hai trường đại học này.

Đại học Kinh tế Kinh tế TP HCM, Đại học Kinh tế Quốc Dân và Đại học Kinh tế Đà Nẵng đều có giá trị t <0, kiểm định với Mean <4 thu được giá trị Sig. của hai thương hiệu bằng Sig./2, Sig.<0,05. Vậy ta có cơ sở để bác bỏ giả thuyết H0, chấp nhận giả thuyết H1: Điểm đánh giá trung bình của học sinh đối với tiêu chí Học phí thấp hơn các trường khác của Đại học Kinh tế Huế và Đại học Kinh tế Đà Nẵng là thấp hơn 4. Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học.

Ngược lại, giá trị Mean của Đại học Kinh tế Huế hiện đang >4, nên có thể kết luận mức độ đánh giá của học sinh đối với tiêu Học phí thấp hơn các trường khác của trường ở trên mức độ phù hợp, học sinh rất đồng ý với tiêu chí nói trên.

XEM THÊM NỘI DUNG TIẾP THEO TẠI ĐÂY:

===>>> Khóa luận: Giải pháp nhận thức các thương hiệu trường đại học

One thought on “Khóa luận: Thực trạng nhận thức các thương hiệu trường đại học

  1. Pingback: Khóa luận: Xây dựng nhận thức các thương hiệu trường Đại học

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Contact Me on Zalo
0972114537